Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Sa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Sa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

COC, CÁ RỒNG ĐỎ và NGƯỜI NƯỚC HUỆ




1. Tháng 9/2017, tướng Daniel Schaeffer - quan chức Bộ Quốc phòng nước Pháp đã hồi hưu, chuyên gia hàng đầu về tranh chấp trên Biển Đông, gửi cho tôi bài viết của ông "The Code of Conduct of the Parties in the South China Sea: A Tremendous Mistake" (Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông: Một sai lầm to lớn), đã đăng trên website của Tổ chức tư vấn Asie21 ở Pháp). Bài viết cảnh báo các nước ASEAN về mưu đồ của Trung Quốc trong quá trình đàm phán COC và những nguy hiểm mà các nước ASEAN có thể đối mặt một khi COC được thông qua và ký kết, mà không loại bỏ được ‘đường lưỡi bò’ phi pháp do Trung Quốc tự ý vạch ra, ôm trọn hầu hết Biển Đông.


Tôi xin phép tướng Daniel Schaeffer dịch bài này sang tiếng Việt, gửi in ở tạp chí PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐÀ NẴNG (số 94. Tháng 10/2017) và ở tạp chí VĂN HÓA QUẢNG NAM (số 114. Tháng 10/2017).

Vì 2 tờ tạp chí này có lượng độc giả hạn chế nên tôi đã tóm lược bài viết của tướng Daniel Schaeffer thành một bài báo “Cảnh báo của một học giả Pháp về Quy tắc ứng xử ở Biển Đông trong tương lai”, ngắn gọn và "mềm" hơn, gửi đến một tờ báo lớn mà tôi thường cộng tác để cậy đăng, nhằm lan truyền rộng rãi hơn sự cảnh báo này của tướng Daniel Schaffer.
Đại diện tờ báo này lúc đầu nói sẽ đăng, nhưng sau đó thì gọi điện cho tôi nói là đợi Trung Quốc đại hội đảng (cộng sản) xong thì mới đăng được. Tôi đợi 3 tuần thấy họ không đăng thì rút bài, gửi cho một tờ báo lớn khác. 

Người liên lạc của tờ báo thứ hai trả lời là sẽ đăng nhưng chỉ đăng 1 phần bài viết và đề nghị bỏ một đoạn quan trọng. Tôi không đồng ý nên gửi cho tờ báo thứ 3.

Biên tập viên của tờ báo thứ 3 viết mail trả lời tôi: “Thời điểm này không đăng và đây là vấn đề quốc tế, nhạy cảm với vấn đề Trung Quốc, chỉ viết về cảnh báo của một vị tướng Pháp, trong khi chưa có chỉ đạo TW và báo mình chưa nắm được thông tin thực chất của các cuộc đàm phán COC nên không dùng là tốt nhất”.

Có nhiều lý do để 3 tờ báo nói trên không đăng bài viết trên của tôi, nhưng nguyên nhân chính, theo BTV của tờ thứ 2 là vì đoạn này:

“Nếu không vô hiệu hóa được ‘đường 9/10 đoạn’ phi pháp, mà đã vội vàng thông qua một COC có tính ràng buộc pháp lý, thì Trung Quốc sẽ dùng “công cụ pháp lý” này để chống lại các nước ASEAN một khi các nước này tiến hành những hoạt động hợp pháp trong vùng biển thuộc chủ quyền (hoặc quyền chủ quyền) của họ, nhưng lại ở bên trong ‘đường 9/10 đoạn’ do Trung Quốc vạch ra. Đây là dẫn chứng để chứng minh cho điều này:

- “Trung Quốc đã đe dọa chiến tranh với Philippines nếu nước này tiếp tục thăm dò và khai thác dầu ở Bãi Cỏ Rong (Reed Bank), một bãi ngầm tọa lạc ở phía bắc quần đảo Trường Sa và phía tây đảo Palawan của Philippines. Hành động này của Trung Quốc là hoàn toàn sai trái bởi vì thực thể chìm dưới nước này đã được Tòa Trọng tài thường trực công nhận là nằm hoàn toàn bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, do đó nó thuộc quyền chủ quyền, không phải là chủ quyền, của nước này. Hơn nữa, Trung Quốc không được quyền yêu sách chủ quyền đối với thực thể này bởi vì Tòa Trọng tài thường trực đã viện dẫn Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) rằng: không ai có thể yêu sách chủ quyền đối với một bãi ngầm, trừ khi nó nằm ở lãnh hải của nước đó”. Rõ ràng Bãi Cỏ Rong không nằm trong lãnh hải của Trung Quốc nhưng Trung Quốc lại đe dọa chiến tranh với Philippines nếu Philippines không chấm dứt thăm dò dầu khí ở đây.

- “Mới đây Trung Quốc đã ép buộc Việt Nam và Công ty Repsol của Tây Ban Nha ngừng thăm dò dầu khí ở lô 136-03, nơi xa nhất về phía đông nam của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thuộc khu vực Bãi Tư Chính (Vanguard Bank) ở phía tây nam quần đảo Trường Sa”, vì khu vực này nằm bên trong ‘đường 9/10 đoạn’. 

Theo tướng Schaeffer, hai dẫn chứng nêu trên cho thấy rất rõ rằng khi một COC có tính ràng buộc pháp lý được thông qua mà ‘đường 9/10 đoạn’ không biến mất, thì “các quốc gia Đông Nam Á ở ven Biển Đông sẽ phải tiếp tục chịu đựng những cáo buộc của Trung Quốc bởi những hoạt động (hợp pháp) của họ, mà Trung Quốc cho là sai trái”. Và như vậy, Trung Quốc sẽ dùng những quy tắc mà các nước ASEAN đặt ra để chống lại họ, thay vì những quy tắc này sẽ bảo vệ họ như họ mong đợi. 

Trong đó câu “Mới đây Trung Quốc đã ép buộc Việt Nam và Công ty Repsol của Tây Ban Nha ngừng thăm dò dầu khí ở lô 136-03, nơi xa nhất về phía đông nam của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thuộc khu vực Bãi Tư Chính (Vanguard Bank) ở phía tây nam quần đảo Trường Sa”, bị coi là nguy hiểm nhất vì đã tiết lộ việc Việt Nam bị Trung Quốc ép phải ngưng thăm dò dầu khí ở lô 136-03. Và vì câu này mà các tờ báo tôi đã gửi bài, đều từ chối đăng bài của tôi.


2. Mấy ngày qua, báo chí nước ngoài (BBC, Reuters, RFI, RFA…) đồng loạt đưa tin Trung Quốc ép Việt Nam ngưng thăm dò dầu khí ở mỏ Cá Rồng Đỏ. Theo các nguồn tin này thì “… tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam PetroVietnam đã yêu cầu tập đoàn dầu khí Tây Ban Nha Repsol đình chỉ dự án khai thác mỏ Cá Rồng Đỏ ngoài khơi Vũng Tàu, sau khi bị Trung Quốc gây sức ép… Với quyết định tạm dừng của Việt Nam, tập đoàn Tây Ban Nha Repsol cùng với các đối tác được giao quyền khai thác mỏ Cá Rồng Đỏ (tên tiếng Anh là Red Emperor) có khả năng bị mất đến 200 triệu đô la đầu tư. Giới lãnh đạo Repsol và PetroVietnam cũng như bộ Ngoại Giao Việt Nam chưa phản ứng trước yêu cầu bình luận của Reuters” (Trọng Nghĩa - RFI).


Mỏ Cá Rồng Đỏ, là một phần của lô (Block) 07/03 tại khu vực Bể Nam Côn Sơn, cách thành phố biển Vũng Tàu, phía đông nam của Việt Nam khoảng 440 km (273 dặm), hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Vào cuối năm 2017, báo chí Việt Nam đã liên tiếp trích dẫn các giới chức lãnh đạo dầu khí Việt Nam ca ngợi tiềm năng của mỏ khí Cá Rồng Đỏ, có thể sản xuất 25.000-30.000 thùng dầu và 60 triệu mét khối khí mỗi ngày.

Tuy nhiên Trung Quốc cho rằng mỏ này nằm gần “đường lưỡi bò" mà Trung Quốc tự động vạch ra (chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, dù đã bị Tòa Trọng tài thường trực (PCA) vô hiệu hóa trong phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc theo Phụ lục 7 của UNCLOS và ngày 12/7/2016), nhưng Trung Quốc vẫn bất chấp phán quyết) và cho rằng mỏ Cá Rồng Đỏ đã ăn vào vùng mỏ thuộc quyền của Trung Quốc.

Diễn biến mới nhất này cho thấy cảnh báo của tướng Daniel Schaeffer là hoàn toàn chính xác. Và Trung Quốc tiếp tục dùng “đường lưỡi bò” làm “cơ sở pháp lý” của họ để đe dọa và uy hiếp các nước ven Biển Đông, trong đó có Việt Nam, buộc Việt Nam phải rút lui hai dự án dầu khí quan trọng của mình.

Thực tế này khiến tôi nhớ đến câu nói nổi tiếng của ông Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” vào đêm 19/12/1946: 

“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa! 

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào,
Chúng ta phải đứng lên!”

Tuy nhiên, vào thời điểm này tôi không thấy ai ra lời kêu gọi “Hỡi đồng bào. Chúng ta phải đứng lên” như ông Hồ Chí Minh đã làm cách đây 72 năm cả.


3. Ngày 5/2/2018 UBKT thành ủy Đà Nẵng ban hành quyết định kỷ luật tôi – Trần Đức Anh Sơn – vì một số bài viết của tôi đăng trên FB, thì ngày 9/2/2018, báo mạng http://mp.weixin.qq.com của Trung Quốc đăng bài 越南海专家被高调处分 凸显中越联手管控南海局势 (tạm dịch: Chuyên gia biển Việt Nam bị phạt nặng để làm gương cho sự hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam về tình hình Biển Đông).


Nội dung bài báo này tường thuật việc tôi bị kỷ luật khá chi tiết, và cho rằng: Trần Đức Anh Sơn là một trong những người nghiên cứu về Biển Đông, hay chỉ trích Trung Quốc…, xuất hiện ở nhiều diễn đàn quốc tế về vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, hòa giọng cùng với các chuyên gia phương Tây như Daniel Schaeffer (đăng kèm ảnh tôi với tướng Daniel Schaeffer) chỉ trích Trung Quốc về vấn đề chủ quyền trên biển Nam Hải (Biển Đông), về COC sắp ký giữa ASEAN với Trung Quốc...”. 

Bài báo này cũng trích dẫn quan điểm của tướng Daniel Schaeffer trong bài “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông: Một sai lầm to lớn”, mà tôi đã dịch và cho in trên 2 tạp chí nói trên, rồi cho rằng tôi đã đi ngược lại quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tinh thần hợp tác hữu nghị với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, đã được tướng Nguyễn Chí Vịnh nhiều lần nhắc đến trong các cuộc gặp cao cấp giữa quân đội 2 nước (đăng kèm ảnh tướng Vịnh bắt tay với tướng Tàu Chang Changwan). 

Từ đó, bài báo này kết luận: “Nhìn lại vấn đề Trần Đức Anh Sơn bị kỷ luật, không khó để hiểu được rằng Trần Đức Anh Sơn đại diện cho một lực lượng học giả của Việt Nam quan tâm đối với Biển Đông… Việc kỷ luật này là một cảnh báo (cho những ai) có quan điểm tiêu cực với Trung Quốc”.

Ba chuyện trên đây, thoạt nhìn thì tưởng là không ăn nhập gì với nhau. Nhưng thực tình thì không hẳn vậy.

NGƯỜI NƯỚC HUỆ (@ Đà thành, Quảng Nam quốc)




Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

Người đi tìm bản đồ về chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông



A Defiant Map-Hunter Stakes Vietnam’s Claims in the South China Sea/New York Times


Vũ Quốc Ngữ dịch


Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn cho hay Chính phủ Việt Nam không sử dụng những tài liệu mà ông tìm ra để kiện Trung Quốc. “Do vậy, nhiều tài liệu của chúng tôi không được công bố”.

Đà Nẵng, Việt Nam - 8 năm trước, lãnh đạo Đà Nẵng đã yêu cầu Trần Đức Anh Sơn đi khắp thế giới để tìm kiếm các tài liệu và bản đồ hỗ trợ cho các tuyên bố lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông.

clip_image002

Tiến sỹ Nguyễn Đức Anh Sơn với một tấm bản đồ Việt Nam với Biển Đông trong phòng làm việc của ông ở Đà Nẵng


Ông đã làm như yêu cầu, và ông kết luận rằng Việt Nam nên kiện Trung Quốc về các hoạt động trong vùng nước xung quanh một số hòn đảo đang tranh chấp  ở Biển Đông, như Philippines thành công khi kiện Trung Hoa lên Toà án Trọng tài Quốc tế kết thúc vào năm ngoái. Tuy nhiên, những lãnh đạo của ông đã im lặng.
"Họ luôn luôn nói với tôi rằng ‘Anh Sơn, hãy giữ bình tĩnh’”, ông nói trong một cuộc phỏng vấn tại nhà riêng ở Đà Nẵng, thành phố ven biển, nơi ông là Phó giám đốc một viện nghiên cứu của nhà nước. "Đừng nói xấu về Trung Quốc” là yêu cầu của lãnh đạo đối với ông.
Các nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam là "nô lệ" của Bắc Kinh, ông nói thêm một cách cay đắng, khi mưa xối xả đập vào cửa sổ của ông. "Đó là lý do tại sao chúng tôi có nhiều tài liệu không được công bố".
Sứ mệnh của Tiến sĩ Sơn, và thái độ im lặng của ban lãnh đạo là dấu hiệu của các giai đoạn trong đó Việt Nam luôn sống dưới cái bóng của Trung Quốc nhưng muốn một sự độc lập nào đó.
Sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông đã gây ra lo lắng cho Việt Nam, coi chủ quyền lãnh thổ là một nguyên tắc thiêng liêng và khuyến khích Chính phủ thúc đẩy các tuyên bố về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Tuy nhiên, ngay cả khi bằng chứng cho những tuyên bố như vậy được thu thập, Hà Nội không muốn dùng chúng như những vũ khí, theo các nhà phân tích nói. Trung Quốc, quốc gia láng giềng kế cận và đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, đang ngày càng quyết đoán trong việc xây dựng một chuỗi các tiền đồn quân sự trên biển Đông.
Mọi người ở Việt Nam, “chính phủ và các cơ quan phi chính phủ đều chia sẻ một ý nghĩ chung là Trung Quốc nên tránh xa những hòn đảo đó, theo Liam C. Kelley, Giáo sư về lịch sử tại Đại học Hawaii ở Manoa và là người đã nghiên cứu nguồn gốc của mối quan hệ giữa hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam.

clip_image004

Tiến sĩ Trần Nguyễn Anh Sơn cho hay Chính phủ Việt Nam không sử dụng những tài liệu mà ông tìm ra để kiện Trung Quốc. “Do vậy, nhiều tài liệu của chúng tôi không được công bố”.

Nhưng ông nói rằng việc sống dậy chủ nghĩa dân tộc gần đây do sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông đặt ra một câu hỏi gai góc “Làm thế nào mà bạn có thể bảo vệ Việt Nam khỏi Trung Quốc khi Bắc Kinh chống lưng Hà Nội?”.
Trung Quốc từng cai trị Việt Nam trong một giai đoạn kéo dài một nghìn năm, để lại nhiều di sản văn hóa tích cực nhưng cũng chuốc lấy sự căm giận từ người dân. Bắc Kinh đã giúp Hà Nội đánh bại  Pháp để giành được độc lập năm 1954 nhưng cũng xâm chiếm miền Bắc Việt Nam vào năm 1979, bắt đầu cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi.
Vào năm 2014, tinh thần chống Trung Quốc bùng nổ khi một công ty dầu mỏ của Trung Quốc kéo một giàn khoan dầu lên vùng biển gần Đà Nẵng, gây ra căng thẳng hàng hải và nhiều cuộc bạo loạn chống Trung Quốc tại một số khu công nghiệp của Việt Nam.
Một chuyên gia cao cấp về luật tại Hà Nội, người không muốn tiết lộ danh tính khi nói về chính trị nhạy cảm, nói rằng sự quan tâm đến chủ quyền lãnh thổ từ lâu đã là "trái tim" của người Việt Nam. Nhưng vụ giàn khoan đã làm tăng thêm sự quan tâm.
Trung Quốc đã kiểm soát Hoàng Sa từ năm 1974 sau một cuộc hải chiến với Việt Nam Cộng hoà. Bắc Kinh gia tăng sự hiện diện ở Trường Sa bằng một chiến dịch xây dựng đảo nhân tạo ở quần đảo này.
Nhiều quan chức và học giả Trung Quốc tìm cách biện minh cho tuyên bố chủ quyền chin đoạn của Bắc Kinh đối với vùng biển bao quanh cả hai quần đảo bằng cách trích dẫn các bản đồ và các bằng chứng khác từ những năm 1940 và 1950.
Nhưng một số ở Việt Nam, như Tiến sĩ Sơn, đang cố gắng thu thập các bằng chứng lịch sử về chủ quyền của quốc gia ở hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cho dù họ có ít quyền hạn để ngăn cản Trung Quốc.
Tiến sĩ Sơn, 50 tuổi, và các học giả Việt Nam khác nói rằng triều đại nhà Nguyễn, trị vì Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1945, đã kiểm soát hành chính đối với Hoàng Sa bằng cách gửi người đi khảo sát quần đảo này và thậm chí trồng cây trên đó như là một cảnh báo đề phòng tàu đắm. Họ nói rằng điều này đã xảy ra vài thập niên trước khi người Trung Quốc tỏ ra quan tâm đến các hòn đảo này.
"Người Trung Quốc biết rất rõ rằng họ không bao giờ đề cập đến Hoàng Sa hay Trường Sa trong sách lịch sử hoặc bản đồ lịch sử của họ", tiến sĩ Sơn nói.
Ngược lại, ông cho biết, ông đã tìm thấy bằng chứng trong hơn 50 cuốn sách bằng tiếng Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha – về việc một nhà thám hiểm Việt Nam thời Nguyễn đã đặt lá cờ hoàng gia ở Hoàng Sa vào những năm 1850.
Các nhà phân tích cho rằng, trọng tài quốc tế về chủ quyền lãnh thổ chỉ có thể tiến hành nếu hai bên đồng ý, và Trung Quốc đã không quan tâm đến vấn đề này.

clip_image006

Ngư dân chuẩn bị đi biển từ Đà Nẵng. Một giàn khoan dầu của Trung Quốc được kéo vào vùng nước gần đó đã gây ra xung đột hàng hải căng thẳng vào năm 2014 và gây ra nhiều cuộc bạo động chống Trung Quốc

Tuy nhiên, việc quan tâm đến lịch sử hàng hải của Việt Nam kể từ năm 2012 đã tạo ra tiếng vang trên các phương tiện truyền thông nhà nước và có nhiều thú vị bất ngờ.
Một là Trần Thắng, một Kỹ sư cơ khí người Việt Nam sống ở Connecticut. Ông nói qua điện thoại rằng ông đã tặng 153 bản đồ và sách atlases mua chúng trên eBay với giá khoảng 30.000 USD.
Trong số các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu về lãnh thổ và lãnh hải ở Biển Đông, TS. Sơn là một trong số những người nổi bật nhất.
Ông sinh năm 1967 tại Huế, khoảng 50 dặm về phía tây bắc của thành phố Đà Nẵng, và cha của ông đã bị giết chết vào năm 1970 trong khi chiến đấu ở phe Việt Nam Cộng hoà. "Tôi chỉ nhớ đám tang", ông nói.
Ông lớn lên trong nghèo khó, nhưng học xuất sắc trong Trường Đại học Huế, nơi luận án lịch sử của ông đã khám phá đồ sứ thời Nguyễn. Sau đó ông lãnh đạo Viện Bảo tàng Mỹ thuật của Huế và đã nỗ lực trong việc đưa kinh thành Huế trở thành di sản UNESCO.
Tiến sỹ  Sơn cho biết, ông muốn sao chụp bản đồ nêu bật các yêu sách lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông. Vì vậy, khi các quan chức hàng đầu ở Đà Nẵng yêu cầu ông trong năm 2009 thực hiện một nghiên cứu của Chính phủ, ông đã không bỏ lỡ cơ hội.
"Tôi luôn chống lại Trung Quốc", ông nói bằng cách giải thích. “Các học giả Trung Quốc đã và đang tiến hành nghiên cứu tương tự trong nhiều năm với sự hỗ trợ của Bắc Kinh”. Ông thấy công việc của mình không uổng, ông cho biết.
Các quan chức Đà Nẵng đã cho phép Tiến sĩ Sơn tuyển mộ một nhóm hỗ trợ gồm bảy thành viên, nhưng không tài trợ cho chuyến đi quốc tế của ông. Ông nói ông đã phải dùng tiền túi của mình để thanh toán cho một số nghiên cứu mà ông đã tiến hành từ năm 2013 trên khắp châu Âu và Hoa Kỳ, nơi ông là một học giả Fulbright tại Đại học Yale.
Tiến sĩ Sơn, Phó giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội thành phố Đà Nẵng, cho biết ông vẫn hy vọng rằng một ngày [nào đó] Việt Nam sẽ đưa Trung Quốc ra tòa.
Nhưng ông không nói nhiều về kết quả cuối cùng nếu có một vụ kiện như thế.
"Tôi không phải là chính trị gia", ông nói thêm. "Tôi là một nhà khoa học”.



Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2018

TRẬN CHIẾN HOÀNG SA NĂM 1974 – CHỈ LÀ VÁN CỜ CỦA CÁC NƯỚC LỚN!

Đinh Khắc Thiện


TRẬN CHIẾN HOÀNG SA NĂM 1974 – CHỈ LÀ VÁN CỜ CỦA CÁC NƯỚC LỚN!

Quần đảo Hoàng Sa của VN đã bị mất về Trung cộng từ sau cái bắt tay này.
Ảnh: Cái bắt tay lịch sử của Mao Trạch Đông và Richard Nixon - 29.2.1972. 

Mới đây có một anh bạn - là sếp của một tờ báo điện tử chính thống, anh đồng thời là một nhà báo nổi tiếng, một chuyên gia về biển Đông đã gửi cho tôi một số video clip và một số tệp về những bài phát biểu và phát ngôn của một người lính VNCH đã từng tham gia trận chiến Hoàng Sa năm 1974 trong vai trò một viên phi công lái máy bay phản lực chiến đấu. Anh đề nghị tôi tham gia viết bài để phản biện lại những phát ngôn của viên phi công này, mà theo anh là không đúng. Nhưng cái cắc cớ của “ông nhà báo” này là anh ta biết tôi với viên phi công kia là người cùng Họ, thậm chí là người cùng họ Đinh Khắc. Cho nên tôi đã khéo léo từ chối viết bài về chủ đề này cho tờ báo của anh ta, vì sợ làm mất lòng một người họ hàng. Nhưng cũng để khỏi làm phật lòng một “sếp lớn”, tôi đề nghị viết một bài ngắn trên blog riêng của mình, vì bài cũng sẽ được cộng đồng mạng đọc được trên google và anh đã đồng ý !

Thời thế
Cuộc tấn công xâm lược quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam xảy ra đã 43 năm, quần đảo tiền tiêu án ngữ đường vào vịnh Bắc bộ đã bị quân xâm lược Trung Cộng chiếm đoạt. Đã 43 năm mãnh đất của cha ông để lại, nhưng lớp hậu sinh đã không giữ được khiến nó lọt vào tay ngoại bang, cũng không ai dám nói là bao giờ mới đòi lại được. Nhưng đa số lớp hậu sinh đã gần như quên lãng sự kiện này, phải chăng họ đang bận bịu một cái gì đó trọng đại hơn, hay họ chỉ biết vinh thân phì gia mà quên đi dã tâm thôn tính nước ta từ ngàn đời nay của quân xâm lược phương Bắc !
Ngay từ thế kỷ 16, khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp hình thành nên một vương quốc Nguyễn ở xứ Đàng Trong hoàn toàn biệt lập với xứ Đàng Ngoài của vua Lê – Chúa Trịnh, thì đất nước ta liên tục xảy ra những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực của hai thế lực này. Sau đó là cuộc nội chiến giữa các Chúa Nguyễn với nhà Tây Sơn, giữa Tây Sơn và chúa Trịnh với những cuộc chiến dai dẳng kéo dài hàng trăm năm khiến cho dân tình khốn khổ, đất nước bị tàn phá, tiềm lực và sức mạnh quốc gia bị phân tán và ngày càng tụt hậu. Tới đầu thế kỷ 19 nhà Nguyễn đã đưa đất nước trở lại thời thịnh vượng, thời vua Minh Mệnh (1820) nước ta là cường quốc mạnh nhất khu vực. Nhưng do không bắt kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới với những cuộc cách mạng công nghiệp đang bùng nổ tại phương Tây nên một lần nữa đất nước ta lại tụt hậu. Và khi người Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược (1858), ta lại thua và bị họ xâm chiếm. Đây cũng là thực trạng của hầu hết các nước trong khu vực, nên họ cũng đều bị thực dân phương Tây xâm chiếm.

Từ những năm đầu của thế kỷ 20, khi thế giới đã bắt đầu hình thành nên nhiều thế lực nước lớn (thực chất là chủ nghĩa đế quốc) chia nhau thống trị và khống chế các khu vực địa chính trị quan trọng trên thế giới thì Việt Nam ta với vị trí địa lý quan trọng trong khu vực cũng đã lọt vào cặp mắt dòm ngó của các thế lực này. Mặc dù dã tâm của các nước lớn được núp bóng dưới nhiều học thuyết và chiêu bài chính trị khá hoa mỹ như đồng minh + đồng chí, nhưng tựu trung họ đều xem nước ta như một món hàng để họ mặc cả, trao đổi và kềm chế lẫn nhau trong ván bài chính trị thế giới. 
Với những gì đã và đang xảy ra chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra những thủ đoạn và chiêu trò để họ tranh giành nhau ảnh hưởng tại một nước nào đó. Trước hết họ sẽ không tiếc tiền xây dựng tại đó những đảng phái, những thế lực cát cứ địa phương mà họ gọi là phe "đối lập", những phòng trào đòi bình đẳng; thậm chí là giải phóng dân tộc. Sau khi đã nhào nặn ra những "lãnh tụ", những “anh hùng dân tộc” biết nghe lời, chịu sự sai khiến và phụ thuộc hoàn toàn vào họ. Thậm chí chỉ trong một nước có tới 3 – 4 thế lực khác nhau, chúng sẽ kích động họ đánh nhau dưới sự tài trợ của nhiều nước lớn khác nhau. Mà những gì đang xảy ra tại Xiri, I Rắc là một minh chứng cho những gì đã xảy ra tại khu vực Đông Nam Á vào những thập kỹ đầu thế kỷ 20. 
Các thế lực cát cứ địa phương này ra sức huy động sức dân, bòn rút của cải và tài nguyên quốc gia đổ vào những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực. Họ cũng rêu rao những học thuyết yêu nước thương nòi do những ông Tây lập ra và cũng do chính những kẻ ngoại bang này truyền dạy cho họ. Với những chiêu trò đánh động lòng yêu nước để mua chuộc và tập hợp người dân trong vùng đất mình cai quản biến họ thành những người lính đánh thuê cho nước ngoài ngay chính trên quê hương mình. Đến đỗi khi cuộc chiến tàn cũng không phải ai cũng nhận ra được mình chỉ là những con rối trong tay của các nước lớn. Cái được của những kẻ này là được ăn trên ngồi trốc, vinh thân phì gia. Nhưng cái mất là rất lớn, chính họ đã khiến cho đất nước bị tàn phá, đẩy dân tộc vào những cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Cuối cùng đất nước bị phụ thuộc và biến thành một món hàng trao đổi trong tay của những nước lớn.

Ngay từ trước khi nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông được thành lập năm 1949 - Mao đã là một đồng minh thân cận với với nước Liên Xô của Xtalin. Với vai trò là những nước lớn đầy tham vọng và cũng thừa dã tâm, họ đã xác định những lợi ích và những vùng ảnh hưởng của họ. Họ đã bắt tay nhau phân chia vùng ảnh hưởng của họ trên thế giới, đồng thuận ủng hộ những việc làm của nhau trên các diễn đàn thế giới. Trong Hội Nghị của những nước thắng trận bàn việc phân chia lại thế giới sau thế chiến thứ hai (thực chất là chia chác) tại San Francisco (Mỹ) năm 1952 – hội nghị này nước Trung Hoa của Mao không được mời tham dự. Trong Hội nghị này các nước thắng trận đã bàn thảo việc chia chác những vùng đất ở viễn đông đã từng bị Nhật xâm chiếm trong thế chiến thứ II. Đại diện Liên Xô đã đề nghị giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta cho nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông quản lý; nhưng đã bị phía Mỹ phản đối. Sự việc phải đem ra biểu quyết nhưng trong 52 nước tham dự hội nghị chỉ có Liên Xô và Ba Lan đồng ý giao cho Mao, hội nghị đã quyết định theo số đông là đồng ý giao cho chính phủ Bảo Đại (có đại diện tham gia hội nghị này) tiếp quản hợp pháp. Qua sự kiện này chúng ta biết thêm một sự thật là chính những người anh em đồng chí Xô – Trung vĩ đại đã chia chác đất nước ta ngay từ năm 1952, vì quyền lợi của chính họ.

Thế thời
Cuộc chiến đã ngày càng lùi xa, đất nước đã thống nhất hơn 40 năm, mọi người dân nước Việt đã là anh em một nhà, đang cùng bắt tay xây dựng đất nước, để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Những người Việt đã từng tham chiến ngày nào, nay đều đã vào cái tuổi U70, đó là cái tuổi để an hưởng tuổi già nên các vị đã phải nhường công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước lại cho lớp hậu bối cũng là đương nhiên thôi.
Tuy nhiên có một vài vị lại không muốn hưởng cái thú an nhàn lúc tuổi già trong phú quý mà rất nhiều người cùng thế hệ mong muốn nhưng chưa được, vì còn phải bươn chải kiếm sống. Trái lại nhân lúc rãnh rỗi, lúc trà dư tửu hậu các vị đã nói những điều không nên nói … khiến cho những người có liên quan cảm thấy thẹn ! 

Với cái tựa trên đây chắc mọi người đã biết tôi muốn nói gì ? Nhưng tôi không muốn nói về trận chiến hay cái sự thắng thua hay tính chính danh của nó – vì đó là việc của lịch sử, không phải là việc của một kẻ hậu sinh như tôi. Tôi chỉ mượn cái tựa này để nói về những nhân vật lịch sử, về những người từng tham gia cuộc chiến – họ là những nhân chứng sống của lịch sử nhưng tiếc rằng những nhân chứng này không phải lúc nào cũng nói lên sự thật; nhất là khi họ nhận định và đánh giá sự kiện !

Anh bạn làm báo trên đây cho biết, anh đã từng trực tiếp nghe viên phi công này diễn thuyết về trận chiến Hoàng Sa năm 1974 trong một số cuộc lễ hoặc cuộc gặp mặt. Nhưng với những tư liệu anh có trong tay, thì những gì vị này nói về tình hình cuộc chiến lúc ấy là hoàn toàn trái ngược với những gì đã xảy ra lúc ấy !
Theo tư liệu của tôi và tư liệu mà anh bạn nhà báo này cung cấp thì viên phi công này thuộc một trong số hàng trăm người mà đầu năm 1974 họ được chính phủ VNCH điều từ Sài gòn, Biên Hòa ra Đà Nẵng nhằm chuẩn bị lái máy bay tiêm kích ra ném bom tái chiếm Hoàng Sa. Nhưng sau một thời gian ngắn chờ đợi tại phi trường Đà Nẵng, họ được lệnh trở về lại Sài gòn mà không phải tham gia trận tái chiếm.
   - Tuy biết các vị này lúc ấy chỉ là những chàng thanh niên mới ngoài 20 tuổi, chỉ là những viên sĩ quan cấp úy, chuyên lái máy bay phản lực chiến đấu. Họ tuy thuộc thành phần con cưng của chế độ, nhưng bị buộc sống khép kín chỉ chăm chú chuyên môn của mình; không được phép giao tiếp với bên ngoài. Nhưng nay thì họ phát biểu với báo giới về trận chiến Hoàng Sa – 1974 như những ông tướng tư lệnh, những chiến lược gia, hoặc những nhà chính trị có quyền hành thời ấy. Nào là “ ông Thiệu hèn – nhát gan – sợ mất chức, nếu phải tay họ là Hoàng Sa không bao giờ bị mất. Nào là không lực và hải quân của quân đội VNCH lúc ấy dư sức tái chiếm Hoàng Sa. Không lực của quân đội VNCH lúc ấy mạnh nhất Đông Nam Á - dư sức xóa sổ hải quân Trung Cộng”.
   - Vị này cho biết “ Chúng tôi đã lái máy bay đi trinh sát, đã chụp không ảnh toàn bộ quần đảo, đếm từng chiếc tàu của Trung Cộng, thuộc loại gì. Sau đó về in ảnh ra rồi chia nhỏ tấm ảnh ra từng ô, trong từng ô có bao nhiêu tàu thì phân công từng tốp máy bay chịu trách nhiệm dọn sạch số tàu thuyền trong từng ô đó … và chỉ cần 30 phút là chúng tôi sẽ cho tất cả biến mất dưới mặt biển…”. !
   - Và cuối cùng là một cái kết luận xanh rờn “… vì hèn nhát ông Thiệu đã để mất quần đảo Hoàng Sa, một phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc vào tay quân Trung Cộng. Vì hành động này khiến cho việc đòi lại quần đào Hoàng Sa ngày nay ngày càng khó khăn và không biết bao giờ mới đòi lại được !”

Nhưng với chúng tôi, thì việc mất quần đảo Hoàng Sa không phải là do ai hèn cả, cũng không phải là do trong trận chiến tháng 1 năm 1974 quân đội VNCH thua trận nên bị Trung Cộng chiếm mất quần đảo này. Mà tất cả đã được sắp đặt và chia chác giữa những nước lớn từ năm 1972. Cũng xin lưu ý với các vị là phần cụm đảo phía Đông, tức là hơn một nữa quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung cộng chiếm từ năm 1956. Trận chiến năm 1974 họ chỉ chiếm nốt phần còn lại ở phía Tây quần đảo này.
Thật ra trận chiến Hoàng Sa - năm 1974, với quân lực VNCH thì tái chiếm lại quần đảo hay không là do những con người này quyết định . 
Ảnh: Bộ trưởng Henry Kissinger với Phó Tổng thống Nelson Rockerfeller và Tổng thống Gerald Ford năm 1974

Theo tư liệu của chính phủ Mỹ mới được giải mật và mới được công bố gần đây cho biết:
   - Sau cuộc chiến Mậu Thân năm 1968, người Mỹ xét thấy không thể thắng bằng quân sự trong cuộc chiến tại VN, với mục tiêu ban đầu là biến Nam Việt Nam thành một tiền đồn ngăn Chủ nghĩa Cộng Sản tràn xuống Đông Nam Á. Sau khi bị buộc phải công nhận sức mạnh của phe cộng sản, họ đã tìm cách thỏa hiệp với phe cộng sản hay nói đúng hơn là với Trung Quốc, nước viện trợ chính cho phía chính phủ VNDCCH. Thông qua nhiều kênh ngoại giao khác nhau họ đã nhận được tín hiệu hòa hoãn và thân thiện từ phía Mao Trạch Đông. Tháng 2 năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã đi thăm chính thức nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Ông ta đã hội đàm với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai – họ đã ký kết nhiều thoả thuận với nhau, trong đó có những thoả thuận về cuộc chiến tại VN mà không cần tham khảo ý kiến của người VN. Giới lãnh đạo nước Trung Hoa cộng sản đã một lần nữa sẵn sàng bán đứng những người anh em đồng chí VN của mình vì quyền lợi của đất nước họ.
Và như báo chí thế giới đã khá khôi hài khi bình luận “cuộc kháng chiến chống Mỹ” của VN đã kết thúc ngay từ ngày 29.2.1972 sau cái bắt tay của Mao Trạch Đông và Richard Nixon tại Thượng Hải. Những gì xảy ra sau đó về cuộc chiến tại VN đã cho thấy nhận định này là chính xác và sự thật nó đã được quyết định ngay sau cái bắt tay này. Họ đã phân chia nhau khu vực ảnh hưởng tại Đông Nam Á, trong đó có biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của VN. Quyền định đoạt vận mệnh đất nước và biển đảo không còn thuộc về sự định đoạt của người VN chúng ta !

Sau năm 1968, tại chiến trường VN bên nào thắng bên nào thua, kể cả trận chiến Hoàng Sa - năm 1974, đều do 02 con người này sắp đặt. 
Ảnh: Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai (trái) mở tiệc chiêu đãi Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger tại Bắc Kinh ngày 10/11/1973.

Trong những bí mật của hai bên ký kết năm 1972, mà theo nhiều nguồn thông tin khác nhau của nước ngoài kể cả thông tin công khai của phía Trung Quốc – theo đó người Mỹ đã đồng ý bán đứng hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của VN cho Trung Quốc. Cụ thể ở đây là nếu hải quân Trung Quốc tấn công hai quần đảo này của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thì hạm đội 7 của Mỹ sẽ không can thiệp. Trong khi tiềm lực quân đội và nhất là Hải quân của Việt Nam Cộng Hoà không phải là đối thủ của hải quân Trung Hoa. Tuy biết rằng sau khi người Mỹ rút đi đã để lại một khối lượng khí tài quân sự khổng lồ cho VNCH, nhưng nếu so sánh thì vẫn chưa là gì so với sức mạnh của hải quân Trung Cộng lúc ấy. Và quan trọng hơn là đồng tiền để nuôi bộ máy quân sự của VNCH là do người Mỹ viện trợ, nên họ đã quyết định tất cả. Ngoài ra tuy người Mỹ đã rút đi nhưng họ để lại một bộ phận rất lớn cố vấn quân sự để điều hành toàn bộ !
Cho nên với những gì xảy ra hai năm sau đó tại quần đảo Hoàng Sa là đương nhiên thôi, ngày 29.2.1974 khi trận hải chiến Hoàng Sa nổ ra, chính quyền VNCH đã cầu cứu người Mỹ giúp đỡ, nhưng hạm đội 7 của Mỹ đóng quân gần đó đã im lặng. Mặc cho quân đội đồng minh của mình bị quân Trung Hoa bắn phá là một câu trả lời cho tất cả những gì gọi là sự thật về trận chiến này và cái gọi là sức mạnh của không lực VNCH !

Trước đó, trong một buổi mật đàm vào ngày 22 tháng 6, 1972  với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ở Bắc Kinh, Cố vấn An Ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger đã cho ông Chu biết rằng:
"Nếu có một thời gian vừa đủ giữa lúc chúng tôi rút quân và những gì xẩy ra sau đó thì vấn đề gần như chắc chắn rằng có thể khoanh gọn, như chuyện nội bộ của Đông Dương" và "sau khi chúng tôi đã không còn can dự nữa thì … rất ít khả năng chúng tôi sẽ quay trở lại, rất ít khả năng."
   - Sau thỏa thuận này, cuối tháng 3/1973, toàn bộ quân lực Mỹ đã rút khỏi Miền Nam. Sau đó Quốc Hội Mỹ lấy cớ "Miền Nam đã có cả hòa bình lẫn danh dự" để cắt giảm viện trợ thật nhanh. Như vậy là ván bài Việt Nam đã được khoanh gọn, và tới đầu năm 1974 thì chính phủ Trung Cộng đã cho rằng: "khoảng thời gian vừa đủ" đã chấm dứt.
Nhưng phía Trung Quốc vẫn muốn tìm hiểu xem thực sự Mỹ có can thiệp trở lại hay không, Washington có thay đổi lập trường "ngăn chặn Trung Cộng" tràn xuống Đông Nam Á hay không. Nên Bắc Kinh muốn trắc nghiệm xem Mỹ có quay trở lại hay không. Đây mới là lý do dẫn đến biến cố Hoàng Sa ngay từ đầu năm 1974.
Ngay từ những ngày đầu năm 1974, Trung Quốc đã cho quân lấn chiếm Hoàng Sa. Với chiêu trò sử dụng ngư dân làm lá chắn như trước đây, ngày 19/1/1974 chính phủ Trung Cộng xua ngư dân tràn lên các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, nhưng khác với năm 1959, lần này ngư dân đi trước có chiến hạm Trung Cộng theo sau; hải quân của ông Thiệu được lệnh ra “mời” những ngư dân và những tàu này ra. Nhưng chiến hạm của họ vẫn cứ tiến vào, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã khai hỏa. Trận chiến kéo dài một ngày. Lập tức Bộ Ngoại Giao Mỹ dưới sự lãnh đạo của ông Kissinger liền khẩn cấp can ngăn Tổng thống Thiệu hãy ngừng lại, đừng đụng độ với Trung Quốc thêm nữa, nếu không nghe thì họ “không chịu trách nhiệm!”.

Về sự kiện này cần nhắc lại là đầu năm 1974, ngân sách của chính phủ VNCH đã gần như cạn kiệt. Vì ngân sách này hoạt động chủ yếu dựa trên viện trợ của Mỹ, nhưng sau khi quân Mỹ rút lui thì Quốc hội Mỹ cắt xén rất mạnh tay. Thậm chí khi Quốc Vương Arập Xêut tuyên bố sẽ cứu chính phủ VNCH bằng cách là viện trợ cho chính phủ VNCH một khoản ngân sách cũng bị chính phủ Mỹ ngăn cản.
Ngày 18 tháng 1, Tổng thống Thiệu bay ra tận Đà Nẵng, lấy giấy ra viết tay thẳng cho Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải. Trên đầu trang ông viết: “Chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải” :
"Thứ nhất là tìm đủ mọi cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh thổ VNCH. Thứ hai, nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ VNCH.". Viết lệnh xong, ông Thiệu cất giọng: "Anh Thoại, đến đây và đọc trước mặt tôi đây, có gì không rõ ràng thì cho tôi biết ngay từ bây giờ."

Nhưng chính phủ Mỹ, mà đứng đầu là Cố vấn An Ninh quốc gia Henry Kissinger thông qua Bộ Ngoại giao Mỹ; đã buộc ông Thiệu rút lui, không được phản công chiếm lại những hòn đảo bị mất “nếu không thì không chịu trách nhiệm”. Họ còn rỉ tai cho phía VNCH biết là Trung Cộng còn muốn chiếm cả Trường Sa, nhưng người Mỹ đã ngăn cản và hứa với ông Thiệu là hạm đội 7 sẽ bảo vệ Quần đảo Trường Sa. Trong hoàn cảnh thế yếu so với quân Trung Cộng, lại bị người Mỹ ngăn cản; nên không còn con đường nào khác ông Thiệu đã không cho tái chiếm Hoàng Sa.
Dù bị mất Hoàng Sa và chịu nhiều tổn thất và thương vong, nhưng Hải quân VNCH đã gây tổn thất lớn cho đối phương như nhiều nguồn tin lúc ấy đã đề cập.
  - Theo Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, khi trả lời báo chí sau này cho biết: “ Phía Trung Quốc thiệt hại cũng khá lớn, Hộ tống hạm lớp Kronshtadt 274 của Trung Quốc bị bắn chìm. Vì tàu này là soái hạm nên hầu hết bộ tham mưu chỉ huy trận chiến của phía Trung Quốc đều ở trên tàu này. Khi tàu bị bắn chìm họ đều tử trận gồm cả Đô đốc Phương Quang Kinh, Tư lệnh Phó của Hạm đội Nam Hải, bốn đại tá, sáu trung tá, hai thiếu tá, bảy sĩ quan cấp úy và một số đoàn viên”. Ngoài ra, Trục lôi hạm số 389 và số 396 bị hư hại nặng.
Tuy nhiên theo những tiết lộ mới đây từ phía Trung Quốc và các nguồn tin mới giải mật của người Mỹ gần đây cho biết, Mao Trạch Đông đã đưa một lực lượng quân đội với máy bay, tàu chiến và khí tài quân sự rất lớn tham gia trận chiến. Không quân với hơn 300 máy bay chiến đấu, hải quân gồm hơn 40 chiến hạm đến gần vùng chiến sự tại Hoàng sa, đề phòng hạm đội 7 của Mỹ can thiệp. Nhưng khi người Mỹ không can thiệp thì lực lượng này lặng lẽ rút lui !
Thật ra trận chiến Hoàng Sa - năm 1974 là do những con người này quyết định . 
Ảnh: Từ trái qua Henry Kissinger, Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông


Lời bình
Thời gian gần đây nhất vào dịp tưởng niệm 43 năm những người lính VNCH đã “Vị quốc vong thân”, báo giới và cộng đồng mạng đã có dịp ôn lại sự kiện này. Nhưng có khá nhiều ý kiến với cái nhìn thiên kiến do không có kiến thức, không nắm bắt được sự việc đã khiến cho việc đánh giá một sự kiện một hiện tượng lịch sử hoàn toàn sai lệch. Một số ý kiến của các vị có tham gia cuộc chiến năm 1974 với tư cách người lính như lính hải quân, lính không quân (phi công) – cũng hoàn toàn sai lệch khi họ cho rằng sở dĩ ông Thiệu không dám không kích tái chiếm Hoàng Sa sau ngày 19.1.1974 là do các tướng lĩnh hèn nhát, ông Thiệu sợ mất chức tổng thống. Họ cho rằng tiềm lực không quân của VNCH lúc ấy là ăn đứt quân Trung Cộng, nào là hàng trăm chiếc F.5 và A. 37 hiện đại nhất khu vực lúc ấy đã tập trung chờ lệnh tấn công tại sân bay Đà Nẵng. Họ cũng cho rằng với ưu thế vượt trội về máy bay thì chỉ cần có lệnh là họ sẽ đánh đắm hạm đội của Trung Cộng và chiếm lại quần đảo này trong vài tiếng .v.v. và. v.v.

Với những phân tích về tầm vĩ mô, về mặt chiến lược như tôi vừa trình bày vắng tắt trên đây đã có thể trả lời cho những phản biện thiếu chính xác đó. Tuy nhiên mới đây đã có thêm một công bố sẽ giúp đính chính cho những nhận định sai lạc trên đây và giúp cho những nhà sử học giải đáp được sự kiện lịch sử này một cách chính xác nhất.
    - Nhân dịp kỷ niệm 43 năm cuộc hải chiến Hoàng Sa, chiều 19.1. 2016 tại trụ sở UBND huyện Hoàng Sa (132 Yên Bái, Đà Nẵng), chính quyền huyện này đã tổ chức gặp mặt 12 nhân chứng đã từng công tác, sinh sống trên quần đảo Hoàng Sa trước ngày 19.1.1974. Tại đây, tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Đà Nẵng (một người chuyên nghiên cứu, thu thập các tài liệu về Hoàng Sa và đóng góp các tư liệu, bằng chứng quý hiếm cho huyện đảo này) đã công bố nhiều tình tiết quan trọng liên quan đến hải chiến Hoàng Sa 19.1.1974. 
Theo tiến sĩ Sơn, ông đã đi tới 3 thư viện lớn ở Mỹ và tiếp xúc với nhiều nhân chứng tại Mỹ, qua đó đã thu thập được nhiều thông tin quý giá. Đã tiếp cận được một số tài liệu mật của chính phủ Mỹ mới giải mật trong đó có nhiều bức mật điện tuyệt mật cho thấy nhiều dữ liệu về Trường Sa - Hoàng Sa mà sử sách đưa ra trước đây là chưa chính xác. 
Những sự kiện lần đầu mới được ông công bố đó là “Một bức điện đã được giải mã cho thấy Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã dừng việc ném bom tái chiếm Hoàng Sa sau hải chiến 19.1.1974 để ngăn Trung Quốc đánh xuống Trường Sa...”
Việc “các chiến hạm của VNCH đã bắn lẫn nhau do phối hợp tác chiến không chính xác. Nguyên nhân do khi Mỹ bàn giao tàu cho VNCH thì tháo hết đồ tác chiến điện tử và không tổ chức thực tập tác chiến hợp đồng cho các tàu tác chiến khi có sự cố mà chỉ dùng như tàu tuần duyên.”
Ông công bố 2 bức điện mật của Đại sứ Mỹ, một bức gửi về Mỹ sáng 20.1.1974 và một bức gửi về sáng 21.1.1974. Một bức gửi về tướng trợ lý cho ông Henry Kissinger. Bức thứ 2 gửi cho Nhà Trắng. Theo đó, thông tin cho biết sau khi Hoàng Sa bị chiếm thì VNCH đã chuẩn bị 5 phi đội máy bay tập hợp tại Đà Nẵng để chuẩn bị đánh lại Hoàng Sa.
Bức điện thứ nhất gửi cho trợ lý ông Kissinger từ Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cho hay lúc đó Ngoại trưởng Vương Văn Bắc xác nhận Tổng thống Thiệu hủy việc ném bom ở Hoàng Sa kèm đề nghị Mỹ ủng hộ VNCH vì khi Hoàng Sa bị chiếm, VNCH phát tín hiệu cầu cứu mà Mỹ không cứu.
Do đó, ông Thiệu đề nghị ông Vương Văn Bắc gửi điện cho phía Mỹ đưa ra một số giải pháp:
  - Thứ nhất là đồng ý cho VNCH đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an (nhưng phía Mỹ ngăn chặn không cho Hội đồng Bảo an ra một nghị quyết lên án Trung Quốc).
  - Thứ hai là đề nghị Mỹ ủng hộ đưa vấn đề ra tòa án quốc tế (nhưng Mỹ không ủng hộ việc tổ chức một cuộc họp báo và ra nghị quyết để chống lại Trung Quốc).
  - Thứ ba là Mỹ không cứu VNCH bằng Hoàng Sa mà sẽ tìm mọi cách để ngăn chặn không cho Trung Quốc đi xuống Trường Sa, tức là lúc đó họ đã biết Trung Quốc sẽ tấn công xuống Trường Sa nên họ dùng từ "cứu VNCH không cho Trung Quốc xuống Trường Sa".
  - Thứ tư là thỏa thuận VNCH và Mỹ dùng mọi cách bằng ngoại giao để ép Trung Quốc trao trả tù binh cho VNCH trước Tết.
Một vấn đề nữa là một người Mỹ bị bắt lúc ở Hoàng Sa là nhân viên tình báo của Mỹ nhưng thời điểm đó Đại sứ Mỹ không biết là ai.
Một việc quan trọng nữa là Mỹ yêu cầu Trung Quốc không được tấn công truy đuổi bắn giết những người lính VNCH trở về.

  - Tại buổi thuyết trình này, tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn nhận định: “Qua những tài liệu chúng tôi tìm kiếm thì thấy rằng đó là cuộc chơi của những nước lớn và tất cả đều kiềm tỏa lẫn nhau vì lợi ích của các bên. Và họ biết rằng thế nào Trung Quốc cũng đánh xuống Trường Sa thời điểm đó, nhưng Trung Quốc chắc đã biết động thái của Mỹ nên đã dừng lại và tiến hành đánh Trường Sa năm 1988".
   -  Đây có lẽ là thông tin chính xác nhất và có cơ sở khoa học nhất, giải mã được lý do:
TẠI SAO CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HOÀ DỪNG VIỆC NÉM BOM TÁI CHIẾM HOÀNG SA SAU TRẬN HẢI CHIẾN NGÀY 19.1.1974.

Lời kết
     - Nói hay phát biểu là quyền tự do của mỗi cá nhân, nhưng nói như thế nào cho người khác nghe được lại là một vấn đề rất khó. Cái "nghe được" ở đây là khi chưa nắm chắc được vấn đề thì đừng nên nói; vì khi mình đang rao giảng một chủ đề nào đó trước đám đông nhưng phải đề phòng trường hợp là nếu có một số người nghe trong số đó nắm chắc được chủ đề đó hơn mình và người ta sẽ đặt những câu hỏi chất vấn thì làm sao mà trả lời được cho người ta. Hoặc vì tế nhị người ta sẽ không đứng lên phản đối mình là nói bậy, nhưng người ta sẽ nhìn mình bằng con mắt và nụ cười ý nhị.
     Trong trường hợp trên đây, nay thì những viên phi công này cứ vô tư phê phán người khác là "hèn"; vì không cho các vị chứng tỏ "sức mạnh" của mình. Nhưng các vị đâu có biết là hơn 300 máy bay tiêm kích và hàng ngàn quả tên lữa hạm đối không, hạm đối biển trên 40 chiến hạm của Trung Cộng đậu gần đó đang chờ các vị ?
     Họ sợ là sợ cái sức mạnh hủy diệt của cái hạm đội 7 của gã khổng lồ  "đế quốc Mỹ" đậu gần đó, chứ không phải là họ sợ vài cái phi đội tiêm kích cỏn con của các vị đâu !
     Cũng xin thưa lại một lần nữa với các vị là để bảo tồn lãnh thổ, để ngăn chặn quân Trung Quốc khỏi tràn xuống Biển Đông lúc ấy là hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh của chính phủ VNCH . 
     - Thế giới ngày nay là một thế giới mở, mọi người được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác nhau, có những điều được cho là tuyệt mật trước đây thì nay thiên hạ đã biết cả. Vì có những điều thời ấy là tuyệt mật của hai bên, nay đã được giải mật, hoặc bị báo chí phanh phui. Về phía người Mỹ, rất nhiều tư liệu tuyệt mật của chính phủ Mỹ đã được giải mật và công bố cho báo giới biết theo “luật giải mật có thời hạn” của luật pháp Mỹ và các nước phương Tây. Cho nên có những điều mà những người lính tham gia cuộc chiến lúc ấy không thể biết, nhưng nay thiên hạ đều biết.
      Thời buổi này là thời buổi của công nghệ thông tin, nên mong rằng những người lính đã từng tham gia cuộc chiến này của các bên hãy nên chỉ kể những gì mình nghe mình thấy. Còn việc nhận định và đánh giá cuộc chiến thì nên dành cho các nhà chuyên môn./.

ĐKT
26.3.2017

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974: HỘ TỐNG HẠM NHẬT TẢO HQ 1O ĐI VÀO LỊCH SỬ

Lời mở đầu: bài viết này tổng hợp từ các bài đã viết về Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 trong trận hải chiến Hoàng Sa, và các tài liệu đã được tìm thấy gần đây trong đó có tài liệu do gia đình cố HQ Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí cung cấp.
Tác giả hy vọng sẽ trình bày một cách đầy đủ những hình ảnh hào hùng và bi thương của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trong trận hải chiến lịch sử chống lại bọn giặc xâm lăng Trung Cộng.
Thềm Sơn Hà
https://benxua.files.wordpress.com/2017/12/hth-nhut-tao-hq102.jpg?w=840
Hơn hai tháng biệt phái công tác cho Vùng I Duyên Hải, Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10 trở về Đà Nẵng sau chuyến tuần dương cuối cùng để bàn giao lại vùng trách nhiệm cho HQ11 (Hộ tống hạm Chí Linh). Tất cả nhân viên chiến hạm đều vui mừng khi nghĩ đến lần trở về Sài Gòn sắp đến sẽ trùng hợp vào ngày Tết Nguyên Đán. Họ sẽ có dịp gần gũi gia đình trong những giờ phút thiêng liêng của năm mới và cũng theo lời Hạm Phó (HP) Nguyễn Thành Trí nói với vợ trước khi lên đường công tác thì chiến hạm sẽ chuẩn bị đi đại kỳ tại Guam sau khi trở về Sài Gòn (1). Ngoài ra với đồng lương mới lãnh, họ đi bờ ra phố Đà Nẵng mua sắm hàng hóa đặc biệt của địa phương để mang về làm quà Xuân cho gia đình và cũng là dịp những chàng lính thủy độc thân ra phố hưởng thụ những giây phút thoải mái sau những ngày dài lênh đênh trên trên biển.
Bất ngờ chiều 17-1-1974 chiến hạm nhận lịnh khẩn cấp cùng với Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ5 lên đường ra công tác Hoàng Sa (HS).
Hạm Trưởng (HT) ra lịnh kéo còi nhiệm sở vận chuyển. Một vài nhân viên trở về lúc sợi dây cuối cùng vừa tháo vội vàng nhảy xuống tàu, có người bị hụt chân rớt xuống nước phải thả phao vớt lên.
Chiến hạm rời bến Đà Nẵng lúc 2000H (8 giờ đêm) với tốc độ chậm để chờ HQ5. Lúc 00 giờ 12 qua ngày 18-1, HQ5 bắt đầu tách bến và bắt kịp HQ 10 vào lúc 3 giờ 15 sáng. Trước tình trạng kỹ thuật của HQ10 chỉ còn xử dụng được một máy và do nhu cầu hành quân khẩn cấp nên HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Hành Quân đã quyết định chỉ thị HQ5 chạy trước bỏ lại HQ10 phía sau.
Trên đường đến HS, Hạm Trưởng HQ10, HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà (K.12/SQHQ/NT) ra lịnh kiểm soát tất cả mọi ụ súng, đem đạn tối đa từ hầm đạn lên các dàn súng nhưng tất cả các khẩu súng đều phải bao lại và nòng súng chỉa lên trời, HT khuyến khích tất cả các nhân viên không thuộc phiên đi ca cố ngũ để lấy sức cho những ngày kế tiếp. Ngoài ra ông ra lịnh mang lương khô để ở các nhiệm sở tác chiến và kiểm soát lại 4 bè cấp cứu cùng các hộp mưu sinh thoát hiểm. HT còn ra nghiêm lịnh bắt buộc tất cả nhân viên phải mặc áo phao và đội nón sắt mặc dù trời rất nắng và nóng bức (đây là những chỉ thị rất sáng suốt của một cấp chỉ huy đầy kinh nghiệm, tiên liệu được những điều có thể xảy ra cho chiến hạm trong một trận hải chiến và cũng nhờ những nghiêm lịnh này mà các chiến sĩ HQ10 trong lúc đào thoát đã có sẵn một số nước uống, thực phẩm khô để cầm cự trong thời gian đầu và áo phao đã giúp họ không bị chìm cũng như che chỡ bớt cơn lạnh về đêm).
HQ10 đến HS vào khoảng 11 giờ đêm ngày 18-1. HT liên lạc với cấp chỉ huy trực tiếp là HQ Trung Tá Lê Văn Thự (K.10/SQHQ/NT) Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ16 kiêm Chỉ Huy Trưởng Phân Đội II (gồm có HQ 10 và HQ 16), sau đó thi hành lịnh của Trung Tá Thự, HT ra lịnh làm tối chiến hạm (darken ship) để địch không nhận dạng được.
Khoảng 01.00H khuya 19-1, chiến hạm nhận được lịnh hành quân từ Đại Tá Ngạc. Sau khi hội ý với HP là HQ Đại Úy Nguyễn Thành Trí (K.17/SQHQ/NT), HT đã ở lại phòng vô tuyến phụ cạnh đài chỉ huy (ĐCH) để liên lạc với các giới chức liên hệ và chỉ thị HP họp các SQ và nhân viên tại phòng ăn SQ vào lúc 0200H.
Trong buổi họp, HP đã thông báo cho thủy đoàn HQ10 biết là theo nội dung công điện hành quân thì chiến hạm sẽ chuẫn bị chiến đấu thực sự lúc 6 giờ sáng, HP cũng nhấn mạnh ở điểm là bên ta không được khai hỏa trước vì vậy phần thiệt hại về phía ta có thể lên đến 80% hoặc 90%. Trung Úy Nguyễn Đông Mai có đặt câu hỏi về việc khai hỏa thì HP trả lời đây là lịnh từ Sài Gòn chúng ta phải thi hành theo lịnh. Cuộc họp chấm dứt vào lúc 0230H.
Khoảng 4 giờ sáng, sau một giấc ngủ ngắn HT thức giấc và từ ĐCH ông ra lịnh kéo còi nhiệm sở tác chiến. Tiếp theo hồi còi.. tít..tít..tít..là tiếng của HT vang lên trong hệ thống âm thoại :” đây là HT…nhiệm sở tác chiến …nhiệm sở tác chiến…tất cả vào nhiệm sở tác chiến”.
Nghe tiếng còi và lịnh của HT tất cả nhân viên bật dậy và lập tức vào nhiệm sở của mình. Tiếp theo đó là nhiệm sở phòng không. Tất cả nòng súng rợp rợp hướng lên trời ở góc độ 45 độ.
Khoảng 4 giờ 30 có hai đóm sáng trên trời, tất cả các khẩu súng đều quay về hướng hai mục tiêu này.
Khoảng 5 giờ 30 hai đóm này lại xuất hiện.
Lúc 6 giờ hai đóm sáng này bay thấp hơn có lẽ là hai phản lực cơ.
Sự xuất hiện liên tiếp của các phi cơ lạ tạo nên tình trạng căng thẳng cho tất cả các nhân viên trên chiến hạm, chắc hẳn mọi người ai cũng linh cảm rằng một cuộc hải chiến chắc sẽ xảy ra.
Rạng sáng ngày 19-1, thi hành lịnh Phân Đội Trưởng, HQ10 di chuyển vào lòng chảo nhóm Nguyệt Thiềm theo lối giữa bãi Antelope và đảo Quang Hòa. Lúc này trời còn lờ mờ chưa tỏ hẵn ánh dương, lực lượng địch bây giờ được tăng cường thêm 2 chiếc Trục lôi hạm T43 mang số 389, 396. Như vậy chúng có cả thảy 4 chiến hạm (2 chiếc Hộ tống hạm loại Kronstadt số 271, 274 đã xuất hiện từ trước) và 2 tàu đánh cá ngụy trang mang số 402, 407 đang hiện diện tại vùng, đối đầu với 4 chiến hạm của ta (kể cả Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 và Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5 thuộc Phân Đội I đang ở trong khu vực phía Nam và phía Tây Nam đảo Quang Hòa).
Chiến hạm ta và địch chạy đan qua đan lại nhau rất gần. Địch nhiều lúc như muốn đâm thẳng cả tàu vào chiến hạm của ta nhưng về cả hai phía các khẩu súng đều chỉa lên trời.
Khoảng 6 giờ 30, Đại Tá Ngạc ra lịnh cho HQ5 đổ bộ toán người Nhái lên đảo Quang Hòa. Toán này vừa tiến vào bờ thì bị lính TC nổ súng trước, một SQ và một chiến sĩ người Nhái bị tử thương. Đại Tá Ngạc ra lịnh toán người Nhái mang xác SQ và rút toàn bộ trở về HQ5.
Nghe tiếng súng nổ, HT thông báo diển tiến và ra lịnh tất cả nhân viên sẵn sàng. Ngay sau tiếng súng nổ trên đảo, chiến hạm của ta và TC không còn chạy gần nhau nữa mà bắt đầu tách ra xa.
Khoảng 9 giờ, các tàu TC trao đổi quang hiệu. Ngay tiếp sau đó các tàu đánh cá ngụy trang được 4 chiến hạm bảo vệ di chuyển song song về hướng Bắc và dần dần biến mất ở cuối chân trời. Mọi người trên chiến hạm thoáng vui mừng, ai cũng thở phào nhẹ nhõm nghĩ là TC đã chịu lùi bước rút lui. Phần Trung Úy Hà Đăng Ngân hơn ngày qua lúc nào thần kinh cũng căng thẳng áo phao, nón sắt rất bực bội bây giờ được tạm cỡi ra vừa xuống phòng ăn cơm xong định đặt chân vào phòng tắm thì còi nhiệm sở tác chiến đột ngột reo inh ỏi, Tr/Úy Ngân tức tốc chạy lên nhiệm sở, mặc lại áo phao, đội nón sắt vào. Nhìn theo hướng chỉ trên ĐCH thấy có mấy vệt khói mỏng nơi cuối chân trời, rồi từ từ 4 chiến hạm TC đã rời vùng cách đây khoảng một tiếng quay đầu trở lại. Khi các chiến hạm TC tiến đến các chiến hạm ta, chúng không đến gần như lúc sáng mà ở xa xa khoảng 1 km làm thành một vòng tròn bao quanh các chiến hạm ta. Sau khi chạy loang quanh chừng 2 vòng các tàu TC từ từ lảng xa ra hơn. Như tiên đoán trước được dấu hiệu khác thường HT ra lịnh chuẩn bị tác chiến nhưng tất cả nòng súng hướng vào phía đảo để tránh sự khiêu khích với tàu địch. Trông chờ mãi khẩu lịnh “bắn” vẫn chưa được ban hành, thủy thủ đoàn có phần xao lãng không còn vẽ hăng say như lúc đầu. Lợi dụng khoảng thời gian này , một số nhân viên ở các nhiệm sở luân phiên vào nhà ăn để dùng cháo cho buổi điểm tâm.
Khoảng 10 giờ, hai chiếc tàu TC mang số 389, 396 bắt đầu tách rời ra khỏi hai chiếc 271, 274 và chạy song song gần nhau. Như một kinh nghiệm chiến trường, HT ra lịnh hạ nòng súng và quay súng về phía tàu TC, vài phút sau hai tàu TC chạy gần sát vào nhau và thình lình cùng quay mũi song song trực chỉ HQ10. HT ra lịnh tất cả ổ súng hướng về hai mục tiêu địch và xin lịnh cấp trên cho phép nổ súng nhưng được trả lời chờ Sài Gòn quyết định. Lúc này thần kinh tất cả mọi người thật căng thẳng. Hai tàu TC cứ từ từ đến gần, khi còn cách HQ10 khoảng 200-300m, HT hét lớn “bắn”. Tất cả các khẩu súng trên tàu đều nhả đạn vào tàu địch. HQ10 khai hỏa đầu tiên do lịnh của chính HT (theo HQ Tr/Tá Lê Văn Thự Hạm Trưởng HQ16 thì HQ16 khai hỏa trước). Những phát đạn đầu tiên của HQ10 trúng ngay vào chiếc 389 của TC làm nó bốc cháy khói mịt mù phải lùi lại phía sau, cùng lúc khẩu 127 ly trên HQ16 trực xạ vào chiếc 396 và chiếc này bị trúng đạn ngay ĐCH làm hư hệ thống tay lái nên tàu cứ xoay quanh. Đến lúc này HQ10 vẫn an toàn, đạn từ tàu TC bắn tới đều bay qua đầu hoặc nổ trên mặt nước.
Chiếc 389 bị trúng nơi hầm đạn với lỗ thủng hơi lớn làm nước tràn vào, ngoài ra máy phát điện cũng bị hư vì trúng đạn. Sau khi đã cố gắng vá xong lỗ thủng và sửa chửa máy phát điện, chiếc này quay trở lại tham chiến.
Điểm cần nêu lên ở đây là so sánh về hỏa lực thì hai trục lôi hạm số 389 và 396 tuy không được trang bị đại bác cỡ lớn nhưng bù lại mỗi chiếc có 4 khẩu đại bác 37 ly (tương đương với đại bác Bofors 40 ly của ta) và 4 khẩu đại bác 25 ly. So sánh về kích thước 2 chiếc này tương đương với HQ10, do đó địch đã áp dụng chiến thuật bám sát vào các chiến hạm ta để làm giảm đi sự hiệu quả của khẩu 127 ly trên HQ16 và 76, 2 ly trên HQ10.
Đang chiếm ưu thế, bổng dưng khẩu 76, 2 ly trên HQ10 bị trở ngại tác xạ (có phải đây là lý do mà HT đã khẩn cấp gọi HP lên ĐCH???) thêm vào đó chiến hạm lại chỉ có một máy khiển dụng, vì thế việc vận chuyển để xử dụng tối đa 2 khẩu đại bác 40 ly ở phía sân sau cùng một lúc rất là khó khăn. Lợi dụng sự bất lợi của HQ10, chiếc 389 đã tấn công tới tấp và HQ10 bắt đầu trúng đạn ở ĐCH và phòng lái. HT, hầu hết các Sĩ Quan, HSQ và nhân viên ngành Giám lộ và Vận Chuyển có mặt trên ĐCH và phòng lái đều tử trận ngoại trừ Hạm Phó bị thương nặng nơi mặt, bụng và chân phải (mất một miếng thịt ở chân phải).
Ngoài ĐCH và phòng lái, hầm máy và hầm đạn dược cũng bị trúng đạn bốc cháy. Đạn nổ văng tứ tung và khói đen tuôn mịt mù khắp con tàu.
https://benxua.files.wordpress.com/2017/12/hth-nhut-tao-hq10.jpg?w=840
Từ vị trí cách HQ 10 khoảng vài trăm mét, quan sát thấy HQ10 đang ở trong tình trạng rối loạn, không bỏ lỡ cơ hội chiếc 389 của TC vận chuyển tiến vào phía sau lái hữu hạm HQ10. Thấy tàu địch có ý định cặp vào một vài nhân viên hơi giao động nhưng 2 chiến sĩ Lê Văn Tây và Ngô Văn Sáu vẫn ngang nhiên ghì chặt nòng súng làm tròn phận sự của mình (lúc này trên HQ10 có khoảng 50 chiến sĩ đã hy sinh, một số bị thương nặng nhẹ, chỉ còn khoảng 20 người còn khả năng chiến đấu). Lính TC trên 389 ném lựu đạn, bắn súng tiểu liên , súng bazooka qua HQ10 với mục đích thanh toán các ổ súng còn lại, sau đó sẽ cặp vào đổ bộ lính lên chiếm đoạt tàu và bắt sống thủy thủ đoàn HQ10.
Những đợt tác xạ của địch trúng vào Đài Chỉ Huy đã làm Đ/U Trí rớt xuống phòng lái, tuy nhiên với dáng người to con, tướng vạm vỡ (cao 1,74m – nặng 70 kg), HP Nguyễn Thành Trí mặc dù đang bị thương nặng nhưng đã cố gượng đứng lên. Đoán được ý định của giặc, từ phòng lái, Đ/U Trí đã giựt lấy khẩu M16 nhã hàng loạt đạn vào tàu địch và sau khi đợi tàu địch vào đúng vị trí, Đ/U Trí đã cố sức vận chuyển chiến hạm, lấy hết tay lái về bên phải, hướng mũi tàu HQ10 đâm vào hông chiếc 389 của địch.
Quá bất ngờ trước hành động sáng suốt và quyết tử này, chiếc 389 không còn cách gì để vận chuyển tránh né khỏi nên đã bị phần mũi của HQ10 đâm mạnh vào yếu điểm của chiến hạm là phần sau lái. Cú đụng mạnh này cộng thêm vào những hư hại do hỏa pháo của HQ10 bắn trúng trong đợt khai hỏa đầu tiên đã đưa chiếc 389 lâm vào tình trạng nguy kịch, có lẽ đang sắp sửa chìm. Đây chắc cũng là lý do khiến chiến 396 phải ngưng chiến đấu với HQ16 để cấp tốc chạy đến tiếp cứu chiếc 389. Tuy nhiên, ngay cả chiếc 396 cũng lâm vào tình trạng nguy ngập vì thế 2 tàu đánh cá ngụy trang 402 và 407 đã đến tiếp cứu và đưa 389 ủi vào bãi san hô.
Có thể nói đây là một chiến công thật hiển hách của anh hùng Nguyễn Thành Trí trước giặc thù Trung Cộng. Nhận lãnh trách nhiệm quyền Hạm Trưởng (HT Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt kiêm Phân Đội Trưởng Phân ĐộI II đã chỉ định HQ Đ/U Nguyễn Thành Trí thay thế HT Ngụy Văn Thà đã tử thương) trong lúc đang bị thương nặng, một mình đơn độc trên đài chỉ huy (Hạm Trưởng và hầu hết các SQ và nhân viên trên đài chỉ huy và phòng lái đã hy sinh), chiến hạm lại đang ở trong tình trạng nguy kịch, Đ/U Trí quyết định liều chết trong tình trạng khẩn trương đã dùng con tàu làm vũ khí lợi hại chống lại kẻ thù. Đ/U Trí không những đã phá vỡ ý đồ cướp tàu, bắt sống thủy thủ đoàn và mang HQ10 về làm chiến lợi phẩm của địch mà ngược lại còn gây thiệt hại nặng nề cho tàu địch.
Hành động này của Đ/U Trí đã dẫn đến cái chết cho ông và 6 chiến sĩ trên HQ10 trong lúc đào thoát, nhưng ngược lại đã bảo toàn danh dự của Hải Quân VNCH và của tổ quốc Việt Nam.
Vì cấu trúc của phần mũi HQ10 rất chắc chắn nên sau khi đâm mạnh vào sau lái chiếc 389, phần sườn và võ tàu HQ10 không bị hư hại thêm nhiều nhưng cả 2 máy lúc này hoàn toàn bất khiển dụng. Chiến hạm ta và địch từ từ tách ra xa. Tiếng súng đã lắng dịu. Trận hải chiến đang ở trong giai đoạn chấm dứt. HQ16 đang cố gắng bơm nước ra và sửa chửa máy phát điện từ từ ra khỏi lòng chảo hướng về Đà Nẵng. HQ4 và HQ5 rời vùng về hướng Đông Nam. Chiến hạm địch đang tự cứu hoặc đến cứu giúp lẫn nhau. Do đó, mặc dù HQ10 vẫn còn hiện diện tại vùng chiến nhưng đã không có một chiến hạm nào khác của TC đến gần để thăm dò hoặc để bắn chìm. Mãi đến 11 giờ 49 phút TC mới ra lịnh cho 2 chiến hạm loại Hainan mang số 281, 282 tăng tốc độ trực chỉ đến vùng và chúng đã đến địa điểm giao chiến vào lúc 12 giờ 12 phút.
Tình trạng HQ10 lúc này quá bi đát, gần 70% nhân viên đã hy sinh kể cả Hạm Trưởng, một số đang bị thương, phòng máy còn đang cháy, các nhân viên cơ khí bị cháy đen thui trong đó có Tr/Úy Thạch Cơ khí trưởng hai chân hầu như lìa khỏi thân mình, mặt mày cháy đen, 2 máy chánh và máy điện hoàn toàn bất khiển dụng, hệ thống liên lạc nội bộ và máy truyền tin không xử dụng được.
Đ/U Trí từ ĐCH bò xuống sàn tàu. Trước tình trạng tuyệt vọng không được sự tiếp cứu từ các chiến hạm bạn, ngoài ra các chiến hạm địch cũng đang tự cứu lấy do đó không còn là mối đe dọa nữa. Có lẽ đây là những lý do đã khiến cho Đ/U Trí ra lịnh đào thoát.
Với gương mặt đầy máu, Đ/U Trí được hai nhân viên dìu đứng gần bè cấp cứu dõng dạc tuyên bố :” Hạm Trưởng đã hy sinh, tôi thay mặt Hạm Trưởng ra lịnh đào thoát.” Sau đó, Đ/U Trí đã lết đến từng chỗ mà kéo vực các binh sĩ xuống bè đào thoát (trong số này có Tr/úy Phạm Văn Thì đang ở tại nhiệm sở thủ cây đại liên). Ngoài ra Đ/U Trí chỉ định những nhân viên còn khỏe mạnh thả 4 bè cấp cứu cùng phụ giúp đưa những người bị thương xuống bè và chuẩn bị 1 bè nhỏ có 2 miếng ván kê lên để cho 2 chiến sĩ bị thương nặng là TS/VC Đa và TS/TP Nam nằm lên.
Khi tất cả nhân viên đã xuống bè, Đ/U Trí với vết thương quá nặng, khắp người nhầy nhụa máu cương quyết ở lại chết cùng Hạm Trưởng cùng nhân viên và chiến hạm nhưng hai nhân viên là HS/TP Trần Ngọc Sơn và TT/TX Trương Văn Long đã cặp và lôi ông xuống bè.
Như vậy cuộc đào thoát đã được thực hiện từng giai đoạn, rất có kỷ luật và theo đúng truyền thống Hải Quân. Quyền Hạm Trưởng Nguyễn Thành Trí là người cuối cùng miển cưỡng rời chiến hạm. Trong những giờ phút sau cùng, Đ/U Trí vẫn không quên những bài học về Hải Quy trong hai năm thụ huấn nơi quân trường.
Khi tất cả nhân viên đã lên bè đầy đủ ( có người nhảy xuống nước rồi mới lên bè) kiểm điểm lại có tất cả 28 người trong đó có những người bị thương nặng và nhẹ trên 4 bè lớn và 1 bè nhỏ, ngoại trừ các chiến sĩ đã hy sinh.
Có 2 chiến sĩ oai hùng là HS1/VC Lê Văn Tây và HS/VC Ngô Văn Sáu đã từ chối không xuống bè đào thoát, quyết ở lại tử chiến với giặc thù Trung Cộng và chết theo tàu..
Tình trạng các bè rất bi thảm, bè nào cũng bị trúng đạn. Riêng bè của Đ/U Trí bị bể một miếng lớn, khi 6 người ngồi lên, bè chìm xuống, nước ngập tới ngực. Dù bị thương nặng nhưng Đ/U Trí vẫn còn tỉnh táo, ông bảo thủy thủ cố đưa 4 bè lại gần nhau rồi dùng những sợi dây chung quanh phao, cột chúng lại với nhau để cho tàu chạy ngang qua dễ nhìn thấy.
Luồng nước và gió từ từ đưa các bè xa dần HQ10. Lúc này tiếng súng đã ngưng hẵn. Từ bè nhìn lại HQ10 vẫn còn bốc khói. Tàu bị trúng đạn quá nhiều lỗ chỗ như tổ ong; về phía Trung Cộng, 3 chiếc cũng đang bốc cháy.
Tất cả mọi người đều hy vọng sẽ có chiến hạm bạn đến tiếp cứu nhất là HQ16 cũng không xa lắm, nhưng khi nhìn thấy HQ16 bị nghiêng một bên và đang từ từ chạy ra khỏi lòng chảo họ mới hiểu được lý do vì sao HQ16 không đến vớt họ lên.
Gió mùa Đông Bắc đưa các bè trôi theo hướng ra ngoài lòng chảo nhóm Nguyệt Thiềm và HQ10 cũng đang trôi theo. Khoảng hơn một giờ sau các thủy thủ trên bè thấy có khói xuất hiện ở cuối chân trời, niềm hy vọng có tàu bạn đến cứu nhóm lên, nhưng khi đến gần thì ra là hai chiếc số 281, 282 loại Hainan của TC. Khi 2 chiếc này tới gần HQ10 vào lúc 12 giờ 12 phút khẩu đại bác 20 ly do 2 chiến sĩ anh hùng Tây và Sáu ở lại tử thủ bắt đầu nổ vang, chiến hạm địch vừa tiến vừa phản pháo bằng đại bác 57 ly và các loại súng khác. Một hồi lâu sau tiếng đại bác 20 ly từ HQ10 im bặt, HS1/VC Lê Văn Tây và HS/VC Ngô Văn Sáu đã trúng đạn của giặc thù TC hy sinh đền nợ nước một cách oai hùng.
Mặc dù không còn tiếng súng chống trả trên HQ 10 nhưng tàu TC vẫn tiếp tục bắn xối xả vào HQ10 trong khi HQ10 đang bốc cháy và trôi lềnh bềnh cho đến 14 giờ 52 phút thì chìm tại địa điểm cách phía Nam bãi đá ngầm Hải Sâm (Antelope reef) khoảng 2,5 km mang theo thân xác của Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà và 54 (2) chiến sĩ anh hùng của HQ/VNCH.
Thanh toán HQ 10 xong, hai chiếc 281, 282 quay lại tiến gần đến các bè, HP Nguyễn Thành Trí dặn các nhân viên trên bè :”nếu bị bắt, bị đánh cũng đừng khóc, đừng van xin”. Tất cả đều hồi hộp không biết chúng sẽ hành động như thế nào? Chúng sẽ vớt họ lên bắt sống làm tù binh? Chúng sẽ bỏ mặc cho bè các anh tiếp tục trôi để chết lần mòn giữa biển khơi? Hay là chúng sẽ bắn vào bè để giết chết hết các anh?… Cuối cùng, sau khi chạy quanh các bè khoảng 2 vòng, chúng vẫy tay cười rồi bỏ đi. Chúng đã chọn phương cách thật tàn nhẫn vừa khỏi phí đạn, vừa khỏi tốn công chăm sóc các anh theo luật tù binh quốc tế, vừa khỏi mang tiếng sát nhân vì chúng nghĩ là sớm muộn gì các anh cũng sẽ chết.
Hành động vô nhân đạo này của TC đã làm chết thêm 7 chiến sĩ của HQ10. Nếu chúng thi hành đúng theo hiệp ước Geneva về tù binh thì khi các chiến sĩ HQ10 được vớt lên chúng có nhiệm vụ phải chăm sóc cho họ và sẽ không có thêm 7 chiến sĩ của HQ10 phải chết oan uổng trên đường đào thoát.
Sau khi tàu TC bỏ đi, các bè vẫn tiếp tục trôi và khi mặt trời bắt đầu lặn dòng nước đưa các bè lại gần một hòn đảo nhỏ. Đ/U Trí ân cần dặn nếu lên được đảo thì phải đào hố để che gió cho ấm và kiếm nước uống , tuyệt đối không được uống nước biển sẽ chóng chết.
Các anh em cố gắng dùng tay và những mảnh ván nhỏ thế chèo nhưng vẫn không vào được gần đảo, dần dần các bè trôi ra ngoài khu vực lòng chảo. Càng về đêm gió càng thổi mạnh, sóng dâng to đánh mạnh vào các bè làm chiếc bè trên đó có Đ/U Trí bị đứt giây tách ra khỏi nhóm. Tất cả mọi người trên các bè đều lạnh run và mệt lả. Trên bè của Đ/U Trí có thêm Tr/úy Ngân cũng bị thương. Phần Đ/U Trí bị thương trên đầu, bụng và chân nhưng ông vẫn cố gắng giữ vẻ tỉnh táo, che dấu đi những nổi đau đớn do vết thương hành hạ. Tuy nhiên vết thương ở chân vì không được băng bó kỷ lưỡng nên vẫn còn rĩ máu vì thế cá mập cứ bám theo sau. Lo ngại về sự an toàn của đồng đội và có lẽ cũng biết là mình sắp chết nên Đ/U Trí đã bảo thuộc cấp :” hảy thả tôi xuống biển, nếu không cá mập cứ bám theo, các anh cũng sẽ chết hết.” (3) Nhưng các anh em không thể nhẩn tâm đối với vị Hạm Phó đã từng sống chết với mình nên họ đã làm ngơ. Cho đến khi đêm xuống, các anh em mệt nhoài ngủ thiếp đi thì cũng là lúc Đ/U Trí trút hơi thỏ cuối cùng đền nợ nước vào khoảng 2 giờ sáng ngày 20 tháng 1 năm 1974, sau khi đã làm tròn nhiệm vụ của một chiến sĩ HQ/VNCH cho đến phút cuối cùng. Các chiến sĩ đào thoát đã chờ đến lúc trời sáng để làm lễ thủy táng cho ông theo truyền thống Hải quân.
Ngoài Đ/U Trí còn có 5 chiến sĩ bị thương trong trận hải chiến cũng đã hy sinh trên các bè đào thoát, danh sách trích từ phiếu tường trình ủy khúc số 121/BLH/HĐ/NV/TTUK/K ngày 16-2-1974 của BTL/HĐ (4) gồm có:
– HQ. Đại Úy Nguyễn Thành Trí số quân: 61A702.714
– TS1/GL Vương Thương               –       64A700.777
– TS/VCh Phan Ngọc Đa                 –       71A703.001
– TS/TP Võ Văn Nam                     –       71A705.697
– TS/ĐTTrần Văn Thọ                     –       71A706.845
– TS/QK Nguyễn Văn Tuấn             –       71A700.206
Với khoảng 4 ngày và 3 đêm trôi lênh đênh giữa vùng biển mênh mông trên các bè loang lỗ đầy vết đạn của giặc thù, nước uống và thức ăn không đủ để chia nhau phải dùng nước tiểu pha với nước biển để uống cầm cự. Họ đã sống giữa tuyệt vọng và hy vọng, giữa cái chết và cái sống, giữa những cơn đau đớn tận cùng do vết thương hành hạ, do thời tiết nghiệt ngã mang đến và nhất là nổi đau xót khi chứng kiến đồng đội người này tiếp nối người kia gục ngã trên bè, thân xác được thủy táng vào lòng đại dương. Nhưng hầu như tất cả mọi người lúc nào cũng chia xẽ với nhau, cũng nhường nhịn lo lắng cho nhau và cùng nhau cầu nguyện.
Công tác tìm kiếm và cứu vớt các chiến sĩ đào thoát.
Ngay trong ngày 19-1, trước tin sơ khởi báo cáo về cho biết có thể có 2 chiến hạm phía ta đã bị hỏa tiển Styx của TC bắn chìm, chánh phủ VNCH đã 3 lần nhờ chánh phủ Hoa Kỳ trợ giúp trong việc tìm kiếm và cấp cứu (2 lần nhờ sự trợ giúp của các chiến hạm và 1 lần nhờ sự trợ giúp của các trực thăng thuộc Đệ 7 Hạm Đội), nhưng lời yêu cầu này đã bị Đại Sứ Martin khước từ. Người bạn đồng minh từ bao năm nay đã lựa chọn thái độ không can dự vào các vụ tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo trong vùng biển Đông, ngay cả việc giúp đỡ với mục đích nhân đạo.
Thái độ này đã được thể hiện rõ rệt qua việc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ yêu cầu Bộ Quốc Phòng chỉ thị cho Hải Quân Hoa Kỳ đứng ngoài khu vực xung đột. (ngày giờ chính xác của văn thơ này chưa được rõ). Do vậy, nên ngay sau khi được tin chiến hạm HQ/VNCH đã nhận được lịnh khai hỏa, Tư Lịnh Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ vào lúc 0950H ngày 19-1 lập tức gởi công điện ra lịnh cho các chiến hạm Hoa Kỳ tránh xa khỏi khu vực sắp giao chiến và tránh các hành động có thể được xem như là tham dự vào hay cung cấp sự yểm trợ cho miền Nam.
Đồng thời Tư Lịnh Không Quân Hoa Kỳ Thái Bình Dương cũng ra lịnh cấm tất cả các phi cơ thuộc Không Lực Hoa Kỳ bay trên không phận quần đảo Hoàng Sa ở bất cứ cao độ nào.
Nhật báo The New York Times ra ngày 19-1 có đăng lời Phát Ngôn Viên Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tuyên bố “Chúng tôi không đứng về bất cứ phe nào”. Ngoài ra John F. King viên chức Giao Tế thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã phát biểu khi trả lời các câu hỏi :” Lẽ dỉ nhiên, chúng tôi hết sức mong muốn một sự dàn xếp êm đẹp”, nhưng “chúng tôi không can dự vào”
Vào buổi tối ngày 20-1, Ngoại Trưởng VNCH đã yêu cầu Đại Sứ Martin chuyển đạt lời yêu cầu đến chánh phủ Hoa Kỳ để nhờ họ đề nghị với TC đồng ý hưu chiến trong 48 giờ, đủ thời gian để chánh phủ VNCH có thể di tản những người chết và bị thương ra khỏi quần đảo HS (5)
Lời đề nghị hợp lý và nhân đạo này đã không được chánh phủ Hoa Kỳ chuyển đến Bắc Kinh.
Trước thái độ dửng dưng của Hoa Kỳ, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sau khi cân nhắc lợi hại đã từ bỏ ý định dùng võ lực tái chiếm Hoàng Sa. Vì vậy các giới chức thẫm quyền đã nghĩ ngay đến việc cứu cấp các chiến sĩ HQ10 đào thoát trên bè sau trận hải chiến.
Trưa ngày 22-1 lúc 1 giờ 05 phút, Toà Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn đã gởi điện thư về Bộ Ngoại Giao báo cáo là vào buổi sáng, dinh Độc Lập, Bộ Ngoại Giao và Đại Tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH đã thông báo với họ là Chánh Phủ Việt Nam cảm thấy bắt buộc phải mở ra cuộc hành quân không/hải để tìm kiếm những người hy vọng sống sót trên mặt biển trong khoảng giữa Hoàng Sa và Đà Nẵng.
Tiếp theo đó lúc 1 giờ 31 trưa ngày 22-1, Tòa Đại Sứ lại gởi tiếp bản văn từ Bộ Ngoại Giao VNCH mới vừa được Phát Ngôn Viên Bộ Ngoại Giao VNCH phổ biến đến báo chí, nội dung bản văn loan báo cấp chỉ huy quân sự Việt Nam đang mở ra cuộc hành quân cứu cấp trong vòng 48 giờ để cứu vớt những người sống sót trên Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, chiến hạm này đã được báo cáo mất tích sau trận hải chiến với Hải Quân TC tại quần đảo Hoàng Sa.
Lực lượng tham dự cuộc tìm kiếm gồm có Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ6, hai chiếc Tuần Duyên Đỉnh (WPB) và 1 phi cơ C-119.
Khu vực tìm kiếm nằm trong giới hạn bởi các tọa độ dưới đây :
– A. 15 độ 30 phút 28 giây Bắc – 110 độ 00 phút 18 giây Đông
– B. 14 độ 50 phút 30 giây Bắc – 110 độ 40 phút 27 giây Đông
– C. 15 độ 30 phút 36 giây Bắc – 111 độ 10 phút 00 giây Đông
– D. 16 độ 00 phút 00 giây Bắc – 110 độ 40 phút 48 giây Đông
Bản văn từ Tòa Đại Sứ Mỹ cũng cho biết là các giới chức thẫm quyền VNCH quan tâm đến số phận của thủy thủ đoàn HQ10 mà lần sau cùng đã được thấy không người điều khiển gần đảo Vĩnh Lạc (Money). Với dòng nước biển chảy bình thường sẽ đưa HQ10 hoặc là nếu chiến hạm bị chìm sẽ đưa những người sống sót đến khoảng 70 hải lý về hướng Tây Nam của khu vực nằm trong các tọa độ A, B, C và D.
Bản văn còn cho biết là chánh phủ VNCH chỉ thị phái đoàn VN ở Geneva lập tức thông báo cho Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế những điều đã đề cập ở trên và yêu cầu Hội thông báo Bắc Kinh về bản chất và phạm vi của cuộc hành quân, ngoài ra còn yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ xử dụng các phương tiện thông tin trực tiếp với Bắc Kinh trong nỗ lực để đảm bảo là Bắc Kinh cũng biết rõ về chiến dịch hoàn toàn có tính chất nhân đạo này.
Về phần Đại Sứ Martin, ông cũng khuyến cáo Bộ Ngoại Giao Mỹ nên tiếp xúc với Phái đoàn liên lạc TC ở Hoa Thịnh Đốn hoặc Văn phòng Liên Lạc Hoa Kỳ ở Bắc Kinh để yêu cầu TC thông báo đến các giới chức thẫm quyền quân sự của họ về chiến dịch này và Bộ Ngoại Giao có thể chỉ thị Phái Đoàn Hoa Kỳ ở Geneva tạo điều kiện để Phái đoàn Việt Nam tại Geneva và Hội HTT quốc tế gặp gỡ nhau.
Những lời khuyến cáo của Đại Sứ Martin đã được Ngoại Trưởng Kissinger chấp thuận, vì vậy ngay sau đó Ngoại Trưởng Kissinger đã gởi điện thư cho Văn Phòng Liên Lạc Mỹ ở Bắc Kinh yêu cầu họ thông báo với Bộ Ngoại Giao TC về cuộc hành quân cứu cấp này. Ngoài ra cũng giải thích cho Bắc Kinh biết là Mỹ làm việc này theo sự yêu cầu của chánh phủ VN và với tính cách nhân đạo, còn việc đề nghị Bộ Ngoại giao TC thông báo cho cấp chỉ huy quân sự TC là tùy ở Văn Phòng Liên Lạc.
Trong khi các chiến hạm và phi cơ VNCH đang bắt đầu việc tìm kiếm thì vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 22-1-1974 tàu dầu Kopionella thuộc hảng Shell mang quốc tịch Hòa Lan đã tìm thấy và vớt tất cả 22 người (5) thuộc HQ10 còn sống sót lên tàu tại toạ độ 16 độ 10’ N và 110 độ 46’ E cách Đà Nẵng khoảng 287 km về hướng Đông, như vậy toán đào thoát đã trôi trên biển trong khoảng 78 giờ với khoảng cách độ 110 km.
Sau khi lên tàu Thượng Sĩ Châu vì quá kiệt sức nên đã trút hơi thở cuối cùng, ngoài ra có 4 người bị thương nặng. Tất cả đã được từ Thuyền Trưởng, Thuyền Phó và phu nhân của các vị này cùng thủy đoàn tàu dầu Kopionella tận tình chăm sóc. Với tư cách Sĩ quan thâm niên hiện diện, HQ Trung Úy Phạm Văn Thì đã được Thuyền Trưởng đưa vào phòng của ông để liên lạc với cấp chỉ huy Hải Quân Việt Nam.
Sáng ngày 23-1 lúc 5 giờ 15 tất cả đã được chuyển sang Tuần dương Hạm Trần Quốc Toản HQ6 để đưa về Đà Nẵng.
Qua lời thuật lại của các chiến sĩ sống sót, cuộc hành quân cứu vớt tiếp tục sang ngày 23-1 với hy vọng tìm thấy bè bằng cây trên đó có TS/VC Đa và TS/TP Nam, nhưng đến 6 giờ 15 phút chiều cùng ngày phi cơ tuần tiểu đã phát giác hai mãnh ván tại tọa độ 15 độ 43’ Bắc – 110 độ 02’ Đông, nhưng khi chiến hạm được điều động đến nơi mọi người đều thất vọng vì chỉ thấy 2 miếng ván không người.
Cuộc hành quân tìm kiếm và cấp cứu đã được chấm dứt ngay sau đó.
Để kết luận, trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974 như là một định mệnh đã sẵn dành cho Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10 một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử chống ngoại xâm để gìn giữ cõi bờ hùng vĩ do tổ tiên truyền lại. Tuy mất Hoàng Sa nhưng gương sáng về những sự hy sinh cao qúy, về tinh thần chiến đấu cao độ, liều chết tử thủ trước giặc thù, về lời nói đầy hùng khí ngay cả khi lâm vào tình thế nguy khốn sẽ mãi mãi được nhớ đến trong lịch sử oai hùng ngàn đời của con dân nước Việt.
Xin cho một lần tất cả những người dân nước Việt, không phân biệt Nam, Trung, Bắc không phân biệt lý thuyết, chủ nghĩa hãy cúi đầu khâm phục tinh thần bất khuất và sự hy sinh cao cả của 54 chiến sĩ HQ10 đã hy sinh tại chiến trường, 7 chiến sĩ hy sinh trên đường đào thoát cũng như 21 chiến sĩ còn lại đã thoát chết trong lúc chiến đấu với giặc thù, đã sống sót trong 3 đêm và 4 ngày gian khổ cùng cực trên biển khơi.
Các anh còn sống để có ngày chứng minh cho cả thế giới biết sự chiến đấu hào hùng của dân Việt cũng như sự nhẫn tâm của giặc thù Trung Cộng.
Sơ đồ cuộc hành quân tìm kiếm và cứu vớt các chiến sĩ thuộc HQ 10.
Tàu dầu Kopionella
Chuyện bên lề: Trong bài “Nhật ký bên lề trận hải chiến Hoàng Sa”, HQ Đại Tá Võ Sum TP6/BTL/HQ (Phòng Truyền Tin) đã viết là vì muốn biết số phận cuả HQ10 nên trong ngày 20 tháng 1, ông đã dùng phương pháp cảm xạ học để tìm vị trí của chiến hạm xấu số này.
Ông đã tiên đoán số phận HQ10 “không bao giờ trở lại” và các bè trôi theo hướng 240 độ thật là chính xác. Vị trí cuối cùng của các bè đào thoát do Ông tìm được lần sau cùng vào lúc 10 giờ đêm ngày 22 tháng1 là điểm E tọa độ 16 độ 17’ Bắc và 110 độ 58’ Đông.
Ngoài ra cũng theo bài viết thì chính HQ Trung Tá Lê Thành Uyển đã thiết lập khu vực tìm kiếm cho các chiến hạm và phi cơ.
Phần dẫn chứng:
Trong bài viết “ On January 19, 1974 Xisha naval battle detailed solution” tác giả TC đã diển tả về chiếc 389 như sau :”….chiếc 389 bị trúng đạn nước tràn vào trong hầm đạn dược…..ngoài ra 5 binh sĩ cũng hy sinh trong lúc sửa lại máy phát điện. Tất cả thủy thủ chiếc 389 chiến đấu một cách dũng cảm ném từng quả lựu đạn, xử dụng súng tiểu liên, súng bazooka bắn qua chiếc HQ10 gần sát đó. Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh trong trận chiến xáp lá cà này.
Lúc bấy giờ chiếc HQ 16 trở lại giao chiến với chiếc 389 để tiếp cứu chiếc HQ10 đang cháy bừng bừng. Đại Úy Nguyễn (ám chỉ Nguyễn Thành Trí) trên chiếc HQ10 thay thế Thiếu Tá Thà đã hy sinh, dốc toàn lực định húc ngay phía sau chiếc 389 thì chiếc 396 đến kịp để cản trở chiếc HQ 16 yễm trợ cho chiếc 389 thoát hiểm…………….12 giờ 12 phút, phân đội 74 nhận lịnh công kích, chiến hạm 281 bắn xối xả lên chiến hạm Nhật Tảo, tuy thủy thủ đoàn chiến hạm Nhật Tảo chống trả mãnh liệt, đến 14 giờ 52 phút chiến hạm Nhật Tảo chìm tại địa điểm phía Nam bãi Ninh Dương (bãi đá Hải Sâm – Antelope reef) cách 2,5 cây số”.
Ngoài ra bài này đã viết về chiếc 389 sau khi bị HQ10 đụng vào phía sau lái :”…chiến hạm số 389 của ta có hơn 10 người chết, đã bị chiến hạm VNCH bắn trúng nhiều lần và bị thiệt hại rất nặng. Khi chiếc 396 chạy đến cứu, hầm máy chiếc 389 đã bị phát nổ, lửa đang cháy lớn, tàu có thể bị chìm bất cứ lúc nào. Hai chiếc tàu đánh cá số 402 và 407 cũng đang bị tấn công nhưng đã cố sức chạy đến cứu và cuối cùng đã thành công đưa chiếc 389 ủi vào bãi.
Ba chiến hạm khác của ta tất cả đều hư hại, chiếc 274 bị thiệt hại rất nặng phải rởi khỏi vùng trở về đảo Phú Lâm, tại đây chiếc này đã được sửa chửa và đã trở lại căn cứ hải quân Yulin ngày hôm sau”.
Có thể nói một phần trong bài này đã được phía TC viết gần đúng sự thật. Đoạn viết này đã cho thấy vài sự kiện rất quan trọng và từ đó sau khi kiểm chứng và tổng hợp với các tài liệu từ phiá VNCH ta có thể làm sáng tỏ 1 vài sự kiện mà từ trước đến nay chưa giải thích được, ngay cả các nhân chứng còn sống sót trên HQ10 cũng không biết về các hành động rất dũng cảm và rất oai hùng của các chiến sĩ trên HQ10.
– Điểm thứ nhất bài viết đã xác nhận là chiếc 389 đã tiến sát vào HQ10 qua việc chúng ném lựu đạn, bắn súng tiểu liên.
– Điểm thứ 2 là vì tiến vào quá gần nên chúng đã quan sát thấy HT Ngụy Văn Thà đã tử trận.
– Điểm thứ 3 là vì ở quá gần nên chúng đã quan sát thấy HP Nguyễn Thành Trí dốc toàn lực định húc ngay phiá sau chiếc 389.
– Điểm thứ 4 là chúng đã công nhận khi 281 và 282 nhập vùng tác xạ vào HQ10 thủy thủ đoàn trên HQ10 đã chống trả mãnh liệt, điều này chứng tỏ là 2 chiến sĩ Lê Văn Tây và Ngô Văn Sáu đã can trường liều chết tử thủ, chống trả dữ dội khiến chúng không dám xáp lại gần, vì thế phải mất gần 2 tiếng đồng hồ, chúng mới đánh chìm HQ10
Bài viết của TC dĩ nhiên là không hoàn toàn đúng sự thật vì không có can đảm viết rõ là HQ10 do chính Đại Úy Trí điều khiển đã đâm mạnh vào phần lái tả hạm và đã gây nên tổn thất nặng nề cho chiếc 389. Nếu 389 không bị đụng thì tại sao chúng lại bỏ cơ hội hiếm có để đổ bộ lên chiếm đoạt HQ10 và tại sao tàu lại bị nghiêng và phần lái bị chìm xuống. Tại sao 2 tàu đánh cá 402 và 407 phải chạy đến để tiếp cứu? (hình chụp chiếc 389 trích trong http://www.military.china.com)
Tài liệu “On January 19, 1974 Xisha defended the war” trong phần tổng kết thiệt hại về phía TC có viết là chiếc 389 bị tổn thất nặng nề và 2 tàu đánh cá 402, 407 từ các vị trí ẩn núp an toàn lúc xảy ra trận hải chiến đã chờ cho đến khi các chiến hạm ta rút ra khỏi vòng chiến chúng mới dám chạy đến yểm trợ để đưa 389 ủi vào bãi san hô tránh chìm, nếu không chiếc 389 sẽ chịu chung số phận như HQ10.
Đoạn viết này không nói đến 396 lại yểm trợ cho 389 chứng tỏ là 396 cũng đang bị thiệt hại nặng phải tự cứu. Ngoài ra khi 281 và 282 đến nơi hầu hết các chiến sĩ trên HQ10 còn sống sót đang ở trên các bè đào thoát, TC đã biết rõ điều này nhưng trong bài viết chúng cho là “thủy thủ đoàn” HQ10 chống trả mãnh liệt để tô đậm thành tích đánh chìm HQ 10 của chúng.
Về việc HQ 10 đụng mạnh vào tàu TC, một số bài viết về phía VNCH như Hải Chiến Hoàng Sa của HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê đăng trong HSTT và bài viết Lần đào thoát ở Hoàng Sa của HQ Tr/U Nguyễn Đông Mai (6) cho là chiếc 396 của TC đụng vào HQ10, nhưng dựa theo các tài liệu TC thì đây là chiếc 389 trùng hợp với Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa của Vũ Hữu San & Trần Đỗ Cẩm.
Hà Đăng Ngân trong Hoàng Sa và HQ10 (7) viết :”…Vài phút sau mục tiêu 2 cũng bốc khói, mục tiêu 1 tuy còn chút khói bốc lên, chạy trở vào gần HQ10, bắn trả lại HQ10 và HQ10 bắt đầu trúng đạn của tàu Trung Quốc…”.
Tuy không nhớ rõ số của mục tiêu 1 và mục tiêu 2, nhưng qua bài viết của TC ta có thể suy ra mục tiêu 1 là chiếc 389 và mục tiêu 2 là chiếc 396.
Các bài viết của các SQ và nhân viên còn sống sót trên HQ10 đã xác nhận sự kiện một chiến hạm TC đụng vào HQ 10 và ý định của chúng định cặp vào đổ bộ lính qua HQ10 mặc dù con số chiến hạm có khác đi. HQ Tr/Úy Nguyễn Đông Mai trong bài ‘Lần đào thoát ở Hoàng Sa’ đã viết :”..chiếc 396 như tiến lại gần tôi hơn từ phía lái…rồi chừng 15 phút sau, một tiếng va chạm mạnh làm chúng tôi té nhào trên sân tàu. Tôi chợt nghĩ đến chuyện tàu lên cạn vì vùng này có nhiều san hô. Sau này khi đào thoát tôi mới biết HQ10 đâm vào tả hạm chiếc 396.”
HQ Ch/Úy Tất Ngưu (8) đã cho thấy một sự kiện hiển nhiên là chiến hạm của chúng tiến vào quá gần và các chiến sĩ trên HQ10 có cảm tưởng là chúng sẽ cặp vào để đưa lính sang chiếm tàu, bài ‘Trận hải chiến Hoàng Sa dưới mắt một người còn sống sót’ đã viết :”…Có giọng nói giữa đám anh em đang hỗn loạn :” tàu TC đổ bộ, anh em cẩn thận”. Một loạt đạn M16 túa bay ra từ đài chỉ huy. Nhìn phía trước, tôi thấy mũi tàu của ta đâm vào tàu địch. Thế rồi hai tàu từ từ dang ra. Tàu ta bất khiển dụng cả hai máy chánh, cứ vậy mà trôi lênh đênh.
Sau khi hai chiếc tàu đụng nhau, tiếng súng lớn dường như im bặt, chỉ còn nghe những tiếng súng nhỏ. Giai đoạn hải chiến hình như chấm dứt.”
Hạ Sĩ Trọng Pháo Vương Văn Hà (9) qua bài “Người về từ Hoàng Sa” cũng xác nhận cú đụng này :”…HQ10 bị bất khiển dụng khiến cho tàu địch đã bị bắn ở phía tả hạm đụng vào tàu chúng tôi.”
HSTT cũng viết :” …….tuy chiến hạm đang cháy nhưng vẫn tiến từ từ, sau đó ngừng lại khi đụng vào lái tàu địch 396….”
Các bài viết trích dẫn ở trên đã xác nhận sự việc HQ10 và chiếc 389 đụng vào nhau, nhưng vì lúc bấy giờ trên ĐCH và phòng lái không còn ai sống sót, ngoại trừ HP Nguyễn Thành Trí do đó không ai biết được lý do chính xác và nếu không nhờ những chi tiết từ bài viết của TC, chiến công oanh liệt và oai hùng của HP Nguyễn Thành Trí sẽ không được biết đến.
Qua các dẫn chứng trên đã chứng minh một sự thật hiển nhiên là HQ10 và chiếc 389 không phải vì đã :”…trôi nổi không kiểm soát được trên mặt biển, đã đụng vào nhau” như trong Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa đã viết mà cú đụng này là do chủ ý của Đại Úy Trí đã đơn độc vận chuyển chiến hạm liều chết hy sinh cả chiến hạm và mạng sống đâm mạnh vào phần lái tàu địch.
Chiếc 389 có lẽ không ngờ được là trên đài chỉ huy còn Đ/U Trí vì thế chúng không thể nào tránh né được cú đụng này và có lẽ chúng đã quan sát một cách rõ ràng những diển tiến trên ĐCH nên trong bài viết chúng đã nêu rõ là Đ/U Trí “dốc toàn lực định húc vào tàu chúng”.
Dựa theo bài viết trên thì sự thiệt hại nhân mạng về phía TC trong trận hải chiến HS là 18 người chết và 67 người bị thương (chưa được kiểm chứng) trong số đó chiếc 389 trực chiến với HQ10 có số thương vong cao nhất là 10 người chết, như vậy đã chứng tỏ mức độ giao chiến rất khốc liệt giữa HQ10 và 389.
Tuy dáng người vạm vỡ, nhưng với vết thương quá nặng có lẽ HP Nguyễn Thành Trí biết là mình sẽ không thể nào sống sót được lâu, nên sau khi tất cả nhân viên đã xuống bè Ông quyết định ở lại chết với chiến hạm, nhưng các nhân viên đã bắt buộc Ông phải xuống bè với họ. Việc Đ/U Trí quyết định ở lại tàu có 2 tài liệu viết trong khoảng thời gian ngắn sau biến cố HS đã chứng minh một cách rõ rệt.
Tài liệu “Đêm Xuân trên vùng biển chết” của tác giả Thanh Chương trong Lướt Sóng đã viết :”Người đã bị thương nhiều nhưng quyết ở lại cùng HT…
…Một nhân viên đã phải vực Người nhẩy xuống cùng bè với tôi, bè cấp cứu sau cùng rời chiến hạm.”
Tài liệu của tác giả ẩn danh viết :”…. Hạ Sĩ Trọng Pháo Trần Ngọc Sơn và Thủy thủ Thám Sát Trương Văn Long, 2 người này đã cặp Đ/U Hạm Phó và lôi xuống bè.”
(2) Dựa trên tài liệu của TC/CTCT thì :”Chiến hạm cùng thủy thủ đoàn gồm 82 người đã bị mất liên lạc”, như vậy số quân nhân chết theo chiến hạm là 54 người.
Tuy nhiên theo TTHS thì số quân nhân chết theo chiến hạm là 55 người.
(6) Tài liệu của TC/CTCT viết :”…thương thuyền Kopionella quốc tịch Hòa Lan đã vớt được 23 thủy thủ của Hộ tống hạm HQ10……Trong số này có 2 quân nhân bị tử thương ( gồm có 1 Đại Úy Hạm Phó)”…
Chi tiết này không đúng vì Đ/U Hạm Phó đã hy sinh trên bè đào thoát và tàu dầu Hòa Lan chỉ vớt được tổng cộng có 22 người.
https://benxua.files.wordpress.com/2017/12/ho-tong-ham-nhut-tao-hq10.jpg?w=840
Đặc Tính Hộ Tống Hạm Nhật Tảo:
Hộ Tống Hạm Nhật Tảo thuộc loại Admirable Class Minesweeper (AM) do hảng tàu Winslow Marine Railway and Shipbuilding Co ở Winslow tiểu bang Washington đóng.
Chiến hạm được hạ thủy ngày 31 tháng 10 năm 1943 và được đăt tên là USS Serene (AM 300).
Ngày 7 tháng 2 năm 1955 đổi thành loại Fleet Minesweeper MSF 300.
Ngày 24 tháng 1 năm 1964 chuyển giao cho Hải Quân VNCH và được đặt tên là Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10.
Trọng tải:
650 tấn (tiêu chuẩn) – 945 tấn (tối đa)
Kích thước:
dài 184,5 ft – ngang 33 ft – tầm nước 9,75 ft
Máy chánh:
2 máy dầu cặn (Cooper Bessemer), 2 trục chân vịt, 1710 mã lực
Vũ khí:
– 1 khẩu đại bác 76,2 ly phía sân trước có tầm tối đa 14,000 yds, tầm hữu hiệu 7,500 yds, tác xạ với tốc độ nhanh 50 phát/phút, với tốc độ thích ứng 20 phát/phút.
– 2 khẩu đại bác 40 ly (tả và hữu) phía sân sau có tầm tối đa 11,000 yds, tầm hữu hiệu 4,000 yds, tác xạ với tốc độ 140 phát/phút
– 4 khẩu đại bác 20 ly đôi bao quanh phòng lái có tầm tối đa 4,800 yds, tầm hữu hiệu 2,000 yds, tác xạ với tốc độ 450 phát/phút
– 2 khẩu đại liên 30
– có trang bị súng cối 81 ly ( không rõ số lượng)
– Vũ khí chống tàu ngầm: với nhiệm vụ tuần tiểu và hộ tống các dụng cụ rà mìn đã được tháo gỡ và thay vào đó là 2 dàn thủy lựu đạn ( depth charge rack) đã được thiết trí ở phía sau lái, ngoài ra còn có 1 dàn phóng thủy lựu đạn hedgehog ở phía sân trước.
Vận tốc:
tối đa 14,5 knots, có tầm hoạt động 6,500 miles với vận tốc tiết kiệm là 8 knots
Thủy thủ đoàn:
82 người
Tài liệu dẫn chứng:
– công điện với nhóm ngày giờ 190150Z JAN 74 (giờ Sài Gòn 0950H) của Tư Lịnh Đệ 7 Hạm Đội Hoa Kỳ.
– công điện với nhóm ngày giờ 190420Z JAN 74 (giờ Sài Gòn 1220H) của Tư Lịnh Không Quân Hoa Kỳ Thái Bình Dương (Click vào xem tài liệu 2 công điện trên)
– điện thư số 075995 ngày 22-1- 1974 của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ gởi Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn.
– điện thư số 01000 ngày 22-1- 1974 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn gởi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ (Click vào xem tài liệu này)
– điện thư số 01006 ngày 22-1-1974 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Sòn gởi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ
– điện thư số 013552 ngày 22-1-1974 của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ gởi Văn Phòng Liên Lạc Hoa Kỳ ở Bắc Kinh
– điện thư số 014042 ngày 22-1-1974 của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ gởi Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn
– điện thư số 01026 ngày 23-1-1974 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn gởi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ
– Hà Văn Ngạc “Trận hải chiến lịch sử Hoàng Sa” trong Tuyển Tập Hải Sử (TTHS) – Tổng Hội Hải Quân&Hàng Hải (THHQ&HH) ấn hành 2004
– Jane’s Fighting Ships
– Lê Văn Thự “Sự thật về trận hải chiến Hoàng Sa” – Calitoday, March 08, 2004
– Liu Bingfeng “On January 19, 1974 Xisha defended the war” – Military.china.com
– Nguyễn Thị Thanh Thảo :”Tài liệu mới HQ10 –Hoàng Sa” http://www.hqvnch.net
– Phạm Mạnh Khuê “Hành quân Trần Hưng Đạo 47” (TTHS-THHQ&HH 2004)
– Thanh Chương “Đêm Xuân trên vùng biển chết”- Đặc san Lướt Sóng số đặc biệt Chiến thắng Hoàng Sa ,Cục Tâm Lý Chiến/K.CTCT/BTL/HQ ấn hành 2004
– The Vietnam Center and Archive (Vietnam.edu.ttu) – tài liệu về đặc tính chiến hạm thuộc Hạm Đội Hải Quân VNCH
– Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị/Cục Tâm Lý Chiến “Thế giới lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của VNCH” ấn hành 1974
– Vũ Hữu San&Trần Đỗ Cẩm “Tài liệu Hải Chiến Hoàng Sa” ấn hành 2004
– Xisha naval battle detailed solution – Militarychina.com
– Võ Sum “Nhật ký bên lề cuộc hải chiến Hoàng Sa”- Đặc san Lướt Sóng số đặc biệt Chiến thắng Hoàng Sa, Cục TLC/Khối CTCT/BTL/HQ ấn hành 1974
– Xisha naval battle detailed solution – Militarychina.com
– (1) Theo lời thuật lại của chị Nguyễn Thành Trí trong lần đến thăm chị ở Sài Gòn vào tháng 10/2006.
– (3) HQ Đại Úy Lê Văn Thự Trung Tâm Trưởng TTHQ/VIDH lúc xảy ra biến cố HS “Trận hải chiến Hoàng Sa và nước mắt của vị Tư Lịnh Hải Quân” phổ biến vào năm 1997 tại Yukon – Oklahoma (Câu nói này chính Đ/U Thự đã nghe nhân viên HQ10 trên cùng bè đào thoát với Đ/U Trí kể lại sau khi HQ6 đưa họ về Đà Nẵng)
– (4) Phiếu Tường Trình Ủy Khúc số 121 ngày 16 tháng 2 năm 1974 của Bộ Tư Lệnh Hạm Đội (Tài liệu do phu nhân cố HQ/Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí cung cấp)
– (5) điện thư số 0869 ngày 20-1-1974 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn gởi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ
– (7) Nguyễn Đông Mai “Lần đào thoát ở Hoàng Sa” (TTHS-THHQ&HH 2004)
– (8) Hà Đăng Ngân “ Hoàng Sa và HQ10” trong http://www.hqvnch.net
– (9) Tất Ngưu “Trận hải chiến Hoàng Sa dưới mắt một người còn sống sót” – http://www.sqhq25.org
– (10) Vương Văn Hà “Người về từ Hoàng Sa” – TTHS-THHQ&HH, 2004
Nguồn https://dongsongcu.wordpress.com/2018/01/02/hai-chien-hoang-sa-19-1-1974-ho-tong-ham-nhat-tao-hq-1o-di-vao-lich-su/