Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiến Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiến Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Hộ khẩu: 9 điều có thể bạn chưa biết

Quỳnh Vi

Báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới và Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho thấy, chế độ hộ khẩu có tuổi đời hơn 50 năm của Việt Nam đang trở thành lực cản lớn cho sự phát triển xã hội.
Ảnh: Michael Waibel / COASTAL City / Saigoneer.
Được công bố ngày 16/6/2016, báo cáo “Hệ thống đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam” cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về lịch sử hình thành và tác động của chế độ hộ khẩu đối với đời sinh kinh tế – xã hội của người dân.
Luật Khoa tóm tắt 9 vấn đề pháp lý và quyền con người liên quan đến hệ thống đăng ký hộ khẩu tại Việt Nam mà bản báo cáo đã tổng kết.
1. Chế độ hộ khẩu tại Việt Nam được hình thành để kiểm soát trật tự xã hội và quản lý nhà nước về kinh tế, dựa theo hình mẫu của Trung Quốc.
Quyền tự do đi lại và quyền tự do cư trú của công dân là quyền hiến định được công nhận bởi Hiến pháp Việt Nam năm 1960. Các bản Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992, và 2013 đều có những quy định tương tự.
Tuy nhiên, ngay sau khi tiếp quản miền Bắc vào năm 1954, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập đã cho ra đời chế độ hộ khẩu tại Việt Nam vì hai mối quan ngại chính.
Thứ nhất, việc đô thị hóa quá nhanh đi kèm với sự gia tăng của lượng người di cư từ nông thôn về các thành phố lớn dẫn đến nạn thất nghiệp, và sẽ phá vỡ các kế hoạch phát triển của nhà nước.
Thứ hai, chính quyền mới cũng có những e ngại nhất định với các thế lực chống đối và cần kiểm soát an ninh.
Do đó, việc hạn chế tự do di chuyển của công dân được xem là một vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết, và chế độ hộ khẩu được xác định là công cụ tối ưu cho mục đích này.
Dựa trên hình mẫu gốc là hệ thống hộ khẩu (hukou) của Trung Quốc, chế độ hộ khẩu tại Việt Nam được xây dựng với cùng mục đích: quản lý người dân về mặt kinh tế cũng như kiểm soát an ninh trật tự xã hội.
2. Văn bản pháp lý đầu tiên giới hạn quyền tự do đi lại và cư trú của người dân ra đời 7 năm trước khi hệ thống hộ khẩu chính thức được áp dụng.
Vào năm 1957, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành Thông tư 495-TTg và đưa ra các quy định về một số biện pháp hạn chế cư dân các vùng nông thôn di chuyển ra các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng.
Tuy nhiên, phải đến 7 năm sau, khi Nghị định 104-CP được chính phủ ban hành vào năm 1964 thì hệ thống hộ khẩu mới chính thức được áp dụng tại miền Bắc Việt Nam. Nghị định này ra đời theo yêu cầu của Bộ Công an, vỗn cũng là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm thi hành, với lý do tăng cường đảm bảo an ninh cho đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh.
Sau tháng 4 năm 1975, chế độ hộ khẩu được áp dụng cho cả nước.
3. Các tham số chính của hệ thống hộ khẩu tại Việt Nam được thiết lập bởi Nghị định 104-CP năm 1964 và hầu như không thay đổi nhiều trong gần 40 năm.
Các tham số chính của hệ thống hộ khẩu tại Việt Nam dựa theo Nghị định 104-CP bao gồm: mỗi người dân chỉ được đăng ký là nhân khẩu thường trú tại một và chỉ một hộ gia đình và việc di chuyển chỉ được phép khi có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
Hệ thống đăng ký hộ khẩu có một số sửa đổi theo thời gian bởi Nghị định 4-HDBT năm 1988, Nghị định 51-CP năm 1997 và Thông tư 6-TT/BNV(C13). Tuy nhiên, tinh thần của Nghị định 104-CP trên căn bản vẫn được giữ nguyên cho đến khi được thay thế bằng Luật Cư trú năm 2006.
Chế độ hộ khẩu hiện hành tại Việt Nam được quy định trong Luật Cư trú năm 2006 với các sửa đổi vào năm 2013 và 2014. Nhưng tại Hà Nội, quy định hộ khẩu còn dựa theo một luật ban hành riêng cho thủ đô vào năm 2012 (Luật Thủ đô).
4. Trước thời kỳ Đổi Mới, nếu không có hộ khẩu thì một người sẽ sống mà không có đủ quyền dân sự và dịch vụ do nhà nước cung cấp.
Trên thế giới, Việt Nam và Trung Quốc là hai ví dụ nổi bật cho việc gắn cung cấp dịch vụ xã hội với chế độ hộ khẩu.
Tại Việt Nam, trước khi thực hiện cải cách kinh tế trong thời kỳ Đổi Mới năm 1986, hệ thống hộ khẩu buộc chặt người dân với việc phân phối lương thực, đất đai, nhà cửa, giáo dục, y tế và việc làm. Hầu như tất cả các quyền dân sự chỉ được đảm bảo khi một công dân có hộ khẩu vì họ bị quản lý trực tiếp bởi nhà nước thông qua các đơn vị sử dụng lao động và hợp tác xã.
Cũng chính vì nhà nước quản lý trực tiếp nên trước năm 1987, việc chuyển hộ khẩu từ nơi này đến nơi khác tuy có thể làm được về mặt lý thuyết, nhưng gần như là bất khả thi trong thực tế. Công dân không thể chuyển hộ khẩu mà không có sự đồng ý của cấp thẩm quyền vì họ cần phải có giấy phép di chuyển của nơi họ dời đi. Nếu di chuyển mà không có giấy phép thì sẽ rất vất vả để có thể tồn tại ở nơi họ chuyển đến.
Sau khi bắt đầu thời kỳ Đổi Mới, sở hữu tập thể và chế độ phân phối của nhà nước cũng dần bị dỡ bỏ. Và vì vậy, tuy hệ thống hộ khẩu vẫn tồn tại, nhưng nó đã không còn ảnh hưởng đáng kể đến quyền và vấn đề sinh kế của người dân như trước.
5. Luật Cư trú năm 2006 đã có những cải cách lớn về chính sách hộ khẩu 
Trước năm 2006, có 4 loại đăng ký hộ khẩu ở Việt Nam – KT1, KT2, KT3, và KT4. KT1 dành cho những người thường trú, KT2 dành cho những người vẫn ở trong tỉnh, thành phố nhưng đăng ký ở quận, huyện khác, KT3 dành cho những người tạm trú dài hạn, và KT4 dành cho những người cư trú tạm thời.
Luật Cư trú năm 2006 gộp 4 loại hộ khẩu trên thành hai loại: tạm trú và thường trú. Tuy thế, trong thực tiễn, tình trạng phân biệt KT3 và KT4 vẫn diễn ra.
Luật cũng giảm đáng kể các điều kiện xin hộ khẩu thường trú. Để có được hộ khẩu ở các thành phố lớn, người dân chỉ buộc phải ở đó liên tục 1 năm thay vì là 3 năm như trước kia.
Luật Cư trú 2006 còn đơn giản hóa thủ tục chuyển đổi tình trạng hộ khẩu. Cải cách lớn nhất là việc xin giấy xác nhận tạm vắng từ nơi chuyển đi đã được bãi bỏ. Các điều kiện về xuất trình giấy tờ chứng thực việc làm hoặc giấy nhập học ở nơi đến cũng được bãi bỏ.
Ảnh: Người dân tại cơ quan đăng ký hộ khẩu (tuyentaphay.com).
6. Luật Cư trú sửa đổi năm 2013 lại thắt chặt hệ thống đăng ký thường trú tại các thành phố lớn, trực thuộc trung ương.
Đối với những cải cách của Luật Cư trú 2006, Bộ Công an đã phê phán là quá lỏng lẻo và nêu ra quan ngại về sự gia tăng mạnh mẽ các trường hợp thay đổi hộ khẩu – đặc biệt là ở các thành phố lớn – từ khi luật được ban hành.
Vì những quan ngại này, Luật Cư trú đã được sửa đổi vào năm 2013, thắt chặt đáng kể các yêu cầu đối với hộ khẩu thường trú. Đáng kể nhất là yêu cầu phải cư trú liên tục 2 năm ở thành phố trực thuộc trung ương thay vì chỉ 1 năm.
Luật Cư trú sửa đổi 2013 cũng ghi nhận chính quyền địa phương ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ và Hải Phòng có thẩm quyền thiết lập các chính sách cư trú của riêng mình.
Luật cư trú tại các thành phố lớn đều có quy định chặt chẽ hơn. Ví dụ như ở Hà Nội, Luật Thủ đô 2012 yêu cầu người xin đăng ký thường trú phải sống ở đó liên tục trong 3 năm (so với hướng dẫn của cả nước là 2 năm). Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội còn đưa ra quy định về các yêu cầu tối thiểu đối với nhà ở cho những người muốn xin nhập hộ khẩu.
Những nới lỏng trong Luật Cư trú 2006 đối với hộ khẩu thường trú đã bị thắt chặt bằng những chính sách vừa nêu, và vì vậy hệ thống hộ khẩu ở Việt Nam đã không còn những bước tiến bộ rõ rệt nữa.
7. Những người không có hộ khẩu thường trú gặp sự phân biệt đối xử khi xin việc tại các cơ quan nhà nước 
Theo thống kê của bản báo cáo, những người không có hộ khẩu thường trú hầu như không có khả năng tiếp cận các cơ hội việc làm trong các cơ quan nhà nước.
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, và Đà Nẵng từ lâu đã áp dụng chính sách bắt buộc đăng ký thường trú đối với các công việc công chức thông thường và chỉ miễn cho các trường hợp đặc biệt.
Trong khi đó, kết quả của các cuộc khảo sát được tổng kết lại cho thấy hiện tượng phân biệt đối xử đối với người lao động trong các công ty tư nhân về tình trạng cư trú hiện nay đã không còn phổ biến.
Bản tổng kết còn cho biết thêm, những yêu cầu khắt khe về đăng ký thường trú và quyền lợi mà nó mang lại – như được vào biên chế nhà nước ở các thành phố lớn – đã dẫn đến tình trạng người dân phải chi trả một số tiền lớn cho các khoảng phí không chính thức để có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú.
Minh họa của ĐAN (laodong.com.vn)
8. Trẻ em và phụ nữ là những nhóm yếu thế gặp nhiều phân biệt đối xử nhất bởi hệ thống đăng ký hộ khẩu trong việc tiếp cận các dịch vụ công như giáo dục, y tế và các chương trình xã hội khác
Trẻ em không đăng ký cư trú ít có khả năng nhập học trường công, và trẻ đăng ký tạm trú ít có cơ hội đến trường hơn so với trẻ có đăng ký thường trú. Nhiều trường học ưu tiên cho học sinh có hộ khẩu thường trú. Đặc biệt ở cấp phổ thông, học sinh không có hộ khẩu thường trú ít có khả năng được nhập học hơn.
Đối với các em gái, tình trạng bất bình đẳng còn tăng thêm một bậc. Các thống kê cho biết, phụ huynh Việt Nam sẽ bỏ ra công sức, cũng như nỗ lực nhiều hơn trong việc giúp con trai họ vượt qua các rào cản hộ khẩu để có thể nhập học cấp 2, nhưng các học sinh nữ thì lại không có được sự giúp đỡ này từ cha mẹ.
Cũng theo bản báo cáo, hệ thống hộ khẩu ở Việt Nam là rào cản khiến cho một bộ phận trẻ em dưới 6 tuổi không có được bảo hiểm y tế. Phụ nữ lại là đối tượng phải chịu trách nhiệm chính trong việc tìm phương pháp xử lý để giúp con cái của mình được tiếp cận bảo hiểm y tế .
Ngoài ra, những người không có hộ khẩu thường trú cũng phải chịu chi phí y tế cao hơn và thường bị chỉ định dịch vụ y tế xa nơi cư trú.
Người tạm trú cũng có ít cơ hội hơn trong việc tham gia các hoạt động xã hội và các tổ chức ở địa phương. Và trong thực tế, những người tạm trú cũng hiếm khi được đưa vào danh sách hộ nghèo. Ngay cả các dịch vụ thu phí như giá điện, người tạm trú cũng phải trả một giá cao hơn.
9. Luật Hộ tịch mới 2016 đã tháo bỏ phần nào các trở ngại cho người tạm trú trong việc thực hiện các thủ tục giấy tờ hành chính cơ bản tại nơi họ cư trú
Bản báo cáo cho biết điều phiền hà lớn nhất mà chế độ hộ khẩu mang lại cho những người không có hộ khẩu thường trú tại địa phương là việc họ phải trở về nguyên quán để thực hiện những thủ tục hành chính cơ bản, ví dụ như đổi chứng minh thư, khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn, xác nhận tình trạng hôn nhân v.v.
Tuy nhiên, điều này đã được cải thiện vào đầu năm 2016 khi Luật Hộ tịch mới có hiệu lực ở Việt Nam. Theo Điều 5 của Luật Hộ tịch 2016, thủ tục hộ tịch đối với khai sinh, đăng ký kết hôn có thể được thực hiện tại nơi cư trú hiện tại của một người dù họ không đăng ký tạm trú hay thường trú ở nơi đó.

Tổng kết lại, bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy tình trạng cư trú đã khiến một bộ phận không nhỏ dân số Việt Nam chịu cảnh phân biệt đối xử trong việc tiếp cận các dịch vụ công và các vấn đề hành chính hằng ngày.
Vì vậy, bản báo cáo đã đưa ra đề nghị cải cách chính sách liên quan đến chế độ hộ khẩu. Theo đó, nếu Việt Nam không thể xóa bỏ hoàn toàn hệ thống hộ khẩu thì ít nhất, chính phủ phải thay đổi nó một cách đáng kể.
Điều này có thể bắt đầu bằng việc nhà nước tối giản hóa các thủ tục liên quan đến đăng ký hộ khẩu thường trú cho người dân, đồng thời giúp đỡ những người không có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú được tiếp xúc với các dịch vụ công ở nơi họ đang sống một cách công bằng.
Tài liệu tham khảo:

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016

HÃY ĐỐI THOẠI, CHỚ ĐÀN ÁP DÂN!

FB Mac Van Trang

Tôi muốn gửi đến chính quyền lời khuyên: Hãy lắng nghe và đối thoại với người dân, chớ đàn áp những người dân biểu tình, khiếu kiện FORMOSA. Vì sao?

1.Vì người dân có lẽ phải, chính quyền đã sai trái. FORMOSA đã bị chính quê hương Đài Loan của nó xua đuổi, không nước nào chứa chấp, thế mà Việt Nam rước về với bao nhiêu ưu đãi đầy khuất tất. Khi FORMOSA gây ra thảm họa môi trưởng biển, chính quyền đã bênh che cho họ, mà không lắng nghe, thấu hiểu nỗi cơ cực, uất hận của hàng triệu người dân mất biển, mất nghề truyền thống ngàn đời, mất môi trường sống an lành cho họ và cho các thế hệ con cháu... Chính quyền đã sai khi chọn FORMOSA, bất chấp ý nguyện của người dân; đã phớt lờ bao nhiêu đơn thư, những lời kêu gọi chân thành và thiết tha; đã đàn áp dã man những cuộc biểu tình đòi “Biển sạch, chính quyền minh bạch”... Tức nước thì vỡ bờ! Giờ đây, chính quyền hãy chân thành, thấy lỗi ở mình, mà xử lý vấn đề, đừng đổ tại dân.

2. Người dân đã hành động một cách ôn hòa, đoàn kết, có tổ chức, đúng Hiến pháp. Ngày 26/9 hơn 500 người dân ở xã Vĩnh Yên, Quỳnh Phương, Quỳnh Lộc, Nghệ An đã đưa đơn khởi kiện lên Tòa án huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi Formosa đặt trụ sở, theo đúng luật Việt Nam. Dù bị CA cản trở gây khó khăn, nhưng người dân rất ôn hoà xử lý mọi chuyện đúng pháp luật, có trật tự. 

Sáng 02/10/2016) hàng chục ngàn người dân Kỳ Anh lại tiếp tục xuống đường biểu tình chống Formosa: Yêu cầu khởi tố Formosa và yêu cầu Formosa rút khỏi Việt Nam. Lúc đầu có xảy ra xô xát giữa CA và người dân, nhưng rất may, những người lãnh đạo cuộc biểu tình đã yêu cầu dân chúng không được manh động và lực lượng CA cũng rút lui. Qua những vụ việc trên, chứng tỏ dân chúng đã giác ngộ, biết đấu tranh ôn hòa, có tổ chức chặt chẽ... Điều đó hoàn toàn trái với luận điệu tuyên truyền: Dân ta dân trí thấp, tụ tập đông người sẽ sinh tâm lý bầy đàn, gây ra bạo loạn xã hội... Điều này càng cho thấy cấp thiết phải có Luật Biểu tình để người dân và chính quyền đều biết hành xử đúng luật. Hàng chục ngàn người dân đã hiểu luật, giác ngộ quyền công dân, nhận thức rõ mình có lẽ phải, đấu tranh cho công lý, cho sự sống còn của dân tộc và các thế hệ mai sau... thì đó là một sức mạnh ghê gớm, đừng đổ thêm dầu vào lửa!

3. Thời nay khác xưa rồi. Trước đây mọi sự phản kháng của người dân dưới bất cứ hình thức nào đều bị lực lượng chuyên chính vô sản của chính quyền cộng sản dập tắt bằng mọi cách và xóa sạch dấu vết; rồi bộ máy tuyên truyền “đồng loạt ra quân” lấp liếm thành công. Dù sau nay lịch sử có lật lại, thì chuyện đã rồi... Tôi biết CA rất kiêu ngao, xưa nay họ chưa bao giờ chịu thua dân; sáng nay họ tạm rút lui, rồi sẽ tính trăm mưu, ngàn kế để phân hóa, tiếp tục "trừ khử các phần tử nguy hiểm"... Nhưng nay thì khác, mỗi hành động của chính quyền bắt bớ, đàn áp người dân đều không thể che dấu, và ngay tức khắc bị đưa lên mạng xã hội lan truyền khắp trong và ngoài nước. Thậm chí hành động của từng cá nhân sẽ được ghi lại, nhân dân sẽ truy tìm ra kẻ thủ ác ở đâu, cha, mẹ, vợ con nó thế nào... để hỏi tội. Chính quyền đã gây nhiều tội ác, hình ảnh tràn ngập trên mạng xã hội rồi, đừng lan truyền thêm những tội ác mới!

Tóm lại, còn nhiều lý do khác, nhưng với ba lý do trên, tôi thành tâm khuyên chính quyền đừng đối đầu, đàn áp dân nữa. Hãy chọn dân, đứng về phía nhân dân. Chỉ có dân mới cứu được họ và cứu được nước. Quan nhất thời, dân vạn đại mà.

Nhân dân Việt Nam quang vinh muôn năm!

02/10/2016
MVT

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Cảm thán "mở rộng dân chủ"

Báo chí chính thống tới giờ này còn viết và cho đăng những bài “tụng ca” về việc “mở rộng dân chủ” và hết lời tán dương cứ  như là một sự phát triển vượt bậc, một thành tích chói lọi của chế độ vậy.

Tác giả các bài báo loại này hẳn đã quên rằng sách vở chính thức, văn kiện chính trị quan trọng của ta cũng như có rất nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của nước ta quá cố, về hưu hay đương nhiệm nhiều lần khẳng định chắc nịch rằng “chế độ ta dân chủ gấp nghìn lần dân chủ tư sản”, hoặc là “chế độ ta dân chủ đến thế là cùng”… Nói tóm lại, ta dân chủ đến tột cùng rồi chẳng còn ai dân chủ hơn ta nữa.

Vậy các bài báo ca ngợi cái gọi là “tiếp tục mở rộng dân chủ” có nghĩa là làm sao?
Chẳng lẽ phủ nhận hết trọi các tuyên bố hùng hồn, mạnh mẽ, rõ ràng không thể nhầm lẫn của các văn kiện, cương lĩnh chính thức, của các nhà lãnh đạo cao cấp của nước ta hay sao?

Thêm nữa, trong ngôn ngữ học, động từ “mở” luôn liên quan tới một hay nhiều chủ thể nào đó. Ai mở? Có nghĩa là từng có người đóng. Tiếp tục mở có nghĩa là mở chưa hết, chưa tận cùng, chưa tới nơi tới chốn. Nói vậy, các tờ báo loại này lại tiếp tục phủ nhận dân chủ của ta là dân chủ tột cùng, dân chủ gấp nghìn lần bọn tư bản giãy chết. Đáng quan ngại là viết lách như thế này vô tình cho thấy có một ai đó hay nhóm người nào đó, đứng trên hiến pháp,  pháp luật, đứng trên nhân dân, tự cho mình cái quyền ban bố dân chủ theo kiểu lúc đóng lúc mở… tùy thích.

Kiểu bài viết này cổ xúy cho đám đông hồ hởi phát triển cái tư duy nhai lại như những con cừu, cho ăn cỏ thế là vui mừng,  à uôm ca tụng. Hoàn toàn không giúp cho người ta có ý thức về các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong hiến pháp. Hoàn toàn không giúp cho người ta khai triển tư duy pháp quyền để xây dựng tinh thần thượng tôn pháp luật, rằng xây dựng nền dân chủ và bảo vệ các quyền tự do dân chủ cơ bản của con người phải trên cơ sở hiến pháp và pháp luật.

Người đọc chỉ có thể kết luận rằng, những bài báo như vậy là cố tình bôi bác nền dân chủ tột cùng của ta, vạch áo cho người xem lưng chẳng hay ho gì, dù bên ngoài bài báo cố phủ lên cái lớp vải thưa mang tên “tụng ca chế độ”.

Làm báo như vậy chẳng khác gì cái hoàn cảnh "yêu nhau (như thế) thì lại bằng mười phụ nhau"!




Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Việt Nam 'phải ưu việt hơn về dân chủ'

Thủ tướng Dũng nói động lực từ những cải cách trước đã "không còn đủ mạnh"

Thủ tướng Việt Nam nhấn mạnh vai trò của đổi mới thể chế trong thông điệp đầu năm, đồng thời cho rằng xã hội chủ nghĩa là chế độ "phải ưu việt hơn về dân chủ".
Trong bài viết được các báo trong nước đăng toàn văn hôm 1/1, ông Nguyễn Tấn Dũng thừa nhân năng lực cạnh tranh, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam đang "chậm lại" trong những năm gần đây.
Bên cạnh đó, "xã hội cũng không có ít vấn đề bức xúc," ông nhận định.
Theo ông Dũng, nguyên nhân xảy ra những vấn đề nêu trên là do "động lực mà những cải cách trước đây tạo ra đã không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển" và vì vậy, "cần có thêm động lực để lấy lại đà tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững".
"Nguồn động lực đó phải đến từ đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân", trích bài viết.

"Ưu việt hơn về dân chủ"

Trong bài viết của mình, ông Dũng nói "dân chủ và nhà nước pháp quyền là cặp song sinh trong một thể chế chính trị hiện đại" và dân chủ là "xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của xã hội loài người".
Mặc dù thừa nhận từ chế động phong kiến lên chế độ tư bản là "những bước tiến dài về dân chủ", Thủ tướng Việt Nam vẫn cho rằng chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ "ưu việt hơn".
"Chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng phải ưu việt hơn về dân chủ và Đảng ta phải nắm chắc ngọn cờ dân chủ," bài viết có đoạn.
"Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, cũng là nhằm phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân".
Bài viết của ông Dũng khẳng định "Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm ... Cơ quan nhà nước ... chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép".
Tuy nhiên, ông cũng biện minh rằng "mọi hạn chế quyền tự do của công dân" hiện nay là "nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và những giá trị văn hóa, lịch sử, đạo đức tốt đẹp của dân tộc."

"Tư tưởng tiến bộ"

Trả lời phỏng vấn BBC ngày 2/1, Giáo sư Tương Lai nói ông "mừng" và "thú vị" trước thông điệp của thủ tướng mà ông cho là đại diện cho một tư tưởng "tiến bộ".
"Đã lâu lắm rồi mới được nghe một người lãnh đạo có trọng trách nói lên một sự thật lớn lao, một khát vọng của nhân dân," ông nói.
"Việt Nam giành được độc lập, nhưng độc lập mà không có dân chủ, không có tự do, thì độc lập đó cũng không có ý nghĩa gì."
Ông cũng cho rằng "người ta biết rõ điều này từ lâu lắm rồi", nhưng "sợ nếu làm thì sẽ lung lay mất chế độ toàn trị mà người ta đang cố duy trì" và nhận định "đó là nguồn gốc sâu xa đẩy tới sự khủng hoảng toàn diện của xã hội Việt Nam trong thời gian qua".
"Nhà nước không cai trị bằng pháp luật, mà bằng nghị quyết. Mà nghị quyết là của ai? Của một nhóm người. Đó không phải là cai trị bằng pháp luật", ông nói.
"Một xã hội toàn trị phản dân chủ thì làm sao xã hội phát triển lành mạnh, nền kinh tế làm sao phát triển bền vững?"
"Vì thế tôi rất thú vị khi ông nhấn mạnh dân chủ và nhà nước pháp quyền là một cặp song sinh trong một thể chế chính trị hiện đại."
"Phải nói đây là một tư tưởng tiến bộ."

Vì sao nhắc đến dân chủ?

Trả lời câu hỏi của BBC về việc liệu có nên đặt dân chủ chung với Chủ nghĩa xã hội như trong thông điệp của Thủ tướng Dũng hay không, Giáo sư Tương Lai nói:
"Bây giờ đòi hỏi thông điệp của ông ấy phải bỏ luôn xã hội chủ nghĩa thì tôi chắc rằng ông ấy không thể tồn tại trên ghế thủ tướng được."
"Nhưng khi ông ấy nói rằng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng phải là xã hội gắn với dân chủ và Đảng phải nắm lấy ngọn cờ dân chủ thì tôi thấy nói như vậy, trong bối cảnh hiện nay, thì có thể chấp nhận được."
"... Đó là nội dung mà chúng ta mong muốn, còn đặt tên cho nó là gì thì có thể tính sau. Cái tôi cần, là nội dung cốt lõi của nó, chứ đừng mượn ngôn từ bịp bợm để lừa dối nhân dân."
Bình luận về lý do vì sao ông Dũng lại chọn thời điểm này để nhấn mạnh về vấn đề dân chủ, giáo sư Tương Lai cho rằng "muốn được lòng dân, muốn nhân dân tán thành với mình, không có gì hơn là bây giờ phải nói lên sự thật."
"Tôi thấy đã đến lúc đem vấn đề dân chủ gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Đó là nội dung bức xúc nhất mà người dân Việt nam mong muốn. Ai nói được điều này, là đáp ứng được lòng mong mỏi của dân," ông nói.
"Cho nên việc nêu vấn đề dân chủ lúc này là rất đúng lúc và kịp thời."
"Người nào làm được điều đó, sẽ nhận được sự ủng hộ của dân, dù là x,y,z hay a,b,c cũng không quan trọng."

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

Soi kết quả "bấm nút" Hiến Pháp


GS. NGUYỄN VĂN TUẤN LÊN TIẾNG VỀ TỶ LỆ ĐẠI BIỂU THÔNG QUA HIẾN PHÁP


Nguyễn Văn Tuấn

Tôi tự nhủ rằng không nên ảo tưởng về tư duy độc lập của đại biểu Quốc hội. Họ phải bầu (nhấn nút) theo chỉ thị thôi. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy hiến pháp được thông qua gần như tuyệt đối. Nhưng tôi ngạc nhiên về tính toán của báo … Nhân Dân!


Nhân Dân cho biết “Ngày 28-11, Quốc hội biểu quyết thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với 486/488 đại biểu tán thành, chiếm 97,59%”. Báo Vietnamnet cũng trích con số 97.6% đó. Nhưng nhìn kĩ thì 486 và 488 chỉ cách biệt có 2, thì làm sao mà 97% được. Tôi thử tính lại thì tỉ lệ đúng phải là 99.6%. Chín mươi chín chấm sáu phần trăm. Các nhà báo chẳng lẽ không biết tính phần trăm?

Nhưng chúng ta thử đặt ra một tình huống khác: nếu Quốc hội có 488 đại biểu, và nếu họ được yêu cầu bỏ phiếu thông qua hiến pháp 100 lần, thì tỉ lệ sẽ dao động bao nhiêu? Chỉ cần một vài tính toán tôi có câu trả lời: trong 100 lần biểu quyết, thì sẽ có 95 lần biểu quyết với tỉ lệ thông qua dao động từ 98.5% đến 99.9%. Nói chung là gần 100%. Trước năm 1975 ở miền Nam, tôi nhớ chưa có lần nào Quốc hội thông qua với tỉ lệ cao như thế.

Thời gian gần đây người ta đã bàn về thi cử trung học, và có nhiều ý kiến cho rằng nếu tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đều trên 95% thì nên bỏ kì thi đó đi. Với tính toán trên, tôi nghĩ mấy người có ý kiến này chắc cũng đồng ý là trong tương lai Quốc hội không nên tổ chức thông qua hiến pháp làm gì cho mất thì giờ và mất công của đại biểu.



SOI KẾT QUẢ BẤM NÚT THÔNG QUA HIẾN PHÁP CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM



QUỐC HỘI KHOÁ XIII BIỂU QUYẾT HIẾN PHÁP 1992 SỬA ĐỔI
Số đại biểu tham gia biểu quyết: 488 (97,99%)
Số đại biểu biểu quyết nhất trí: 486 (97,59%)
Số đại biểu biểu quyết không nhất trí: 0 (0,00%)
Số đại biểu không biểu quyết: 2 (0,40%)
Xong!  
90 triệu con dân Việt Nam thuộc "dòng giống Tiên Rồng" lại tiếp tục dò dẫm, lầm lũi tiến lên "thiên đường XHCN", cái đích mà ngay cả ngài TBT, cựu Chủ tịch Hội đồng Lý luận TW Nguyễn Phú Trọng cũng phải “hồn nhiên” thừa nhận là không biết đến cuối thế kỷ này đã tới chưa!  (Nguồn: FB L.A.H)

Diễn đàn Xã hội Dân sự quan sát và bình luận:


11h, ngày 28/11/2013: Vào hồi 9h53′, ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi, với 486phiếu tán thành, 3 ”không biểu quyết”, 0 có ý kiến “không tán thành”. Tuy nhiên, trong thời gian chưa đến 60 giây trong quá trình bỏ phiếu, trên bản điện tử hiển thị có những diễn biến khó hiểu, đã có lúc ghi nhận có 3 ý kiến “không tán thành”, 21 “không biểu quyết”. Phải chăng đã có đại biểu nhanh chóng thay đổi quyết định trong thời gian bỏ phiếu ngắn ngủi, hay đã có sự tác động của … máy móc? Xin được ghi lại qua hình ảnh:







8

Dưới đây là video do Diễn đàn Xã hội Dân sự thực hiện ghi lại trực tiếp từ màn hình TV:


12h40′: Thế nhưng, dường như đã có câu trả lời cho “diễn biến khó hiểu” nêu ở trên, lúc 12h trưa nay 28/11/2013, trong chương trình Thời sự của VTV1, diễn biến được hiển thị trên màn hình trong quá trình bỏ phiếu đã không xuất hiện, mà chỉ có hình ảnh về kết quả cuối cùng. 


Vậy mà vẫn chưa hết cái sự lạ! Ở đoạn cuối chương trình của VTV còn hiện lên hình ảnh với con số còn “đẹp” hơn nữa (không hiểu họ lấy đâu ra?):

9


Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Hậu thế sẽ đánh giá Quốc hội khóa XIII sẽ (đã) làm gì để thúc đẩy chứ không cản trở sự phát triển của dân tộc

"Hậu thế sẽ đánh giá Quốc hội khóa XIII"


05/11/2013 12:09 (GMT + 7)
TTO - "Tôi nhận thức rằng sửa đổi Hiến pháp là việc trọng đại mà tác động của nó có thể thúc đẩy hoặc cản trở bước tiến của lịch sử. Hậu thế sẽ đánh giá Quốc hội khóa XIII sẽ làm gì để thúc đẩy chứ không cản trở sự phát triển của dân tộc".


Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) phát biểu tại phiên thảo luận của Quốc hội về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vào sáng 5-11.

“Giải pháp của mọi giải pháp”

Đại biểu Nghĩa nói: “Trong những kỳ họp qua chúng ta đã bàn nhiều về giải pháp cho tình hình chung của đất nước. Không ít ý kiến cho rằng nếu không có những giải pháp toàn diện và đột phá thì tình hình đất nước không thể chuyển biến tích cực một cách căn bản. Nguyên nhân có nhiều, nhưng trong đó có nguyên nhân là công cuộc đổi mới thể chế và luật pháp đã chậm bước so với nhu cầu của đất nước”.
Ông nhấn mạnh: “Việc đổi mới chính trị đã không đồng bộ và không theo kịp với đổi mới kinh tế như nghị quyết Đại hội Đảng XI đã nêu. Nhân dân góp ý và chờ đợi sự thay đổi trong đó có ba nội dung lớn cần được đổi mới, đó là đổi mới phương thức lãnh đạo trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, đổi mới thành phần kinh tế nhà nước và đổi mới về pháp luật đất đai”.
Theo ông Nghĩa, “không ít ý kiến cử tri cho rằng Hiến pháp sửa đổi là giải pháp cho mọi giải pháp. Trên tinh thần đó, vừa qua các tầng lớp nhân dân đã phát huy tinh thần trách nhiệm, ý thức dân chủ, tầm trí tuệ và văn hóa để đóng góp xây dựng Hiến pháp sửa đổi”.
“Nếu việc sửa đổi Hiến pháp lần này không đạt được yêu cầu đó thì chúng ta sẽ không tiếp thu được những tinh hoa trí tuệ nhân dân đã đóng góp mà còn bỏ lỡ cơ hội đưa công cuộc đổi mới lên một tầm cao mới, tạo động lực cho đất nước vượt qua nguy cơ tụt hậu, tiếp kịp các nước trong khu vực và trên thế giới”.

Quyền sử dụng đất phải là quyền tài sản

Đại biểu Bùi Mạnh Hùng (Bình Phước) đặt vấn đề: “Dự thảo quy định đất đai là tài nguyên đặc biệt quan trọng của quốc gia, nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước được quản lý theo pháp luật và quy hoạch. Tôi rất băn khoăn về chữ quản lý theo quy hoạch”.  
“Nếu quy định quản lý theo quy hoạch thì vô hình trung chúng ta đã đặt tính chất pháp lý của quy hoạch ngang với pháp luật, mà thực tiễn thì quy hoạch diễn ra ở nhiều cấp như xã, huyện, tỉnh, quốc gia, quy hoạch ngành, vùng… Các quy hoạch không tránh khỏi sự chồng chéo, có những quy hoạch thiếu khoa học, thiếu thực tế, điều chỉnh nhiều lần. Đây là một trong những nguyên nhân gây lãng phí đất đai. Nếu lấy quy hoạch làm cơ sở cho việc quản lý, thu hồi đất đai thì tôi e rằng không ổn, dễ bị lợi dụng. Vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nên để luật định” - ông Hùng nêu.
Liên quan đến quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất, ông Hùng phân tích: “Ở đây có quy định là người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất. Ghi như vậy rất cụ thể nhưng rất thiếu bởi vì người sử dụng đất có rất nhiều quyền: quyền sang nhượng, cho tặng, thế chấp tài sản, góp vốn… Mặt khác, thực chất quyền sử dụng đất hiện nay chính là quyền tài sản. Tuy trong văn bản chưa ghi nhưng trong thực tiễn nó chính là tài sản”.
Ông Hùng nhấn mạnh: “Người dân muốn có quyền sử dụng đất thì người ta phải bỏ tiền ra để mua. Đó là tài sản. Tôi đề nghị Hiến pháp cần khẳng định quyền sử dụng đất là quyền tài sản mới công bằng. Quy định như vậy sẽ làm cơ sở cho việc quy hoạch, thu hồi, giải tỏa, đền bù theo đúng bản chất đó là quyền tài sản mới đảm bảo sự công bằng, dân chủ và khách quan.
Mặt khác, người sử dụng đất cũng phải có nghĩa vụ khai thác, sử dụng hiệu quả, không để hoang hóa. Do đó, cần quy định rõ là: “Quyền sử dụng đất là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất có nghĩa vụ khai thác có hiệu quả theo quy định của pháp luật”.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

GS Ngô Đức Thọ đòi làm rõ vai trò thực của Mặt Trận

GS Tương Lai trong bài phát biểu tại Hội nghị UBTƯ MTTQ Việt Nam lần thứ VI tại Hà Nội ngày 5/9/2013 bày tỏ niềm hy vọng sắp tới Mặt trận sẽ không tiếp tục thực hiện vai trò cây kiểng làm dáng, ăn theo nói leo với những lời tụng ca như đang và đã từng, mà là tiếng nói phản biện mạnh mẽ trong bối cảnh độc đảng...Chừng nào Mặt trận thôi đóng vai trò cây kiểng làm dáng, mà là phong trào hoạt động thực sự của một tổ chức xã hội dân sự rộng lớn như nó cần phải có thì lúc ấy mới thực hiện được sứ mệnh đích thực của nó. 

Trong khi đó, GS Ngô Đức Thọ từng bày tỏ sự băn khoăn của ông về vai trò thực sự của Mặt trận hiện nay là gì? 

GÓP Ý KIẾN SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP ĐIỀU NÓI VỀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC

Ngô Đức Thọ

Hiện nay báo chí và các phương tiện truyền thông đã công bố bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đây là một đợt sinh hoạt chính trị lớn mà Quốc hội chủ trương lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của mọi công dân, như trưởng ban dự thảo Hiến pháp Phan Trung Lý đã giải thích: "Mọi người có quyền phát biểu tất cả mọi vấn đề, không có điều gì cấm kỵ". 

Tôi đã nghiên cứu kỹ bản dự thảo Hiến pháp và cũng có một số ý kiến muốn được đóng góp. Vì Hiến pháp có nhiều chương nhiều điều nên bản ý kiến này của tôi chỉ xin nói một vấn đề về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN).

Trong khuôn khổ của một bản đóng góp ý kiến, tôi không có điều kiện nêu lại lịch sử hình thành MTTQVN và những thành tích mà Mặt trận đã thực hiện được qua các thời kỳ lịch sử cùng những vấn đề lý luận về Mặt trận dân tộc thống nhất. Vai trò của MTTQVN được thể hiện nổi bật nhất trong hai giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. 

Tuy nhiên, sau hơn nửa thế kỷ, tình hình mọi mặt của nước ta và thế giới đã có rất nhiều thay đổi về cơ bản. Trong hai thời kỳ trên, nói chung các tầng lớp nhân dân ở nông thôn thành thị, ở miền Nam miền Bắc, các vùng miền khác nhau ít có điều kiện gặp gỡ, giao lưu, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của nhau. Nhưng ngày nay trình độ học vấn của mọi người đã được nâng cao, sách báo các thể loại xuất bản ngày càng nhiều cả ở trung ương và địa phương. Đồng thời sự phát triển của Công nghệ thông tin giúp cho mọi người có rất nhiều dịp thuận tiện để theo dõi tình hình. Do đó, cũng dễ có điều kiện để cho các tầng lớp nhân dân hiểu biết những vấn đề chung của xã hội. Chẳng hạn một bác sỹ giỏi có thành tựu nổi bật nhưng với cử tri ở vùng miền khác nhau có thể không biết rõ tiểu sử, hay giới trí thức ít có điều kiện hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của nông dân v.v...

Ngày nay vấn đề đã khác hẳn, vì hàng ngày đều có các tin tức liên quan đăng tải trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Vì thế nói chung mọi người đều có thể nhận biết được những ý kiến trong từng tầng lớp khác nhau. Chẳng hạn chúng ta muốn tìm những đại biểu nào gọi là tiêu biểu nhất cho từng tầng lớp, cũng không đơn giản chỉ do cấp ủy đảng lựa chọn đã là người được nhiều tín nhiệm nhất. 

Hoặc đồng bào Việt Nam ở nước ngoài qua các phương tiện thông tin cũng nắm rất rõ tình hình trong nước chứ không phải chỉ nghe qua thông cáo mang danh Ủy ban trung ương MTTQVN có những vị GS-TS nọ, doanh nhân, nhà tu hành kia... là đã có ngay hiệu quả hoan nghênh hay hưởng ứng của họ. Hoặc như điểm 1, điều 9 trong bản dự thảo sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992 viết:“MTTQVN là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. 

Có người đã nói bản thân họ cũng không hiểu thế nào là “Tổ chức chính trị- xã hội”? Cũng ở câu ấy tôi lại thấy có vấn đề giai cấp là một khái niệm khá mù mờ, trước nay chưa thấy ai lên danh sách cụ thể và toàn bộ một giai cấp, vậy biết xác định ai là  "tiêu biểu”? Có người bảo mình không biết chứ trên biết. Nhưng thiết nghĩ đã không có một danh sách như vậy, lại không có cuộc đại hội nào của toàn giai cấp, mà có hội họp bình bầu ai là tiêu biểu không? Nếu nói “tiêu biểu” là theo nhận xét của đảng thì có lẽ nên ghi là “tiêu biểu theo nhận xét của đảng!”, còn như muốn nâng vai trò  của MTTQVN lên tầm một hội đồng đại diện cho toàn dân thì cần thực hiện bầu chọn theo một quy chế nào đó chứ không thể dùng ngôn từ định nghĩa một hai câu trong HP mà có thể đạt được - mà có khi lại trùng lặp với chức năng của Quốc Hội!

Nói về vai trò của MTTQVN thì như trong thời kỳ chiến tranh có những cuộc biểu tình rất lớn, đông hàng vài chục vạn người do MTTQ tổ chức để phản đối việc Mỹ ném bom Miền Bắc. Nay tình hình có lẽ đã thay đổi, khi nhà cầm quyền Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm biển đảo của nước ta, in hộ chiếu và bản đồ có “hình lưỡi bò” bao hết toàn bộ các đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam vv...cũng không thấy có cuộc biểu tình nào do MTTQVN tổ chức? 

Như vậy có lẽ các hoạt động tập hợp quần chúng biểu thị thái độ về một vấn đề bức xúc nào đấy cũng không phải là chức năng cố định của MTTQVN, mà có thể thực hiện một cách co giãn, thậm chí có nơi đại diện của MTTQ còn đến tận nhà để vận động người dân không tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Hay như nói MTTQ là tổ chức chính trị xã hội để bênh vực quyền lợi cho các tầng lớp nhân dân thì ví như các vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản...đều không thấy MTTQ có phản ứng gì rõ rệt, thể hiện được chức năng nhiệm vụ của mình?


Như vậy những vấn đề về MTTQVN có vẻ như chưa phải đã có một sự cần thiết tất yếu có tính phổ quát. Trong khi đó thì điều hợp lý duy nhất là MTTQVN là một tổ chức chính trị – xã hội được Chính phủ và ĐCS Việt Nam thừa nhận, cần được ghi trong Hiến pháp bằng chỉ một câu “cần và đủ”. Vấn đề như vậy nhưng như chúng ta đã thấy bản dự thảo Hiến pháp tại điều 9 đã tiếp thu cả cũ và sửa mới để đặt thành một điều lớn gồm 3 điểm với 224 chữ, đồng đẳng với điều 4 nói về Đảng cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên việc đưa hoạt động có nhiều nội dung không được xác định rõ ràng của MTTQ vào Hiến pháp như vậy phải chăng là thích đáng, hợp lý, vì xét về tính chất thì MTTQ là tổ chức ngoại vi của Đảng cộng sản Việt Nam chứ không phải là một tổ chức của nhà nước (theo logic tất nhiên được hưởng chi phí ngân sách rất tốn kém).

Xét cho cùng, vai trò của MTTQVN thực chất là gì?

Qua thực tiễn mấy chục năm hoạt động của MTTQVN, nếu như các chức năng nhiệm vụ có thể tăng giảm điều chỉnh thì chúng ta có thể thấy MTTQVN là cơ quan đồng tổ chức các cuộc bầu cử từ cấp cơ sở đến cấp trung ương (QH) và là nơi tiếp nhận danh sách đề cử ứng cử viên do cấp ủy đảng đề nghị. Điều này không khó: ở mỗi cấp sẽ bảo lưu một số hợp lý cán bộ (cả lãnh đạo và nhân viên). Còn về danh sách ứng cử viên, thực tế  khi có quyết định đề cử chính thức thì ủy viên thường vụ phụ trách công tác mặt trận chuyển đến cho cán bộ cấp ủy đang phụ trách MTTQ để tổ chức bầu cử. 

Cũng thực tiễn cho thấy điều 4 Hiến pháp có từ mấy chục năm nay và việc cấp ủy đảng chính thức lên danh sách đề cử là việc công khai, mọi người đều biết. Như vậy, khác với những thời kỳ trước, đến nay không còn cần thiết phải bố trí một cơ cấu quá phức tạp từ trung ương đến địa phương để hợp thức hóa (hình thức hóa?) việc chuyển bản danh sách đề nghị đó sang hội đồng bầu cử. Nếu cần thiết phải nhấn mạnh thì có thể tổ chức cuộc trao danh sách một cách trọng thể với sự hiện diện của các đài, báo v.v... Làm được như vậy trong thực tế là một cải cách hành chính rất quan trọng, không hề mất thực chất của bất cứ một thiết chế tổ chức nào mà lại giảm bớt được sự cồng kềnh về tổ chức nhân sự, trụ sở nhà đất và chi phí của ngân sách...v.v.


Hà Nội, 18/1/2013

Ngô Đức Thọ