Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

TRUY TÌM TỰ NGÃ - TUỆ SỸ

 Tuệ Sỹ



Chúng ta hãy khởi đầu đọc kinh Kim-cang như một tác phẩm văn học. Giá trị văn học là sự biểu hiện thẩm mỹ của nội dung tư tưởng. Kinh Kim-cang được soạn tập bằng tiếng Phạn tiêu chuẩn, nhưng rất tiếc chúng ta không thông thạo thứ cổ ngữ này, nên cũng chắc chắn là không thể hiểu hết những tư tưởng ẩn áo của kinh hàm chứa trong các từ ngữ và các câu văn. Như người không biết chữ Hán mà đọc thơ Đường qua một bản dịch thì không thể thưởng thức hết giá trị của bài thơ. Lời thơ là lời của phàm phu mà còn vậy, huống chi lời kinh là lời của Phật. Tuy nhiên, không hiểu chữ Hán thì đọc thơ Đường qua các bản dịch cũng được. Nhưng cũng nên nói thêm là thế giới xưa nay chưa có Huệ Năng thứ hai.

Kinh điển Nguyên thủy và Đại thừa được kết tập không giống nhau. Kinh điển Nguyên thủy được kết tập theo dạng truyền khẩu; có những nét đẹp của nền văn học truyền khẩu. Kinh điển Đại thừa phần lớn được ký tải bằng văn tự, có những nét đẹp riêng của văn tự.

Văn học Đại thừa xuất hiện vào giai đoạn mà văn học Ấn Độ nói chung phát triển đến một hình thức nhất định, với văn chương thi ca, các thể loại về kịch, truyện, vốn rất ít được phổ biến trong thời Phật. Như kinh Pháp hoa chẳng hạn, mở đầu bằng nhân duyên Phật phóng quang, sau đó ngài Di-lặc hỏi, Văn-thù trả lời. Đó là phần mở đầu giới thiệu, như thường được thấy trong các thể loại kịch cổ.
Trong kinh Kim-cang, chúng ta sẽ thấy không giống như kinh điển Đại Thừa khác, mà lại gần với Nguyên thủy ở chỗ Phật ôm bình bát khất thực xong rồi trở về Tinh xá. Sau bữa ăn, các vị tỳ-kheo thường tập hợp tại giảng đường để thảo luận giáo lý. Bấy giờ, trong đại chúng có sự hiện diện của Tu-bồ-đề; và ngài bắt đầu thưa hỏi. Ở đây, không mở đầu bằng sự phóng quang, hay những thần thông biến hóa khác. Nhìn từ ý nghĩa văn học, người ta giải thích rằng, những vấn đề được nêu trong kinh Kim-cang là những sự việc trong đời sống, là những cái ăn, cái uống, nghỉ ngơi, không phải trong thế giới huyền bí kỳ ảo như là của Hoa nghiêm, Pháp hoa.

Còn một nghĩa nữa mà chúng ta thấy có quan hệ đến lịch sử văn học.

Trong các kinh điển Nguyên thủy, các vị tỳ-kheo buổi trưa sau khi thọ thực xong, nếu không tụ tập tại giảng đường, thì thường vắt tọa cụ trên vai, đi vào rừng, tìm đến một gốc cây mà ngồi nghỉ trưa. Có khi đức Phật ngồi ở một gốc cây, và các ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, cũng ngồi ở một gốc cây gần đó. Cho đến xế chiều, các tỳ-kheo ngồi gần đó liền đi tới ngài Xá-lợi-phất, tới đức Phật để đảnh lễ, hoặc thưa hỏi giáo lý.

Trong kinh Kim-cang cũng thế; các tỳ-kheo tụ tập quanh đức Phật để chờ nghe Phật giảng Pháp. Trong truyền thống Ấn Độ, các buổi giảng hay các lớp học của những người Bà-la-môn thường diễn ra giữa khu rừng, giữa cảnh thiên nhiên. Một lớp các đạo sĩ sống trong rừng, giảng giải ý nghĩa cũng như nghi thức Vệ-đà; tư tưởng triết học tôn giáo của họ được soạn tập thành bộ Sâm lâm thư. Đó là bộ Thánh điển về sau phát triển thành các Upanishad, tức Áo nghĩa thư. Chúng ta nên hiểu tổng quát về Upanishad hay Áo nghĩa thư vì nó liên hệ tới kinh Kim-cang rất nhiều, là điểm để chúng ta có thể tin là kinh Kim-cang thật sự do Phật nói hay không.
Một số vị nhận định kinh điển Bát-nhã từ hình thức kết cấu văn học đến nội dung tư tưởng, so sánh với các tập Upanishad, rồi kết luận Kim-cang cũng như toàn hệ Bát-nhã chỉ là một bộ phận của Upanishad, hay phỏng theo Upanishad; nghĩa là, không phải Phật thuyết.

Upanishad là giai đoạn phát triển cao của tư duy Ấn Độ, bắt đầu từ Vệ-đà. Có tất cả bốn bộ Vệ-đà, nhưng trong thời Phật chỉ mới xuất hiện có ba, mà kinh Phật gọi là Tam minh. Bà-la-môn tam minh là người thông thạo ba bộ Vệ-đà. “Minh” là từ Hán dịch của Vệ-đà. Thời Phật, chưa xuất hiện Upanishad.

Trên kia, chúng ta đã nói đến Sâm lâm thư. Đây là từ dịch tiếng Phạn Aranyaka. Ở nơi khác, chúng ta có nói các tỳ-kheo a-lan-nhã sống trong rừng thời đức Phật. A-lan-nhã là từ phiên âm của aranyaka.

Luật tạng có kể, một thời, đức Phật nhập thất, không một tỳ-kheo nào được phép đến gần hương thất của Phật, trừ vị thị giả. Bấy giờ có một nhóm ba chục vị là những tỳ kheo a-lan-nhã đến thăm Phật. Vì Phật đang nhập thất, nên các vị tỳ-kheo tại trú xứ này ngăn cản. Nhưng các tỳ-kheo A-lan-nhã nói, họ được Phật cho phép đến gặp Ngài bất cứ lúc nào. Vì các vị này chỉ sống trong rừng nên ít có cơ hội gặp Phật. Rồi họ vẫn tới gõ cửa hương thất. Thật đáng kinh ngạc, từ trong thất đức Phật liền mở cửa.

Đức Phật truyền dạy những pháp gì cho các tỳ-kheo A-lan-nhã? Không có kinh điển nào tường thuật. Đức Phật đã có biệt thị đối với họ, tất cũng có giáo pháp biệt truyền cho họ. Pháp ấy là pháp gì? Kinh điển Nguyên thủy không đề cập. Ngài Tu-bồ-đề cũng là một tỳ-kheo A-lan-nhã, như được xác định chính trong kinh Kim-cang. Truyền thống Pāli cũng xác nhận điều này.

Các tỳ-kheo a-lan-nhã thường tu tập Không tam muội, như được Phật nói trong kinh Đại không, Trung A-hàm. Sau thời Phật, các Trưởng lão chủ trì cuộc kết tập thứ hai cũng phần lớn tu tập Không tam muội, như được ghi chép trong Luật tạng. Các vị này cũng sống trong rừng. Không tam muội là thiền định y trên hành tướng vô ngã. Không và Vô ngã là giáo nghĩa căn bản trong kinh Kim-cang.
Kinh nói: Hết thảy pháp hữu vi đều là như chiêm bao, như huyễn thuật, v.v...; đó là nói về giáo nghĩa Tánh không và Vô ngã bằng kinh nghiệm trực giác hay thực chứng. Giáo nghĩa này về sau được các Bà-la-môn học Vệ-đà thay thế bằng học thuyết như huyễn tức māyā và hữu ngã tức ātman. Những điểm tư tưởng này là tinh yếu của các tập Upanishad. Nói một cách đại cương, thế giới này chỉ là huyễn hóa, vậy ta là ai, hay ta là cái gì, trong tấn tuồng huyễn hóa này?
Như vậy có thể thấy ảnh hưởng của các tỳ-kheo a-lan-nhã đối với các đạo sĩ soạn tập Sâm lâm thư để rồi phát triển thành tư tưởng triết học Upanishad. Thế nhưng, về sau do sự phục hồi địa vị của giai cấp Bà-la-môn, những người Ấn Độ giáo thâu thái rất nhiều giáo nghĩa của Phật trong đó có giáo nghĩa Tánh không diễn thành như huyễn, rồi cho rằng tư tưởng Không trong các bộ Bát-nhã là do ảnh hưởng của Upanishad. Cũng có nhiều Phật tử tin điều này nên cho rằng kinh điển Bát-nhã cũng như của cả Đại thừa chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo, thay vì ngược lại.

Vậy, Upanishad là phản ứng của các Bà-la-môn, họ vay mượn giáo nghĩa Tánh không tức Vô ngã trong các kinh Bát-nhã. Vì phủ nhận sự tồn tại của tự ngã thường hằng là phủ nhận luôn cả sự tồn tại của Brahman, là Thượng đế Sáng tạo. Ngay cả trong Phật giáo, sau khi Phật nhập niết-bàn, trong nội bộ Phật giáo đã xuất hiện một số bộ phái chấp nhận có tự ngã hay ātman, như Độc tử bộ hay Hóa địa bộ. Những bộ phái này lý luận rằng, nếu không tồn tại một tự ngã, không có một cái tôi thường hằng bất biến, vậy ai hay cái gì luân hồi, lang thang chìm nổi trong biển sinh tử? Cũng nên biết rằng tự ngã hay ātman trong tư tưởng tôn giáo Ấn Độ là cái mà trong các tôn giáo, Đông cũng như Tây, hiểu là linh hồn. Cho nên, có linh hồn mới có đầu thai, mới có việc sinh lên Thiên đường hay đọa địa ngục như là hậu quả của hành vi tội hay phước.
Giáo nghĩa Phật dạy, có tác nghiệp thiện ác, có quả báo lành dữ, nhưng không có người hành động, không có người thọ quả. Đây là điều rất khó hiểu. Chúng ta nên đi từ cái dễ, rồi đến cái khó. Cái dễ hiểu là tất cả đều có một cái tôi: tôi đi, tôi đứng, tôi ăn, tôi ngủ, v.v... Nhưng khi người ta ngủ, mà ngủ như không chiêm bao, thì hình như cái tôi này biến mất. Hoặc như người bị tai nạn mà mất trí nhớ, không còn nhớ ra mình là ai. Nếu được chữa trị, trí nhớ phục hồi, bấy giờ vẫn là cái tôi như khi trước. Rồi khi người ta chết, cái tôi ấy còn hay không? Thừa nhận còn, tức là thừa nhận có linh hồn tồn tại bất biến, khi thức cũng như khi ngủ, lúc còn sống cũng như sau khi chết.

Đấy là kinh nghiệm thường nhật về một cái tôi. Kinh nghiệm ấy là sự tích lũy trong một đời người những hoài niệm, những đau khổ, hạnh phúc, những danh vọng, khốn cùng. Từ những kinh nghiệm tích lũy ấy mà hình thành ý tưởng về một cái tôi thường hằng. Trong trình độ thấp nhất, cái tôi ấy được đồng hóa với thân xác và những sở hữu cho thân xác. Vị Đại hoàng đế có cả một đế quốc: ta và đế quốc của ta. Nhưng một khi thân xác này tan rã, mà chắc chắn là như vậy, thì ta là ai, mà đế quốc này là gì? Những hoàng đế ấy, như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Thành Cát Tư Hãn, tin vào một cái ta và thân xác ta có thể tồn tại lâu dài, vì không muốn cái danh vọng, quyền lực đang có mất đi; họ đi tìm đạo sỹ, cầu thuốc trường sinh. Những người đi tìm trường sinh ấy, bây giờ ở đâu?
Lại còn những người khác, giàu sang có cả một cơ đồ, nhưng khi thị trường chứng khoán sụp đổ, nhảy lầu tự tử. Ta và tài sản của ta; cái này mất thì cái kia cũng không còn lý do tồn tại. Thật sự thì ở đây ta là ai, trong cái cơ đồ phú quý ấy?

Với một hạng người khác, ta là danh, đã sinh ra trong trời đất, thì phải có danh gì với núi sông. Một mai vật đổi sao dời, để bảo tồn danh tiết, họ đâm cổ tự sát. Vậy, ta là gì trong cái danh này?
Với những tín đồ tôn giáo tin vào một linh hồn bất tử, một cái ta tồn tại trên thiên đường, hưởng những lạc thú mà Thượng đế ban cho vì đã biết phục tùng Thiên ý. Vì thế họ sẵn sàng giết đồng loại để chinh phục nước Chúa dưới trần gian.

Ta là ai, ta là cái gì, để vì phục vụ nó, bảo tồn nó, mà tự gây khổ cho mình, và cũng gây khổ cho người? Có chăng một cái ta thường hằng, siêu việt thân xác này, và tâm trí này, để cho mọi hành vi trong một đời người, dù thiện hay ác, ngu hay trí, chỉ nhằm mục đích là phục vụ nó, vì ích lợi của nó, vì hạnh phúc của nó, vì danh dự của nó, vì quyền lực của nó?

Trước khi muốn hỏi ta là ai, trước hết nên hỏi, từ đâu có ý tưởng về cái ta ấy?

Có một người mới mua về một con chó, đặt tên cho nó Lucky. Ban đầu, gọi Lucky, nó dửng dưng, vô cảm. Dần dần, nghe hai tiếng Lucky, nó mừng rỡ, ngoắt đuôi. Nó đã hiểu Lucky là cái gì, và như vậy nó cũng hiểu nó là cái gì. Nó hình thành một cái vỏ tự ngã mới qua một cái tên gọi mới. Trước khi có một tên gọi, nó vẫn tồn tại, và tự bảo vệ sự tồn tại ấy. Nó tìm thức ăn, tìm chỗ ngủ, và cắn bất cứ ai đến gần như muốn đe dọa, uy hiếp nó. Khi được đặt tên, toàn thể sự tồn tại ấy bây giờ tồn tại dưới một cái tên gọi Lucky. Dù vậy, nếu có ai xúc phạm đến cái tên Lucky, nó không có phản ứng gì. Nhưng với một con người, khi cái tên gọi, một cái danh gì đó, mà bị xúc phạm, thì hãy coi chừng.

Tất nhiên, con người cho đến một tuổi nào đó mới biết nó tên gì, cũng như con Lucky vậy. Rõ ràng, cái danh mang nội hàm tự ngã ấy chỉ là hư danh, nhưng con người cũng như vậy đau khổ hay hạnh phúc bởi chính cái hư danh đó.

Một ông thầy giáo có cái ngã là thầy giáo. Ai xúc phạm đến danh từ thầy giáo, chức nghiệp nhà giáo, người ấy phải bị khiển trách.

Nó là ông vua, nhưng ban đêm lẻn ra ngoài thành chơi. Dân nào không biết mà đối xử vô lễ như với dân thường, hãy coi chừng.

Tự ngã chỉ là một cái danh, và đó là giả danh do nghề nghiệp, hay do chỗ ngồi, chỗ đứng giữa mọi người mà đạt thành. Cái giả danh chỉ mới hình thành trong một đời người thôi, mà đã khó quên, khó trừ như vậy; nếu là cái ngã được tích lũy trong nhiều đời, tất không dễ gì trừ bỏ.

Cái ngã của ông xã trưởng chỉ to bằng cái xã của ông. Cái ngã của một quốc vương to bằng cái vương quốc của ông. Cái ngã của một nhà thông kim bác cổ thì dài bằng thời gian kim cổ, rộng bằng không gian đông tây. Cái ngã của một chúng sinh luân hồi trong tam giới, tất cũng lớn bằng cả tam giới. Cái ngã ấy không phải dễ nhận ra. Không nhận ra nó, để thấy nó là thật hay giả, thì cũng không thể tận cùng biên giới đau khổ.

Trong kinh Phật có một câu chuyện: Một thiên thần kia, hiện đến Phật, nói rằng trong quá khứ, ông là một tiên nhân, có tên là Ngựa Đỏ, có phép thần thông quảng đại. Ông muốn thấy được biên tế vũ trụ, để thấy được biên tế khổ, và chấm dứt khổ. Thế là ông bắt đầu đi tìm biên tế của vũ trụ. Tuổi thơ của ông bấy giờ dài đến một đại kiếp, đại khái là tỷ tỷ năm, nhưng không bao giờ thấy được cái biên tế của vũ trụ. Rồi ông hỏi Phật: “Có cần đi suốt cái biên tế vũ trụ này mới chấm dứt khổ không?” Phật xác nhận rằng, “Nếu không thấy được cái biên tế của vũ trụ thì không chấm dứt được khổ”. Song Phật lại nói thêm: “Nhưng không cần. Chỉ trên cái thân cao một tầm này, với năm uẩn nầy, ta có thể biết được thế gian sinh, thế gian diệt”.

Điều đó có nghĩa rằng, thân thể này, với xúc cảm này, với tư duy này, với nhận thức này, là tập hợp tích lũy cả một khối kinh nghiệm lớn bằng biên tế vũ trụ. Cái khối ấy đông kết thành cái vỏ cứng dày. Nó chỉ có thể bị đập vỡ bằng chày Kim-cang mà thôi. Nói tóm lại, giáo nghĩa trong kinh Kim-cang bắt đầu bằng sự đối trị tự ngã: vô ngã tưởng, vô nhân tưởng… Trong các tôn giáo, trong mỗi hệ thống tư tưởng triết học, đều có riêng một quan niệm về tự ngã. Trong nhiều tôn giáo, tự ngã là linh hồn do Thượng đế ban cho. Giữ cho linh hồn đừng bị mất, để sau này được hưởng ân phước của Thượng đế, đó là mục đích đời người.

Trong Nho giáo, người quân tử phải biết lập thân và lập danh. Lập thân cho hiện tại, lập danh cho hậu thế. Đó là xác lập tự ngã trong xã hội.

Lão Tử nói: Ta có đại hoạn vì ta có thân. Nếu ta không có thân, nào đâu có đại hoạn? Đó là hãy sống trọn tuổi trời chớ đuổi theo hư danh, hãy để cho thân và danh cùng mục nát với cỏ cây.

Các đạo sĩ Upanishad đi tìm cái tự ngã chân thật là gì. Vượt ra ngoài cái tôi trong đời sống thường nhật, và cái tôi lang thang trong luân hồi để chịu đau khổ, có hay không có một cái tôi thường hằng, chân thật? Cái tôi như giọt nước biển bị cô lập trong một cái vỏ cứng nhỏ mọn, vô nghĩa, trôi nổi bồng bềnh trong đại dương; để rồi khi cái võ cứng ấy đạp vỡ, giọt nước ấy sẽ hòa tan vào nước biển trong đại dương. Khi ấy, Tiểu ngã hòa tan vào Đại ngã.

Trong Phật giáo, Tiểu ngã hay Đại ngã, chỉ là những khái niệm giả danh. Nhưng cái giả danh được đông kết bởi tích lũy vô số vọng tưởng điên đảo. Cái ngã được hình thành trong đời này, do ảnh hưởng truyền thống, tôn giáo, tư tưởng, xã hội, để từ đó hình thành một nhân cách, một linh hồn, và rồi chấp chặt vào đó để mà tồn tại. Cái đó được gọi là phân biệt ngã chấp.

Cái ngã do tích lũy từ điên đảo vọng tưởng nhiều đời, hình thành bản năng khát vọng sinh tồn nơi cả những sinh vật li ti nhất; đó là câu sinh ngã chấp.

Vì vậy, không cần đi tìm ở đâu Tiểu ngã và Đại ngã, mà cần diệt trừ khái niệm giả danh bởi vọng tưởng điên đảo.



Thứ Hai, 11 tháng 10, 2021

Diễn văn hay nhất thế giới trong 1.000 năm qua

Năm 1870, luật sư George Graham Vest (1830-1904) nhận bảo vệ cho một người thợ săn kiện người chăn cừu đã giết chết con chó của mình. Bằng những lời ngợi ca con chó, ông đã thuyết phục được toàn thể hội thẩm đoàn và thân chủ của ông đã thắng kiện.

Luật sư George Graham Vest

Bài diễn văn được lưu hành trong văn học Mỹ với cái tên “A Tribute to the Dog” và được tờ New York Times bình chọn là bài diễn văn hay nhất trong tất cả những bài diễn văn trên thế giới trong 1000 năm qua. Thậm chí trước trụ sở tòa án tại Warrensburg, bang Missouri, người ta đã dựng tượng đài một con chó kèm theo “A Tribute to the Dog” để đánh dấu sự kiện lịch sử này.



Dưới đây là bài bảo vệ thân chủ chỉ vỏn vẹn 375 chữ của luật sư George Graham Vest:

“Thưa hội thẩm đoàn
Người bạn tốt nhất mà ta có được trên đời này có thể quay lưng chống lại ta và biến thành kẻ thù của ta.
Con cái mà ta hằng yêu thương chăm sóc có thể trở thành những đứa vô ơn bạc nghĩa.
Những người gần gũi và thân thiết với ta nhất, những người mà ta tin tưởng đem giao phó hạnh phúc và danh dự của mình, một ngày nào đó có thể trở thành những kẻ phản bội.
Tiền bạc mà ta có được có thể sẽ mất đi, mất ngay vào lúc ta cần nó nhất. Danh tiếng của con người có thể tiêu tan trong khoảnh khắc vì một hành vi nông nổi. Những kẻ từng quỳ gối tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể trở thành những kẻ đầu tiên ném vào ta hòn đá hiểm độc khi bóng mây sa cơ lỡ vận phủ xuống đầu ta.
Trên thế gian vụ lợi ích kỷ này, con người chỉ có thể có được một người bạn vô tư không điều kiện, một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ vô ơn bạc nghĩa, không bao giờ phản bội, đó là con chó của ta.
Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta, dù ta giàu sang hay ta nghèo khó, dù ta khỏe mạnh hay ta ốm đau bệnh tật. Nó ngủ dưới nền đất lạnh, bất chấp giá rét mùa đông hay bão tuyết, miễn sao được ở gần ta. Nó vẫn hôn vào bàn tay ta dù ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vào những vết thương và những chỗ ta đau đớn khi va chạm với sự tàn bạo của cuộc đời. Nó canh giấc ngủ cho ta khi ta là kẻ cùng khốn cũng giống như khi ta là một ông hoàng.
Khi tất cả bạn bè đều rời xa ta, riêng con chó thì ở lại. Khi ta mất hết của cải, thân bại danh liệt, thì tình yêu thủy chung của con chó đối với ta vẫn ngời sáng như ánh mặt trời xuyên thấu chín tầng mây. Nếu chẳng may ta bị cuộc đời ruồng bỏ, rơi vào cảnh không bạn bè không nhà cửa, thì đối với con chó trung thành, không có một đặc ân nào cao hơn là được ở bên cạnh ta, để bảo vệ ta chống lại những hiểm nguy, chống lại kẻ thù.
Và đến lúc cuộc đời ta kết thúc, thần chết rước ta đi và thân xác ta nằm dưới lòng đất lạnh, khi người thân bạn bè đưa tiễn đã quay về để tiếp tục bận rộn với cuộc sống của họ, thì con chó cao quý vẫn còn nằm bên nấm mồ ta, đầu gục xuống giữa hai chân, đôi mắt đau buồn nhưng vẫn mở to cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã chết”.



Vào ngày 9 tháng 8 năm 1904, Vest qua đời tại ngôi nhà mùa hè của mình ở Sweet Springs, Missouri. Ông được chôn cất tại Nghĩa trang Bellefontaine ở St. Louis, Missouri.

Nguồn: https://www.historyplace.com/speeches/vest.htm?fbclid=IwAR1ewsXa4toDqBPdelKH7j7Lom_w2HJcECHsGtmUU4avY8zVCfLTX12QNhk

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

Hoàng triều Cương thổ

Hoàng triều Cương thổ (Domaine de la Couronne) ban đầu là tên gọi để chỉ vùng đất Tây Nguyên Việt Nam hiện nay gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ Bắc xuống Nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Hoàng triều Cương thổ chính thức thành lập ngày 15 tháng 4 năm 1950 rồi giải thể ngày 11 tháng 3 năm 1955.



Đà Lạt – Thủ phủ Hoàng triều Cương thổ. Đường Phan Đình Phùng (Đà Lạt) những năm đầu thập niên 1950. (Ảnh tác giả sưu tầm)

​Ngày 30 tháng 5 năm 1949 người Pháp trao quyền quản lý vùng Cao nguyên Trung phần với Xứ Thượng Nam Đông Dương (Pays Montagnard du Sud Indochinois, viết tắt là PMSI – chỉ những nhóm sắc tộc bản địa sinh sống trên cao nguyên miền Trung Việt Nam, như Ba Na, Jarai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng,…) cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Quốc trưởng Bảo Đại đã tách riêng phần Cao nguyên Trung bộ ra và lập quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều Cương thổ qua Dụ số 6 ngày 15 tháng 4 năm 1950. Tại vùng này thì Bảo Đại ngoài danh nghĩa Quốc trưởng ra vẫn giữ vai trò Hoàng đế.

Năm tỉnh thuộc Xứ Thượng Nam Đông Dương chuyển giao thành Hoàng triều Cương thổ ở Trung phần là:

Đồng Nai Thượng

Lang Biang

Pleiku

Darlac

Kontum


(Ảnh tác giả sưu tầm)


(Ảnh tác giả sưu tầm)


(Ảnh tác giả sưu tầm)


 


(Ảnh tác giả sưu tầm)

Ngoài ra Dụ số 6 còn ấn định một khu vực khác ở Bắc phần gồm các tỉnh sau đây cũng thuộc Hoàng triều cương thổ:

Hòa Bình (Khu Tự trị Mường)

Phong Thổ (Khu tự trị Thái)

Lai Châu (Khu tự trị Thái)

Sơn La (Khu tự trị Thái)

Lào Kay (Khu Tự trị Mèo)

Hà Giang (Khu Tự trị Mèo)

Bắc Kạn (Khu Tự trị Thổ)

Cao Bằng (Khu Tự trị Thổ)

Lạng Sơn (Khu Tự trị Thổ)

Hải Ninh (Khu tự trị Nùng)

Móng Cái (Khu tự trị Nùng)

Khu vực phía bắc này không được thực hiện vì nằm ngoài tầm kiểm soát của Quốc gia Việt Nam.


Đứng đầu Hoàng triều Cương thổ là vị Khâm mạng Hoàng triều do Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm. Theo thỏa hiệp giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol khi giải tán Xứ Thượng Nam Đông Dương và nhường quyền lại cho Quốc gia Việt Nam thì quy chế tự trị của các sắc tộc thiểu số sẽ có thể lệ riêng và Chính phủ Pháp vẫn có bổn phận tham nghị nên mỗi khi ban bố luật pháp thì Chính phủ Quốc gia Việt Nam phải có sự thỏa thuận của Pháp.



(Ảnh tác giả sưu tầm)

Ngày 21 tháng năm 1951, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành “Quy chế 16” với chín điều khoản đặt nền móng cho việc cai trị Xứ Thượng. Nội dung các điều khoản đó có thể tóm tắt như sau:

Quyền lợi tối cao của Quốc gia Việt Nam được bảo đảm cùng với quyền lợi của các sắc tộc thiểu số

Cao nguyên trực thuộc Quốc trưởng

Người Thượng cần tham gia vào việc phát triển Cao nguyên

Tôn trọng hệ thống bộ lạc và chức sắc kế truyền của người Thượng

Thành lập Hội đồng Kinh tế

Thành lập Tòa án Phong tục Thượng

Bảo đảm quyền sở hữu đất đai của người Thượng

Phát triển cơ cấu dịch vụ xã hội ở Cao nguyên như y tế, giáo dục

Thành lập đơn vị riêng quân sự riêng biệt cho người Thượng với ưu tiên phục vụ ở Cao nguyên


Lang Biang. (Ảnh tác giả sưu tầm)

Quy chế Hoàng triều Cương thổ sau khi ban hành bị chỉ trích vì đã nhượng bộ quyền lợi cho Pháp quá lớn nhất là việc thành lập Hội đồng Kinh tế phần lớn do các chủ đồn điền người Pháp thao túng. Chính sách hạn chế di dân người Kinh lên Cao nguyên vẫn duy trì và người Pháp còn nắm quyền hành chánh như trong thỏa thuận với Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Trong số năm tỉnh thì ba tỉnh Kontum, Pleiku và Darlac vẫn do tỉnh trưởng người Pháp cai quản. Hơn nữa đại diện Quốc trưởng Bảo Đại ở Cao nguyên, tức vị Khâm mạng cũng lại là người Pháp, đại tá Pierre Didelot, chồng của Agnès Nguyễn Hữu Hào.

Ngày 10 tháng 8 năm 1954, quy chế Hoàng triều Cương thổ bị xóa bỏ. Thủ tướng Ngô Đình Diệm thông qua Dụ số 21 ngày 11 tháng 3 năm 1955 và Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận, chính thức sáp nhập Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần chấm dứt đặc quyền của người Pháp và Quốc trưởng trên vùng Thượng và danh xưng Cao nguyên Trung phần được dùng lại.


Ảnh và bài: KTS. Cao Thành Nghiệp



Cảnh báo: lỗ hổng lộ thông tin gần 25 triệu người đã tiêm vaccine ở Việt Nam

 KS. Dương Ngọc Thái

Sau khi tôi nói về tư duy làm app quốc dân, một đồng bọn nhắn tin kêu tôi vô coi hệ thống Sổ sức khỏe điện tử, "chắc nó nát lắm". Hệ thống này do Bộ Y tế quản lý và Viettel thực hiện.

Thú thật, sau khi báo lỗigóp ý về Bluezone tôi cũng thấy ngán làm việc với các team quốc doanh. Nhưng số trời hay sao đó, ba tôi đủ tiêu chuẩn nhưng chưa được cấp thẻ xanh, thẻ vàng Covid. Thế là tôi phải vô coi Sổ sức khỏe điện tử (SSKĐT) cấp thẻ thế nào.

Vô coi thì tôi thấy Sổ sức khỏe điện tử có nhiều lỗ hổng bảo mật sơ đẳng, làm lộ thông tin cá nhân và dữ liệu sức khỏe của gần 25 triệu người Việt Nam và người nước ngoài đang sống ở Việt Nam, bao gồm cả đại biểu Quốc hội và lãnh đạo các cấp. Nói chung, nếu bạn từng tiêm vaccine ở Việt Nam, thông tin của bạn nhiều khả năng đã được lưu trữ trong hệ thống này, bất kể bạn đã cài app hay chưa.

Thông tin bị lộ bao gồm: tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, nơi làm việc, một số người có số bảo hiểm y tế thì có thể truy ra tình trạng và lịch sử bệnh tật; từ địa chỉ hoặc dữ liệu hộ khẩu có thể truy ra thông tin về người thân trong gia đình. Bà con hãy hết sức cảnh giác.

Chi tiết kỹ thuật tôi đã cung cấp cho Bộ TTTT, Bộ Y Tế và Viettel và sẽ công bố rộng rãi vào ngày 11/10/201. Team SSKĐT cảm ơn, đã nhanh chóng sửa được một phần và đang gấp rút sửa hết.

Nhìn chung, thái độ tôi nhận được là hết sức cầu thị và chuyên nghiệp, tốt hơn nhiều khi làm việc với team Bluezone. Tôi rất cảm kích các anh chị em đội dự án đã phải miệt mài sửa chữa lỗ hổng. Hệ thống đã tốt hơn rất nhiều so với cách đây vài ngày.

Tôi đề nghị họ nên đưa lên GitHub để tôi và những ai quan tâm có thể cùng tham gia sửa lỗi. Tôi không có nhiều thời gian và kiến thức cũng hạn hẹp, nhưng Việt Nam không thiếu tài năng, chỉ thiếu cách để họ "tự gãi ngứa" thôi.

Hệ thống nào cũng có lỗi, nhưng có nhiều lỗi sơ đẳng như vậy, là biểu hiện của thiếu trách nhiệm và thiếu giám sát của người quản lý. Hệ thống nhạy cảm như vậy nhưng tôi có cảm giác chưa hề được đánh giá bảo mật.

Trách nhiệm không nằm ở đội ngũ lập trình viên, mà ở chỗ tại sao không có người hỗ trợ họ. Tôi hiểu và thông cảm phải làm nhanh và gấp rút, nhưng hệ thống này cũng đã có lâu rồi, chứ không phải mới làm ngày một ngày hai.

Những vấn đề này không có gì khó với nhân lực trong nước. Tôi tin tôi cũng không phải là người đầu tiên phát hiện ra các vấn đề này. Thế thì tại sao các sản phẩm công nghệ công của Việt Nam vẫn bị hoài? Tôi nghĩ mấu chốt nằm ở lỗ hổng trong tư duy.

Vá lỗ hổng phần mềm không khó bằng vá lỗ hổng tư duy. Những lỗ hổng mà tôi và người khác phát hiện rồi sẽ sửa được thôi, nhưng nếu không sửa tận gốc cách làm thì đâu lại sẽ vào đấy. Cũng may là Sổ sức khỏe hiện mới có dữ liệu của 25 triệu người - gần ¼ dân số, để đến khi nó có đầy đủ thông tin của 100% dân thì còn nguy hiểm đến chừng nào. Nhưng cũng xui là đã 25 triệu người xài rồi mới phát hiện lỗ hổng.

Thế thì làm sao để sớm phát hiện vấn đề? Không có người làm hoặc làm chưa tới thì phải mở mã nguồn, mở thiết kế, để người có chuyên môn có thể tư vấn ngay từ lúc sản phẩm chưa chạy. Sửa nhà trên bản vẽ lúc nào cũng dễ hơn xây xong hết rồi mới phát hiện cái móng bị toạc.

Làm gì cũng vậy, muốn thành công thì không chỉ phải tìm cách làm đúng, mà còn cần nhanh chóng phát hiện ra mình đang làm sai. Muốn vậy thì phải công khai, minh bạch cách mình muốn làm, tiếp nhận ý kiến, dám sai dám sửa.

Chỉ vậy thôi là dân đã đỡ khổ biết chừng nào. Đâu cần đao to búa lớn, bốn chấm không với không chấm bốn, hùng cường với mai lệ huyền. Làm có mấy cái app thôi, lỗi thì nhiều như vắt rừng mùa mưa, mà có người tuyên bố như thể đang chế tên lửa lên cung Trăng thăm chú Cuội, "super app đi ra thế giới". Thôi, xuống, đừng leo cột điện nữa, để tụi nó còn tìm đường quay lại Mỹ.

Nói thêm cho rõ, tôi chưa thấy team SSKĐT phát biểu ngông cuồng như vầy. Ngoại trừ những vấn đề an ninh, hệ thống của họ khá bài bản, hiện đại. Người làm được việc bao giờ cũng hiểu giới hạn của mình. Phát ngôn “chém gió” là tôi thấy ở một nhóm làm công nghệ quốc doanh trong nước, những kẻ đang cưa bom bằng tiền thuế.

Bạn tôi tư vấn “hay là nói chuyện với lãnh đạo của họ”. Có người còn ngỏ lời giúp chuyển thông tin. Tôi viết một lá thư gửi cho Thủ tướng Phạm Minh Chính vào sáng ngày 4/10/2021. Người quen của tôi nói Thủ tướng đã đọc và làm việc với Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long.

Bạn tôi đã chia sẻ thông tin với một số Đại biểu Quốc hội. Tôi cũng trao đổi với một vị ĐBQH, giải thích tại sao mở mã nguồn các app quốc dân lợi nhiều hơn hại, hy vọng họ đại diện cho lợi ích của người dân và sẽ lên tiếng.

Thú thật, tôi không kỳ vọng sẽ có thay đổi gì, chừng nào thấy mới hay. Tôi vẫn làm những chuyện này, vì trách nhiệm xã hội của mình. Tôi có một niềm tin ngây thơ rằng nếu mỗi người làm tốt phần của mình, xã hội sẽ tự khắc đi lên.

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2021

Trật tự siêu việt

 Bạn có tin rằng từng giọt mưa luôn rơi đúng vào vị trí đã định sẵn cho nó?

Đàng sau những chuỗi biến cố có vẻ như rất ngẫu nhiên, thậm chí rất hỗn loạn, luôn ẩn giấu một trật tự và một mục tiêu siêu việt.
Ta không bao giờ có thể hiểu được điều này qua suy nghĩ. Vì tư duy cũng chỉ là hình tướng, trong khi trật tự cao cấp này của vũ trụ thuộc về cõi vô tướng của Tâm.
Đi vào rừng nguyên sinh, hẳn bạn sẽ thấy xung quanh là sự hỗn loạn, không trật tự. Thậm chí bạn còn không phân biệt được đâu là sự sống và đâu là hoại mục, chết chóc. Vì khắp nơi sự sống đang vươn lên từ những thứ đang chết, đang mục nát.
Cảm nhận khác hẳn nếu bạn đi vào một công viên do con người thiết kế. Nó quen thuộc với trí óc và bạn thấy dễ chịu hơn trong rừng tự nhiên.
Đơn giản vì trong rừng nguyên sinh có một trật tự cao cấp mà trí óc của bạn không dễ dàng hiểu được. Do đó nó cho rằng đó chỉ là sự hỗn loạn.
Đáng mừng là tuy không thể dùng tư duy để hiểu, nhưng bạn có thể cảm nhận trật tự cao siêu đó khi bạn trở nên tĩnh lặng, không còn vướng bận bởi suy tư miên man nữa.
Khi trong đầu bạn không còn cố gắng để hiểu và giải thích điều gì nữa, chỉ còn sự trống rỗng cũng là lúc bạn nhận ra trật tự thiêng liêng của khu rừng.
Nhận ra điều đó, bạn sẽ thấy mình không còn tách rời khỏi khu rừng. Thiên nhiên đã giúp bạn tiếp xúc với cái toàn thể của sự sống.
Và bạn cũng chính là cái toàn thể đó!

Fb Huu Nguyen
https://www.facebook.com/huunguyenluutru/posts/610915569900995?notif_id=1633532337672088&notif_t=feedback_reaction_generic&ref=notif

1

Quyền được gãi ngứa

KS. Dương Ngọc Thái

Làm công nghệ gần hai mươi năm, vậy mà tôi phải vã mồ hôi mới đăng ký được cho ba tôi tiêm vaccine trên Cổng tiêm chủng quốc gia.

Ba tôi đã lớn tuổi, biết xài điện thoại thông minh, tuy không thạo lắm. Ông không tự đăng ký được nên tôi phải giúp.

Đó là đầu tháng tám vừa qua. Tôi điền thông tin xong, thấy cũng thuận tiện, nhưng sau đó Cổng tiêm chủng yêu cầu "xác nhận số điện thoại". Họ gửi về điện thoại của ba tôi một mã số, phải nhập đúng mã số đó mới được đăng ký.

Tôi gọi điện từ nước ngoài về, hỏi mã số để nhập lên cổng. Ông ngơ ngác: "Mã gì con?". Tôi ngớ người, hóa ra ba tôi chưa từng nhập mã OTP để giao dịch trực tuyến. Tôi giải thích một hồi, nhấn nút "gửi lại mã" mấy lần, máy của ông vẫn không nhận được. Mỗi lần gửi mã số mới, hệ thống chỉ chờ hai phút thôi, chậm hơn là phải làm lại.

Cuối cùng, tôi quyết định cứ đăng ký bằng số khác, thầm nhủ "họ hỏi thì ráng giải thích". Đăng ký đến giờ đã hơn một tháng, chưa thấy ai gọi ba tôi đi tiêm. May thay, ông đã tiêm một mũi, đăng ký trực tiếp với tổ dân phố bằng công nghệ xưa như trái đất, tức giấy và bút. Tôi vừa thử tra thông tin của ba tôi trên Cổng tiêm chủng quốc gia, website trả lời "không tìm thấy".

Tôi là kỹ sư an ninh mạng, nhưng công việc của tôi không chỉ là làm cho sản phẩm an toàn, mà phải vừa an toàn vừa dễ sử dụng. Tôi dành nhiều thời gian suy nghĩ về trải nghiệm người dùng, làm sao cho nhanh, thuận tiện mà vẫn an toàn. Tôi hay nói với đồng nghiệp rằng, nếu mẹ tôi, và bây giờ tính luôn cả ba tôi, không dùng được thì thiết kế sản phẩm chưa đạt yêu cầu.

Nhiều năm trước, cứ mỗi vài tuần là Gmail yêu cầu người dùng nhập lại mật khẩu vì lý do an ninh. Chúng tôi quan sát thấy mỗi lần như vậy, lượng lớn người dùng một đi không trở lại, vì không nhớ mật khẩu. Mẹ tôi là một trong số đó. Thế là khá lâu rồi Gmail không còn "đòi" mật khẩu thường xuyên nữa, còn kỹ sư chúng tôi phải tính đến những phương án khác để bảo vệ người dùng.

Tôi nghĩ chắc hẳn Cổng tiêm chủng quốc gia phải có lý do mới yêu cầu "xác thực số điện thoại". Nhưng đâu phải ai muốn tiêm vaccine cũng có điện thoại di động. Và nếu có, họ chưa chắc đều hiểu "mã số xác nhận gửi qua SMS" là gì. Sau này tôi mới biết, nhà mạng khóa sim của ba tôi một chiều nên không nhận được tin nhắn.

Nếu Cổng tiêm chủng vẫn muốn xác nhận số điện thoại, một giải pháp thân thiện hơn với người dùng là gọi điện thay vì nhắn tin. Nhưng tốt nhất hãy hỏi: Liệu có cách nào bỏ xác nhận số điện thoại mà vẫn đạt được yêu cầu dữ liệu không? Tiêu chí thiết kế phải là bỏ được bước nào hay bước đó, chứ không phải thêm được bước nào thì cứ thêm.

Tôi chọn nói về Cổng tiêm chủng quốc gia, nhưng đây không phải vấn đề của riêng hệ thống này. Để viết bài này, tôi đã thử cài đặt hàng loạt app "chống dịch" của Việt Nam. Tôi thấy nhiều app cũng không sao, người dân sẵn sàng cài vài app khác nhau, miễn sao cái nào cũng chạy tốt, dễ dùng, an toàn, đảm bảo riêng tư, và, quan trọng hơn hết, phục vụ đúng nhu cầu của mọi tầng lớp.

Tôi nhấn mạnh nhu cầu vì tôi thấy có những app được tạo ra để phục vụ nhu cầu của cơ quan nhà nước hơn là người dân. Nhu cầu của dân rất đơn giản: tiêm vaccine, đi lại và nhận hỗ trợ an sinh, thất nghiệp. Câu hỏi không phải là tôi có thể làm app gì mà là người dân cần gì?

Thủ tướng mới chỉ đạo các bộ ngành thống nhất thành một ứng dụng chống dịch. Một số người đã nêu ý tưởng về một "siêu ứng dụng" của Việt Nam để "đi ra thế giới". Thật sự, chúng ta không phải đang chế tạo tên lửa để lên thăm chú Cuội trên Cung Trăng. Chúng ta chỉ đang cần một chiếc xe đạp để đi quanh trong làng thôi. Đương nhiên, muốn làm được chiếc xe đạp tốt vẫn cần phải có nghề.

Tin vui là Việt Nam có hàng trăm ngàn kỹ sư và chuyên gia phần mềm. Trong nước đã có những app, website vài chục triệu người dùng, tức là nhiều người đã biết làm cả "ô tô", nói gì "xe đạp". Các tập đoàn công nghệ lớn thế giới cũng không thiếu bóng dáng người Việt.

Những người thạo việc thường đã có việc làm tốt, bình thường chính quyền không có cách gì thu hút được họ, nhưng Covid đem đến một cơ hội. Phải cài bao nhiêu app, mà app nào cũng còn lỗi, họ cũng bức xúc, ngứa nghề chứ. Chỉ cần cho họ một cơ hội, tôi tin nhiều người sẽ nhào vào "tự gãi ngứa".

Chính quyền tạo ra cơ hội đó như thế nào? Câu trả lời, theo tôi, nằm ở mã nguồn mở và một tinh thần mở.

Phong trào phần mềm nguồn mở là một trong những sáng tạo làm nên thành công rực rỡ của giới công nghệ suốt mấy thập kỷ qua.

Không có ngành nào như ngành phần mềm, nơi các công ty thi nhau công bố tài sản trí tuệ, cho phép tất cả mọi người, kể cả đối thủ cạnh tranh, tham khảo, sử dụng lại, cải tiến tất cả thành quả sáng tạo của họ mà không lấy một xu. Nghe thì ngược đời, nhưng đây chính là cách họ cùng nhau phát triển, giúp tất cả đi nhanh hơn phần còn lại của thế giới.

Hầu hết phần mềm xương sống của Internet là phần mềm mã nguồn mở, hoặc được xây dựng dựa trên các phần mềm mã mở. Chính dòng chữ này cũng được tạo ra và đưa đến máy tính của bạn trên những phần mềm như vậy. Nói không ngoa, nếu không có sáng tạo văn hóa nguồn mở thì có lẽ chúng ta đã không có Internet như ngày hôm nay.

Vậy thì trước tiên, thay vì đóng cửa bảo nhau, âm thầm làm, nhà nước phải yêu cầu những đơn vị thực hiện các hệ thống thông tin quốc dân mở mã nguồn, mở thiết kế, công bố rộng rãi kế hoạch phát triển.

Lúc bấy giờ, ai thấy chỗ nào chưa được đều có thể tự do tham gia sửa lỗi và phát triển tính năng mới. Đây chính là cách kích thích sự sáng tạo và đóng góp từ mọi người dân, đặc biệt từ nhóm chuyên môn cao.

Năm ngoái, khi lũ lụt tàn phá miền Trung, một nhóm lập trình viên trẻ đã nhanh chóng tạo ra dự án mã nguồn mở Cứu hộ miền Trung, thu hút sự tham gia của kỹ sư Việt khắp thế giới. Họ cùng đóng góp ý kiến và hoàn thiện trang web. Nhiều kỹ sư làm việc trong các công ty "đối thủ" đã ngồi lại với nhau, chung tay vì đồng bào.

Hay như chỉ cách đây vài ngày, bạn tôi đang làm ở Amazon phát hiện một lỗ hổng bảo mật sơ đẳng trong một app tạo mã đi đường của Hà Nội, khiến ai cũng có thể làm giả mã đi đường. Nếu thiết kế của app này được công bố rộng rãi ngay từ đầu, những lỗ hổng như thế đã sớm được phát hiện và ngăn chặn. Giống như một căn nhà, sửa lỗi lúc còn trên bản vẽ bao giờ cũng dễ hơn khi đã xây xong.

Như bao phong trào cách tân khác, mã nguồn mở cũng có khi này khi nọ. Bluezone có lẽ là sản phẩm phần mềm mở đầu tiên của một cơ quan chính phủ, nhưng cách làm nửa vời khiến nó chẳng đến đâu, dù đã nhận được nhiều góp ý của cộng đồng.

Tôi là người chuyên đi tìm lỗ hổng trong phần mềm của người khác. Đến khi chuyển sang làm phần mềm nguồn mở, tôi cũng đã rất lo, vì sợ bị chê cười nếu lỡ làm sai. Nhưng rồi tôi nhận ra ai cũng có thể mắc lỗi, quan trọng là xử lý thế nào. Tôi nghiệm ra rằng mỗi lần người khác chỉ ra cái sai của mình là cơ hội để học hỏi, hoàn thiện bản thân và sản phẩm của mình.

Thành ra, mấu chốt theo tôi nằm ở tư duy cởi mở (open-mindedness). Lãnh đạo có tinh thần mở sẽ chào đón mọi người cùng tham gia, dám sai dám sửa. Còn tư duy chưa đủ mở thì có tuyên bố "app mở" cũng chỉ là bình mới rượu cũ, dễ gây cảm giác khoa trương hình thức.

Cách đây nhiều năm, giáo sư Ngô Quang Hưng đã chỉ ra rằng bằng cách tôn trọng và khuyến khích "quyền tự do tí toáy" của mỗi cá nhân, tinh thần mở tạo nền tảng và kích thích tiềm năng sáng tạo vô hạn từ cộng đồng, vì nó ghi nhận các tiếng nói cá nhân trong tiến trình phát triển.

Chính phủ đã nói nhiều về việc thu hút và sử dụng nhân tài. Dẫu không phải ai cũng muốn "làm quan" trong bộ máy nhà nước, nhưng tôi tin vẫn còn rất nhiều tấm lòng hướng về đất nước. Không riêng gì công nghệ, mở cửa tư duy và khuyến khích ai có năng lực đều có thể tham gia giải quyết các vấn đề lớn của xã hội là con đường ngắn nhất đưa Việt Nam sớm đi cùng thế giới.

Mọi thay đổi sáng tạo trên thế giới này, xét cho cùng, đều đến từ những cá nhân tâm huyết với vấn đề mà họ muốn giải quyết. Bởi có ai bị ngứa mà không muốn được quyền tự gãi?

Thứ Năm, 23 tháng 9, 2021

ĐẠO

Quan sát cách di chuyển của người mù, bạn sẽ thấy họ liên tục khua gậy từ bên này sang bên kia.

Họ không tìm kiếm con đường mà tìm kiếm các trở ngại, xác định những nơi mà họ không nên đi vào. Bằng cách định vị các giới hạn, họ nhận biết con đường.

Mục tiêu của người mù là con đường, không phải các trở ngại. Nhưng sự nhận biết và vượt qua các trở ngại khiến họ tìm thấy con đường.

Ở trong ĐẠO, bạn cũng vậy.

Mục tiêu tối hậu của cuộc đời không nằm trong bản thân cuộc đời mà ở sự vượt thoát khỏi những vướng mắc của cuộc đời.

Bằng cách nhận ra và vượt thoát khỏi những chướng ngại của hình tướng bạn tìm thấy lối vào vô tướng.

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

KHÔNG CÓ GÌ LÀ NGẪU NHIÊN

Không có gì là ngẫu nhiên. Mọi thứ đều đúng theo cách của riêng nó. Không có gì là sai lầm. Bạn đang ở đúng nơi bạn nên ở để đi qua những trải nghiệm cần thiết cho bạn. Không có gì là sai cả.



Khi bạn bắt đầu đánh giá cao điều này, bạn sẽ nhận ra rằng vũ trụ không trừng phạt bạn, không có Chúa Trời nào trừng phạt bạn, không có thế giới nào chống lại bạn.
Những điều dường như xảy ra trong cuộc sống của bạn là bởi vì nó cần thiết cho sự khai mở tinh thần của bạn tại thời điểm này. Những gì có vẻ tồi tệ thực sự là một phước lành ngụy trang. Những gì dường như tốt đẹp có thể là một chướng ngại đối với bạn. Đây là lý do tại sao bạn không bao giờ nên phán xét bản thân mình. Bạn phải có niềm tin vào sức mạnh đó. Khi bạn có đủ niềm tin, bạn sẽ trở nên hạnh phúc, chỉ bằng cách là chính mình.
Bạn càng nhìn thấy mọi thứ sai lạc trong cuộc sống của mình, bạn sẽ càng làm nó thêm dai dẳng, và sẽ rất khó khăn để không phản ứng lại với nó. Mọi thứ trở nên rất khó khăn cho bạn để không phản ứng lại. Và càng khó khăn để bạn thực hành truy xét Chân ngã, vì bạn đang để thế giới cho bạn thấy mọi thứ nên như thế nào, vì bạn đang phản ứng lại với thế giới. Đây là một sai lầm lớn.
Bí mật là hãy cho phép thế giới thể hiện cho bạn thấy điều gì nó sẽ thể hiện và bạn không phản ứng với bất cứ điều gì. Không có đồng tình hay phản đối. Chỉ bằng cách làm điều này một mình, bạn đạt đến trạng thái có thể nhìn thấy và cảm nhận cả thế giới, cả vũ trụ, nó đơn giản là một sự phóng chiếu tâm trí của chính bạn.
Hãy quên hết đi những gì bạn đọc trên báo chí, những gì bạn theo dõi trên TV. Đừng nhìn thế giới một cách quá nghiêm trọng. Và trên tất cả đừng nghiêm trọng hóa cuộc sống của bạn. Chẳng có gì muốn làm tổn thương bạn cả. Bạn không bao giờ có thể biết chính mình nếu bạn tiếp tục phản ứng với thế giới. Thực tại tuyệt đối chỉ được tiết lộ cho bạn khi bạn bắt đầu thấy rằng thế giới này là một hình ảnh. Suy nghĩ trở thành mọi vật. Nó không có thực tại riêng, nhưng thông qua quá trình suy nghĩ của bạn, bạn đã trao cho nó sự sống, và sau đó bạn bắt đầu cảm thấy áp lực với chính hình thù cuộc sống mà bạn đã tạo ra.
Đừng so sánh bản thân mình với ai cả. Bạn là duy nhất theo đúng bản chất của mình. Tất cả mọi người xuất hiện trên trái đất này đều vì duyên nghiệp, và bạn không bao giờ có thể biết rằng nghiệp chướng không tồn tại cho đến khi bạn ngừng phản ứng với nó. Tôi nói với bạn rằng không có gì tồn tại, nhân quả không tồn tại, thế giới không tồn tại, vũ trụ không tồn tại, có ích gì nếu bạn tiếp tục phản ứng với những điều kiện. Có thể nói, bạn không bao giờ biết được bạn còn bao nhiêu thời gian trong cơ thể này. Bạn có thể rời cơ thể vào ngày mai, tuần sau, năm sau. Và nếu bạn không nhận ra sự thật về chính mình, bạn sẽ tiếp tục trở lại Trái Đất, bạn sẽ quay lại hết lần này đến lần khác. Bạn sẽ bị mắc kẹt trên bánh xe luân hồi, cho đến khi bạn từ bỏ phản ứng của mình.
Hãy nghĩ xem hôm nay bạn thất vọng bao nhiêu lần vì một điều gì đó, hoặc chán nản, hay tức giận, hay buồn phiền, và bạn tin rằng mình có quyền được như vậy. Tại cái này hay tại cái kia, hay vì ai đó, vì cái gì đó. Tuy nhiên, đó là vì bạn lại quên rằng tất cả mọi thứ đều là bạn của bạn. Vương quốc khoáng sản, vương quốc rau củ, vương quốc động vật, vương quốc con người, tất cả đều là bạn của bạn. Đặc biệt là kẻ thù của bạn, vì đó là động lực để bạn nhìn thấy chính mình trong mọi hành động. Cái gọi là kẻ thù của bạn thực sự là bạn tốt nhất của bạn. Người không hợp với bạn đang giúp đỡ bạn, vì anh ấy hay cô ấy đang dạy bạn cách không phản ứng lại.
Có rất nhiều bài học để học, nhưng dành cho ai? Cho bạn? Bạn là ai? Chỉ cần bạn tin rằng bạn là một con người và bạn là một phần của Trái Đất, thì bạn sẽ có rất nhiều bài học để học. Nhưng ngay khi bạn từ bỏ ý tưởng về con người của mình và bắt đầu truy xét sự thật, rằng bạn không bao giờ được sinh ra và bạn không bao giờ chết đi, cho đến lúc đó bạn sẽ tiếp tục phải chịu khổ. Bạn dường như sẽ trải qua những tình huống, trải qua sự tái sinh, trải qua những trải nghiệm khác nhau.
Nhưng tôi nói với bạn rằng bạn không cần phải làm điều này. Bạn chỉ cần nhận ra rằng cái tôi cá nhân của bạn là thủ phạm. Nó không phải là bạn. Nó là ý tưởng của bạn về “tôi”. Chính ý tưởng về cái tôi (the I-thought) đã gây ra mọi vấn đề trong cuộc sống của bạn. Chính suy nghĩ của bạn sẽ khiến bạn đau khổ, bất hạnh, hiểu lầm và bất cứ điều gì. Bạn chỉ cần tiêu diệt và xóa sổ nó, ý tưởng về cái tôi.
Đây là lý do bạn quay trở lại hành tinh này, để nó xuất hiện, để tìm ra cái tôi và tiêu diệt nó. Đây là điều mà bạn nên tập trung mọi lúc. Đây là mục đích của bạn. Ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Tác giả: Robert Adams
Biên dịch: Bùi Văn Quyết

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2021

KIM VỀ VỚI CỔ, CẠN MỘT HỒ TRƯỜNG

Khi Kim Dung tạ thế, tên tuổi của Cổ Long – đã qua đời cách đây 36 năm – cũng được nhắc lại. Bởi vì làm sao có thể nói/viết về Kim mà quên đi Cổ, với chiếc gạch nối Minh Báo.



Tác phẩm của cả hai bao trùm toàn bộ thế giới võ hiệp. Nhiều người vì yêu Kim mà ghét Cổ, cũng chẳng ít người vì mê Cổ mà hạ thấp Kim. Nhưng ngày Kim tạ thế, người ta tin rốt cục cả hai cũng đã có thể vứt bỏ những phiền muộn cả đời đeo mang, để cùng nhau cạn một hồ trường.
Kiếm hiệp, đầu tiên và trên hết, là phương tiện để Kim Dung và Cổ Long bộc bạch lòng mình. Khát vọng lập danh, tình yêu và tình bạn. Ngày Kim Dung lập Minh báo, sinh kế luôn là vấn đề thúc bách. Ông vừa phải làm chủ bút, làm biên tập rồi kim luôn người viết. Ông viết xã luận và viết feuilleton kiếm hiệp để thu hút độc giả. Ông bảo mỗi ngày đều phải nuốt ít nhất 7.000 chữ, liên tục suốt 20 năm không dứt, đến nhiều lúc cơm nuốt không nổi.
Cổ Long cũng chọn nghiệp viết để lập danh. So với một Kim Dung xuất thân danh gia, học hành bài bản, vẻ ngoài ưa nhìn, Cổ Long tướng mạo tầm thường, cao chỉ 1,56 mét, đầu to như đấu, mắt nhỏ miệng rộng, đến tuổi trung niên lại còn phát phì. Đã xấu trai lại còn thất học, Cổ Long bỏ học từ rất sớm, lăn lộn mưu sinh. Điều đó khiến Cổ Long dù thông minh và tài hoa nhưng luôn mang đầy tự ti, mặc cảm. Bởi vậy nhân vật của Cổ Long ai cũng phong tư tài mạo tót vời, vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa. Chính là để bù trừ cho người viết ngoài đời vậy.
Xuyên suốt gần một trăm bộ tiểu thuyết võ hiệp của hai người (Kim Dung 15, Cổ Long gần 70), tất cả đều tập trung bày tỏ nỗi lòng trăn trở của cả hai về nhân sinh. Như những gì đã được Nguyễn Bá Trác ghi lại từ một khúc ca Trung Hoa, rồi đặt tên là Hồ Trường:
“Miên miên mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh, nào ai say.
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.”
Năm 1972, không lâu sau khi đăng kỳ cuối cùng của Lộc Đỉnh Ký trên Minh Báo, Kim Dung tuyên bố phong bút, vì biết đã đạt đến đỉnh cao của nghề viết tiểu thuyết. Nhưng vì mục feuilleton kiếm hiệp trên Minh Báo đã ăn khách quá lâu, gần như là mục đinh của tờ báo, Kim Dung đã âm thầm tuyển lựa người thay thế mình, để giữ cho tờ báo không mất đi sức hút.
Trần Mặc, trong phần trích đầu sách “Đa tình kiếm khác vô tình kiếm”, thuật lại câu chuyện như sau:
“Khi Kim Dung viết thư tay gửi cho Cổ Long, đấy không chỉ là một lá thư thuần túy của một chủ bút dành cho một người viết để mời cộng tác, mà còn là động thái truyền lại ấn tín của võ lâm minh chủ. Vu Đông Lâu, cộng sự của Cổ Long ngày ấy, cho biết Cổ Long hờ hững nhờ mình bóc thư, xem tay nào từ Hồng Kông lại đi gửi thư cho mình. Đến khi biết là Kim Dung, Cổ Long giật ngay thư lại, xem như báu vật. Đọc xem thư, bần thần nằm dài trên sofa hồi lâu mới ngồi dậy, vì không thể tin đấy là sự thật. Cổ Long đã được Kim Dung thừa nhận. Và để xứng đáng lòng tin của võ lâm minh chủ, Lục Tiểu Phụng truyền kỳ đã được Cổ Long dồn nhiêu tâm huyết, đăng dài kỳ từ 1972 đến 1976 mới hết.”
Sau đó, Cổ Long viết cho Kim Dung, giữa họ là những bức thư. Tình bạn vong niên giữa hai con người khác nhau xa lắc về xuất thân, địa vị xã hội thật đẹp. Kim Dung là bác học, nhưng chưa từng coi thường kẻ mang sở học tạp nham Cổ Long. Cổ Long kiêu ngạo dễ tổn thương, nhưng với Kim Dung luôn trước kính sau quý. Cũng bởi Kim Dung đã đi đến tận cùng nghệ thuật tiểu thuyết bác học, Cổ Long đã nghĩ ra con đường riêng cho mình, để vượt thoát khỏi người đàn anh vĩ đại. Nói cách khác, Cổ Long không hoàn toàn kế thừa y bát của Kim Dung, mà tự mình bước ra, khai sơn lập phái.
Truyện của Kim Dung lẫn Cổ Long nói lên rất rõ sự khác biệt như mặt trăng và mặt trời của cả hai. Điều đó dễ giải thích vì sao fan của người này lại thường không mê được người kia.
Kim Dung, sau khi phong bút, có hai lần dụng công sửa chữa toàn bộ bản thảo của mình. Cổ Long sau khi viết, như chính ông thừa nhận, hoàn toàn không có nhu cầu đọc lại. Kim Dung nghiêm túc với tác phẩm của mình bao nhiêu, Cổ Long vô trách nhiệm bấy nhiêu. Bởi vì Kim Dung luôn trăn trở, nghiền ngẫm khi tỉnh táo. Cổ Long lại chỉ làm việc ấy khi say. Một bên là triết gia, một bên là nghệ sĩ.
Kim Dung viết câu văn thường rất dài. Văn của ông như một lộ thái cực kiếm, kết thúc chiêu này là khởi đầu chiêu khác, ý nối ý, tình kết tình, cứ thế mà liên miên bất tuyệt. Câu văn của Cổ Long lại rất ngắn. Nhịp điệu nhanh, dồn dập như một bộ phim hành động, trinh thám. Kim Dung là danh gia kiếm thuật, Cổ Long là cao thủ ám khí. Ngay cả nhân vật ưng ý nhất của đời Cổ Long – Lý Tầm Hoan – cũng là một bậc thầy về ám khí, với ngọn Tiểu Lý Phi Đao. Và cái tên Tầm Hoan ấy cũng vận vào đời Cổ Long. Cả một đời tìm kiếm niềm vui.
Tình yêu trong Kim Dung thuần phác đôn hậu, chưa nhuốm mùi sắc dục. Quách Tĩnh – Hoàng Dung bên nhau một bước không rời, tình ý miên mang nhưng chưa một lần vượt vòng lễ giáo. Với cả giang hồ, Tiểu Long Nữ có thể đã mất trinh. Nhưng Dương Quá mang nàng trong tim, như một vị hôn thê băng thanh ngọc khiết. Lệnh Hồ Xung trước yêu Linh San, sau yêu Doanh Doanh, giữa đường ăn ngủ cùng với đám tăng ni phái Hằng Sơn, tuyệt chưa một lần nghĩ đến chuyện trên bộc trong dâu. Đoàn Dự, bị ép uống âm dương hòa hợp tán, cho vào trong một phòng với Mộc Uyển Thanh, lửa dục thiêu đốt tâm trí, người bên cạnh lại xinh như ngọc, nhưng thà chết không xâm hại đối phương. Rồi chính chàng sau đó đã yêu và si mê Vương Ngữ Yên như nữ thần. Giữa cái giếng khô, đôi bên hiểu lòng nhau, toàn bộ chân tình dành cho Mộ Dung Phục, nay trao hết cho chàng. Vậy mà tuyệt đối không có màn “hãy ngồi xuống đây, hôn nhau lần này”. Tình yêu đã vượt lên tình dục rất xa.
Cổ Long thì khác. Tác phẩm của ông ngập tràn sắc dục. Nhân vật chính của Cổ Long tuyệt đại đa số là phường đam mê tửu sắc, giết người không gớm tay, chơi gái không gớm… khúc này đã phá vỡ sự nghiêm trang của bài viết, xin lỗi độc giả. Đàn bà trong truyện Kim Dung thanh cao dịu vợi, đàn bà trong Cổ Long dâm tà trá ngụy. Trong vấn đề tình yêu và tình dục, Kim lại rất cổ, còn Cổ lại rất kim.
Trong uống rượu, Kim Dung là dân sành sỏi, biết thưởng thức, mượn chén rượu để trò chuyện. So với Tổ Thiên Thu - bậc thầy thẩm rượu, đám nhân vật chính của Cổ Long chỉ là nhũng đệ tử của Lưu Linh không hơn không kém. Kim Dung dùng rượu để kết giao, Cổ Long dùng rượu để quên sầu. Người ta nói ngày Cổ Long chết, đám bạn chí cốt không mang hoa đến, mà mỗi ông vác một chai Hennessy, cứ thế mà rót xuống mồ, rồi lại mang 48 chai khác chôn theo Cổ Long, tượng trưng cho 48 năm sống trên đời, cùng lời phúng điếu bi thương: "Tiểu Lý Phi Đao thành thất truyền, nhân thế hết gặp Sở Lưu Hương."
Kiến thức của Kim Dung rất rộng, của Cổ Long rất hẹp. Nếu như tài hoa của Kim Dung đi theo con đường phát huy sở trường thì Cổ Long đích thị là hạn chế sở đoản.
Nhân vật của Kim Dung dẫu cho bị ràng buộc rất nhiều bởi lễ giáo và các khái niệm anh hùng nhưng vẫn ung dung khoái hoạt, càng về sau tư tưởng tự do càng mạnh. Nhân vật Cổ Long thoạt nhìn tự do, kỳ thực luôn bị mắc kẹt với quá khứ lẫn hiện tại. Nhân tại giang hồ, thân bất do kỷ.
Kim Dung luôn cho cho nhân vật của một một “backstory” rất mạnh. Anh là con ai, học nghệ ở đâu, quá khứ thế nào, tình đầu ra sao? Sau khi đã có backstory đủ mạnh, Kim ném nhân vật vào tiểu thuyết, để họ tự tìm hiểu ý nghĩa của cuộc đời. Và vì đã có quá khứ lẫn hiện tại, Kim Dung chẳng thể quản tương lai của họ được nữa. Như trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Kim Dung rất thích để cho Trương Vô Kỵ thành đôi với Tiểu Chiêu, cô gái mà ông yêu nhất. Nhưng rốt cục, Trương giáo chủ vẫn từ bỏ giang hồ, về vẽ lông mày cho Triệu Mẫn.
Vì nhân vật của Kim Dung có đời sống riêng, nên họ rất sống động. Và ta luôn nhìn thấy chính mình, ở phần đời của một nhân vật đó. Phụ nữ có lẽ sẽ đồng cảm với Nhạc Linh San thật nhiều, khi nàng từ bỏ “anh trai mưa” Lệnh Hồ Xung để về với tình yêu đích thực của mình: Lâm Bình Chi. Cuộc sống là những lựa chọn. Và dẫu chọn sai, vẫn không có gì hối hận. Đến chết, Nhạc Linh San cũng chỉ cầu xin anh trai mưa chu toàn cho anh yêu của mình. Giây phút ấy, Lệnh Hồ Xung hoàn toàn rũ bỏ được tình yêu đầu thuần khiết, để dành trọn con tim cho Doanh Doanh. Còn nếu trong những giây cuối cùng, Nhạc Linh San lại chuyển sang giọng hối hận, xin lỗi Lệnh Hồ đại ca, hãy tha thứ cho tiểu muội, thì Lệnh Hồ Xung có lẽ chưa thể hoàn toàn quên nàng được. Mối tình giữa chàng và Doanh Doanh tất nhiên vẫn còn một vết gợn, khúc Tiếu Ngạo chưa thể toàn mỹ.
Lại nói về Doanh Doanh, con gái giáo chủ, quyền lực nghiêng thành, lại yêu một chàng lãng tử mê rượu, không có thanh kiếm thì gần như là người vô dụng. Và người con gái ấy yêu nhưng không ghen, dẫu gái bao vây Lệnh Hồ thiếu hiệp như ruồi. Và nàng cũng chẳng hể sốt ruột khi biết Lệnh Hồ Xung chưa thể yêu mình toàn ý. Cái gì của mình sẽ là của mình, không phải của mình, cưỡng cầu cũng chẳng có được. Cẩm nang chinh phục đàn ông, ngoài Doanh Doanh, còn ai có thể viết được đây?
Trong lúc nhân vật của Kim Dung nhân thân rõ ràng, Nhân vật của Cổ Long lai lịch bất minh, là những vì sao lẻ loi trên trời. Khi thế sự giang hồ mở ra, họ đã ở đó với nỗi cô đơn muôn thuở. Nếu Kim Dung là bậc thầy của blockbuster, Cổ Long lại đi theo dòng art-house. Nhân vật của ông hành động và di chuyển, nhưng chẳng biết đi đâu, về đâu. Họ thủy chung không xử lý những mối quan hệ xã hội phức tạp. Dường như cuộc đời của họ chỉ có hai trạng thái: say xỉn và tỉnh táo, sinh tồn và tử vọng. Họ uống rượu thật mạnh, dùng binh khí thật sắt. Họ tiêu diệt kẻ thù trên một hành trình tự diệt.
Bổi cảnh của Kim Dung bao la hùng vĩ, đa dạng thú vị. Độc giả mê Kim Dung sao thể có thể quên được những đại cảnh choáng ngợp: Quang Minh Đỉnh, núi Hoa Sơn, Nhạn Môn Quan, ngọn Thiếu Thất, thành Tương Dương… Kim Dung ném những số phận nhỏ bé vào bối cảnh vĩ đại, như để làm nổi bật sự tương phản của đời người trước số mệnh. Cổ Long thì trước sau chỉ kéo nhân vật của mình vào những chỗ thật nhó bé, chật hẹp: quán rượu, tửu điểm. Nếu có núi thì cũng chỉ là ngọn, nếu có Tử Cấm Thành thì cũng chỉ là nóc nhà.
Những hiệp khách của Kim Dung hành động quang minh, lỗi lạc. Những trận chiến kinh tâm động phách nhất đều diễn ra vào ban ngày, dưới ánh mặt trời. Trong khi đó, hiệp khách của Cổ Long thuộc về màn đêm. Có lẽ vì ban đêm người ta mới… nhậu. A Phi là con sói dưới đêm trăng, Tây Môn Xuy Tuyết là tảng băng dưới trăng, Lý Tầm Hoan là kẻ si tình dưới trăng. Những trận đánh kinh điển của Cổ Long đều diễn ra dưới ánh nguyệt.
Ôn Thụy An khẳng định: "Địa vị của Kim Dung và Cổ Long, tuyệt đối là song song”. Sự so sánh, đối chiếu là điều không thể tránh khỏi trong những ngày này. Kim và Cổ, ai giỏi hơn? Các nhân vật trong truyện Kim Dung, ai giỏi nhất, ai đẹp nhất? Có lẽ chính Kim Dung cũng chẳng có… tư cách để trả lời. Vì như chính ông nói, nhân vật có đời sống và số phận của riêng họ. Chúng ta tuyệt đối chẳng có quyền can dự vào.
Phán xét làm cho con người đau khổ. Kim Dung bị người vợ đầu phụ rẫy, lại đi phụ rẫy người vợ thứ hai, kết hôn với người vợ thứ ba kém mình 30 tuổi. Sau khi phong bút tưởng sống đời khoái hoạt ung dung như Lệnh Hồ Xung, rốt cục cũng chỉ chuốc thêm nhưng ê chề của nhân thế. Con trai đầu treo cổ tự vẫn năm 19 tuổi, con gái thứ bị sốt mà điếc cả hai tai. Nhân thế bảo Kim Dung chỉ vĩ đại trên trang sách, nhưng quá tầm thường giữa đời thực.
Cổ Long một đời đau khổ vì đàn bà, sinh ra hận đàn bà, vùi đầu vào bia rượu. Bỏ địa vị của một tiểu thuyết gia, Kim Dung còn là một nhà lịch sử, nhà ẩm thực học, sinh vật học, nhà nghiên cứu lịch sử… Bỏ địa vị ấy, Cổ Long có lẽ là một ma men thất bại toàn tập. Nhưng dù là bác học như Kim Dung hay thất học như Cổ Long, ở giai đoạn cuối đời họ cũng đã ngộ ra thế nào là tri túc.
Cuộc đời đầy những muộn phiền, chỉ có những khoảnh khắc hạnh phúc và những sát na an ủi. Khi ta biết thỉnh thoảng, ở tận cùng khổ đau, vẫn có người đến bên ta, cùng cạn một hồ trường.
Sau tất cả, Lý Tầm Hoan vẫn có Á Phi, và Lênh Hồ Xung vẫn có Nhậm Doanh Doanh cùng anh trỗi khúc tiêu cầm Tiếu Ngạo!

Khanh Khanh