Hiển thị các bài đăng có nhãn Thủy điện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thủy điện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2019

Họ đang làm gì với Cái Lớn – Cái Bé?

Trần Văn

Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn (Bộ NN – PTNT) vừa phê duyệt “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” (1). Động tác này chẳng khác gì việc định nghĩa lại cống hiến theo hướng: Vận động trí thức hiến hết tâm lực, trí lực để giới hữu trách vứt xuống… cống!
***

Bộ NN – PTNT trình “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” cho Thủ tướng Việt Nam hồi tháng 4 năm 2017 và 12 ngày sau, dự án trị giá 3.309,5 tỉ đồng này được Thủ tướng Việt Nam phê duyệt.
Trong khi Bộ NN – PTNT Việt Nam khẳng định, dự án vừa giúp kiểm soát mặn trong khu vực có diện tích 909.000 héc ta, vừa giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ở vùng ven biển Kiên Giang. Chủ động ứng phó biển đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn và kết hợp phát triển giao thông thủy bộ trong vùng dự án... thì nhiều chuyên gia phân tích đó là ảo vọng, không chỉ làm công khố mất toi 4.000 tỉ mà còn hủy diệt môi trường, kinh tế, xã hội ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Ông Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia nghiên cứu độc lập về ĐBSCL, từng chỉ ra hàng loạt điểm bất ổn về đủ mặt: Mức độ cần thiết. Mức độ cấp bách. Tính khả thi. Tác động môi trường. Sẽ gây hối tiếc cao. Cơ sở để truy cứu trách nhiệm,… Ông Thiện phân tích, lịch vận hành – lõi của dự án – được dự trù 24 ngày/năm (mỗi lần sáu ngày, tương đương bốn lần/năm) là hết sức vô lý vì không xác định khác biệt giữa năm có lũ và năm bị hạn hán. Cũng vì vậy, ông thắc mắc, thời hạn sử dụng của công trình là cả trăm năm, khi công trình hoàn tất, ai dám khẳng định là trong 100 năm ấy mọi thứ sẽ ổn định để lịch vận hành luôn luôn như thế? Ông Thiện lên án các viên chức hữu trách liên tục đem biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao ra hù dọa công chúng để có cớ thực hiện dự án: Nước biển sẽ dâng 65 cm vào năm 2100 là giả định. Nếu giả định đó đúng, không phải 909.000 héc ta ở ĐBSCL sẽ chìm trong nước và 3,6 triệu người hết đất sống. Thời điểm ấy, chắc chắn cư dân trong khu vực này không chỉ có 3,6 triệu như Bộ NN – PTNT tính toán để khăng khăng đòi chi 4.000 tỉ đồng ngay vào lúc này (2)…
Tương tự, ông Dương Văn Ni, một chuyên gia về đa dạng sinh học, làm việc tại Đại học Cần Thơ, lưu ý, hai sản phẩm chủ lực của Bán đảo Cà Mau là lúa và tôm. Cả hai vốn có nhu cầu mâu thuẫn với nhau về nguồn nước: Tôm cần nước có độ mặn còn lúa thì không. Vấn đề của ĐBSCL là sự đa dạng về cây trồng, vật nuôi, chứ không phải giải mâu thuẫn mặn ngọt như dự án nhắm tới. Ông Ni cảnh báo: Không nhìn ra điều đó, chính quyền địa phương – được giao trách nhiệm giữ gìn công trình - sẽ xem dân chúng như những kẻ phá hoại, còn dân chúng sẽ nhìn chính quyền địa phương đối tượng cản trở họ kiếm sống. Giống như ông Thiện, ông Ni, sau khi phân tích cặn kẽ cả bốn mục tiêu của “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1”, ông Lê Anh Tuấn, Viện phó Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu của Đại học Cần Thơ, kết luận: Cả bốn mục tiêu đều thiếu khả thi, không thuyết phục và không nên thực hiện vào thời điểm này (3). Ông Nguyễn Ngọc Trân, người từng là Chủ nhiệm một chương trình nghiên cứu cấp quốc gia về ĐBSCL trong bảy năm từ 1983 đến 1990, tán thành và nhắc nhở: “Phải cân nhắc để đầu tư không hối tiếc”!Trong khi Bộ NN – PTNT Việt Nam khẳng định, dự án vừa giúp kiểm soát mặn trong khu vực có diện tích 909.000 héc ta, vừa giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ở vùng ven biển Kiên Giang. Chủ động ứng phó biển đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn và kết hợp phát triển giao thông thủy bộ trong vùng dự án... thì nhiều chuyên gia phân tích đó là ảo vọng, không chỉ làm công khố mất toi 4.000 tỉ mà còn hủy diệt môi trường, kinh tế, xã hội ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Ông Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia nghiên cứu độc lập về ĐBSCL, từng chỉ ra hàng loạt điểm bất ổn về đủ mặt: Mức độ cần thiết. Mức độ cấp bách. Tính khả thi. Tác động môi trường. Sẽ gây hối tiếc cao. Cơ sở để truy cứu trách nhiệm,… Ông Thiện phân tích, lịch vận hành – lõi của dự án – được dự trù 24 ngày/năm (mỗi lần sáu ngày, tương đương bốn lần/năm) là hết sức vô lý vì không xác định khác biệt giữa năm có lũ và năm bị hạn hán. Cũng vì vậy, ông thắc mắc, thời hạn sử dụng của công trình là cả trăm năm, khi công trình hoàn tất, ai dám khẳng định là trong 100 năm ấy mọi thứ sẽ ổn định để lịch vận hành luôn luôn như thế? Ông Thiện lên án các viên chức hữu trách liên tục đem biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao ra hù dọa công chúng để có cớ thực hiện dự án: Nước biển sẽ dâng 65 cm vào năm 2100 là giả định. Nếu giả định đó đúng, không phải 909.000 héc ta ở ĐBSCL sẽ chìm trong nước và 3,6 triệu người hết đất sống. Thời điểm ấy, chắc chắn cư dân trong khu vực này không chỉ có 3,6 triệu như Bộ NN – PTNT tính toán để khăng khăng đòi chi 4.000 tỉ đồng ngay vào lúc này (2)…
***
“Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” đã buộc một nhóm sáu nhà khoa học (Lê Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Thiện, Dương Văn Ni, Nguyễn Hồng Tín, Đặng Kiều Nhân) vốn gắn bó với ĐBSCL tiến hành khảo sát, đánh giá hiệu quả các hệ thống ngăn mặn từng được thực hiện trước đó (Ngọt hóa bán đảo Cà Mau, Cống đập Ba Lai, Thoát lũ ra biển Tây, Âu thuyền Tắc Thủ...) (4).
Theo kết quả cuộc khảo sát đó, những hệ thống ngăn mặn mà hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam từng thực hiện trong quá khứ tại ĐBSCL, không chỉ vứt bỏ những khoản tiền khổng lồ, phần lớn là vay, đến nay dân chúng vẫn còn đang gồng mình đóng đủ loại thuế, phí để hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam trả cả vốn lẫn lãi, mà còn phá nát đồng bằng trù phú nhất Việt Nam này.
Bởi đắm đuối với ngăn mặn, ngọt hóa, những hệ thống ngăn mặn đẩy nông dân đến chỗ bần cùng và phong trào phá cống – đập ngăn mặn nhằm nuôi tôm kiếm sống đã lan khắp bán đảo Cà Mau trong nửa cuối thập niên 1990. Bởi những cống – đập ngăn mặn làm nước tù đọng, sông, rạch bị ô nhiễm nặng nề, không còn nguồn nước trong lành dùng cho ăn uống, tắm giặt, dân chúng ĐBSCL phải khai thác nước ngầm và đó là lý do khiến bề mặt ĐBSCL sụt lún rất nhanh – gấp nhiều lần mức nước biển dâng. Những cống – đập ngăn mặn còn là thủ phạm khiến các loại thủy sản vốn hết sức phong phú biến mất vì hệ sinh thái sông ngòi bị chuyển thành hệ sinh thái hồ. Nguồn thủy sản của sông, rạch bên trong các cống - đập ngăn mặn ít hơn bên ngoài ít nhất ba lần.
Về lý thuyết, việc đổ tiền vào đủ loại công trình ngăn mặn nhằm mở rộng diện tích trồng lúa, gia tăng số vụ lúa/năm, nâng kim ngạch xuất khẩu gạo nhưng trong thực tế, chúng làm chất lượng đất nhanh chóng suy kiệt. Chẳng riêng lúa, tất cả các loại cây trồng khác đều chậm phát triển, dễ chết, chi phí dành cho sản xuất nông nghiệp tăng vọt. Do các loại cây trồng càng ngày càng phụ thuộc vào những tác nhân hóa học (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), môi trường sống bị đầu độc trên diện rộng. Tất cả những tác động đó hòa quyện vào nhau và hậu quả là nông dân ĐBSCL phải đốn bỏ hàng ngàn héc ta vườn cây ăn trái để trồng mía. Mía cũng thất bại nên họ buông bỏ mía, chuyển sang trồng tràm, song ngay cả tràm cũng chậm phát triển hơn nhiều nơi khác.
Đủ loại công trình ngăn mặn còn khiến các mảng cây rừng ven biển bị suy kiệt mà chết dần, sạt lở ven biển gia tăng, giờ trở thành phổ biến khắp .ĐBSCL. Giao thông đường thủy – đặc trưng và cũng là ưu thế riêng của ĐBSCL – cũng tàn lụi vì bất tiện, chi phí cao… ĐBSCL không còn là nơi đáng sống, cư dân sống bên trong các công trình ngăn mặn lũ lượt bỏ xứ tha phương cầu thực và nay, vấn nạn xã hội này dù nhãn tiền nhưng nan giải.
***
Kết quả khảo sát, đánh giá hiệu quả các hệ thống ngăn mặn từng được thực hiện trước đây ở ĐBSCL, rồi những phân tích sâu, cảnh báo cả về tính khả thi lẫn tác hại đủ mặt của “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” vẫn không làm giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam bận tâm. Bộ NN – PTNT vẫn phê duyệt để triển khai dự án này.
Ngoài 9,5 tỉ sẽ được rút ra từ công khố, chính phủ Việt Nam sẽ phát hành lượng trái phiếu trị giá 3.000 tỉ để thực hiện “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1”. Ai sẽ trả cả vốn lãi cho dự án này? Toàn dân, bất kể nam, phụ, lão, ấu, kể cả những đứa trẻ chưa sinh ra đời!
Giống như những hệ thống ngăn mặn mà hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam từng thực hiện trong quá khứ tại ĐBSCL, cho dù chúng đã phá nát khu vực trù phú này nhưng toàn dân vẫn phải còng lưng gánh chi phí duy tu, bảo dưỡng, vận hành, toàn dân sẽ tiếp tục gánh thêm các chi phí tương tự phát sinh từ việc thực hiện “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1”.
Nếu “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” không sinh lợi, chỉ tạo thêm tốn kém và tác hại như các chuyên gia đã cảnh báo thì sao? Chẳng sao cả. Cứ nhìn lại lịch sử các dự án: Ngọt hóa bán đảo Cà Mau, Cống đập Ba Lai, Thoát lũ ra biển Tây, Âu thuyền Tắc Thủ... nay đã thành công trình hủy diệt ĐBSCL, có ai bị truy cứu trách nhiệm không? Gần hơn, có ai bị truy cứu trách nhiệm khi gạt bỏ tất cả các ý kiến can gián, cương quyết khai thác bauxite ở Tây Nguyên không?
Không thì hà cớ gì không làm, hà cớ gì phải bận tâm đến các thông tin, ý kiến phản biện. Tâm huyết, trí lực, sức lực của đám chuyên gia, trí thức, thích luận bàn, phân tích thiệt hơn, tương lai của một khu vực, tiền đồ của một quốc gia, một dân tộc đâu có sờ, đếm được như những khoản lót tay, rải đều từ trên xuống dưới trong toàn hệ thống.
Chú thích

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016

Yếu tố “nhân tai”

Hạn hán và xâm nhập mặn đang diễn ra nghiêm trọng chưa từng có ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đáng nói là hiện tượng này đã từng được các chuyên gia cảnh báo từ nhiều năm trước.  Nó không chỉ là kết quả của thiên tai, do tác động của El-nino, biến đổi khí hậu toàn cầu.  Nó còn là hệ quả của nhân tai. Do thiếu quy hoạch khoa học, cùng các tác động khai thác quá mức, tàn phá tự nhiên của chính con người.

Nhiều năm trước, ĐBSCL từng chứng kiến những trận lũ lịch sử hàng năm  gây ra không ít thiệt hại về mùa màng và ảnh hưởng tới đời sống của nhiều người dân trong khu vực. Những trận lũ hàng năm, theo mùa vốn dĩ đã gắn bó lâu đời với vùng đất này, chẳng hiểu sao có lúc lại bị lên án như là một tác nhân gây hại. Nhiều chương trình và kế hoạch từng được đưa ra để nhằm ngăn lũ, chống lũ, can thiệp vào quy trình sinh thái tuần hoàn của tự nhiên. May mắn thay từ những năm 80 của thế kỷ trước đã có những nhà khoa học tâm huyết và gắn bó với ĐBSCL không ngừng lên tiếng cảnh báo về ý tưởng “chống lũ” ở khu vực này.  Các chuyên gia cho rằng ĐBSCL cần phải có giài pháp để “sống chung với lũ”, chứ không phải là bằng mọi giá “chống lũ”, hay “ngăn lũ”. Bởi đơn giản, lũ mang lại nhiều nguồn lợi cho đất đai và cư dân nơi đây nhiều hơn là thiệt hại, nếu biết cách “sống chung” với nó.

Tuy nhiên, do việc thiếu đồng bộ trong quy hoạch, đồng thời với nhận thức dài hạn trong việc xác định vật nuôi cây trồng chiến lược trong từng giai đọan phát triển của các địa phương còn chưa nhất quán, đôi khi mâu thuẫn và tự phát nên việc triển khai ý tưởng “sống chung với lũ” cũng chưa đạt yêu cầu kỳ vọng. Trong từng địa phương, vẫn thường xảy ra các mâu thuẫn, đôi khi máy móc về quy hoạch đất lúa sử dụng nước ngọt và đất nuôi trồng thủy sản sử dụng nước mặn.  Các chủ trương của trung ương và địa phương vẫn còn độ chênh khá lớn từ quy hoạch vùng cho tới triển khai thực tế. Hiện tượng người dân tự phát phá bỏ nhiều công trình thủy lợi ngăn mặn từng xảy ra không ít để phát triển nuôi tôm, khi thị trường này đang có giá cao ngất ngưỡng. Mặt khác, phục vụ chủ trương đảm bảo an ninh lượng thực và giữ vững vị trí là quốc gia xuất khẩu lúa gạo nhất nhì thế giới, nhiều quy hoạch vùng bị áp đặt không phù hợp với tự nhiên, với tình hình thực tế của địa phương cũng như với nhu cầu phát triển, đời sống lâu dài của người dân.

Kết quả nghiên cứu nhiều năm tại ĐBSCL cho thấy, mức độ hạn hán – xâm nhập mặn cứ khoảng 10 năm lại xảy ra một lần. Ngay cả thời điểm chưa từng xuất hiện khái niệm biến đổi khí hậu làm nước biển dâng cao, chu kỳ hạn – mặn vẫn xảy ra tại ĐBSCL một cách bình thường. Tuy nhiên, vào thời điểm của nhiều thập kỷ trước, sự can thiệp của con người vào hệ thống dòng chảy Mekong còn chưa đáng kể. Nguồn nước hàng năm đổ về hạ lưu sông Mekong vẫn còn dồi dào. Do đó, hiện tượng hạn hán - xâm nhập mặn tuy có xảy ra nhưng chỉ ở mức độ thấp. Xâm nhập mặn chỉ diễn ra ở một số vùng ven biển, với phạm vi ngắn về chiều dài lẫn thời gian.

Từ lâu, cư dân khu vực ven biển của ĐBSCL đã biết cách thích nghi với nước mặn. Với họ, “nước mặn” chưa bao giờ là vấn đề đáng quan ngại, thậm chí nó còn mang tới nhiều lợi ích cho việc nuôi trồng thủy hải sản nước mặn có giá trị cao. Theo một số chuyên gia đầu ngành, thực trạng ĐBSCL hiện nay hạn - mặn diễn ra ngày càng gay gắt có phần nào là kết quả của công tác quy hoạch mang tính áp đặt và cứng nhắc. Có những vùng đất người dân đã quen sống đan xen với mặn - ngọt, nhưng quy hoạch bắt buộc phải “ngọt hóa”.

Theo GS Võ Tòng Xuân, ĐBSCL đã tốn hàng chục nghìn tỷ đồng để làm ngọt hóa bán đảo Cà Mau nhưng kết quả là nước ngọt vẫn không đủ cho ngọt hóa. Theo ông đã đến lúc cần thay đổi tư duy về kinh tế nông nghiệp cho khu vực này. Đã đến lúc, các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương phải đổi mới tư duy làm kinh tế, chọn hướng sản xuất và tìm đầu ra để có giá trị cao hơn mà không tiêu xài quá nhiều nước ngọt - tài nguyên thiên nhiên không tái tạo. Tư duy về nước mặn là kẻ thù, phải ngăn mặn, không còn hợp thời nữa. Phải coi nước mặn là bạn, giúp nông dân ven biển làm giàu với tôm, cua... một cách bền vững, hài hòa thiên nhiên. Đồng thời cũng phải có giải pháp, khai thác hiệu quả, dự trữ  đảm bảo nguồn nước ngọt cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, trong mọi giai đoạn thời tiết tại khu vực này.

Ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết, ở ĐBSCL không phải thấy nước mặn là làm đê bao hết, phải biết chừa chỗ để lấy nước mặn phục vụ con tôm. Muốn làm được thủy lợi đồng bộ, đảm bảo cho cả lúa, cá, tôm, rau, màu và cây ăn trái ở ĐBSCL thì phải có lãnh đạo chỉ huy thống nhất.  Đặc biệt, ở cấp độ quốc gia, trong chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, mà cụ thể là hiện tượng nước biển dâng cao, khiến khu vực ĐBSCL được xem là vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, các cơ quan chức năng cần có các nghiên cứu khoa học đầy đủ, nghiêm túc. Dự báo sớm, chính xác và kịp thời đề ra các giải pháp thích hợp, can thiệp và hỗ trợ cho việc quy hoạch vùng đảm bảo hài hòa lợi ích của các nước trong khu vực. Cần thấy rằng sự bế tắc trong việc chia sẻ quan điểm phát triển của các quốc gia có dòng Mekong đi qua sẽ kéo theo những mối đe dọa lớn cho môi trường tương lai, biến vùng hạ lưu dòng sông này thành khu vực dễ bị tổn thương và làm bần cùng hóa những người dân vô tội, gây nên những xáo trộn khó lường cho khu vực.

Hữu Nguyên


Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Cần phát động chiến dịch cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long

GS. Lê Xuân Khoa

Nhân đọc bài “Báo cáo tác động của thủy điện trên sông Mekong” với Lời mở ấn tượng của BVN (xem ở đây), tôi xin chia sẻ thêm với độc giả vài điều về vấn đề này.
Gần đây, báo chí trong nước loan tin Thủ tướng yêu cầu mấy cơ quan gửi công hàm khẩn cho các nước thượng nguồn sông Mê Kông và ca ngợi chỉ đạo này của Thủ tướng là “kịp thời, thể hiện được sự quan tâm của nhà nước đến ĐBSCL”. Thật ra, đây chỉ là một việc làm tắc trách, rất bureaucratic, của chính quyền, chỉ cốt gây cho người dân một hi vọng hão huyền.  Trước thảm họa đang đe dọa hủy diệt nguồn sống của hai chục triệu dân ĐBSCL do chính sách hiểm độc của Trung Quốc và đầu óc hám lợi thiển cận của mấy nước láng giềng, chính quyền Việt Nam bất tài và tham nhũng đã không quan tâm đến trách nhiệm bảo vệ đời sống của nhân dân và lợi ích của đất nước. Thực tế đã chứng tỏ từ mấy chục năm qua chính quyến CSVN đã bỏ mặc mọi lời cảnh báo và đề nghị cần thiết của các chuyên gia Việt Nam và quốc tế, trong đó nhóm Viet Ecology Foundation (VEF) ở Mỹ có phần đóng góp quan trọng. Thực tế cũng đã cho thấy là Ủy ban Sông Mekong của Việt Nam chỉ là một cơ quan vô dụng, thậm chí một chuyên gia hiền lành như Giáo sư Võ Tòng Xuân cũng đã không ngần ngại phê phán “Đáng lẽ Ủy ban Sông Mekong Việt Nam phải đấu tranh cho quyền lợi của nước mình, nhưng hiện nay công tác này rất chậm, thậm chí không có gì”.
Một chính quyền thật sự quan tâm đến lợi ích của quốc gia và đời sống của nhân dân thì không thể chỉ gửi thư đến các nước thượng nguồn “để chia sẻ thông tin về nguồn nước, điều tiết các hồ chứa thủy điện để bổ sung nước cho hạ lưu, cụ thể là ĐBSCL”.  Phải khẩn cấp báo nguy với quốc tế về nạn hạn hán và các hậu quả trầm trọng khác về kinh tế và môi sinh đang xảy đến không chỉ cho 20 triệu dân ở ĐBSCL mà cho toàn thể đất nước Việt Nam. Phải vạch trần kế hoạch độc ác của lãnh đạo Bắc Kinh nhằm tiêu diệt khả năng sinh tồn của dân tộc Việt và chiếm đoạt quốc gia Việt Nam làm căn cứ chiến lược để kiểm soát toàn vùng Đông Nam Á.
Chính quyền dốt nát, độc tài và tham nhũng đã không muốn và không thể thi hành trách nhiệm lịch sử đó. Họ sẽ tiếp tục ru ngủ nhân dân bằng tuyên truyền lừa dối. Trước nạn hạn hán và nước mặn đã xâm nhập một số tỉnh mền Nam, báo chí nhà nước chỉ đổ tội cho “thiên tai” (có một phần đúng) mà không tố cáo đích danh thủ phạm là lãnh đạo Trung Quốc đã ngăn chặn nước từ hàng chục con đập thủy điện mà chúng đã xây cất ở thượng nguồn (chưa kể mấy nước hạ lưu như Thái, Lào khơi ngang dòng chảy của Mekong vào các sông, hồ dự trữ của họ.) Những hình ảnh trong link dưới đây cho thấy nạn hạn hán và nước nhiêm mặn đang tàn phá đồng lúa và vườn tược ở ĐBSCL:
Vì không thể trông cậy vào chính quyền quá lệ thuộc vào Trung Quốc, trí thức và các tổ chức xã hội dân sự không thể để cho nhân dân ngồi chờ chết mà phải cấp bách mở chiến dịch “Cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long” với sự tham gia đông đảo của mọi giới nhân dân.
Có mấy việc cần thực hiện đồng thời:
  1. Khẩn cấp báo động cho nhân dân về các tai họa đang và sắp xảy đến cho toàn thể ĐBSCL do thiếu nước, thiếu cá, thiếu phù sa và nhiễm độc môi sinh. Cần cung cấp thông tin và giải thích cụ thể về kế hoạch ác độc của lãnh đạo Trung Quốc cùng với thái độ hèn nhát và tham nhũng của chính quyền Việt Nam. Chỉ khi người dân được biết đến những thông tin xác thực bị che giấu và nhận thấy đời sống thực tế của gia đình họ bị đe dọa, họ mới bừng tỉnh và hậu thuẫn mạnh mẽ cho những cuộc tranh đấu chống Trung Quốc và đòi hỏi nhân quyền, dân chủ. Chiến dịch này cần được phát động toàn diện và thực thi đồng bộ bởi các thành phần yêu nước và các tổ chức xã hội dân sự tự phát.
  2. Tổng vận động các chính phủ có lợi ích trong khu vực và các tổ chức quốc tế hợp lực ngăn chặn Trung Quốc sử dụng các con đập ở thượng nguồn sông Mekong đề chi phối đời sống kinh tế của các nước hạ nguồn và đặc biệt hãm hại dân tộc Việt Nam ở cuối nguồn. Hoa Kỳ và các nước quan tâm đến Viêt Nam cũng cần được vận động mạnh mẽ để áp lực chính phủ Việt Nam phải thật sự cải thiện tình trạng nhân quyền và thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy nhiên Hoa Kỳ và quốc tế chỉ làm được việc này một cách có hiệu quả khi thấy chinh nhân dân Việt Nam chủ động tranh đấu cho những quyền lợi chính đáng của mình.
  3. Trong khi báo động thức tỉnh nhân dân và vận động quốc tế, các chuyên gia về đập thủy điện và hệ sinh thái trong và ngoài nước cần thảo luận với các chuyên gia quốc tế để tìm ra cách giải quyết cấp thời những tai họa đang ập xuống các tỉnh ở ĐBSCL, như nạn hạn hán, nước nhiễm mặn, v.v.  Đã có một số chuyên gia đưa ra những sáng kiến cần xem xét nghiêm túc và thực hiện. Cũng cần kích hoạt và cập nhật dự án phát triển bền vững ĐBSCL của nhóm chuyên gia Hòa Lan đưa ra từ năm 2013, như trong link sau đây:
Đã đến lúc các chuyên gia, khoa học gia trong và ngoài nước phối trí hợp tác để tìm các giải pháp khả thi và vận động/đòi hỏi thực hiện.
Trở lại chiến dịch cung cấp thông tin trong chiến dịch thức tỉnh nhân dân (điểm 1), cần phải thiết lập một hồ sơ đầy đủ về kế hoạch thôn tính đất nước và hãm hại dân tộc Viêt Nam về mọi phương diện: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục xã hội, môi sinh, v.v. Cần liệt kê những tội ác kinh khủng của lãnh đạo Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam: thực phẩm độc hại, sát hại ngư dân, bóc lột lao động, buôn bán phụ nữ và trẻ em, di dân vào nhũng vùng chiến lược, v.v. Thu thập tài liệu tới đâu, phổ biến thông tin tới đó, cập nhật thường xuyên không cần chờ đến khi hoàn tất đầy đủ hồ sơ.
THOÁT TRUNG phải là ưu tiên số 1 của chiến dịch cứu nguy tổ quốc và dân tộc. Phải làm thật to chuyện và đồng bộ, không chỉ than phiền và chỉ trích lẻ tẻ, từng vụ việc.
Một số khoa học gia trong nước đã không còn chịu để cho nhả nước tiếp tục lèo lái thông tin, che mắt nhân dân, và cũng đang thức tỉnh lương tâm và trách nhiệm của giới trí thức, chuyên gia trước tình trạng sống còn của đất nước.  Thêm một lý do cho chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL” cần được hoạch định và thực hiện đồng bộ cả trong lẫn ngoài nước.
Xin nhấn mạnh rằng khi nhân dân thấy rõ tội ác của thủ phạm và đồng lõa, họ sẽ thoát khỏi bênh “vô cảm” và hậu thuẫn mạnh mẽ cho những đòi hỏi “thoát Trung” và chống độc tài, tham nhũng của nhân sĩ, trí thức yêu nước và các tổ chức XHDS. Chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL” sẽ đương nhiên dẫn đến cuộc đấu tranh chính trị của toàn dân, chuyển hóa chế độ từ độc tài sang dân chủ.
Đó là lý do tại sao ưu tiên số 1 hiện nay phải là chống hiểm họa Trung Quốc, bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền của tổ quốc Việt Nam. Chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL”, với sự thức tỉnh và tham gia đồng bộ của toàn dân, sẽ đạt được cả hai mục tiêu thoát Trung và dân chủ hóa Việt Nam.
Tôi đang bị yếu và không có đủ thì giờ để viết một bài dài nhưng cũng cố vắt óc ra đôi chút ý kiến để chia sẻ với các anh và độc giả bauxitevn (BVN.)
L.X.K.

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A: Vì sao Đức Long Gia Lai quyết liệt làm cho bằng được?

Trong khi dự án thủy điện Đak Se Pay của Công ty Đầu tư và Phát triển điện năng Đức Long Gia Lai vừa bị tỉnh Gia Lai quyết định thu hồi vì không triển khai đúng tiến độ như đã cam kết, vi phạm Luật Đầu Tư thì công ty này vẫn quyết liệt đeo bám dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. Phân tích dưới đây của các chuyên gia cho thấy sự tính toán mang tính lợi ích nhóm trong vụ này không khéo sẽ thành ra "tính già hóa non".
“Theo một số chuyên gia thuỷ điện giàu kinh nghiệm, thì lý do chính vẫn muốn giữ 2 dự án trên chỉ vì những cấp có thẩm quyền ra quyết định nghĩ rằng thời gian hoàn vốn nhanh so với các dự án thuỷ điện ở những lưu vực khác. Tuy nhiên, người ta quên một điều là vì sao dự án thuỷ điện trên sông Đồng Nai trước đây thu hồi vốn nhanh? Lý do: thời gian đó chưa có đánh giá tác động môi trường, còn nếu phải trả thêm chi phí để phục hồi môi trường thì chắc chắn sẽ cân nhắc có nên giữ lại dự án đó không? Đấy là chưa kể những thiệt hại không thể tính được về mặt bảo tồn di sản” - (GS. TS Vũ Trọng Hồng, Chủ tich Hội Thuỷ lợi Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi nói)


Thủy điện Đồng Nai 6;6A: Lý lẽ khoa học dễ bị bác bỏ


(ĐVO) – "Hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cần phải xem xét kỹ, xuất phát từ lợi ích chung chứ không nên vì lợi ích của một nhóm người vì đây là tài nguyên của đất nước".




PGS. TS. Phan Kỳ Nam, nguyên Chủ nhiệm khoa thủy điện, Đại học thủy lợi Hà Nội chia sẻ với Đất Việt liên quan đến 2 dự án thủy điện gây nhiều tranh cãi thời gian qua.

Cố làm vì thu hồi vốn nhanh?

Liên quan đến 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A do Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai làm chủ đầu tư đang gây nhiều tranh cãi, Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa tiếp tục có cuộc khảo sát để làm rõ.


Đoàn cán bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng một số nhà khoa học và cán bộ môi trường tỉnh Đồng Nai đã đi thực địa tại 4 xã xung quanh dự án, gồm: Đồng Nai Thượng, Phước Cát 2 (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng); Đồng Nai (huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước) và Hưng Bình (huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông).



Các nhà khoa học khảo sát tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, nơi dự định sẽ xây dựng 2 nhà máy thủy điện Đồng Nai 6 và 6A
Các nhà khoa học khảo sát tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, nơi dự định sẽ xây dựng 2 nhà máy thủy điện Đồng Nai 6 và 6A
Sở dĩ dự án này có nhiều ý kiến trái chiều nhưng chưa đi đến hồi kết là vì có khúc mắc ở đây. Theo GS. TS Vũ Trọng Hồng, Chủ tich Hội Thuỷ lợi Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, khi ra quyết định loại bỏ hàng trăm dự án, Bộ Công thương đã phải tổng kết và cân nhắc nên bỏ cái nào, giữ cái nào.

"Theo một số chuyên gia thuỷ điện giàu kinh nghiệm, thì lý do chính vẫn muốn giữ 2 dự án trên chỉ vì những cấp có thẩm quyền ra quyết định nghĩ rằng thời gian hoàn vốn nhanh so với các dự án thuỷ điện ở những lưu vực khác", GS Hồng nói.


Tuy nhiên, GS Hồng cũng lưu ý: "Người ta quên một điều là vì sao dự án thuỷ điện trên sông Đồng Nai trước đây thu hồi vốn nhanh? Lý do: thời gian đó chưa có đánh giá tác động môi trường, còn nếu phải trả thêm chi phí để phục hồi môi trường thì chắc chắn sẽ cân nhắc có nên giữ lại dự án đó không? Đấy là chưa kể những thiệt hại không thể tính được về mặt bảo tồn di sản’, ông Hồng nói.


PGS.TS. Phan Kỳ Nam cũng cho rằng, làm thủy điện thu hồi vốn nhanh nhưng phải trình bày báo cáo đánh giá tác động cho kỹ để thấy được gì, mất gì. Ở Việt Nam đã  có nhiều dự án thông qua nhưng đôi lúc làm lấy lệ, sau này rất thiệt hại.


"Tức là quy trình làm thì đúng nhưng làm qua loa, không đạt cuối cùng thành tai hại, thủy điện mang tiếng. Phải xuất phát từ lợi ích chung chứ không nên vì lợi ích của một nhóm người vì đây là tài nguyên của đất nước. Vì một nhóm người có tiền bỏ ra làm mà không quan tâm đến người khác là không được", PGS Nam nói.


Nhà đầu tư phải lo điều tiết nguồn nước?


Theo TS Đào Trọng Tứ, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ khiến hệ thống sông bị nhiều ảnh hưởng của tài nguyên nước. Còn ảnh hưởng tới môi trường, môi sinh như thế nào thì đã quá rõ qua nhiều ý kiến phản biện cũng như quan điểm của tỉnh Đồng Nai từng nêu.


Về sông Đồng Nai, nơi GS Vũ Trọng Hồng đã từng gắn bó nhiều năm nên ông tỏ ra lo ngại: Đó là nguồn sống không chỉ cho Đồng Nai mà còn cả cho TP. Hồ chí Minh. Đó là nguồn nước ngọt phong phú duy nhất cho cả một vùng rộng lớn.


"Hơn thế nữa khi nước biển dâng cao thì lấy đâu để có nước đẩy mặn, bởi chủ đầu tư không phải nhà nước. Luật pháp nào ràng buộc họ phải xả nước cho hạ du khi nhà nước đã phê duyệt cho họ quyền điều hành nhà máy. (Bài học thuỷ điện và nguồn nước cho nông nghiệp ở Quảng Nam, Đà Nẵng vừa qua", GS Hồng lo ngại.


Khi hệ thống Đồng Nai vốn đã dày thủy điện nay lại có thêm hồ chứa của Đồng Nai 6 và 6A (nếu được triển khai) sẽ bất lợi cho cộng đồng hạ du về nhiều mặt.


"Chính phủ phải thấy rõ điều này và cần hỗ trợ bồi hoàn những thiệt hại đó, bởi những tác hại sẽ kéo dài nhiều năm, mà chủ đầu tư lúc đó đã hết trách nhiệm bảo hành", ông Hồng phân tích.


Chia sẻ về những thông tin liên quan đến 2 dự án này, GS Hồng cũng không giấu giếm: "Theo tôi biết vườn quốc gia Cát Tiên đang được Uỷ ban di sản thế giới xem xét để công nhận và phía Việt Nam cũng chưa muốn đưa vào ngay. Điều này có nghĩa những lý lẽ trên của các nhà khoa học dễ bị bác bỏ. Theo tôi nghĩ UBND tỉnh, nên mời tư vấn của các chuyên gia có kinh nghiệm, đánh giá kỹ xem tác động của dự án có những bất lợi gì cho sự phát triển kinh tế - xã hội (bao gồm cả hệ lụy môi trường) để mời chủ đầu tư và các nhà khoa học tranh luận, có sự chứng kiến của chính phủ. Để từ đó chính phủ sẽ điều chỉnh dự án nếu thấy hợp lý.



Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang:


Thông qua kết quả làm việc của Hội đồng thẩm định và khảo sát thực tế tại hiện trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy, mặt tích cực của dự án là: sẽ sản xuất ra 929,16 triệu kWh và nộp thuế hàng năm cho ngân sách khoảng 300 tỷ đồng; phát triển hạ tầng giao thông và các điều kiện kinh tế - xã hội, đời sống cộng đồng dân cư khu vực thực hiện dự án; điều hòa dòng chảy của đoạn sông Đồng Nai sau khi qua công trình Thủy điện Đồng Nai 5.




Tuy nhiên, một số vấn đề môi trường có liên quan của dự án vẫn chưa được đánh giá đầy đủ, thỏa đáng trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường.



Thứ nhất, hai dự án sẽ làm mất vĩnh viễn 372,23 ha đất rừng, trong đó có 128,37 ha đất ở khu Cát Lộc thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên. Mặc dù trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã cam kết trồng rừng bồi hoàn diện tích rừng bị tổn thất song lại chưa nêu được vị trí cụ thể và trồng loại cây gì.

Thứ hai, trên đoạn sông dự kiến xây dựng các công trình thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có cá chình hoa là loài quý hiếm có nguy cơ bị hủy diệt nhưng trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường chưa đề ra được biện pháp bảo vệ, bảo tồn.

Thứ ba, hệ sinh thái thủy sinh dọc đoạn sông Đồng Nai từ đập đến hồ Trị An sẽ bị tác động mạnh bởi việc xây dựng các công trình Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, tuy nhiên nếu không thực hiện các dự án này thì cũng sẽ chịu tác động bởi công trình thủy điện Đồng Nai 5.

Thứ tư, các dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A nằm trong Di tích quốc gia đặc biệt Vườn quốc gia Cát Tiên nên sẽ có những tác động bất lợi đến khu vực này, mức độ tác động sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp quản lý thi công xây dựng của các dự án.

Thứ năm, việc thực hiện các dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ tác động đến sinh kế của người dân sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt cá vùng hạ du, đặc biệt là các dân tộc ít người như: Châu-ro, Mạ, Xtiêng, Mnông…


Gia Lai thu hồi thêm năm dự án thủy điện


[Trong đó có dự án thủy điện Đak Se Pay của Công ty Đầu tư và Phát triển điện năng Đức Long Gia Lai]



NDĐT - Ngày 18-7, UBND tỉnh Gia Lai đã ra các Quyết định số 370, 371, 372/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư, chấm dứt hoạt động dự án đối với năm dự án thủy điện trên địa bàn.
Các dự án thủy điện bị thu hồi giấy phép gồm: Dự án thủy điện Ia Grăng 1, Ia Tchom 1 và thủy điện Đak Pô Kei của công ty CP Công nghiệp và Thủy điện Bảo Long Gia Lai; dự án thủy điện Đak Se Pay của Công ty Đầu tư và Phát triển điện năng Đức Long Gia Lai; dự án thủy điện Ia Loup của Doanh nghiệp tư nhân Phước Thành.
Đây là đợt thu hồi các dự án thủy điện thứ 2 trong năm nay của tỉnh. Trước đó, ngày 11-6-2013, UBND tỉnh đã có các quyết định thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với sáu thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh.
Theo các quyết định, lý do thu hồi vì từ khi được cấp chứng nhận đầu tư đến nay, các công ty nói trên không triển khai việc đầu tư xây dựng để đưa dự án đi vào hoạt động đúng tiến độ đã cam kết, vi phạm khoản 2, Điều 64 của Luật Đầu tư năm 2005. UBND tỉnh yêu cầu các công ty triển khai các bước thủ tục thanh lý dự án đầu tư theo quy định pháp luật, hoàn trả diện tích đất như hiện trạng ban đầu giao cho UBND tỉnh. UBND tỉnh cũng yêu cầu các doanh nghiệp có trách nhiệm trả lại bản gốc Giấy chứng nhận đầu tư, thu dọn tài sản trên đất, hoàn trả diện tích đất như hiện trạng ban đầu và tự chịu trách nhiệm về các khoản phí, khoản nợ liên quan.
Trên địa bàn tỉnh Gia Lai hiện có khá nhiều công trình thủy điện đang hoạt động, ngoài việc góp thêm nguồn điện năng cho điện lưới quốc gia, thì một số công trình cũng đang gây ra nhiều hệ lụy. Đơn cử như thủy điện An Khê - Ka Nak (công suất 173 MW, do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư), sau khi đi vào khai thác, do nắn dòng chảy cho nước về sông Kôn (Bình Định) đã làm cạn kiệt nước trên dòng sông Ba, khiến người dân vùng hạ lưu thuộc hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên thiếu nước sinh hoạt và nước tưới trầm trọng. Gần đây nhất, ngày 12-6, đập thủy điện Ia Krêl 2, do Công ty CP Công nghiệp và Thủy điện Bảo Long Gia Lai làm chủ đầu tư bị vỡ gây thiệt hại cho người dân hơn năm tỷ đồng…

Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang: Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A chưa được đánh giá đầy đủ về tác động môi trường!

Sáng 13-6, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) Nguyễn Minh Quang đã trả lời phỏng vấn của báo chí về công trình thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết:
Đối với hai dự án Đồng Nai 6 và 6A, hiện có hai vấn đề chính. Trong đó, Bộ TN-MT chịu trách nhiệm thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Vấn đề thứ hai có liên quan đến Nghị quyết 49 của Quốc hội, theo đó đối với những dự án sử dụng diện tích rừng trên 50ha thuộc rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì phải xin chủ trương của Quốc hội.

* Phóng viên:
 Việc thẩm định báo cáo tác động môi trường của các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cho kết quả như thế nào, thưa bộ trưởng? 

* Bộ trưởng NGUYỄN MINH QUANG:
 Bộ TN-MT nhận thấy, bên cạnh những mặt tích cực của dự án thì một số vấn đề môi trường có liên quan của dự án vẫn chưa được đánh giá đầy đủ, thỏa đáng trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường. 

Cụ thể: Thứ nhất, hai dự án sẽ làm mất vĩnh viễn 372,23ha đất rừng, trong đó có 128,37ha đất ở khu Cát Lộc thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên. Mặc dù trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã cam kết trồng rừng bồi hoàn diện tích rừng bị tổn thất song lại chưa nêu được vị trí cụ thể và trồng loại cây gì. 

Thứ hai, trên đoạn sông dự kiến xây dựng các công trình thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có cá chình hoa là loài quý hiếm có nguy cơ bị hủy diệt nhưng trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường chưa đề ra được biện pháp bảo vệ, bảo tồn. 

Thứ ba, hệ sinh thái thủy sinh dọc đoạn sông Đồng Nai từ đập đến hồ Trị An sẽ bị tác động mạnh bởi việc xây dựng các công trình thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, tuy nhiên nếu không thực hiện các dự án này thì cũng sẽ chịu tác động bởi công trình thủy điện Đồng Nai 5. 

Thứ tư, các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A nằm trong Di tích quốc gia đặc biệt Vườn quốc gia Cát Tiên nên sẽ có những tác động bất lợi đến khu vực này, mức độ tác động sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp quản lý thi công xây dựng của các dự án. 

Thứ năm, việc thực hiện các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ tác động đến sinh kế của người dân sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt cá vùng hạ du, đặc biệt là các dân tộc ít người như: Châu-ro, Mạ, Xtiêng, Mnông… Với những tác động được đánh giá nêu trên, Bộ TN-MT đã có văn bản trả lại hồ sơ để Công ty CP Đức Long Gia Lai chỉnh sửa, bổ sung; cho đến nay chưa nhận lại được bản báo cáo đã được chỉnh sửa, bổ sung của công ty. 

Bộ TN-MT cũng đã báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải về công tác thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A; đồng thời có văn bản gửi Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội có ý kiến đối với các kiến nghị của HĐND tỉnh Đồng Nai về các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A; trong đó đã nêu rõ cơ sở pháp lý, các vấn đề môi trường đặt ra cũng như những tồn tại trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường của hai dự án thủy điện nêu trên. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng hai dự án này nằm trong quy hoạch của ngành điện; chủ đầu tư cũng có thời gian chuẩn bị tương đối dài. Công sức của nhà đầu tư cũng cần được trân trọng, cần có cách xử lý được hòa lợi ích của nhà nước, của nhân dân và của nhà đầu tư. 

* Trong trường hợp dự án không đáp ứng yêu cầu thì sao, thưa bộ trưởng?
* Nếu chủ đầu tư báo cáo bổ sung những vấn đề như đã nêu theo yêu cầu của Hội đồng thẩm định, bộ sẽ tiếp tục đánh giá, bây giờ thì chưa đủ cơ sở kết luận. Nếu không đáp ứng được các tiêu chí thì buộc phải dừng lại.
ANH THƯ ghi

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A: Đức Long Gia Lai cãi chày cãi cối với báo cáo sai lệch

Chủ đầu tư dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A báo cáo sai lệch thực tếThứ tư, 05/06/2013, 06:36 (GMT+7)
2 dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A trên sông Đồng Nai đã âm ỉ từ lâu bởi tính hiệu quả và tác động môi trường khôn lường. Để làm rõ số liệu về sự tác động nhiều mặt khi triển khai 2 dự án này - mà Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai, đơn vị xin lập dự án đầu tư báo cáo, PV Báo SGGP đã đi thực tế khu vực dự kiến xây dựng Nhà máy thủy điện Đồng Nai 6 tại xã Đồng Nai Thượng, huyện Cát Tiên (tỉnh Lâm Đồng).
Bảng xác định vùng lõi VQG Cát Tiên.
Báo cáo một đường, thực tế một nẻo
Mặc dù đến lần thứ 3 Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai (Công ty Đức Long) lập báo cáo đánh giá tác động môi trường gửi Bộ TN-MT thẩm định, phê duyệt nhưng vẫn có những sai biệt không thể chấp nhận được. Cụ thể, báo cáo nêu: “Vị trí hai bậc thang thủy điện Đồng Nai 6, 6A nằm ở rìa phía Bắc khu Cát Lộc của Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên. Toàn bộ nhà máy, đường giao thông, đường dây đấu nối, khu phụ trợ phục vụ thi công đều nằm ngoài phạm vi VQG Cát Tiên, thuộc vùng đệm của Khu dự trữ sinh quyền Đồng Nai…”. Trên thực tế lại hoàn toàn khác.
Từ thôn Bù Gia Rá, xã Đồng Nai Thượng, huyện Cát Tiên (tỉnh Lâm Đồng) men theo những triền dốc trơn trượt, rồi băng qua những vạt rẫy, chúng tôi đến một cánh rừng tiếp giáp với vùng lõi của VQG Cát Tiên. Xe địa hình (xe gắn máy bọc xích 2 bánh) không thể đi tiếp vì đường dốc đứng, lầy lội, nhiều cây rừng rậm rạp chắn lối. Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Bù Sa, VQG Cát Tiên Nguyễn Trọng Hiếu quyết định: “Bỏ xe lại, cắt rừng”. Theo anh Hiếu, để đến được vị trí dự kiến xây dựng đập và nhà máy của thủy điện Đồng Nai 6 phải mất 1 giờ băng rừng, trượt dốc.
Rừng âm u, ướt sũng, dốc thẳng đứng phủ lá cây rừng không phân biệt được đâu là lối mòn, đâu là hố sâu trước mặt. Dò từng bước chân, nắm chặt nhánh cây rừng, chúng tôi bám theo con dốc thẳng đứng 2 bên là những thân cây cổ thụ 2 - 3 người ôm. Vừa đến khúc quanh thứ 3, chúng tôi bắt gặp tấm bảng màu xanh ghi dòng chữ: “VQG Cát Tiên, cấm xâm nhập vào rừng trái phép…”. Trưởng trạm Nguyễn Trọng Hiếu nói: “Từ vị trí này là vùng lõi của VQG Cát Tiên, thuộc tiểu khu 506. Theo quy định, không ai được phép vào đây, ngoài lực lượng kiểm lâm. Thế nhưng, thời gian qua các đoàn khảo sát do Công ty Đức Long tổ chức nhiều lần thâm nhập vào đều không xin phép”. Đi thêm một đoạn dốc đứng nữa, chúng tôi gặp một đường mòn thoai thoải dẫn xuống bờ sông. Khung cảnh thật hùng vĩ, những tán rừng che khuất tầm nhìn, chỉ thấy lờ mờ dòng nước đục ngầu của sông Đồng Nai hiện ra phía trước. “Đây chính là vị trí dự kiến xây đập và nhà máy” - anh Hiếu khẳng định.
Như vậy, vị trí xây dựng nhà máy thủy điện Đồng Nai 6 nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc vùng lõi của VQG Cát Tiên với hệ sinh thái rừng đa tầng, trái ngược với báo cáo của Công ty Đức Long khi cho rằng: “Diện tích rừng phạm vi dự án đã được các Sở NN-PTNT thông tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước phúc tra, thẩm định. Trong số 372,23ha diện tích sử dụng của các dự án này, hiện trạng 4,32ha (1,16%) là rừng giàu, còn lại trên 98% (một báo cáo khác nói 95% - PV) là rừng nghèo, lồ ô, hỗn giao và đất trống, bãi đá…”. Báo cáo còn khẳng định: “UBND tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Phước đã chấp thuận cho Công ty Đức Long xây dựng các nhà máy thủy điện Đồng Nai 6, 6A, cho phép chuyển đổi các phần diện tích sử dụng đất tương ứng từ đất lâm nghiệp sang xây dựng các công trình thủy điện…”.
Một chi tiết khác trong báo cáo đánh giá tác động môi trường ghi: “Có hơn 2.000 người dân sống trong vùng lõi, phần lớn là đồng bào dân tộc Châu Mạ, S’tiêng…”. Thực tế, không người dân nào sống trong vùng lõi nơi dự kiến xây dựng 2 nhà máy vì địa hình rừng núi hiểm trở không có đường đi. Theo báo cáo của UBND xã Đồng Nai Thượng, thôn Bù Gia Rá chỉ có hơn 40 nóc nhà với gần 60 hộ dân. Thôn nằm ngoài vùng đệm và cách xa vùng lõi dự kiến xây dựng nhà máy thủy điện Đồng Nai 6.
Ảnh hưởng đến đa dạng sinh học
khẳng định của Công ty Đức Long từ kết quả khảo sát của đơn vị lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, viết: “Kết quả cho thấy hệ động thực vật khu vực dự án là các loài phổ biến, có vùng phân bổ rộng, dễ thấy ở nhiều nơi, chúng thường phân bổ ở các sinh cảnh có phổ biến ở VQG Cát Tiên. Tác động của dự án chỉ làm giảm số lượng cá thể động thực vật, nhưng không làm mất đi hoàn toàn gen, không làm giảm sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên hay suy giảm tính đa dạng sinh học…”. Báo cáo còn khẳng định, 2 dự án thủy điện không ảnh hưởng đến Bàu Sấu vì khu vực này nằm ngoài vùng tác động hơn 50km…
Trong khi đó, 13 báo cáo tham luận và 12 ý kiến của các nhà khoa học tại 3 hội thảo nói về tác động môi trường của thủy điện Đồng Nai 6, 6A đều nói đến 6 tác động tiêu cực, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường sinh thái và đời sống của hơn 10 triệu dân phía hạ du, trong đó có TPHCM. Các nhà khoa học khẳng định cái mất lớn nhất là môi trường sinh thái và tính đa dạng sinh học của VQG Cát Tiên mất đi sẽ không thể phục hồi được. Chưa kể, 2 dự án thủy điện này còn tác động đến chế độ thủy văn và chất lượng nước sông Đồng Nai; gây ngập úng vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô cho hạ du và ảnh hưởng đến đặc trưng văn hóa của cộng đồng dân cư bản địa vùng hạ lưu…
HOÀI NAM


Về dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Thành Trí: Cần cơ quan độc lập đánh giá lại tác động môi trườngThứ năm, 06/06/2013, 06:30 (GMT+7)
Từ thông tin trong bài viết “Chủ đầu tư dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A - Báo cáo sai lệch thực tế” đăng tải trên Báo SGGP số ra ngày 5-6, chúng tôi đã nhận được ý kiến đồng tình của lãnh đạo tỉnh Đồng Nai về những điều còn khuất tất, chưa rõ ràng trong quá trình triển khai 2 dự án thủy điện này. Trao đổi với PV Báo SGGP, ông Nguyễn Thành Trí (ảnh), Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, kiêm Trưởng ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển tỉnh, cho biết:

Ngày 9-5, Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển tỉnh Đồng Nai có Công văn số 41/BC-BQLKDTSQDN gửi Thủ tướng Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban KH-CN-MT Quốc hội và các bộ ngành liên quan, nêu các tác động tiêu cực của dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Sau đó, Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai (Công ty Đức Long - PV) có Công văn 204/ĐLGL-TĐ ngày 25-5-2013 gửi UBND tỉnh Đồng Nai phúc đáp các ý kiến về dự án này. Nội dung văn bản này đưa ra nhiều số liệu không đúng với thực tế và có nhiều vấn đề chưa được làm rõ.

* PV:
 Cụ thể là gì, thưa ông?

* Ông NGUYỄN THÀNH TRÍ: 
Đúng như nội dung Báo SGGP đã nêu, Công ty Đức Long vẫn khẳng định dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A đều nằm ngoài phạm vi Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên. Điều này không đúng. Trên sơ đồ vị trí thủy điện Đồng Nai 6, 6A thể hiện đều nằm trong vùng lõi của VQG Cát Tiên. Trong đó, Thủy điện Đồng Nai 6 thuộc tiểu khu 506, còn thủy điện Đồng Nai 6A thuộc tiểu khu 497, do VQG Cát Tiên quản lý. Theo Luật Di sản văn hóa, vùng lõi là khu vực bảo vệ 1 được nhiều văn bản pháp luật quy định là khu bất khả xâm phạm. 137ha của 2 dự án này dự kiến xây dựng đều nằm trong vùng lõi - khu vực bảo vệ 1 của VQG Cát Tiên.

* Thế nhưng, trong nhiều văn bản, Công ty Đức Long khẳng định có đầy đủ tính pháp lý của 2 dự án này?
* Trước tiên, chúng tôi xin khẳng định Công ty Đức Long không phải là chủ đầu tư 2 dự án này, vì tới thời điểm hiện nay chưa có cơ quan thẩm quyền nào phê duyệt đầu tư 2 dự án này. Công ty Đức Long căn cứ theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 (Quy hoạch Điện VII) để thuê đơn vị chức năng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Qua nhiều lần chỉnh sửa, làm đi làm lại nhiều lần, đến nay bản báo cáo này còn nhiều sai sót, chưa được Bộ TN-MT phê duyệt trình Thủ tướng xem xét, quyết định. Mặt khác tỉnh Đồng Nai đã nhiều lần có văn bản kiến nghị Bộ Công thương, Thủ tướng loại 2 dự án này ra khỏi Quy hoạch Điện VII.

* Như vậy, Công ty Đức Long chưa có pháp lý đối với 2 dự án này?* Đúng vậy. 2 dự án này đã được phê duyệt đâu mà Công ty Đức Long cứ nói mình là chủ đầu tư. Ngay cả việc Công ty Đức Long nhiều lần tổ chức các đoàn khảo sát đưa các đơn vị lập báo cáo đánh giá tác động môi trường vào vị trí dự kiến xây dựng 2 nhà máy thuộc quyền quản lý của VQG Cát Tiên khi chưa được phép, theo quy định là đã xâm nhập trái phép vào vườn. Chưa kể, các đoàn khảo sát này mỗi lần vào vườn đã mở đường, chặt cây, lấy mẫu là đã có hành vi xâm hại di tích.
Vị trí đánh dấu sao trong bản đồ thuộc vùng lõi VQG Cát Tiên được dự kiến xây dựng Nhà máy thủy điện Đồng Nai 6, 6A.
* Ông có nhận xét gì về tính chính xác của số liệu đánh giá tác động môi trường mà Công ty Đức Long đưa ra?* Quá trình triển khai 2 dự án này có quá nhiều nội dung chưa được làm rõ, thiếu tính minh bạch từ khâu lập dự án đầu tư, chuẩn bị hồ sơ pháp lý, đến công khai, làm rõ những vấn đề vướng mắc mà dư luận đặt ra. Ngay như diện tích rừng bị mất để xây dựng 2 công trình này, Công ty Đức Long nói chỉ có 372ha là chưa chính xác, chưa xét đến diện tích rừng và đất rừng để làm đường thi công, đường vận hành nhà máy; thiết lập hiện trường thi công gồm các công trình phụ trợ, nhà làm việc, nhà ở của chủ đầu tư, tổng thầu, các đơn vị thi công, kho, bãi tập kết hàng triệu mét khối cát, đá, vật liệu xây dựng… Một vấn đề khác nữa, 2 công trình này đều có thiết kế nhà máy phát điện nằm ngay dưới chân đập, phía hạ du, hệ thống truyền tải điện từ nhà máy đến điểm đấu nối điện lưới quốc gia sẽ đi qua hàng chục kilômét băng qua những cánh rừng nguyên sinh của VQG Cát Tiên. Như vậy, diện tích rừng và đất rừng sẽ bị mất gấp nhiều lần so với số liệu mà Công ty Đức Long đưa ra.

* Tỉnh Đồng Nai có kiến nghị gì về 2 dự án này thưa ông?
* Quan điểm của lãnh đạo tỉnh Đồng Nai được thể hiện rất rõ trong các văn bản của Thường trực Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh gửi Ban Bí thư, Quốc hội và Thủ tướng kiến nghị dừng triển khai dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Việc dừng triển khai 2 dự án trên phù hợp với Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Mới đây, UBND tỉnh Đồng Nai tiếp tục có văn bản kiến nghị một số nội dung cụ thể gồm: Xem xét lại tính pháp lý của 2 dự án; rà soát, đánh giá lại quy hoạch thủy điện trên lưu vực sông Đồng Nai một cách hợp lý; đánh giá tác động môi trường một cách chi tiết, cụ thể, khách quan thông qua một cơ quan tư vấn độc lập không phụ thuộc vào đơn vị lập dự án đầu tư; tham vấn một cách chính xác, đầy đủ cộng đồng vùng hạ du và nghiên cứu về động đất kích thích, không để lập lại bài học của Thủy điện Sông Tranh 2 và Thủy điện Đắc Krông 3.
HOÀI NAM (thực hiện)


Xem xét kỹ lợi ích Dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6AThứ tư, 12/06/2013, 06:15 (GMT+7)
(SGGP). – Giám đốc Sở Công thương TPHCM vừa có báo cáo gửi Chủ tịch UBND TP về tổng hợp ý kiến của các sở ngành và các tổ chức, nhà khoa học về Dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A trên sông Đồng Nai. Nhiều ý kiến cho rằng 2 hồ chứa của các nhà máy này chỉ có dung tích hơn 200 triệu m³ nên ít ảnh hưởng đến việc tham gia xả lũ, chống hạn, chống ngập mặn cho hạ lưu sông Đồng Nai. Về lợi ích kinh tế mang lại, cụm thủy điện này cung cấp cho hệ thống một lượng công suất 241 MVA và sản lượng điện hàng năm khoảng 929,16 triệu kW/h. Thế nhưng, những tác động tiêu cực của 2 dự án trên lại quá lớn.

Cụ thể, việc xây dựng quá nhiều công trình thủy điện (theo quy hoạch là 8 nhà máy) có thể ảnh hưởng đến môi trường sinh thái khu vực sông Đồng Nai như nguồn nước bị ô nhiễm, làm suy giảm diện tích rừng do việc phá rừng đầu nguồn để tạo mặt bằng thi công công trình, cũng như quá trình tích nước, xả nước trong việc vận hành nhà máy điện là nguyên nhân gây ra lũ lớn trong mùa mưa bão và cạn kiệt nước trong mùa khô hạn cho vùng hạ du các địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó có TPHCM, tỉnh Đồng Nai và Bình Dương. 

Ngoài ra, theo các nhà khoa học, việc xây dựng 2 dự án này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái Vườn quốc gia Cát Tiên.

Do 2 dự án trên vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều, nên cần thiết phải có những đánh giá thật chính xác, khoa học và khách quan những lợi ích và sự tác động không tốt đến môi trường. Sở Công thương TP kiến nghị UBND TPHCM giao cơ quan quản lý nhà nước về môi trường nghiên cứu tổ chức hội nghị hoặc hội thảo quốc tế và mời các nhà khoa học trong và ngoài nước đến nghe ý kiến của các chuyên gia đầu ngành về mức độ tác động môi trường của 2 dự án trên; giao Liên hiệp Các hội KHKT TPHCM phối hợp với các nhà khoa học trên địa bàn tổ chức khảo nghiệm thực tế, thu thập số liệu, tham gia phản biện về 2 dự án này.
HOÀI NAM

Nguồn SGGP


Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A: TP.HCM ủng hộ quan điểm Đồng Nai


TTO - Đại biểu Huỳnh Thành Đạt - phó GĐ thường trực ĐHQG TP.HCM - khẳng định ủng hộ ý kiến của Đảng bộ, chính quyền, các đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai là cần xem xét thật kỹ lợi ích và tác hại khi xây dựng thủy điện 6 và 6A.
Ông Đạt đã thay mặt tổ đại biểu Quốc hội đơn vị 4 (TP.HCM) trả lời ý kiến của cử tri về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A tại cuộc tiếp xúc với cử tri quận 10 chiều 14-5.
Theo ông Đạt, suốt thời gian qua có nhiều ý kiến quan ngại về dự án nói trên sẽ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của khu vực, đời sống người dân, đồng thời ảnh hưởng đến vùng hạ lưu, trong đó có TP.HCM.  
Liên quan đến dự án nói trên, theo ghi nhận của Tuổi Trẻ, suốt thời gian qua các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai vẫn giữ quan điểm đề nghị không tiếp tục thực hiện dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. Tỉnh Đồng Nai liên tục lên tiếng về dự án thủy điện này vì nó ảnh hưởng đến 3 triệu dân của tỉnh.
Đồng thời một số ý kiến quan ngại ngoài Đồng Nai, hàng chục triệu dân ở TP.HCM và các tỉnh hạ lưu sẽ bị mất rất nhiều. Quanh dự án này, một trong những câu hỏi luôn luôn được đặt ra: phát triển nhưng đánh đổi rừng, đánh đổi sự thay đổi dòng chảy của sông Đồng Nai thì hệ lụy sẽ ra sao?
Cùng tiếp xúc với cử tri quận 10 có đại biểu Lê Thanh Hải - ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy TP.HCM; đại biểu Nguyễn Phước Lộc - vụ trưởng Vụ Đoàn thể nhân dân Ban Dân vận trung ương.
Trước đó sáng cùng ngày, tổ đại biểu đơn vị 4 đã tiếp xúc cử tri quận 5. Phát biểu tại đây, ông Lê Thanh Hải nhấn mạnh nhiều bức xúc được nêu ra không phải vì bản thân của mỗi cử tri mà liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, uy tín của các cấp ủy và niềm tin của người dân, cán bộ, đảng viên… Theo ông Lê Thanh Hải, đây là những ý kiến xác đáng, có tinh thần trách nhiệm với cái chung, mang tính xây dựng, chỉ rõ bức xúc trước những mặt trái, tiêu cực trong nội bộ Đảng và xã hội.
Ông Hải cũng trả lời chất vấn của cử tri về tình trạng dân xin trả lại sổ đỏ do không đủ tiền để đóng tiền sử dụng đất khi làm thủ tục này; tai nạn giao thông liên tiếp xảy ra, gây chết chóc nhiều quá, biện pháp nào để giảm bớt đau thương…
QUỐC THANH