Hiển thị các bài đăng có nhãn Sống với tự nhiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sống với tự nhiên. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2021

Khẩu trang có thể gây hại cho trẻ em



Jennifer Margulis

Như nhiều quốc gia và một số tiểu bang bỏ quy định đeo khẩu trang, một nghiên cứu của Đức cho thấy trẻ em đeo khẩu trang gây hại nhiều hơn có lợi.

Bất kỳ bậc cha mẹ nào cũng có thể tận mắt chứng kiến, con cái chúng ta — từ trẻ nhỏ đến thanh thiếu niên — đã trải qua nhiều nỗi sợ hãi, căng thẳng tâm lý và thách thức về hành vi hơn kể từ khi cuộc khủng hoảng COVID-19 bắt đầu vào tháng 03/2020. Người lớn cũng vậy, thật sự rất căng thẳng và lo lắng.

Một nghiên cứu hồi cứu mới đây xem xét dữ liệu từ cuối năm 2020 và năm 2021 đã xác nhận điều mà rất nhiều người trong chúng ta đã nghi ngờ từ lâu: Việc đeo khẩu trang như một điều kiện tiên quyết để học tập trên lớp và tham gia vào cuộc sống công cộng đang gây ra tổn hại cho trẻ em cả về tâm lý và thể chất.

Nghiên cứu trên được thực hiện tại Đại học Witten – Herdecke ở Đức, bao gồm dữ liệu từ hơn 20,000 người tham gia phản ánh về trải nghiệm của tổng số 25,930 trẻ em. Thời gian trung bình những đứa trẻ đeo khẩu trang là 270 phút (4 tiếng rưỡi) mỗi ngày. 

Đa số các bậc phụ huynh (68%) đã báo cáo rằng việc đeo khẩu trang gây hại cho con cái của họ. Trên thực tế, các bậc cha mẹ đã báo cáo những tác hại về tâm lý và thể chất liên quan đến việc đeo khẩu trang ở 17,632 trẻ em. Những tác hại đó bao gồm:

  •      Khó tập trung
  •      Buồn ngủ hoặc mệt mỏi
  •      Nhức đầu
  •      Suy giảm khả năng học tập
  •      Cáu gắt
  •      Ít vui vẻ hơn
  •      Khó chịu
  •      Không muốn đến trường

Mặc dù đây là nghiên cứu hồi cứu và không nhằm mục đích thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa việc đeo khẩu trang cho trẻ em và tác động tiêu cực của nó, nhưng nhóm các nhà nghiên cứu người Đức lập luận rằng dữ liệu này minh họa về việc người lớn phải cân nhắc rằng một số nguy cơ tiếp xúc với virus corona có thể chấp nhận được để giúp trẻ em có “chất lượng cuộc sống cao hơn mà không cần phải đeo khẩu trang”.

Tiến sĩ Jeffrey I. Barke, một bác sĩ chăm sóc chính được chứng nhận bởi hội đồng chứng nhận hành nghề tư nhân ở Nam California không tham gia vào nghiên cứu nhưng đồng ý với điều trên: “Chúng ta nên luôn luôn đặt ra câu hỏi ‘Với giá nào?’ khi xem xét bất kỳ chính sách nào”. Tiến sĩ Barke nói thẳng thắn về vấn đề yêu cầu trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ, đeo khẩu trang. 

Ông nói: “Việc đeo khẩu trang cho trẻ em gây ra tác hại trực tiếp, bao gồm gia tăng sợ hãi, trầm cảm, ý định tự tử và rối loạn khả năng học tập. Và quan trọng nhất, việc đeo khẩu trang ngăn cản sự gắn kết quan trọng giữa học sinh và giáo viên vì không thể nhìn thấy các biểu cảm trên khuôn mặt”.

Như Giáo sư danh dự chuyên ngành Tâm lý học của Đại học Yale – bà Marianne LaFrance – đã nghiên cứu trong cuốn sách của mình: “Tại sao phải cười? Khoa học đằng sau các biểu cảm trên khuôn mặt”, khuôn mặt con người là nguồn tín hiệu phong phú về cảm xúc, ngôn ngữ và xã hội đối với người khác. Bà LaFrance trả lời khi tôi phỏng vấn bà vài năm trước, biểu hiện trên khuôn mặt phức tạp hơn nhiều so với những gì mọi người nhận ra. Từ hạnh phúc đến giận dữ, khuôn mặt của chúng ta có thể và thường biểu hiện một loạt các cảm xúc — thậm chí là những cảm xúc trái ngược nhau — vào cùng một lúc.

Nhưng khi mũi và miệng của trẻ em bị bịt kín bởi khẩu trang và chúng chỉ có thể nhìn thấy mắt người khác, chúng sẽ gặp khó khăn hơn nhiều không chỉ trong việc học nói và hiểu ngôn ngữ mà còn trong việc học các tín hiệu xã hội và trí tuệ cảm xúc.

Theo một bài báo trên tạp chí Scientific American, trẻ từ 8 tháng tuổi đã bắt đầu biết đọc khẩu hình. Tuy nhiên, như Tiến sĩ David J. Lewkowicz, nhà khoa học cấp cao tại Phòng thí nghiệm Haskins của Đại học Yale đã viết trong cùng một bài báo, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ không thể tạo ra mối liên hệ giữa cử động môi và lời nói nếu chúng không thể nhìn thấy miệng của người chăm sóc.

Trẻ em trong độ tuổi đi học không phải là những người siêu lây nhiễm

Biện minh cho việc đeo khẩu trang cho trẻ nhỏ, đặc biệt ở trường học, là để tránh lây lan virus corona từ những trẻ không có triệu chứng sang người lớn. Nhưng dữ liệu từ Thụy Điển cho thấy rằng trẻ em đến trường mà không đeo khẩu trang rất ít hoặc không gây nguy hiểm cho người lớn (hoặc những trẻ trong độ tuổi đi học khác). 

Như Tiến sĩ Jonas F. Ludvigsson và ba đồng nghiệp của ông đã viết trong một bức thư đăng trên Tạp chí Y học New England, mặc dù Thụy Điển đã để cho các trường mầm non và tiểu học của họ mở cửa mà không quy định đeo khẩu trang, nhưng tỷ lệ nhiễm COVID-19 rất thấp, kể cả trong các trẻ em và trong các giáo viên của chúng.

Trên thực tế, trong số gần 2 triệu trẻ em Thụy Điển ở độ tuổi đi học tiếp tục đến trường mà không đeo khẩu trang, chỉ có 15 trẻ nhập viện vì COVID-19, tương đương với tỉ lệ 1:130,000.

Bốn trong số những trẻ này có bệnh nền nghiêm trọng (hai trẻ bị ung thư, một trẻ bị bệnh thận mãn tính và một trẻ bị rối loạn về máu.) Không có trẻ em nào bị COVID-19 tử vong.

Đeo khẩu trang cho trẻ em có hiệu quả không?

Ngoài những tác hại mà khẩu trang có thể gây ra, câu hỏi rằng liệu chúng có thực sự có tác dụng trong việc ngăn chặn sự lây lan của COVID-19 hay không vẫn còn đang bỏ ngỏ.

Vào tháng 11/2020, Tạp chí Y khoa Nội khoa đã công bố một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng để đánh giá hiệu quả của khẩu trang phẫu thuật trong việc chống lại SARS-CoV-2.

Trong nghiên cứu bao gồm hơn 6.000 người này, một nhóm các nhà khoa học Đan Mạch đã phát hiện ra rằng khẩu trang không làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm SARS-CoV-2. Tỷ lệ lây nhiễm cao hơn một chút ở những người không đeo khẩu trang: 42 người tham gia đeo khẩu trang (1,8%) có kết quả dương tính với COVID-19 trong khi 53 người tham gia (2,1%) trong số những người không đeo khẩu trang có kết quả dương tính. Tuy nhiên, sự khác biệt trong mẫu này không được coi là có ý nghĩa thống kê.

Một phần các nhà nghiên cứu kết luận: “Khuyến cáo đeo khẩu trang phẫu thuật để bổ trợ cho các biện pháp y tế công cộng khác đã không làm giảm tỷ lệ nhiễm SARS-CoV-2 trên những người đeo khẩu trang.”

Các tiểu bang có quy định đeo khẩu trang có tỷ lệ lây nhiễm cao hơn

Nghiên cứu độc lập khác đã phát hiện ra rằng, các bang có quy định đeo khẩu trang có tỷ lệ lây lan COVID-19 thực sự cao hơn so với các bang không có quy định này.

Khi các nhà nghiên cứu từ Rational Ground (một trung tâm thông tin về COVID-19 cung cấp “những phân tích hợp lý và dựa trên thực tế về đại dịch hiện nay bằng cách sử dụng các biểu đồ, đồ họa vi tính, video và các phương tiện chuyên sâu khác”, theo trang web của họ) phân tích dữ liệu từ 50 bang từ ngày 01/05/2020 đến ngày 15/12/2020, họ không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy quy định đeo khẩu trang đã làm chậm sự lây lan của COVID-19.

Tại các bang quy định đeo khẩu trang, đã có 9,605,256 trường hợp mắc COVID được xác nhận, trung bình 27 người trên 100,000 cư dân mỗi ngày.

Ở những bang không có quy định đeo khẩu trang, đã có 5,781,716 trường hợp mắc COVID được xác nhận, trung bình 17 người trên 100,000 cư dân mỗi ngày.

Trong một ý kiến chi tiết về dữ liệu này, ông Daniel Horowitz, biên tập viên cao cấp của TheBlaze và là người dẫn chương trình phát thanh của Tạp chí Bảo thủ, đã viết: “Gánh nặng của những người muốn vi phạm Hiến pháp với một quy định hà khắc như vậy… là đưa ra bằng chứng khẳng định rằng chúng [khẩu trang] có tác dụng. … Nhưng trong khi họ buộc chúng tôi phải chứng minh 100% rằng chúng không có tác dụng, thì những người đưa ra quy định đeo khẩu trang không phải chứng minh bất kỳ hiệu quả nào, ngay cả khi những đứa trẻ 2 tuổi bị buộc phải đeo khẩu trang trên máy bay.”

Khẩu trang thông dụng thường ít có hiệu quả 

Loại khẩu trang cũng rất quan trọng. Như Tiến sĩ Peter Weiss đã giải thích trong một bài báo trên The Epoch Times, các loại khẩu trang được sử dụng phổ biến nhất có khả năng kém hiệu quả nhất.

Tiến sĩ Weiss viết: “Khẩu trang y tế có ba lớp sợi tổng hợp và sợi siêu mịn, có tác dụng ngăn chặn các hạt lớn, nhưng lại kém hiệu quả trong việc ngăn chặn các hạt nhỏ trong lây nhiễm virus COVID-19.”

Tiến sĩ Paul Alexander, một chuyên gia y học và dịch tễ học dựa trên bằng chứng, cũng đồng ý như vậy: “Việc chúng tôi kiểm tra toàn bộ bằng chứng liên quan đến những chiếc khẩu trang vải màu trắng và khẩu trang phẫu thuật màu xanh này cho thấy chúng không hiệu quả và không mang lại lợi ích gì”. 

Ông Alexander là cựu cố vấn tổng hợp bằng chứng cho WHO/Tổ chức Y tế liên Hoa Kỳ về đại dịch COVID và cựu cố vấn cấp cao về đại dịch COVID cho Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Trump. 

Ông Alexander cho biết: “Điều thực sự đáng sợ là tất cả những chiếc khẩu trang phẫu thuật màu xanh và những chiếc khẩu trang tương tự đều gây ra tình trạng hít phải sợi nhựa và có thể gây ra hậu quả tệ hại, đặc biệt là đối với trẻ em. Những chất dẻo này sẽ phân hủy rất chậm theo thời gian, và như vậy, nó có thể vẫn còn trong phổi và tích tụ đến mức nguy hiểm. Chúng tôi thậm chí không biết đâu là mức ‘có thể chấp nhận được’, vì tốt hơn hết là chúng không nên có trong phổi”.

Khẩu trang vải, loại mà hầu hết trẻ em đều đeo đến trường, cũng không hiệu quả. Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về khẩu trang vải được sử dụng bởi nhân viên y tế trong bệnh viện ở Việt Nam, gần 97% khẩu trang bị các hạt virus xâm nhập (so với 44% khẩu trang y tế.) Ngoài ra, công nhân đeo khẩu trang vải có nhiều khả năng nhiễm trùng đường hô hấp hơn.

Tiến sĩ Weiss ví một chiếc khẩu trang vải như việc buộc một sợi dây quanh eo khi lái xe và khẳng định đó là dây an toàn. “Cũng không quá lời khi nói rằng việc đeo khăn che mặt theo phong cách Gucci… giống như yêu cầu kỹ thuật viên chụp X-quang đeo tạp dề nhà bếp của bà ngoại khi chụp X-quang”. 

Đeo không đúng cách

Khẩu trang phải được đeo đúng cách để có hiệu quả. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu trên những người đeo khẩu trang ở Nhật Bản, nơi mà đeo khẩu trang y tế là quy chuẩn văn hóa (không giống như ở Hoa Kỳ,) các nhà khoa học phát hiện ra rằng chỉ 23% người đeo khẩu trang tuân thủ các khuyến cáo. Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Quốc tế về Nghiên cứu Môi trường và Sức khỏe Cộng đồng cho thấy 77% người dân Nhật Bản không tuân thủ đầy đủ các hướng dẫn về khẩu trang.

Nếu bạn dành thời gian trong bất kỳ lớp học nào ở Hoa Kỳ nơi trẻ em được yêu cầu đeo khẩu trang, bạn sẽ nhanh chóng thấy rằng hầu hết trẻ em đều đeo không đúng cách. Các hướng dẫn của CDC quy định rằng bạn không được chạm vào khẩu trang của mình khi đang đeo nó. Nhưng trẻ em (và người lớn) liên tục chạm vào khẩu trang của họ.

Bà Angie Bowman, một bà mẹ bốn con và là một nhà giáo dục ở Medford, Oregon, cho biết: “Tôi thường không nhìn thấy những đứa trẻ đeo khẩu trang đúng cách. Tôi nhìn thấy chúng để khẩu trang xuống dưới mũi hoặc cắn vào phần giữa của khẩu trang để kéo nó ra khỏi mũi. Và tôi đã thấy những đứa trẻ dùng khẩu trang để lau mũi rồi đeo lại. Điều đó thật kinh khủng! Khẩu trang của chúng cuối cùng bị ướt, dính và có thể có nhiều vi trùng hơn trên đó. Theo quan điểm của tôi, trẻ em hoàn toàn không nên đeo khẩu trang”.

CDC khuyến cáo rằng các loại khẩu trang có thể tái sử dụng nên được giặt sạch ngay khi chúng bị bẩn hoặc ít nhất một lần một ngày. Nhưng hầu hết các bậc cha mẹ đều không biết về hướng dẫn này và cho con của họ đeo cùng một chiếc khẩu trang trong nhiều ngày liền. Khẩu trang dùng một lần, được thiết kế để vứt đi sau một lần sử dụng, thường được đeo lại trong nhiều tuần.

Tác hại ngoài dự kiến

Ảnh hưởng lâu dài của việc đeo khẩu trang và các biện pháp giảm thiểu COVID-19 khác đối với con em chúng ta là gì? Không ai có thể nói chắc chắn. Những gì chúng ta biết là tỷ lệ tự tử đang ở mức cao nhất mọi thời đại ở Hoa Kỳ, theo Tổ chức Y tế Thế giới, mặc dù tỷ lệ đó đã có xu hướng tăng lên trong một thời gian. Chúng tôi cũng đã chứng kiến ​​sự gia tăng mạnh mẽ về lạm dụng trẻ em và bạo lực gia đình kể từ khi bắt đầu áp dụng các biện pháp giảm thiểu COVID-19, cũng như các trường hợp tử vong do quá liều thuốc, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi. Theo CDC, hơn 96,750 trường hợp tử vong do sử dụng ma túy đã được báo cáo trong khoảng thời gian từ tháng 03/2020 đến tháng 03/2021, tăng gần 30% so với năm 2019.

Đồng thời, nhiều trẻ em hơn bao giờ hết được kê đơn thuốc chống trầm cảm, thuốc chống lo âu, và thậm chí cả thuốc chống tâm thần.

Người lớn cũng vậy. Theo dữ liệu của chính phủ, đã có sự gia tăng ở những người trưởng thành bị rối loạn lo âu và trầm cảm kể từ khi bắt đầu đại dịch.

Cô Sherry Syence, một bà mẹ của cặp song sinh 11 tuổi sống ở Asheville, Bắc Carolina, cho biết: “Tôi kịch liệt phản đối việc đeo khẩu trang cho trẻ em. Việc này không chỉ gây nguy hiểm cho sức khỏe thể chất của các em mà còn gửi cho các em một thông điệp rằng bản thân chúng là vật trung gian truyền bệnh. Tôi không muốn con tôi sống trong một môi trường có nền tảng là sự sợ hãi. Tôi muốn chúng trải nghiệm niềm vui trọn vẹn của tuổi thơ, được hít thở tự do và có những tương tác bình thường với những người khác mà không bị việc đeo khẩu trang làm cản trở. Các em cần được nhìn thấy toàn bộ các biểu cảm trên khuôn mặt của mọi người”.

Cặp song sinh của cô Syence theo học tại một trường học liên hợp nhỏ tại nhà, nơi việc đeo khẩu trang là tùy thuộc vào cha mẹ. Cô Syence và chồng quyết định đưa con rời khỏi trường công vì quy định đeo khẩu trang, cùng với nhiều lý do khác.

Tiến sĩ Barke nói: “Đừng bận tâm rằng khẩu trang có ít tác dụng bảo vệ chống lại virus đường hô hấp. Đừng bận tâm rằng những đứa trẻ không có triệu chứng chỉ đơn giản là không lây bệnh cho những người lớn có nguy cơ. Chúng ta phải luôn tự hỏi hậu quả của những quy định của chúng ta là gì?”

Tiến sĩ Jennifer Margulis là một nhà báo khoa học ở tiểu bang Oregon, là một nhà báo từng đoạt giải thưởng và là tác giả của  cuốn sách “Con của bạn, theo cách của bạn: Chịu trách nhiệm về các quyết định mang thai, sinh con và nuôi dạy con cái của bạn để có một gia đình hạnh phúc hơn, khỏe mạnh hơn.” Cô từng đạt giải thưởng Fulbright và là mẹ của bốn đứa con, cô đã làm việc trong một chiến dịch sống còn vì trẻ em ở Niger, phía Tây của Phi Châu. Cô xuất hiện trực tiếp trên tivi vào khung giờ vàng tại Pháp và làm việc trong một chiến dịch sống còn của trẻ em ở Niger, phía Tây của Phi Châu. Tiến sĩ Jennifer Margulis là người nhận tài trợ của Fulbright và là diễn giả được chào đón. Tìm hiểu thêm về cô ấy tại trang JenniferMargulis.net.


Thứ Hai, 11 tháng 10, 2021

Diễn văn hay nhất thế giới trong 1.000 năm qua

Năm 1870, luật sư George Graham Vest (1830-1904) nhận bảo vệ cho một người thợ săn kiện người chăn cừu đã giết chết con chó của mình. Bằng những lời ngợi ca con chó, ông đã thuyết phục được toàn thể hội thẩm đoàn và thân chủ của ông đã thắng kiện.

Luật sư George Graham Vest

Bài diễn văn được lưu hành trong văn học Mỹ với cái tên “A Tribute to the Dog” và được tờ New York Times bình chọn là bài diễn văn hay nhất trong tất cả những bài diễn văn trên thế giới trong 1000 năm qua. Thậm chí trước trụ sở tòa án tại Warrensburg, bang Missouri, người ta đã dựng tượng đài một con chó kèm theo “A Tribute to the Dog” để đánh dấu sự kiện lịch sử này.



Dưới đây là bài bảo vệ thân chủ chỉ vỏn vẹn 375 chữ của luật sư George Graham Vest:

“Thưa hội thẩm đoàn
Người bạn tốt nhất mà ta có được trên đời này có thể quay lưng chống lại ta và biến thành kẻ thù của ta.
Con cái mà ta hằng yêu thương chăm sóc có thể trở thành những đứa vô ơn bạc nghĩa.
Những người gần gũi và thân thiết với ta nhất, những người mà ta tin tưởng đem giao phó hạnh phúc và danh dự của mình, một ngày nào đó có thể trở thành những kẻ phản bội.
Tiền bạc mà ta có được có thể sẽ mất đi, mất ngay vào lúc ta cần nó nhất. Danh tiếng của con người có thể tiêu tan trong khoảnh khắc vì một hành vi nông nổi. Những kẻ từng quỳ gối tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể trở thành những kẻ đầu tiên ném vào ta hòn đá hiểm độc khi bóng mây sa cơ lỡ vận phủ xuống đầu ta.
Trên thế gian vụ lợi ích kỷ này, con người chỉ có thể có được một người bạn vô tư không điều kiện, một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ vô ơn bạc nghĩa, không bao giờ phản bội, đó là con chó của ta.
Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta, dù ta giàu sang hay ta nghèo khó, dù ta khỏe mạnh hay ta ốm đau bệnh tật. Nó ngủ dưới nền đất lạnh, bất chấp giá rét mùa đông hay bão tuyết, miễn sao được ở gần ta. Nó vẫn hôn vào bàn tay ta dù ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vào những vết thương và những chỗ ta đau đớn khi va chạm với sự tàn bạo của cuộc đời. Nó canh giấc ngủ cho ta khi ta là kẻ cùng khốn cũng giống như khi ta là một ông hoàng.
Khi tất cả bạn bè đều rời xa ta, riêng con chó thì ở lại. Khi ta mất hết của cải, thân bại danh liệt, thì tình yêu thủy chung của con chó đối với ta vẫn ngời sáng như ánh mặt trời xuyên thấu chín tầng mây. Nếu chẳng may ta bị cuộc đời ruồng bỏ, rơi vào cảnh không bạn bè không nhà cửa, thì đối với con chó trung thành, không có một đặc ân nào cao hơn là được ở bên cạnh ta, để bảo vệ ta chống lại những hiểm nguy, chống lại kẻ thù.
Và đến lúc cuộc đời ta kết thúc, thần chết rước ta đi và thân xác ta nằm dưới lòng đất lạnh, khi người thân bạn bè đưa tiễn đã quay về để tiếp tục bận rộn với cuộc sống của họ, thì con chó cao quý vẫn còn nằm bên nấm mồ ta, đầu gục xuống giữa hai chân, đôi mắt đau buồn nhưng vẫn mở to cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã chết”.



Vào ngày 9 tháng 8 năm 1904, Vest qua đời tại ngôi nhà mùa hè của mình ở Sweet Springs, Missouri. Ông được chôn cất tại Nghĩa trang Bellefontaine ở St. Louis, Missouri.

Nguồn: https://www.historyplace.com/speeches/vest.htm?fbclid=IwAR1ewsXa4toDqBPdelKH7j7Lom_w2HJcECHsGtmUU4avY8zVCfLTX12QNhk

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2021

Trật tự siêu việt

 Bạn có tin rằng từng giọt mưa luôn rơi đúng vào vị trí đã định sẵn cho nó?

Đàng sau những chuỗi biến cố có vẻ như rất ngẫu nhiên, thậm chí rất hỗn loạn, luôn ẩn giấu một trật tự và một mục tiêu siêu việt.
Ta không bao giờ có thể hiểu được điều này qua suy nghĩ. Vì tư duy cũng chỉ là hình tướng, trong khi trật tự cao cấp này của vũ trụ thuộc về cõi vô tướng của Tâm.
Đi vào rừng nguyên sinh, hẳn bạn sẽ thấy xung quanh là sự hỗn loạn, không trật tự. Thậm chí bạn còn không phân biệt được đâu là sự sống và đâu là hoại mục, chết chóc. Vì khắp nơi sự sống đang vươn lên từ những thứ đang chết, đang mục nát.
Cảm nhận khác hẳn nếu bạn đi vào một công viên do con người thiết kế. Nó quen thuộc với trí óc và bạn thấy dễ chịu hơn trong rừng tự nhiên.
Đơn giản vì trong rừng nguyên sinh có một trật tự cao cấp mà trí óc của bạn không dễ dàng hiểu được. Do đó nó cho rằng đó chỉ là sự hỗn loạn.
Đáng mừng là tuy không thể dùng tư duy để hiểu, nhưng bạn có thể cảm nhận trật tự cao siêu đó khi bạn trở nên tĩnh lặng, không còn vướng bận bởi suy tư miên man nữa.
Khi trong đầu bạn không còn cố gắng để hiểu và giải thích điều gì nữa, chỉ còn sự trống rỗng cũng là lúc bạn nhận ra trật tự thiêng liêng của khu rừng.
Nhận ra điều đó, bạn sẽ thấy mình không còn tách rời khỏi khu rừng. Thiên nhiên đã giúp bạn tiếp xúc với cái toàn thể của sự sống.
Và bạn cũng chính là cái toàn thể đó!

Fb Huu Nguyen
https://www.facebook.com/huunguyenluutru/posts/610915569900995?notif_id=1633532337672088&notif_t=feedback_reaction_generic&ref=notif

1

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

KHÔNG CÓ GÌ LÀ NGẪU NHIÊN

Không có gì là ngẫu nhiên. Mọi thứ đều đúng theo cách của riêng nó. Không có gì là sai lầm. Bạn đang ở đúng nơi bạn nên ở để đi qua những trải nghiệm cần thiết cho bạn. Không có gì là sai cả.



Khi bạn bắt đầu đánh giá cao điều này, bạn sẽ nhận ra rằng vũ trụ không trừng phạt bạn, không có Chúa Trời nào trừng phạt bạn, không có thế giới nào chống lại bạn.
Những điều dường như xảy ra trong cuộc sống của bạn là bởi vì nó cần thiết cho sự khai mở tinh thần của bạn tại thời điểm này. Những gì có vẻ tồi tệ thực sự là một phước lành ngụy trang. Những gì dường như tốt đẹp có thể là một chướng ngại đối với bạn. Đây là lý do tại sao bạn không bao giờ nên phán xét bản thân mình. Bạn phải có niềm tin vào sức mạnh đó. Khi bạn có đủ niềm tin, bạn sẽ trở nên hạnh phúc, chỉ bằng cách là chính mình.
Bạn càng nhìn thấy mọi thứ sai lạc trong cuộc sống của mình, bạn sẽ càng làm nó thêm dai dẳng, và sẽ rất khó khăn để không phản ứng lại với nó. Mọi thứ trở nên rất khó khăn cho bạn để không phản ứng lại. Và càng khó khăn để bạn thực hành truy xét Chân ngã, vì bạn đang để thế giới cho bạn thấy mọi thứ nên như thế nào, vì bạn đang phản ứng lại với thế giới. Đây là một sai lầm lớn.
Bí mật là hãy cho phép thế giới thể hiện cho bạn thấy điều gì nó sẽ thể hiện và bạn không phản ứng với bất cứ điều gì. Không có đồng tình hay phản đối. Chỉ bằng cách làm điều này một mình, bạn đạt đến trạng thái có thể nhìn thấy và cảm nhận cả thế giới, cả vũ trụ, nó đơn giản là một sự phóng chiếu tâm trí của chính bạn.
Hãy quên hết đi những gì bạn đọc trên báo chí, những gì bạn theo dõi trên TV. Đừng nhìn thế giới một cách quá nghiêm trọng. Và trên tất cả đừng nghiêm trọng hóa cuộc sống của bạn. Chẳng có gì muốn làm tổn thương bạn cả. Bạn không bao giờ có thể biết chính mình nếu bạn tiếp tục phản ứng với thế giới. Thực tại tuyệt đối chỉ được tiết lộ cho bạn khi bạn bắt đầu thấy rằng thế giới này là một hình ảnh. Suy nghĩ trở thành mọi vật. Nó không có thực tại riêng, nhưng thông qua quá trình suy nghĩ của bạn, bạn đã trao cho nó sự sống, và sau đó bạn bắt đầu cảm thấy áp lực với chính hình thù cuộc sống mà bạn đã tạo ra.
Đừng so sánh bản thân mình với ai cả. Bạn là duy nhất theo đúng bản chất của mình. Tất cả mọi người xuất hiện trên trái đất này đều vì duyên nghiệp, và bạn không bao giờ có thể biết rằng nghiệp chướng không tồn tại cho đến khi bạn ngừng phản ứng với nó. Tôi nói với bạn rằng không có gì tồn tại, nhân quả không tồn tại, thế giới không tồn tại, vũ trụ không tồn tại, có ích gì nếu bạn tiếp tục phản ứng với những điều kiện. Có thể nói, bạn không bao giờ biết được bạn còn bao nhiêu thời gian trong cơ thể này. Bạn có thể rời cơ thể vào ngày mai, tuần sau, năm sau. Và nếu bạn không nhận ra sự thật về chính mình, bạn sẽ tiếp tục trở lại Trái Đất, bạn sẽ quay lại hết lần này đến lần khác. Bạn sẽ bị mắc kẹt trên bánh xe luân hồi, cho đến khi bạn từ bỏ phản ứng của mình.
Hãy nghĩ xem hôm nay bạn thất vọng bao nhiêu lần vì một điều gì đó, hoặc chán nản, hay tức giận, hay buồn phiền, và bạn tin rằng mình có quyền được như vậy. Tại cái này hay tại cái kia, hay vì ai đó, vì cái gì đó. Tuy nhiên, đó là vì bạn lại quên rằng tất cả mọi thứ đều là bạn của bạn. Vương quốc khoáng sản, vương quốc rau củ, vương quốc động vật, vương quốc con người, tất cả đều là bạn của bạn. Đặc biệt là kẻ thù của bạn, vì đó là động lực để bạn nhìn thấy chính mình trong mọi hành động. Cái gọi là kẻ thù của bạn thực sự là bạn tốt nhất của bạn. Người không hợp với bạn đang giúp đỡ bạn, vì anh ấy hay cô ấy đang dạy bạn cách không phản ứng lại.
Có rất nhiều bài học để học, nhưng dành cho ai? Cho bạn? Bạn là ai? Chỉ cần bạn tin rằng bạn là một con người và bạn là một phần của Trái Đất, thì bạn sẽ có rất nhiều bài học để học. Nhưng ngay khi bạn từ bỏ ý tưởng về con người của mình và bắt đầu truy xét sự thật, rằng bạn không bao giờ được sinh ra và bạn không bao giờ chết đi, cho đến lúc đó bạn sẽ tiếp tục phải chịu khổ. Bạn dường như sẽ trải qua những tình huống, trải qua sự tái sinh, trải qua những trải nghiệm khác nhau.
Nhưng tôi nói với bạn rằng bạn không cần phải làm điều này. Bạn chỉ cần nhận ra rằng cái tôi cá nhân của bạn là thủ phạm. Nó không phải là bạn. Nó là ý tưởng của bạn về “tôi”. Chính ý tưởng về cái tôi (the I-thought) đã gây ra mọi vấn đề trong cuộc sống của bạn. Chính suy nghĩ của bạn sẽ khiến bạn đau khổ, bất hạnh, hiểu lầm và bất cứ điều gì. Bạn chỉ cần tiêu diệt và xóa sổ nó, ý tưởng về cái tôi.
Đây là lý do bạn quay trở lại hành tinh này, để nó xuất hiện, để tìm ra cái tôi và tiêu diệt nó. Đây là điều mà bạn nên tập trung mọi lúc. Đây là mục đích của bạn. Ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Tác giả: Robert Adams
Biên dịch: Bùi Văn Quyết

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019

TUỆ SỸ VIẾT VỀ NGUYỄN ĐỨC SƠN



1. Sinh ra để làm thơ, đó là Định mệnh? Hay lịch sử? Hay cái gì nữa? Có bao nhiêu câu hỏi tương tợ như vậy, nghĩa và vô nghĩa, để chắp cánh cho ta đi tìm một bóng dáng huyền thoại của một nhà thơ chỉ một mà thôi?
Không; không có câu hỏi nào cả. Neti, neti, Tatt vam asi.
Không có gì cả.
Chỉ có tiếng hú, và huyền thoại của tiếng hú, trong cơn lốc quằn quại của con vượn biết mình đang tan vào lượn sóng, chồm lên hung hãn đòi hỏi phẩm chất làm người. Sóng gào thét với gió ngàn bạt đỉnh, nhận chìm tiếng hú xuống dòng xoáy của hư vô. Từ đó, loài người xuất hiện, lầm lũi bước đi trong bóng đêm u tịch, nghe sau mình tiếng vọng đuổi theo; tiếng vọng của những quá khứ đã chết, những tháng ngày bay vèo theo xác lá khô. Đâu đó, nghe ngân dài: Ôi tình Yêu! Ôi Vĩnh Cửu? Tiếng ngân ấy, rung lên giai điệu nhẹ nhàng, thướt tha, và cũng tha thiết. Tiếng thơ của ai? Hay của con người, chỉ một con người, đứng ôm mặt trời nóng bỏng trên đỉnh Trường Sơn. Thế rồi, thiên địa bất nhân, coi vạn vật như chó rơm, cho sinh thêm một con người nữa, để có thể hỏi: Thơ là gì, là tình yêu hay tội lỗi?
Thêm một người nữa, để cho ta biết yêu, biết hận, và biết làm thơ. Ta biết làm thơ, vì ta đã phụ bạc, đã ruồng rẫy; chôn tình người xuống hố sâu tội lỗi; dựng lời thơ thành cung điện huy hoàng. Đêm đêm rừng sao mênh mông tuôn xuống lớp lớp cơn mưa châu ngọc. Giữa cơn mê sảng của giàu sang, ảo ảnh hiện hình làm quỷ sứ, gọi nhà thơ dậy, hỏi dồn và thách thức: đâu tình yêu? đâu vĩnh cửu? Nhà thơ nhìn lại trong lòng tay; chỉ còn một hạt cát Trong cơn mê sảng, nó thét lên : Hột Thì le Vì người đã sống, và đã đi suốt chiều dài tiến hóa; nên Thơ đã chết. Chỉ còn giai điệu lăn lóc của sỏi và cát: Hột Thì le. Vô nghĩa, và vô ngôn. Chỉ có sự sống trần truồng, vật vã trong nắng bức và gió rát của sa mạc. Của đam mê và hủy diệt. Của tình yêu và phản bội. Của vĩnh cửu và hư vô. Hai mươi lăm năm rồi, từ khi tôi biết yêu; từ khi nhìn thấy ngọn cỏ gầy gục đầu dưới lớp bụi nặng trĩu ven đường, mà bỗng thấy rạo rực với những ảo ảnh chập chờn, nghe đâu đó có tiếng thì thầm: Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao. Khi chợt tỉnh, chung quanh khói lửa ngập trời. Rồi mặt trời đỏ rực màu máu. Rồi Thái Bình Dương dậy sóng. Đi đâu hết rồi, những người tôi yêu và những người yêu tôi? Trong bóng tối của tử tù, từng khoảnh khắc tôi nghe đồng vọng tình yêu trên cao. Tình yêu đến gần, đang tô điểm phấn son, chờ phút giây hội ngộ trong yến tiệc linh đình của pháp trường cát. Tình u phía trước, ngân vang giai điệu Prélude chậm buồn trong tay những xạ thủ: Mai sau tắt lửa mặt trời Tình yêu để lại phía sau, dãy hành lang hun hút, dồn đập tiết tấu Rhapsodie: Chuyện linh hồn với luân hồi có không Rồi lật sang chương ba của bản hòa tấu, Marchefunnebre: Thái hư chừng sắp chuyển vòng Đại dương tràn kéo núi đồng tan đi Chúng ta giờ ước mong gì Văn minh gởi cát bụi về mai kia...
......
2. Sa mạc lớn dần... Thượng đế đã chết... Bởi vì con người đã chết. Một thế hệ được sinh ra, được nuôi lớn, để làm chứng cho sự sụp đổ, hoang tàn. Thần linh bỗng nhiên biến mất. Và hình ảnh mầu nhiệm, kết tinh từ Thánh thể, cũng biến mất. Sự sụp đổ của một nền văn minh, và hoàng hôn của những thần tượng. Tôi đi tìm đâu đó hoài niệm về một quá khứ mà mình chưa từng có mặt. Bóng ma của cái quá khứ vô tri, xa lạ ấy, đã một thời ám ảnh. Sa mạc lớn dần... Thượng đế đã chết...
Từ lâu, tôi không còn nghe những âm hưởng một thời xao xuyến ấy. Không chỉ là xao xuyến, mà là sóng gió, là giông bão. Đó là những âm hưởng rung động, chấn động đầu đời. Tôi chẳng hiểu tại sao thế. Quả thật, còn nhiều điều tôi vẫn chưa hiểu. Tôi muốn nói những ẩn ngữ của thơ. Cũng như tôi không hiểu tất cả sự huyền bí, mầu nhiệm, sự hiện hữu của một quả nho. Nhưng tôi đã từng nếm vị ngọt của nó. Nói cho thật nghịch lý, tôi chưa bao giờ biết, chưa bao giờ hiểu tôi là ai. Nhưng tôi vẫn là tôi. Một nghịch lý không thể tránh; một nghịch lý ám ảnh không cùng, là tôi vẫn luôn tự hỏi, mỗi khi đối diện với anh: Sơn là ai nhỉ? Con người này là ai?
Anh là ai?
......
Là một nhà thơ hiện sinh, nổi loạn "quậy phá"? Dưới ngòi bút phê bình, anh không thể khác đi được: hiện sinh, nổi loạn, quậy phá, du côn. Tôi cũng không nghĩ khác hơn những ảnh tượng, và những ấn tượng, mà ngòi bút có thể vẽ, có thể miêu tả. Một gã du côn, một tên phạm thánh. Và còn nhiều từ khác nữa. Nhưng làm sao có thể biết được, và cũng khó mà làm quen được, một người không đến với ta từ con đường trước mặt, hay bằng tiếng gọi từ sau lưng, mà là một một cái gì đó, ở đâu đó, bỗng nhiên rơi xuống đó: Tôi đang rơi xuống kêu cái bịch Trên rong rêu tịch mịch Từ muôn đời nay Cái đó không phải là một hiện sinh; không phải là một hữu thể hay thực thể, bị ném vào đời một cách phi lý, vô nghĩa. Nó đến như là tình cờ, ngẫu nhiên. Nhưng có phải vì vậy mà nó phi lý, nó làm cho buồn nôn? Tuy thế, cái ngòi bút phê bình quả là cái gậy thần. Gõ vào những trang sách dày cộm của Satre, những từ ngữ triết học bí hiểm nhưng lại mang nhiều ưu tư khắc khoải của Heidegger, từ những cơn thịnh nộ bốc đồng của Nietzsche; gõ vào đó và làm cho xuất hiện một hiện sinh, một con người hiện sinh biết làm thơ. Rồi người ta cảm thấy buồn nôn vì cái hiện sinh phi lý ấy, hay vì cái ngòi bút đầy quyền uy siêu nhiên ấy ? Dù sao, thì một thời, người ta nói, Sơn vẫn là nhà thơ hiện sinh. Người ta nói như thế. Cũng như người ta nói "Chú Sỹ hiện sinh". Bởi vì chú thích leo cửa sổ vào buồng ngủ của Thầy hơn là đi vào bằng ngõ chính. Có điều, chú không... rơi xuống kêu cái bịch Trên rong rêu tịch mịch. Anh là ai?
......
Lần đầu tiên tôi gặp anh. Đó là sao trên rừng. Tôi không cảm thấy ba chữ này phải viết hoa. Trông có vẻ một thư sinh. Cũng hiền lành như những thư sinh khác. Hiền lành, nhưng cũng rất quậy. Một thứ quậy phá của học trò. Anh nói thơ, theo kiểu nói "sùi bọt mép". Anh cãi lý Phật pháp với sư huynh tôi, học chung một lớp. Anh cãi rất hỗn. Nhưng không hiểu sao, cho tới bây giờ, sư huynh tôi vẫn quý anh. Hình như ông không biết đến một "Sơn quậy" ông đã không đọc đoạn giữa của bài thơ, mà chỉ nhìn thấy câu đầu và mấy câu cuối: Nhờ hồng phúc > Tôi vẫn đang ngủ trên am mây Với những bậc thầy Muôn thuở trước Đoạn giữa, là một đoạn đời, hay một cuộc đời "hiện sinh": mà nay Mà nay Mặc dù đã có gia đình bậy bạ rồi Rồi 35 năm sau, vật đổi sao dời; tôi từ trong bóng tối tử tù bước ra, anh tử trên núi lăn xuống. Gặp nhau giữa đống rác Saigon chết. Không thấy gì khác lạ. Tất nhiên là có nhiều thay đổi. Trời đất còn phải đổi thay, non sông còn phải đổi chủ, huống gì là một con người, một gã du sỹ. Cái đổi thay này thì thật là kinh khiếp. Hàng vạn tấn bom không làm cho Thái Bình Dương dậy sóng. Nhưng những bài thơ cóc ngâm, ca tụng thiên đường hạ giới, đã gây những cơn địa chấn làm sập đáy biển, đã nhuộm đỏ biển Đông, đã làm cho cây rừng gục ngã, đã làm cho mồ hôi, nước mắt tuôn ào ạt thành những cơn lũ kinh hoàng. Tôi tìm đâu một trời thơ, sau những ngày tháng đong đưa trên vực thẳm sống chết? Ta còn giỡn nữa hay thôi Khói bay mờ tỏa luân hồi vòng vo Gửi về đâu một chút tro Kèn vang lộn mửa tiếng o í e.
......
......
3. Một cuộc đời mà ta biết; một con người mà ta quen, thủy chung, vỏn vẹn chỉ có thế. Nhưng khi người ấy làm thơ, thì khi ấy, con người thơ, và cõi mộng của thơ, là ẩn ngữ huyền nhiệm. Tôi biết, và cũng có thể chỉ là biết một cách tưởng tượng, rất nhiều người, những người làm thơ, đọc thơ, và cả những người nguyền rủa thơ; có rất nhiều người nhìn anh với cái nhìn ngạc nhiên, tò mò, như đang nhìn một vật thể rất lạ, rất quái lạ. Tôi nhìn anh cũng thấy rất lạ. Nhưng không lạ hơn khi tôi nhìn chính khuôn mặt mình. Cho nên, tôi thấy mình quen biết anh nhiều hơn là quen biết chính mình. Người ta hỏi tôi, Sơn là ai? Làm sao tôi trả lời được. Tôi vẫn chưa biết mình là ai. ất quá, tôi mượn những ý tưởng có sẵn trong kho ngữ vựng triết học đông tây kim cổ, để tự giới thiệu và tự mô tả. Những ý ấy, và lời ấy, tôi biết thật sự là vô nghĩa. Dù sao, cũng vẫn cần một câu trả lời, để khẳng định hiện hữu của mình giữa cái thế giới lầm lì, hiu quạnh này. Thử hỏi: Ta là ai?
......
......
Thì ra Ta vốn là ma Vẽ ma dễ hơn vẽ người. Mỗi người tuy là mỗi cá thể độc lập, biệt lập; không ai giống ai. Nhưng tất cả loài người, bất kể da vàng da trắng, đều có chung những quy ước phổ quát. Không tuân thủ những quy ước, không làm sao vẽ được một hình người mà mọi người đều nhận ra đó là người. Dù vẽ theo ấn tượng, hay siêu thức, hay lập thể; vẫn có những quy ước phổ quát. Ngoài đó ra, là vẽ hình ma quái. Ấy thế, cái người mà mọi người cho là quái dị, kỳ cục; nhưng ai cũng cảm thấy mình có thể vẽ được con người ấy; vì nó là ma. Người ta nó i nó là ma . Cái bóng ma ấy chập chờn trên sa mạc. Quả vậy, tôi đang đi trên sa mạc.
......
......
Đang quờ quạng trong bóng đêm rét buốt của sa mạc. Mới ban ngày đây thôi, mặt trời nóng cháy. Vì loài người đang thù ghét nhau. Thù nhau từ những phương trời mộng tưởng; đến đây để thanh toán nhau những món nợ oan cừu lịch sử gì đó. Bạn bè tôi, lớp lớp ra đi; theo nhịp bước lịch sử oai hùng. Nhưng thảy đều đi mất biệt. Không có trời đông, hay trời tây, để cho sao mọc hay sao lặn. Thế thì, sao trên rừng là cái quái gì ? Cho nên, đại bác và hỏa châu rượt đuổi anh hàng ngày. Anh trốn trong hủ gạo. Trốn xuống gầm xe. Trốn vào nhà chùa. Anh chạy trốn, tất nhiên vì anh muốn sống. Ai lại chẳng muốn sống? Sống như bóng ma của thời đại trong cái huyễn mộng phù sinh; trong cái chập chờn ma quái; đôi khi lồ lộ một con người chân thật; một hình ảnh con người chưa từng sống, mà cũng như chưa từng chết. Xuyên bức màn trăng, mênh mông vô hình, ta nghe một con người đang than thở :Ô hồn ta Sao quá mỏng. Ngoài vườn trăng. Trong sa mạc đêm lạnh lẽo này, trong cái bóng tối uy hiếp của bốn vách đá của bức màn sắt rờn rợn này, trong đây không dễ gì tìm ra một ma nào đang thở. Nhưng ngoài kia, ngoài vườn trăng kia, một hồn người sung mãn. Hồn người chứ không thể là hồn ma được. Đó là hồn người, cho nên nó biết khóc khi nhìn trong lòng tay, những giọt trăng đang đông lại thành những giọt máu. Máu của những oan hồn đang đòi quyền sống. Có muộn quá đi chăng?> Trong những đêm trăng Có một nỗi gì thấy quá muộn màng Làm ta muôn đời muốn khóc Sớm hay muộn, nơi đó vẫn có một nắm đất nhân từ, có bóng tối thân thương: Hỡi U Minh Giáo Chủ Trăm năm mần chi đủ Con hát hoài không thôi Lướt trên mồ cỏ phủ Đọc những câu thơ như thế, tôi muốn chui xuống mộ mà nằm, để còn được nghe tiếng hát.
......
......
4. Ôi trăng ngàn. Vừa tan Còn lại đó, một khoảng không tịch mặc của trời thơ. Và những lời không nói. Ngàn sau Phơ phất gò bông lau.

TUỆ SỸ

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2019

Tuệ Sỹ: Tâm Ý Thức



Tuệ Sỹ

Trước hết chúng ta phải hiểu Tâm là gì? Trong tiếng Hán, Tâm là trái tim. Từ cái nghĩa tâm là trái tim, rồi sau mới suy diễn ra tâm là tấm lòng, cho rằng tâm là tấm lòng suy nghĩ. Một bài thơ chữ Hán nói về tâm theo nghĩa này như sau:

三點如星像
橫鉤似月斜
披毛從此得
做佛也由他

“Tam điểm như tinh tượng,
Hoành câu tợ nguyệt tà.
Phi mao tùng thử đắc,
Tố Phật dã do tha”

Bài thơ này ví von cũng rất hay. Chữ Tâm 心 trong chữ Hán được mô tả có ba chấm như ba ngôi sao (Tam điểm như tinh tượng), còn móc câu nằm ngang như ánh trăng nghiêng (Hoành câu tợ nguyệt tà). Phi mao tùng thử đắc, tố Phật dã do tha: Mang lông đội sừng tức làm thân trâu, ngựa… là do tâm này, mà Phật cũng từ nó.

Định nghĩa tâm xét theo nghĩa tiếng Phạn thì có khác. Theo tiếng Phạn, tâm (citta) có nghĩa là tích tập. Định nghĩa này được thấy trong kinh Hoa Nghiêm, bản dịch chữ Hán của Bát-nhã (quyển 6): tích tập danh tâm 積集名心. Nó do gốc động từ là CI (cinoti): tích chứa, tích lũy, tăng trưởng và cũng có nghĩa là quán sát, tri nhận, cảm nhận. Đây là định nghĩa đặc biệt trong thuật ngữ Phật giáo, đặc biệt là Đại thừa. Nghĩa thông thường của nó, được nói là do gốc động từ cit hay cint (cintayati): tư duy, suy tưởng. Tâm là cái tư duy.

Nói tâm là cái tích tập: tích tập gì?

Một cách tổng quát, đó là kinh nghiệm hay nhận thức được tích lũy. Vậy tâm là kinh nghiệm đời sống; tất cả những gì đã từng trải, bằng hành động và nhận thức, tích lũy lại thành tâm. Nếu diễn tả ra trong cuộc đời con người, từ khi bắt đầu biết suy nghĩ, biết hành động và có ghi nhớ, cho đến khi chết; tất cả những ghi nhớ trong óc não còn lại đó gọi là tâm. Chính những ghi nhớ đó tác thành một con ngườihoặc thiện hoặc ác tùy theo kinh nghiệm môi trường, hoàn cảnh. Vì thế, ta nói tâm hướng dẫn đời sốngcon người.

Như vậy, tâm đó chính là nghiệp, là hành vi của con người, vì những năng lực tạo ra hành vi của con người không bao giờ mất. Chúng ta không nói tới luật bảo tồn năng lượng, nhưng phải biết rằng không có cái gì mất đi trong hành động của chúng ta.

Kinh nói: bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm. Thế giới này không sanh cũng không diệt, không có cái gì xuất hiện hoàn toàn mới mẻ cũng không có cái gì biến mất đi hoàn toàn. Chúng sanh luân hồi vô thủy, chỉ là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, như gạo biến thành cơm, cơm biến thànhnhững dưỡng chất trong dạ dày, tiêu hóa, rồi thải ra, thành da, máu thịt,… khi chết, da máu thịt này biến thành phân tro, phân tro này đem bón trở thành cây trái, rau cỏ…, trở lại làm thực phẩm cho người và vật, theo một quá trình sanh diệt, sống chết nữa nữa. Như vậy, chúng ta thấy rằng, thân này chết nhưng nó không mất mà trở thành những cái khác, biến thành phân tro, đất…, những cái này cũng không mất mà trở thành máu thịt của con người, tức là không có cái gì sanh và cũng không có cái gì hủy diệt mà chỉ có sự biến thái.

Tâm cũng vậy, nó tích lũy. Những gì được làm, được nói năng, suy nghĩ, hoặc thiện, hoặc bất thiện, thảy đều không mất; mà tự chúng là sự biến thái của tâm từ một trạng thái này sang trạng khác. Nghiệp là nguồn năng lượng được tích chứa trong kho chứa gọi là tâm, phát hiện ra ngoài thành hành vi của thân, khẩu; hướng thân, khẩu đến mục tiêu, theo hướng được định bởi lực đẩy ban đầu từ tâm. Kho chứa ấy không phải nằm im lìm bất động, vì nguồn năng lượng trong nó, mà Duy thức gọi là chủng tử(hạt giống, tức hạt năng lượng; cũng gọi là tập khí hay công năng sai biệt, tức một loại công năng hay năng lượng có thế lực đặc biệt tác thành những hiện tượng sai biệt mà ta biết đó là thân, tâm, thế giới), những hạt giống năng lượng này tồn tại trong trạng thái sanh và diệt trong từng sát- na, tạo thành hìnhảnh như một dòng thác chảy liên tục. Kinh nói: Nhất thiết chủng tử như bộc lưu.

Những hành vi của thân và khẩu chỉ là những vận động tự nhiên của thân và khẩu, do tác động hỗ tương giữa trong và ngoài, không mang giá trị đạo đức, không xác định thiện hay ác gì. Nhưng khi có nguồn lực từ tâm điều khiển nó theo hướng thiện hay bất thiện, bấy giờ hành vi của thân hay khẩu bị nhuốm màu hoặc thiện, hoặc bất thiện, ta gọi là nghiệp thiện và nghiệp bất thiện. Hành vi ấy huân tậptrở lại tâm, nghĩa là tác động trở lại tâm và biến đổi nó. Đó là sự tích lũy nghiệp. Theo ý nghĩa này mà ta hiểu câu kinh sau đây: “Tam giới duy tâm”, ba cõi duy chỉ là một tâm. Ý nghĩa ấy cũng phù hợp với điều mà Phật nói trong các kinh điển Nguyên thủy: “Chúng sanh là kẻ thừa tự của nghiệp” tức hành vi của chính nó. Nói cách khác, thế giới được thành hình tốt hay xấu, thảy đều là sự biến thái của những gì, của tất cả hành vi, được tích lũy bởi tâm, chứa đựng trong tâm.

Chúng ta nhớ rằng, khi được phân tích, tâm có ba tầng. Tầng trong cùng, ta hãy gọi là tầng đáy; thứ đến, tầng hoạt động luôn luôn là chấp ngã và một tầng khác hoạt động bên ngoài, là các hoạt động của ý thức cùng với các giác quan. Chúng ta không nhận thức được tâm như là thấy sắc, nghe tiếng, nắm bắt ảnh tượng ý niệm, tư duy; chỉ biết rằng nó tồn tại qua những hoạt động của nó gọi là tâm sở.

Điều đó có nghĩa, tuy rằng gọi tâm là cái tích tập, nó cụ thể, nó tồn tại đó nhưng không thể nhận thứcđược nó mà phải từ những hoạt động của nó thì mới biết nó là cái gì.

Ba tầng tâm thức có khi được gọi chung thành một là tâm-ý-thức. Như trong kinh Trung A-hàm (kinh số 17), Phật nói: “Người mà tâm-ý-thức luôn luôn được huân tập bởi tín, tinh tấn, đa văn, bố thí, trí tuệ; người ấy do nhân duyên này tự nhiên thác sinh lên cõi trên, sinh vào thiện xứ…”; hoặc Tạp A-hàm (kinh số 289): “Tâm-ý-thức, trong một ngày đêm, từng thời khắc, thoáng chốc sinh, thoáng chốc diệt, biến đổi không ngừng…”; hoặc như kinh Hoa Nghiêm (Phật-đà-bạt-đà-la, quyển 23): “Các dòng nước dục, hữu, kiến, vô minh, tiếp nối chảy liên tục, làm nảy sinh hạt giống của tâm-ý-thức trên mảnh đất ba cõi…” Luận Câu-xá (quyển 4) nói: “Nó tập khởi nên được gọi là tâm. Nó tư duy trù lượng nên được gọi là ý. Nó phân biệt nhận thức nên được gọi là thức… Tâm, ý và thức, ba tên gọi cùng chỉ một nội hàm. Nghĩa tuy khác nhau nhưng thể là một.”

Trong đó, về tầng đáy, Thượng tọa bộ Nam phương gọi là thức Hữu phần hay Hữu chi (bhavaṅga); các nhà Du-già hành hay Duy thức luận, gọi nó là thức A-lại-da (ālaya) hay thức thứ tám. Không thể nhận thức được tự thể của nó đã đành, cho đến các hình thái hoạt động của nó cũng không thể dễ dàng nhận biết. Duy chỉ có thể biết rằng nó tồn tại là do quan sát sự tồn tại của thiên nhiên, của vũ trụ, của thân và tâm. Khi nhìn cây, lá cây, mọi người đều biết rằng lá cây đó là do nhiều phân tử hợp thành, nhưng cái gì kết các phân tử đó lại với nhau được? Phải có một lực nào đó kết dính lại. Vậy, lá cây đó tồn tại và lay động như một toàn thể do bởi một năng lực nào đó. Lực đó, trong Phật giáo nói chung, được hiểu là tâm, tức kho chứa tích lũy nhiều đời nhiều kiếp của vô số hạt giống năng lực của nghiệp, để rồi đến khichín muồi, nghĩa là sau một quá trình đã được xử lý, các hạt giống năng lực hay năng lượng ấy biến chuyển, và biến thái thành thân, tâm và thế giới; chúng được duy trì do lực tương tác, tức hỗ tương tác dụng theo quy luật duyên khởi.

Chính qua hoạt động của lá cây và sự tồn tại của lá cây mà chúng ta biết rằng có một cái tâm. Đây là cái nghĩa mà chúng ta đã nói nhiều lần; chính cái nghĩa đó gọi là duy tâm, là do tâm. Tâm như vậy gọi là tâm biến, nhưng nghĩa này chưa tận cùng.

Thân thể chúng ta, trong điều kiện nào đó thì những cái như ngón tay, sợi tóc… gắn kết lại với nhau, nhưng tới một lúc nào đó thì nó rã ra, cho dù có lấy keo dán nó cũng không dính lại, như khi chết chẳng hạn. Vậy khi nào rã ra và sau khi rã ra thì nó trở thành đất, thành bụi… vẫn còn đó nhưng qua trạng tháikhác.

Tóm lại, có mấy vấn đề, chúng ta đi từ từ: tâm là sự tích tập, tích lũy kinh nghiệm. Mà kinh nghiệm là hoạt động của nghiệp, nghiệp tạo ra thế gian, nhưng cái tâm thì chúng ta không thể hiểu được, không thể biết được, vì không thấy được mà phải nhìn qua những hiệu quả của nó, tức là những công dụng, tác dụng mà nó gây ra trên mọi thứ tồn tại trong đời. Tác dụng của nó là duy trì sự tồn tại, duy trì mối quan hệ của các sự vật, tồn tại của các pháp.

Muốn biết rõ tâm và tại sao gọi nó là tâm thì phải qua một tầng nữa, tức là tại sao gọi là nó kho chứa của nghiệp?

Nên biết, đó là tầng thứ hai, gọi tên là ý. Tâm, có nghĩa là là tích tập; còn ý thì có nghĩa là gì? Nói vắn tắt, ý là cái hoạt động tư lương. Tư lương là gì? Những cái mà ta gọi là tư duy, tư tưởng… những hoạt động của tâm lý, nói chung là suy lường, đắn đo ước lượng, phán đoán, v.v., gọi là tư lương; đây là nói theo nghĩa rộng nên hơi mơ hồ, không xác định. Thu gọn lại, tư lương là hoạt động của một cái tôi.

Chúng ta biết mình đang tồn tại, đang hiện hữu, vì biết rằng có một cái tôi: Tôi đi, tôi đứng, tôi ngồi… Từ cái tâm tích lũy này, rõ ràng có thêm một tầng nữa, khiến nó lộ lên mặt biểu hiện một chút, đó là cái (chủ thể) chấp ngã. Trong nhiều tín ngưỡng tôn giáo, cái ngã hay tự ngã này được hiểu là linh hồn nằm trong thân, hoặc nó lớn bằng thân, hoặc nhỏ như hạt cát. Lớn bằng cái thân cho nên nếu vừa bứt một sợi tóc, vừa chích kim dưới bàn chân thì cả hai nơi đều cảm giác đau cùng một lúc. Có cảm giác đó, là do có linh hồn. Khi hồn lìa khỏi xác, xác chết nằm trơ không hay biết gì. Hoặc là linh hồn giống như hạt cát, như một nguyên tử trong thân có vận tốc thật nhanh. Cả hai nơi lại cùng đau một lúc, đó là do linh hồnvận chuyển rất nhanh. Trong Phật giáo không có linh hồn như vậy được thừa nhận.

Bây giờ sang tầng thứ ba để sẽ hiểu rõ hơn về hoạt động của thức. Nhưng tầng thứ ba này nếu khôngcó hai tầng đầu thì cũng không thể hiểu nó được, vì tất cả đều phải quan hệ với nhau. Như do quan hệ với toàn thể xe mà cái khoanh tròn kia được gọi là bánh xe.

Gọi nó là thức, vì nó nhận biết đối tượng. Điều này ta có thể kinh nghiệm và chứng minh được bằng hoạt động của sáu thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đây là tầng ngoài cùng của cơ cấu tâm thức, gọi là thức thường nghiệm tức là những hoạt động nhận thức mà ta có thể kinh nghiệm được bằng giác quan thường nhật. Tầng này được gọi chung là thức. Tầng thứ hai trung gian, như đã biết, gọi là ý, hay là thức thứ bảy. Nó cũng được gọi là thức, vì nhận thức về sự tồn tại của một tự ngã, một cái tôi. Tầng trong cùng, gọi là thức thứ tám, mà nhận thức của nó là duy trì mối quan hệ tồn tại của thân, tâm và thế giới. Hai tầng sau này thuộc về thức siêu nghiệm, tức không thể nhận biết được bằng kinh nghiệm giác quan thường nhật. Chính yếu thường chỉ là dựa trên chính hoạt động của sáu thức tầng ngoài để khám phá ra hai tầng kia.

Đứng trước một cái gì đó mà biết rằng, cái trước mắt mình là một cái cây hay một đóa hoa, nghĩa là đóa hoa xuất hiện trong con mắt rồi cái biết khởi lên, cái biết qua con mắt thì cái biết này gọi là nhãn thức, còn nghe những âm thanh trầm bỗng đô, rê, mi, fa… mà biết âm thanh này cao thấp, hay dỡ thì cái biết qua lỗ tai này gọi là nhĩ thức. Còn cái biết trong cùng như đọc sách mà biết rằng đây là Nguyễn Huệ đánh Nam dẹp Bắc, đây là vua Lê Chiêu Thống chạy trốn sang Tàu, thì đó cũng là cái biết. Cái biết này dựa trên ấn tượng quá khứ; ấn tượng này do từ sách vở gợi lên hay do kinh nghiệm mà mình đã từng trải. Cái biết này không do mắt thấy tai nghe mà là do sự ráp nối của thức bên trong, gọi là ý thức. Tức là qua cái biết của con mắt, của lỗ tai, để lại; tất cả những cái biết này ghi dấu trong tâm, được tích lũylại, rồi dựa trên đó mà ráp lại, thì cái biết đó gọi là cái biết của ý.

Thành ra, cái biết của ý thức phải dựa trên nền tảng, là kinh nghiệm tích lũy; tức dựa trên cái tâm, là thức thứ tám. Nhưng nó cũng phải y trên một cơ quan ráp nối, có thể gọi là trung tâm xử lý dữ liệu, để ráp nối cái này với cái kia. Con bò ráp nối dữ liệu tích lũy theo kiểu nó; con chuột ráp nối cảnh theo cách của nó, để nó nhìn và hiểu thực tại theo cái cách khác nhau của mỗi loài; mặc dù mắt tai mũi lưỡi giống nhau nhưng sự ráp nối khác nhau.

Ta hãy lấy thí dụ về máy vi tính. Các dữ liệu được nhập thông qua bàn phím và con chuột là sáu thức. Chúng được lưu trữ như là các chủng tử được tích chứa trong kho chứa thức thứ tám (thức a-lại-da). Tại đó, chúng được đưa vào trung tâm xử lý để chờ xuất. Trung tâm xử lý dữ liệu đó là thức thứ bảy. Từ đó, cũng thông qua bàn phím và con chuột là sáu thức bên ngoài mà chúng được xuất, để cho ra trên màn hình nhiều thứ khác nhau, tức là toàn thể thế giới, thân và tâm của mọi loại chúng sanh.

Như vậy, ta hãy hỏi thêm lần nữa: thức là gì? Thức là nhận thức, là nhận biết. Ban đầu, chỉ như là sự thấy biết của con mắt: chỉ nhìn và thấy biết, nhưng không phân biệt cái được thấy ấy là gì. Ta thường gọi đó là cái biết trực giác; thuật ngữ Phật học gọi là thức hiện lượng vô phân biệt. Nhưng khi nói: “Tôi biết tôi đang nhìn/ hay đang thấy” thì lúc đó rõ ràng có một cái tôi đang chủ trì sự thấy. Song, tất cả mọi cái thấy và biết đều phải thấy, biết về một cái gì. Con mắt thấy, tất phải có cái gì để mà thấy.

Theo cách hiểu thông thường, cái thấy hay biết nào cũng là sự tích hợp của hai yếu tố: thức và cảnh, tức chủ thể nhận thức và đối tượng tương ứng của nó. Nhưng chúng ta biết rằng, thức không tự biết nó là cái gì cả, như lưỡi dao bén không thể tự cắt đứt chính nó. Chỉ khi nào tự ngã hay cái tôi xuất hiện như là chủ thể nhận thức, bấy giờ thức mới nhận biết được nó và đồng thời đối tượng của nó. Thêm bước nữa, ta cũng không biết cái tôi ấy là gì, tồn tại như thế nào. Nhưng do thấy kết quả, rồi suy luận ra có thức đang thấy, đang biết; từ những kinh nghiệm được tích lũy bởi thức, người ta suy nghĩ ra có cái linh hồn, như là chủ thể của sinh mạng và nhận thức. Thật ra đây là một quá trình, một chuỗi quan hệ.

Cho nên, chúng ta nói rằng có một cái thức để biết, và nghĩ nó là linh hồn, thì thật sự không bao giờ có cái linh hồn thường hằng bất biến như được quan niệm trong nhiều tín ngưỡng, tôn giáo. Ta biết có một cái tôi tồn tại, ấy là do quan hệ; quan hệ giữa trong và ngoài, nội giới và ngoại giới; nói gọn, thức và cảnh, chủ thể và đối tượng của nó. Nhưng nếu chỉ y nơi sự quan hệ của hai cái thôi thì cũng không đủ để hiểu được hoạt động của nhận thức và quá trình hình thành, xuất hiện cái tôi.

Cái mà ta gọi là cái biết thì thực sự ta không biết nó là cái gì cả vì nó vô hình và không bao giờ chúng takinh nghiệm được, mà chỉ biết được qua hành vi của nó. Vậy cái mà chúng ta kinh nghiệm được, nắm bắt cụ thể được như nắm viên bi trong tay, và soi vào trong gương mà thấy được, cái đó gọi là con mắt, tức là căn. Con mắt mà ta thấy được, nắm được, đó là phù trần căn, tức khối thịt và các mô, cùng thủy tinh thể, tạo thành nhãn cầu, con ngươi. Phù trần căn mà hỏng, bấy giờ nhận thức con mắt không thể khởi lên vì khuyết duyên. Phù trần căn chưa hư, sắc ngoại cảnh xuất hiện và được phản chiếu lên đó, thuật ngữ duy thức gọi là đới bỉ tướng. Nhưng phù trần căn thì không bị biến đổi theo cảnh sắc; do đó, đới bỉ tướng là ảnh tượng được ghi dấu lên một loại sắc vi tế, minh tịnh, nhạy cảm, thuật ngữ gọi là tịnh sắc. Chính loại tịnh sắc này mới có thể bị kích thích bởi ngoại cảnh. Như vậy, khi cảnh phản chiếu lên phù trần căn, ghi ấn tượng lên tịnh sắc căn, bấy giờ thức xuất hiện. Không có căn, không có cảnh, thì cũng không có thức.

Căn, cảnh và thức, ba cái hòa hiệp thành một tổ hợp ba, gọi là xúc. Giống như 2 O2 và 1 H liên kếtthành một phân tử nước H2O; Nếu thiếu một nguyên tử, thì cũng không thành phân tử nước được. Từ xúc khởi lên thọ, cảm giác thích ý hay không thích ý. Tiếp theo thọ là tưởng; các ấn tượng nhận thứcđược cấu trúc lại thành khái niệm, thành ý tưởng, làm cơ sở cho tư duy và ngôn ngữ; rồi từ đó khởi lên phán đoán, và nhận thức. Đó là quá trình nhận thức một đối tượng, được phân chia thành nhiều giai đoạn.

Ba cái: căn, cảnh, thức hợp lại, quan hệ tổng hợp với nhau, mới thành ra hiệu quả nhận thức. Khi chúng ta chia ra thì đây là thức, đây là căn, đây là cảnh; còn nếu trong tựthể tồn tại, chúng thảy đều là chủng tử như những dữ liệu được lưu trong bộ nhớ của máy vi tính. Tự bản chất, chúng là những dạng xung điện có và không, 1 và 0, nhưng do kết cấu của hệ thống vi mạch để nhận xung điện; rồi tùy theo lập trình mà chúng được đưa vào bộ vi xử lý để xử lý, cho ra kết quả với nhiều hình thái khác nhau trên màn hình: núi, sông, nhân vật; khóc, cười, yêu, ghét… đủ mọi cảnh đời.

Tất cả đều là do sự ghép nối. Thuật ngữ Phật học gọi sự ghép nối ấy là phân biệt. Đôi khi nói thêm là phân biệt vọng tưởng. Phân biệt, nghĩa là cấu trúc lại thực tại. Như ta gõ bàn phím để nạp dữ liệu, đưa vào xử lý, rồi cho ra kết quả trên màn hình. Trên đó, chỉ là hệ thống kết cấu của những cột đèn vi tính sắp thành hàng ngang và dọc, mà mật độ được tính trên từng phần vuông. Mỗi cọc có ba bóng đèn nhỏ bật sang ba màu căn bản. Tùy theo lệnh từ bàn phím, sau khi đã được xử lý, các dữ liệu được bố trí theo một cấu trúc xác định, theo đó, bóng đèn nào có xung điện để được thắp sáng. Mật độ xung điện có và không tạo thành sự chớp nháy liên tục thay nhau của các bóng đèn, với các màu được thắp sáng pha trộn, phản chiếu lẫn nhau, tạo thành vô số hình ảnh và âm thanh. Như vòng hào quang sau tượng Phật tại các chùa. Do sự chớp nháy liên tục thay nhau của các bóng đèn được bố trí thành vòng tròn, ta thấy vòng hào quang sau tượng Phật đang xoay, mà thực tế thì tất cả đều đứng im tại vị trí cố định của nó.

Như vậy, mối quan hệ kết cấu của căn, cảnh và thức hiện hành từ chủng tử riêng biệt của chúng, hòa hiệp với nhau tạo thành hình ảnh thế giới mà ta thấy, ta nghe, v.v… Thế giới xuất hiện theo sự cấu trúc của căn, cảnh thức ấy là thế giới tồn tại do bởi phân biệt. Tất cả tồn tại do phân biệt kết cấu đều có thể nói là vọng tưởng, vì nó không phản ảnh trung thực tồn tại, nó như là nó.

Chúng ta học để hiểu được bản chất của thực tại cũng giống như người kỹ sư hiểu rõ cấu tạo của vi tính, cơ bản là hiểu rõ, trong một giới hạn nào đó, quy luật vật lý, nguyên tắc nhị phân, nguyên tắc xung điện như thế nào… thì có thể xử lý công việc theo ý của mình. Đó là do trình độ hiểu biết những nguyên tắc của tồn tại, của quan hệ các hình ảnh như quan hệ của ánh sáng với những xung điện.

Tóm lại, nếu nhận thức được thực tại, thấy được thực tại, hiểu rõ được chân lý thì có thể biến đổi đượcthế gian này, làm cho nó tồn tại hay làm cho nó hủy diệt; đó chính là nói rằng Ma hay Phật cũng đều do tâm, ba cõi duy chỉ một tâm, là nói theo ý nghĩa này.