Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2019

Họ đang làm gì với Cái Lớn – Cái Bé?

Trần Văn

Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn (Bộ NN – PTNT) vừa phê duyệt “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” (1). Động tác này chẳng khác gì việc định nghĩa lại cống hiến theo hướng: Vận động trí thức hiến hết tâm lực, trí lực để giới hữu trách vứt xuống… cống!
***

Bộ NN – PTNT trình “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” cho Thủ tướng Việt Nam hồi tháng 4 năm 2017 và 12 ngày sau, dự án trị giá 3.309,5 tỉ đồng này được Thủ tướng Việt Nam phê duyệt.
Trong khi Bộ NN – PTNT Việt Nam khẳng định, dự án vừa giúp kiểm soát mặn trong khu vực có diện tích 909.000 héc ta, vừa giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ở vùng ven biển Kiên Giang. Chủ động ứng phó biển đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn và kết hợp phát triển giao thông thủy bộ trong vùng dự án... thì nhiều chuyên gia phân tích đó là ảo vọng, không chỉ làm công khố mất toi 4.000 tỉ mà còn hủy diệt môi trường, kinh tế, xã hội ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Ông Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia nghiên cứu độc lập về ĐBSCL, từng chỉ ra hàng loạt điểm bất ổn về đủ mặt: Mức độ cần thiết. Mức độ cấp bách. Tính khả thi. Tác động môi trường. Sẽ gây hối tiếc cao. Cơ sở để truy cứu trách nhiệm,… Ông Thiện phân tích, lịch vận hành – lõi của dự án – được dự trù 24 ngày/năm (mỗi lần sáu ngày, tương đương bốn lần/năm) là hết sức vô lý vì không xác định khác biệt giữa năm có lũ và năm bị hạn hán. Cũng vì vậy, ông thắc mắc, thời hạn sử dụng của công trình là cả trăm năm, khi công trình hoàn tất, ai dám khẳng định là trong 100 năm ấy mọi thứ sẽ ổn định để lịch vận hành luôn luôn như thế? Ông Thiện lên án các viên chức hữu trách liên tục đem biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao ra hù dọa công chúng để có cớ thực hiện dự án: Nước biển sẽ dâng 65 cm vào năm 2100 là giả định. Nếu giả định đó đúng, không phải 909.000 héc ta ở ĐBSCL sẽ chìm trong nước và 3,6 triệu người hết đất sống. Thời điểm ấy, chắc chắn cư dân trong khu vực này không chỉ có 3,6 triệu như Bộ NN – PTNT tính toán để khăng khăng đòi chi 4.000 tỉ đồng ngay vào lúc này (2)…
Tương tự, ông Dương Văn Ni, một chuyên gia về đa dạng sinh học, làm việc tại Đại học Cần Thơ, lưu ý, hai sản phẩm chủ lực của Bán đảo Cà Mau là lúa và tôm. Cả hai vốn có nhu cầu mâu thuẫn với nhau về nguồn nước: Tôm cần nước có độ mặn còn lúa thì không. Vấn đề của ĐBSCL là sự đa dạng về cây trồng, vật nuôi, chứ không phải giải mâu thuẫn mặn ngọt như dự án nhắm tới. Ông Ni cảnh báo: Không nhìn ra điều đó, chính quyền địa phương – được giao trách nhiệm giữ gìn công trình - sẽ xem dân chúng như những kẻ phá hoại, còn dân chúng sẽ nhìn chính quyền địa phương đối tượng cản trở họ kiếm sống. Giống như ông Thiện, ông Ni, sau khi phân tích cặn kẽ cả bốn mục tiêu của “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1”, ông Lê Anh Tuấn, Viện phó Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu của Đại học Cần Thơ, kết luận: Cả bốn mục tiêu đều thiếu khả thi, không thuyết phục và không nên thực hiện vào thời điểm này (3). Ông Nguyễn Ngọc Trân, người từng là Chủ nhiệm một chương trình nghiên cứu cấp quốc gia về ĐBSCL trong bảy năm từ 1983 đến 1990, tán thành và nhắc nhở: “Phải cân nhắc để đầu tư không hối tiếc”!Trong khi Bộ NN – PTNT Việt Nam khẳng định, dự án vừa giúp kiểm soát mặn trong khu vực có diện tích 909.000 héc ta, vừa giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ở vùng ven biển Kiên Giang. Chủ động ứng phó biển đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn và kết hợp phát triển giao thông thủy bộ trong vùng dự án... thì nhiều chuyên gia phân tích đó là ảo vọng, không chỉ làm công khố mất toi 4.000 tỉ mà còn hủy diệt môi trường, kinh tế, xã hội ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Ông Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia nghiên cứu độc lập về ĐBSCL, từng chỉ ra hàng loạt điểm bất ổn về đủ mặt: Mức độ cần thiết. Mức độ cấp bách. Tính khả thi. Tác động môi trường. Sẽ gây hối tiếc cao. Cơ sở để truy cứu trách nhiệm,… Ông Thiện phân tích, lịch vận hành – lõi của dự án – được dự trù 24 ngày/năm (mỗi lần sáu ngày, tương đương bốn lần/năm) là hết sức vô lý vì không xác định khác biệt giữa năm có lũ và năm bị hạn hán. Cũng vì vậy, ông thắc mắc, thời hạn sử dụng của công trình là cả trăm năm, khi công trình hoàn tất, ai dám khẳng định là trong 100 năm ấy mọi thứ sẽ ổn định để lịch vận hành luôn luôn như thế? Ông Thiện lên án các viên chức hữu trách liên tục đem biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao ra hù dọa công chúng để có cớ thực hiện dự án: Nước biển sẽ dâng 65 cm vào năm 2100 là giả định. Nếu giả định đó đúng, không phải 909.000 héc ta ở ĐBSCL sẽ chìm trong nước và 3,6 triệu người hết đất sống. Thời điểm ấy, chắc chắn cư dân trong khu vực này không chỉ có 3,6 triệu như Bộ NN – PTNT tính toán để khăng khăng đòi chi 4.000 tỉ đồng ngay vào lúc này (2)…
***
“Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” đã buộc một nhóm sáu nhà khoa học (Lê Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Thiện, Dương Văn Ni, Nguyễn Hồng Tín, Đặng Kiều Nhân) vốn gắn bó với ĐBSCL tiến hành khảo sát, đánh giá hiệu quả các hệ thống ngăn mặn từng được thực hiện trước đó (Ngọt hóa bán đảo Cà Mau, Cống đập Ba Lai, Thoát lũ ra biển Tây, Âu thuyền Tắc Thủ...) (4).
Theo kết quả cuộc khảo sát đó, những hệ thống ngăn mặn mà hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam từng thực hiện trong quá khứ tại ĐBSCL, không chỉ vứt bỏ những khoản tiền khổng lồ, phần lớn là vay, đến nay dân chúng vẫn còn đang gồng mình đóng đủ loại thuế, phí để hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam trả cả vốn lẫn lãi, mà còn phá nát đồng bằng trù phú nhất Việt Nam này.
Bởi đắm đuối với ngăn mặn, ngọt hóa, những hệ thống ngăn mặn đẩy nông dân đến chỗ bần cùng và phong trào phá cống – đập ngăn mặn nhằm nuôi tôm kiếm sống đã lan khắp bán đảo Cà Mau trong nửa cuối thập niên 1990. Bởi những cống – đập ngăn mặn làm nước tù đọng, sông, rạch bị ô nhiễm nặng nề, không còn nguồn nước trong lành dùng cho ăn uống, tắm giặt, dân chúng ĐBSCL phải khai thác nước ngầm và đó là lý do khiến bề mặt ĐBSCL sụt lún rất nhanh – gấp nhiều lần mức nước biển dâng. Những cống – đập ngăn mặn còn là thủ phạm khiến các loại thủy sản vốn hết sức phong phú biến mất vì hệ sinh thái sông ngòi bị chuyển thành hệ sinh thái hồ. Nguồn thủy sản của sông, rạch bên trong các cống - đập ngăn mặn ít hơn bên ngoài ít nhất ba lần.
Về lý thuyết, việc đổ tiền vào đủ loại công trình ngăn mặn nhằm mở rộng diện tích trồng lúa, gia tăng số vụ lúa/năm, nâng kim ngạch xuất khẩu gạo nhưng trong thực tế, chúng làm chất lượng đất nhanh chóng suy kiệt. Chẳng riêng lúa, tất cả các loại cây trồng khác đều chậm phát triển, dễ chết, chi phí dành cho sản xuất nông nghiệp tăng vọt. Do các loại cây trồng càng ngày càng phụ thuộc vào những tác nhân hóa học (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), môi trường sống bị đầu độc trên diện rộng. Tất cả những tác động đó hòa quyện vào nhau và hậu quả là nông dân ĐBSCL phải đốn bỏ hàng ngàn héc ta vườn cây ăn trái để trồng mía. Mía cũng thất bại nên họ buông bỏ mía, chuyển sang trồng tràm, song ngay cả tràm cũng chậm phát triển hơn nhiều nơi khác.
Đủ loại công trình ngăn mặn còn khiến các mảng cây rừng ven biển bị suy kiệt mà chết dần, sạt lở ven biển gia tăng, giờ trở thành phổ biến khắp .ĐBSCL. Giao thông đường thủy – đặc trưng và cũng là ưu thế riêng của ĐBSCL – cũng tàn lụi vì bất tiện, chi phí cao… ĐBSCL không còn là nơi đáng sống, cư dân sống bên trong các công trình ngăn mặn lũ lượt bỏ xứ tha phương cầu thực và nay, vấn nạn xã hội này dù nhãn tiền nhưng nan giải.
***
Kết quả khảo sát, đánh giá hiệu quả các hệ thống ngăn mặn từng được thực hiện trước đây ở ĐBSCL, rồi những phân tích sâu, cảnh báo cả về tính khả thi lẫn tác hại đủ mặt của “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” vẫn không làm giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam bận tâm. Bộ NN – PTNT vẫn phê duyệt để triển khai dự án này.
Ngoài 9,5 tỉ sẽ được rút ra từ công khố, chính phủ Việt Nam sẽ phát hành lượng trái phiếu trị giá 3.000 tỉ để thực hiện “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1”. Ai sẽ trả cả vốn lãi cho dự án này? Toàn dân, bất kể nam, phụ, lão, ấu, kể cả những đứa trẻ chưa sinh ra đời!
Giống như những hệ thống ngăn mặn mà hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam từng thực hiện trong quá khứ tại ĐBSCL, cho dù chúng đã phá nát khu vực trù phú này nhưng toàn dân vẫn phải còng lưng gánh chi phí duy tu, bảo dưỡng, vận hành, toàn dân sẽ tiếp tục gánh thêm các chi phí tương tự phát sinh từ việc thực hiện “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1”.
Nếu “Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1” không sinh lợi, chỉ tạo thêm tốn kém và tác hại như các chuyên gia đã cảnh báo thì sao? Chẳng sao cả. Cứ nhìn lại lịch sử các dự án: Ngọt hóa bán đảo Cà Mau, Cống đập Ba Lai, Thoát lũ ra biển Tây, Âu thuyền Tắc Thủ... nay đã thành công trình hủy diệt ĐBSCL, có ai bị truy cứu trách nhiệm không? Gần hơn, có ai bị truy cứu trách nhiệm khi gạt bỏ tất cả các ý kiến can gián, cương quyết khai thác bauxite ở Tây Nguyên không?
Không thì hà cớ gì không làm, hà cớ gì phải bận tâm đến các thông tin, ý kiến phản biện. Tâm huyết, trí lực, sức lực của đám chuyên gia, trí thức, thích luận bàn, phân tích thiệt hơn, tương lai của một khu vực, tiền đồ của một quốc gia, một dân tộc đâu có sờ, đếm được như những khoản lót tay, rải đều từ trên xuống dưới trong toàn hệ thống.
Chú thích

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2019

Tham nhũng, an toàn thực phẩm, ô nhiễm: Quan ngại hàng đầu của người Việt

VOA

Lo lắng lớn nhất của người dân Việt Nam là an toàn thực phẩm, ô nhiễm và tham nhũng, theo một khảo sát mới nhất. Khảo sát này cũng cho thấy chính phủ chưa hành động đủ về những vấn đề này.
An toàn thực phẩm đứng đầu danh sách 13 mối quan ngại với 86% những người được vấn ý đề cập đến trong một nghiên cứu ý kiến công chúng do công ty nghiên cứ thị trường Indochina Research Vietnam Ltd thực hiện hồi cuối tháng Tư. Cùng nằm trong năm mối quan ngại hàng đầu là giáo dục và y tế. Những người thực hiện thăm dò gọi đây là điều ngạc nhiên và thú vị khi mà những kết quả này cũng giống hệt những quan ngại lớn nhất của người Việt trong cuộc thăm dò hai năm trước.
“Kết quả này cũng tương tự như hồi năm 2017 và cho thấy những vấn đề mà người dân quan tâm vẫn còn đó và chưa được giải quyết,” Indochina Research, vốn có trụ sở ở thành phố Hồ Chí Minh, nhận định.
Mặc dù những vấn đề này tồn tại qua nhiều năm, nhưng nếu xem xét kỹ hơn số liệu sẽ cho thấy có sự khác biệt theo giới tính, thu nhập và địa lý.
Ví dụ như vấn đề ô nhiễm, vốn nắm giữ vị trí thứ hai trên toàn bảng tổng sắp. Nhưng người dân ở Hà Nội lo lắng nhiều hơn với 82% người được vấn ý đề cập đến, so với 73% ở thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí địa lý giải thích cho sự khác biệt này do thủ đô Hà Nội nằm gần hơn với các tỉnh miền Nam Trung Quốc vốn đông đúc các nhà máy sản xuất và điều này vẫn luôn tạo ra không khí bẩn nhiều hơn ở Hà Nội so với thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy người dân trên cả nước xem không khí là nguy cơ ngày càng tăng. Người dân Việt Nam không thể chấp nhận việc các doanh nghiệp kiếm tiền bằng cách làm ô nhiễm môi trường.
“Ô nhiễm đã từng được chấp nhận là hậu quả phụ của quá trình phát triển công nghiệp và được đề cập như là tiến bộ kinh tế,” tác giả Thu Vân viết trên một bài xã luận trên tờ Việt Nam News, cơ quan ngôn luận của chính phủ, và kêu gọi các quan chức chính phủ phải hành động. “Đã đến lúc họ phải xem ô nhiễm là cuộc khủng hoảng sức khỏe của công chúng.”
Tác giả bài báo cho rằng quốc gia đông nam Á này cần phải giảm số lượng xe hơi lưu thông trên đường, buộc các tài xế phải sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường, trấn áp các xí nghiệp gây ô nhiễm và chuyển hướng ra khỏi các nhà máy nhiệt điện than.
Các câu phản hồi trong cuộc khảo sát của Indochina Research cũng khác biệt theo giới tính. Công ty này cho biết nữ giới có khuynh hướng bày tỏ quan ngại về quấy rối tình dục, y tế và an toàn thực phẩm nhiều hơn so với nam giới.
Kết quả đó cũng phù hợp với kết quả của một nghiên cứu hồi tháng 3 do Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) đồng tài trợ.
“Phụ nữ để ý đến những vấn đề tinh tế hơn,” bà Caterina Meloni, cố vấn về giới tính và hội nhập xã hội của dự án Green Invest Asia của USAID, nhận định. “Họ tìm kiếm những cách tốt nhất để chi tiêu thu nhập của họ để bảo vệ sức khỏe gia đình, sự bền vững của đất nước họ, và sự an lạc của cộng đồng.”
Nghiên cứu của Green Invest Asia cho thấy an toàn thực phẩm là một vấn đề lo lắng ở Việt Nam nhiều hơn ở Indonesia, Philippines hay Singapore.
“An toàn thực phẩm là quan ngại hàng đầu của phụ nữ ở Việt Nam, nơi phụ nữ sẵn sàng trả thêm một số tiền lên đến 30% mức giá cho những thực phẩm hữu cơ được chứng nhận là bền vững và tỷ lệ này cao hơn ở những quốc gia được khảo sát khác,” cơ quan này cho biết trong một thông cáo.
Người Việt hàng ngày lo lắng bởi vì họ không biết nguồn gốc thực phẩm của họ. Vấn đề này không chỉ không hề giảm bớt kể từ khi Indochina Research thực hiện cuộc khảo sát của họ hồi năm 2017 nhưng một số nguy cơ mới cũng xuất hiện. Bên cạnh khả năng bị ngộ độc thực phẩm, cho dù là ở tiệc cưới, ở các quán nhậu hay do dịch tả lợn vốn đã lan nhanh ở châu Á trong những tháng vừa qua, trong đó có Việt Nam.
Những quan ngại khác được nêu lên trong khảo sát ý kiến mới nhất của Indochina Research là tiếp cận nước sạch, hiện tượng tăng nhiệt toàn cầu, chất lượng báo chí, cạnh tranh bất bình đẳng và phân biệt giới tính.

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2019

Nước mắm cũng tràn đầy... chữ nghĩa, dấu đỏ của nghị định, sắc lệnh

Lê Văn Nghĩa

TTO - Cả cuộc đời, chắc trong máu của tôi ít nhất cũng có một số lượng nước mắm nhất định nào đó nhưng bây giờ mới biết từ hồi nẳm cho đến nay, nước mắm cũng tràn đầy... chữ nghĩa, dấu đỏ của nghị định, sắc lệnh.

Lò sản xuất nước mắm tĩn ngày xưa - Ảnh tư liệu

Mỗi khi đi nước ngoài, anh bạn tôi đều mang theo một chai nước mắm nhỏ, đựng trong chai nhựa trong suốt. Những chai nước mắm con con này cứu nguy được những cái lưỡi đã quen với nước mắm từ khi bắt đầu biết ăn cơm. Nhất là con nhà nghèo.
Chỉ cần một chén nước mắm nhỏ coi như là mấy chén cơm sẽ bị tiêu diệt nhanh, ngay và gọn gàng để cái bụng no mà còn đi học hay đi làm giúp cha mẹ.
Anh bạn tôi cũng như nhiều bà nội trợ vào siêu thị phải khốn khổ vì phải cố gắng phân biệt đâu là nước mắm truyền thống với nước mắm công nghiệp. Không khéo sẽ mua phải một chai nước chấm đội lốt nước mắm.
Nghị định về nước mắm miền Nam và miền Bắc
Hồi tụi tôi còn nhỏ, xách chén, chai ra tiệm mua vài đồng nước mắm là yên tâm có nước mắm thật được bà chủ múc ra từ cái tĩn đất. Hay thi thoảng, có những người phụ gánh những tĩn nước mắm đi vào xóm bán tận nơi cho người mua.
Lúc ấy, các phụ nữ tập trung lại, nếm từng loại nước mắm khác nhau để kiểm tra mùi vị và độ mặn bằng cái lưỡi chép chép và lỗ mũi thâm niên ngửi nước mắm của mình.
Họ thử như thế để biết loại nước mắm nào có độ đạm cao chứ không phải để tìm ra nước mắm giả, mặc dù thời đó các "chú Ba" Chợ Lớn cũng lai rai đột xuất "tung chiêu". Làm nước mắm theo kiểu các chú gian thương có lời quá mà.
Đi ngược lại lịch sử một chút, báo Tuần San Thương Mại Sài Gòn (tháng 12-1927) cho biết chính quyền cũng bắt đầu để ý "vấn đề" thuộc loại có mùi nước mắm vào năm 1914 khi các nhà hàm hộ (*) bị Hoa kiều dùng hóa phẩm để chế biến nước mắm.
Các chủ hàm hộ bản xứ thưa kiện lên chính quyền và sau một thời gian nghiên cứu của bác sĩ Rosé, ngày 21-12-1916 một nghị định được ban hành để trừng trị bọn mạo hóa.
Có lẽ, nghị định này lần đầu tiên đã quy định và gần như một định nghĩa thay cho tự điển: Nước mắm phải làm bằng cá biển tươi và muối biển. Thế là các "chú Ba" chết ngắc vì một số chủ hãng bị truy tố, đóng cửa và phạt vạ.
Tuy vậy, con bạch tuộc gian thương ngành nước mắm pha chế cũng trồi dậy và lập lờ đánh lận con đen. Với mục đích ngăn chặn nước mắm giả xấu, kém đạm chất, pha trộn tràn ngập thị trường, Viện Pasteur đã thành lập một phòng thí nghiệm tại Phan Thiết để kiểm nghiệm 800 mẫu nước mắm của các vùng sản xuất từ Bắc đến Nam trong khoảng tháng 9 đến tháng 12-1929.
Từ kết quả của phòng thí nghiệm, ngày 30-4-1930 chính phủ ban hành một nghị định bắt buộc nước mắm miền Nam phải có ít nhất 15 gam đạm chất và miền Bắc (từ Quảng Trị trở ra) 5 gam đạm/lít và nói rõ là nước mắm miền Bắc, không được lưu thông trong miền Nam, trên nhãn dán phải có in chữ là "nước mắm miền Bắc" hoặc "nước mắm miền Nam" để tiện bề phân định nước mắm vùng miền.
Nghị định bảo vệ nước mắm thứ thiệt
Không riêng gì các "chú Ba", một vài công ty nước ngoài thấy nguồn lợi từ nước mắm quá lớn nên đã nhảy vào rút ngắn thời gian sản xuất nước mắm bằng cách cấy vi khuẩn vào bụng cá, dùng bột cá pha trộn thêm cho giàu đạm hoặc dùng chất tạo mùi nước mắm.
Để bảo vệ nghề làm nước mắm cổ truyền trước sự tấn công của các loại nước chấm giả nước mắm, ngày 17-11-1943 chính quyền ra nghị định bảo vệ nghề làm nước mắm cổ truyền chiếu theo khoản 1 "Cấm chế tạo, trình bày, bán dưới danh nghĩa từ nước mắm những sản phẩm nào không phải làm ra theo tục lệ thông thường và chân thật của kỹ thuật cổ truyền người Việt Nam".
Cũng theo nghị định này, bắt buộc nước mắm nhứt phải có 18 độ đạm và nước ngang phải đủ 15 độ đạm/lít trong khắp lãnh thổ Đông Dương. Theo báo chí đánh giá, đây là một nghị định căn bản cho ngành sản xuất nước mắm. Có như thế nước mắm mới là sản phẩm thuần túy của người VN với một hương vị đặc biệt.
Rồi từ đó cho đến các chính quyền miền Nam sau này cũng có thêm vài nghị định và sắc lệnh quy định thành phần độ đạm cho nước mắm nhứt và nước mắm ngang nhưng chưa có nghị định nào "dám" hủy bỏ nghị định năm 1943 - một nghị định bảo vệ nước mắm thứ thiệt trước sự tấn công của các loại nước mắm hóa chất và pha chế.
Nhớ lại năm 1985, trong chuyến đi Hòn Sơn Rái (Phú Quốc) cùng với nhà văn Sơn Nam, nhà báo Trần Nhật Vy và nhà nhiếp ảnh Thu An, tôi mới thấy được từng công đoạn làm nước mắm của các "nhà thùng" thứ thiệt. Từng thúng cá cơm, từng bao muối biển ướp và chườm rồi xếp vào thùng cao hơn 3m.
Ở những nhà thùng này, người dân sống bằng nghề làm nước mắm bao đời nay chẳng biết gì về những nghị định trên vì đối với họ nước mắm chỉ làm từ cá biển và muối. Chấm hết.
Mỗi sáng, chúng tôi được chủ nhà thùng cho hứng một vài giọt nước mắm nhỉ soi màu hổ phách dưới ánh sáng, nhấm và chép chép cái miệng để biết cái dịu dàng của vị và hương thơm của nước mắm nhỉ thứ thiệt.
Khi ấy tôi nhớ lại cái miệng má tôi chép chép khi thử nước mắm của chị bán dạo quá thể! Nhưng may là thời đó chưa có cái gọi là nước mắm công nghiệp, nếu không thì liệu rằng thử nước mắm bằng lưỡi kiểu đó có chính xác hay không?
Cũng như nhà thùng. Từ để chỉ những cơ sở sản xuất nước mắm truyền thống.
Trên báo Tuần san Phòng Thương Mãi Sài Gòn (tháng 12-1957), Nguyễn An Sơn viết: “Một sản phẩm được các bác sĩ chuyên tâm và dày công nghiên cứu để cho một định nghĩa hợp pháp trải qua các nghị định thì không một lý do gì nếu một sản phẩm tương tự do nhà sản xuất áp dụng một phương pháp mới lại được mang tên là nước mắm.
Về phần đạm chất của loại nước mắm thiên nhiên tối thiểu phải được 11 chất đạm trong một lít nước mắm và tỉ lượng của những phẩm chất căn bản phải được hợp lệ hầu tránh được nước mắm khỏi trở mùi hôi thúi. Có như thế ngành sản xuất nước mắm theo kỹ thuật cổ truyền khỏi phải bị tiêu diệt một cách đớn đau”.

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

Người Việt cố giàu lên, để làm gì?

Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Trong những ngày mưa ngập lụt lội nhiều nơi tại Việt Nam, có một người đàn ông đi xe hơi hạng đắt tiền đã giận dữ bỏ đi giữa làn nước, vốn đã lên đến thắt lưng, để lại chiếc xe của mình một cách đau đớn bất lực. Như hàng vạn người nghèo khó khác đã ngụp lặn, lội qua giòng nước ô nhiễm đó, chèo kéo từng chiếc xe honda, xe đạp của mình để về nhà, người đàn ông đó chắc cũng có chung một câu hỏi không lời đáp về tương lai mà tiền của là vô nghĩa trước những biến động đang ập đến ngay cửa nhà mình.
Qua những biểu đạt than phiền về ngập lụt khắp nơi, qua các trang mạng hay báo chí, có thể thấy rằng không phải con người Việt Nam đã quá sức chịu đựng, mà họ như sực tỉnh trước một giấc mộng dài được vỗ về bởi những người lãnh đạo về sự hoa lệ của đô thị, về những chỉ số phát triển… nhưng chỉ trong tíc tắc đã lộ ra rằng mọi thứ chỉ là sân khấu tạm thời rực rỡ. Khi cánh màn nhung và những lời tuyên bố vừa dứt, hiện thực đã hiện ra tàn nhẫn với tương lai về nhà đen ngòm.
Người Việt rầm rộ làm giàu từ nhiều năm nay, tập bỏ quên mọi thứ khác chung quanh mình, mà tưởng chừng miếng cơm manh áo no đủ sẽ giải quyết tất cả, nhưng mọi thứ lại không phải như vậy.
Chưa bao giờ người Việt ào ạt in và ngấu nghiến đọc những công thức dạy làm giàu, dạy thành đạt như bây giờ. Thậm chí liều thuốc cường dương dựng đứng giấc mơ thành đạt của Mã Vân (Jack Ma) cũng được nhắc đi nhắc lại như một kim chỉ nam “quá 35 tuổi mà còn nghèo là tại bạn”. Thế nhưng những phong trào uống, chích các loại thuốc như vậy không hề có việc ghi chú chống chỉ định rằng việc thành đạt nóng, phải giàu có cho bằng được đôi khi cũng tạo ra loại ác thú núp kín sau bộ mặt niềm nở với đồng loại của mình.
Rất nhiều người trẻ ở Việt Nam muốn nhanh giàu có, nên đã bơm hoá chất vào heo gà và rau xanh, hoặc trở thành những kẻ cướp máu lạnh. Tệ hơn nữa là những kẻ luồn lách và làm giàu bằng gian lận và tham nhũng tiền thuế của nhân dân. Làm giàu và khoe giàu đã trở thành một tín chỉ quan trọng để vuơn lên, leo vào một chuồng trại khác trong xã hội Việt Nam hôm nay. Già hay trẻ cũng vậy! Sự tôn thờ vật chất đã có rất nhiều ví dụ đau lòng như con giết cha mẹ để lấy nhà, lấy đất cho đời thụ hưởng.
Nhưng rồi sự giàu có đó, sự tách biệt hãnh tiến đó bất chợt vỡ toang như những chiếc bong bóng xà phòng khi cơn mưa đem lụt lội đến. Họ nhận ra rằng mặt bằng cuộc sống không an sinh, khônh có gì cân bằng với giáo dục, môi trường, an ninh… Mọi hợp đồng bảo hiểm chỉ là trò tận thu chứ không hề cứu rỗi lúc tai ương. Mọi lời hứa vĩ đại trôi qua năm tháng, chìm vào hiện thực. Tương tự như sự kiện “ngày đen tối” của thị trường chứng khoán Việt Nam ảnh hưởng bởi thị trường chứng khoán Trung Quốc, trong tháng 9/2015 với gần 10 tỷ USD bốc hơi trong vài ngày, đã nhắc khéo rằng dường như mọi lâu đài đang được dựng lên bằng ảo tưởng của một đám đông, và bằng thực tế đáng giá của một vài kẻ đứng sau cánh gà.
Một chị bạn để dành được ít tiền sau những năm dài vật lộn mưu sinh, đã gọi hỏi tôi rằng có cách nào đưa con đi du học nước ngoài thật nhanh. Khi tôi hỏi lý do vì sao chị gấp gáp như vậy, thì câu trả lời – không phải của riêng một người – rằng chị cảm thấy lo lắng và muốn đưa con đến một môi trường sống và giáo dục tốt hơn. Một thế hệ mới của người Việt đang tự cào cấu với khát vọng đổi thay cuộc sống của mình nhưng bất lực, nên đành chọn cách chạy đi?
Câu chuyện của chị bạn xảy đến cùng lúc với tin những học trò nghèo ở Huế chưa đóng được học phí bị bêu tên dưới cột cờ. Công ty Tôn Hoa Sen kêu gọi từ thiện nhưng chặn nguồn nước của dân thiểu số ở Đạ Mri đế ép lấy đất. Công ty Tân Hiệp Phát thì thay vì xin lỗi người tiêu dùng, bãi nại cho người tố cáo sản phẩm lỗi bị gài bẫy đi tù… thì thay giám đốc người nước ngoài để rửa mặt. Và ở Hà Nội, quan lại chia nhau cai trị trong họ hàng của mình ở huyện Mỹ Đức.
Đã có bao nhiêu người Việt đang gắng làm giàu, chỉ để tìm cách cho mình hay con em mình rời xa quê hương? Chắc không ít, và cũng chắc chắn không phải là một khuynh hướng tạm thời.
Nhan nhãn trên các trang báo, cũng như tin nhắn rác, là các dịch vụ môi giới đầu tư hay học nghề… ám chỉ việc ra đi, định cư ở nước ngoài. Một người bạn làm công việc này cho biết lượng người gọi vào, tìm hiểu, làm đơn hay hy vọng đang tăng đến mức kinh ngạc, thậm chí diện EB-5 của Mỹ, đòi hỏi phải có ít nhất 500.000 USD cũng vậy . Trong các bài phóng sự đuợc dịch từ báo nước ngoài cho thấy người Trung Quốc làm ra tiền đang ùn ùn tìm cách chuyển tài sản ra khỏi nước hoặc tìm cách di cư sang các nước phương Tây. Chỉ tính trong 10 năm, từ năm 2000 đến 2011, Trung Quốc đã chảy máu hơn 3.500 tỷ USD do người giàu Trung Quốc chuyển ra ngoài.
Chưa có con số thống kê nào về người Việt Nam nhưng tin tức vẫn hay hé mở cho biết các đại gia Việt luôn trong thế “an toàn” khi tất cả nhà cửa, tài sản, gia đình… được sắp xếp ở Mỹ, Canada… thậm chí ở ngay Singapore. Cũng như người Trung Quốc, họ đã cố gắng làm giàu bằng mọi cách trên quê hương mình nhưng không chọn tồn tại ở nơi đó. Điều này có ý nghĩa gì?
Có cái gì đó thật khó nghĩ về cách vồ vập muốn làm giàu của người Việt hôm nay, kể cả cách sau đó họ che mặt ra đi, bất chấp Việt Nam vẫn đang sáng rực tên trên các bản tin bình chọn là một trong những quốc gia hạnh phúc và đáng sống nhất thế giới.
Trong bài thơ Quê hương của nhà thơ Đỗ Trung Quân, đời thật đẹp với những chùm khế ngọt. Nhưng dường như một lớp người Việt hôm nay không chỉ tranh nhau hái trái, đốn hạ cây mà âm mưu sở hữu bán cả mảnh đất cha ông đã trồng cây để đầy túi. Nhưng lạ thay, sau đó họ lại lặng lẽ gói ghém ra đi thật xa. Người Việt đang cố gắng làm giàu thật nhanh rồi như vậy, vì sao?
Xin đừng ai trả lời. Đừng nói một lời nào cả. Chúng ta hãy cùng lặng im và suy ngẫm.

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

Bắt sếp Huawei - Mỹ vặt lông vịt Tàu

Trung Cộng giận dữ với Mỹ và Canada vụ bắt giám đốc tài chính của Huawei, bà Mạnh Vãn Chu. Bắt sếp Huawei, có vẻ Mỹ đang "đâm trúng tim" tham vọng dẫn đầu của họ.
Lần đầu tiên từ nhiều năm, báo Trung Quốc gọi Hoa Kỳ là quốc gia "bất hảo đáng kinh tởm" (despicable rogue) vì đang thách thức vị thế thượng phong của Trung Quốc trong thị trường 5G.
Huawei có vai trò chủ chốt trong sáng kiến hiện đại hóa công nghiệp Made in China 2025 được công bố vào năm 2015 với mục tiêu biến Trung Quốc thành siêu cường công nghệ trên thế giới.
Công ty này có vị trí trung tâm trong nỗ lực ứng dụng dịch vụ không dây thế hệ thứ 5 (5G). Hệ thống 5G có vai trò sống còn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ ô tô tự lái và Washington xem kế hoạch này của Bắc Kinh là một mối đe dọa.
Vụ bắt giữ xảy ra vào thời điểm đang có những động thái nhằm hạn chế công nghệ của Huawei ở các nước phương Tây. Mỹ, Australia và New Zealand đều chặn, không cho các thiết bị của Huawei sử dụng hạ tầng dành cho các mạng điện thoại 5G mới.
Tương tự như vụ việc của bà Mạnh, giám đốc tài chính của ZTE đã bị chặn tại sân bay Logan (Boston) trong cuộc điều tra của Mỹ. Giới chức Mỹ thu giữ một chiếc laptop có chứa một "kho" bằng chứng cho thấy ZTE làm ăn phi pháp với Iran.
Năm 2016, Bộ Thương mại Mỹ đã công khai thông tin về vụ ZTE và tiết lộ rằng một công ty khác, được gọi là F7, đã né cấm vận của Mỹ thành công. Trong đơn thư trình lên Bộ Thương mại Mỹ, 10 nghị sĩ Mỹ cho rằng F7 chính là Huawei. Tới tháng 4/2017, các nghị sĩ lại tiếp tục trình đơn và đề nghị công khai thông tin và điều tra F7 một cách toàn diện.
Trước đó, Reuters đã đưa tin, công ty công nghệ Skycom đặt trụ sở ở Hong Kong, từng tìm cách bán lô thiết bị máy tính HP bị cấm vận cho nhà mạng lớn nhất Iran, có quan hệ rất mật thiết với Huawei.
Bà Mạnh Vãn Chu, từng ở trong ban điều hành của Skycom từ 2/2008-4/2009. Một số giám đốc trước đây và hiện nay của Skycom cũng có mối liên quan tới Huawei.
Chuyên gia quan hệ Mỹ - Trung thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Liu Weidong cho rằng đây là một bước đi có tính toán của Washington nhằm giành ưu thế trong cuộc đàm phán thương mại với Bắc Kinh.
"Chúng ta sẽ thấy nhiều sự vụ như vậy nhiều hơn nữa trong 3 tháng tới, cấm vận các cá nhân và tập đoàn do Trung Quốc sở hữu, để tăng cường động lực cho phía Mỹ", ông Liu nói.

P/S:     

Bắt bà Mạnh Vãn Chu với cáo buộc vi phạm cấm vận công nghệ với Iran mà                Washington cho là Huawei gây ra có vẻ chỉ là cái cớ. Cùng lúc việc bắt giữ bà Mạnh, nhà vật lý học, giáo sư Trương Thủ Thịnh (sinh năm 1963), chết ở Mỹ cũng vào hôm 1/12 được cho vì trầm cảm.
Có quốc tịch Mỹ, ông Trương làm việc ở ĐH Stanford và cũng là người lập ra công ty Danhua Capital, nay có tên là Digital Horizon Capital.
Công ty này, có trụ sở ở California, đã nhận được vốn đầu tư 434 triệu USD. Nhà đầu tư chính của Danhua là Zhongguancun Development Group, tập đoàn nhà nước thuộc chính quyền Bắc Kinh .
Nhiều vụ bắt giữ gián điệp và những cái chết khá bất thường gần đây của các quan chức, doanh nhân Trung Quốc (Trịnh Hiểu Tùng, Vương Kiện, Mạnh Hoành Vỹ...) khiến dư luận không khỏi ngờ vực.
Không phải vô cớ mà Phó chủ tịch EU Andrus Ansip mới đây kêu gọi cảnh giác với Huawei và các tập đoàn công nghệ Trung Quốc do những mối liên hệ bí mật với tình báo nước này.

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

TẤT THÀNH CANG

Phạm Đình Trọng

Với người dân Thủ Thiêm, Sài Gòn, tên Tất Thành Cang là tên gọi của cái ác, của tội phạm, là tên cướp ngày đã cướp nhà, cướp đất, cướp nguồn sống, cướp cuộc sống bình yên của hàng ngàn gia đình, hàng chục ngàn người dân. Với người dân Sài Gòn, người dân cả nước, tên Tất Thành Cang là tên gọi của một loại sâu dân mọt nước và người dân đã phiên cái tên riêng Tất Thành Cang thành tên chung của một hiện tượng tự nhiên, một quá trình đào thải, tống tháo nặng mùi: Tan Thành C., tan thành bã thải của quá trình tiêu hóa.
Khi là bí thư kiêm chủ tịch quận Hai, Sài Gòn, Tất Thành Cang làm lên kỉ lục địa ngục về sự nhẫn tâm, tàn ác, táng tận lương tâm với dân. Đứng đầu băng cướp đất cấp quận, Cang cùng băng cướp đất cấp thành phố do bí thư Lê Thanh Hải đứng đầu đã cướp hàng trăm hecta đất Thủ Thiêm của hàng ngàn gia đình, đẩy hàng chục ngàn người dân vào cảnh không còn nguồn sống, không chốn dung thân, màn trời chiếu đất năm này qua năm khác suốt hơn chục năm trời. Có người dân phẫn uất phải thắt cổ chết. Nhiều người bị đẩy đến khốn cùng mang bệnh thể xác không tiền chữa chạy và mang bệnh nặng hơn về tinh thần, đau đớn, uất hận, tuyệt vọng mà chết khi tuổi đời đang độ phát tiết tinh hoa
Khi là giám đốc sở Giao thông Vận tải, Cang thông đồng với nhà đầu tư làm lên kỉ lục thế giới về chi phí làm đường cao đến vô lí, đến không tưởng, đến rùng rợn. Làm một kilomet đường tốn 1000 tỉ đồng. Cang kí mua của nhà đầu tư Đại Quang Minh 12 kilomet đường Thủ Thiêm với giá 12. 000 tỉ đồng. Trong khi cao tốc Hà Nội – Hải Phòng hiện đại nhất Việt Nam, rộng gấp đôi đường Thủ Thiêm một kilomet đường chỉ 250 tỉ đồng. Cao tốc Sài Gòn – Trung Lương rộng hơn đường Thủ Thiêm lại phải qua nhiều vùng đất yếu hơn đất Thủ Thiêm vì đất ngập nước, đất sình lầy kênh rạch mà một kilomet đường cũng chỉ 220 tỉ đồng.
Theo luật “cưa đôi” đang là luật hiện hành phân chia đồng tiền bẩn trong thế giới ngầm tội phạm thì số tiền chênh lệch dôi ra giữa tiền thu được do hợp đồng mang lại và tiền thực phải chi làm công trình sẽ được cưa đôi cho hai bên kí hợp đồng. Như ông cò cảnh sát giao thông ăn chia với người vi phạm giao thông. Đáng ra lỗi vi phạm phải phạt 2 triệu đồng, ông cò cảnh sát chỉ ghi giấy phạt 1 triệu đồng. 1 triệu đồng được ông cò ra ơn giảm phạt được “cưa đôi”. Ông cò cảnh sát có 500 000 đồng đút túi và người vi phạm giao thông cũng giảm nhẹ thiệt hại được 500 000 đồng tiền phạt. Giám đốc sở Giao thông vận tải Sài Gòn Tất Thành Cang phóng tay kí chi ra mười hai ngàn tỉ đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân mua 12 kilomet đường Thủ Thiêm do Đại Quang Minh làm thì tiền “cưa đôi” Đại Quang Minh phải lại quả cho Cang cũng phải ở con số ngàn tỉ đồng.
Ông quan đảng Tất Thành Cang chẳng làm được tích sự gì cho dân cho nước chỉ ăn tàn phá hại nhưng bóng cả Lê Thanh Hải còn rậm rạp xanh tốt che chở, đàn anh Lê Thanh Hải còn quyền uy bao bọc thì đàn em Tất Thành Cang sâu dân mọt nước cứ nhảy cóc trên bậc thang công danh với tốc độ thần kì. Bí thư thành đoàn. Bí thư kiêm chủ tịch quận. Giám đốc sở Giao thông Vân tải. Phó chủ tịch thành phố. Phó bí thư thành ủy. Chặng đường thăm thẳm bon chen quyết liệt đó, dưới trướng lãnh chúa Lê Thanh Hải trở thành thênh thang với Tất Thành Cang và Cang chỉ mất có 12 năm, 2004 – 2016. Nhảy tót vào ban chấp hành trung ương đảng cộng sản cai trị. Chễm chệ trên ghế phó bí thư thường trực thành ủy đầy quyền uy. Cang càng ăn bạo, ăn đậm.
Bằng thực tế cuộc đời, bằng kinh nghiệm sống, dân gian đã đúc kết và chỉ ra rằng: Lắm sãi bỏ ngỏ cửa chùa. Và: Cha chung không ai khóc. Cái gì thuộc về sở hữu của nhiều người đều là vô chủ. Học dân gian, nhà nước cộng sản liền làm ra luật vô chủ của đất đai: Đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lí. Đảng cộng sản cai trị vốn đã coi đất nước Việt Nam là của riêng đảng. Nay có luật đất đai vô chủ đã cho các tổ chức đảng từ đảng ủy phường, xã trở lên có sơ sở pháp lí để biến đất của dân, của nước thành đất của tổ chức đảng. Hơn 32 ha đất công của nước, đất hương hỏa ngàn đời của người dân Phước Kiển, Nhà Bè, Sài Gòn bỗng trở thành đất của doanh nghiệp đảng trực thuộc thành ủy Sài Gòn.
Liền sát khu quí tộc Phú Mỹ Hưng, hơn 32 ha đất vàng Phước Kiển xây building, xây villa bán cho đại gia, xây office cho nước ngoài thuê sẽ có nguồn thu vô cùng lớn và ổn định lâu dài. Chỉ cắt ra vài ha đất bán đi là đủ tiền xây cất trên phần đất còn lại. Nhưng thời gian xây cất phải mất vài năm. Vài năm sau lại thuộc triều đại khác, lãnh chúa khác rồi. Dại gì lại chịu cuốc mò cò xơi. Hơn 32 ha đất vàng đâu phải ít tiền. Tiền “cưa đôi” cũng không nhỏ. Thôi bán béng đi, biến đất của doanh nghiệp đảng thành tiền riêng trong tài khoản cá nhân cho chắc ăn.
Hơn 32 ha đất Phước Kiển là miếng đậm không kém gì miếng đậm 12 kilomet đường Thủ Thiêm. Phải làm lẹ và không thể để nhiều người biết. Nhiều người dính vào, lắm thầy nhiều ma, lắm cha con khó lấy chồng, lại thêm rách việc và miếng đậm lại phải chia cho nhiều người thì đâu còn đậm nữa. Dù biết rằng hơn 32 ha đất là tài sản lớn. Quyền quyết định với tài sản lớn đó phải là thành ủy. Nhưng ham thứ gì cũng thành con nghiện của thứ đó. Những chục tỉ, trăm tỉ, ngàn tỉ tiền đất, tiền đường Thủ Thiêm đã làm ông quan cộng sản Tất Thành Cang “tự diễn biến” thành con nghiện tối tăm, mê mẩn của đồng tiền rồi. Nghiện tiền cũng như nghiện heroin thôi. Đã nghiện heroin làm sao cưỡng lại được sự cám dỗ ma mị, ngất ngây, vật vã của nó. Trong cơn say tiền, đồng chí phó bí thư thường trực thành ủy Tất Thành Cang đã mau lẹ chấp thuận cho doanh nghiệp đảng thuộc thành ủy bán hơn 32 ha đất vàng Phước Kiển chỉ với giá 419 tỉ đồng trong khi bán đúng giá thị trường lúc đó, tháng sáu năm 2017 phải thu về hơn 2000 tỉ đồng.
Để lại dấu chân tội ác, dấu chân nhớp nhúa máu dân ở Thủ Thiêm, Tất Thành Cang thay đôi giầy đế sắt dẫm đạp lên đầu dân của quan địa phương bằng đôi giầy bóng lộn của chính khách quốc gia, ung dung bước vào nhà đỏ ban chấp hành trung ương đảng cộng sản, nhảy tót lên ghế phó bí thư thường trực thành ủy Sài Gòn. Với chức bự, quyền lớn, Tất Thành Cang tiếp tục để lại dấu chân tham nhũng ở Phước Kiển.
Thấy rõ dấu chân tội phạm của ông quan cộng sản Tất Thành Cang, pháp luật nhà nước cộng sản cũng chỉ biết giương mắt ếch nhìn và chờ đảng xử lí ông quan đảng tội phạm, chờ đảng cho phép mới được vào cuộc. Điều 16 Hiến pháp nhà nước cộng sản: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật là vậy đó.
Với đảng cai trị bằng tham nhũng quyền dân thì quan đảng Tất Thành Cang, tội phạm Tất Thành Cang cũng chỉ là sai phạm, dù là sai phạm rất nghiêm trọng cũng chỉ là sai phạm, không phải là tội phạm.
Mấy ông tướng công an, dù là tướng cũng chỉ trên mặt bằng xã hội thông thường, chưa bước lên được thềm cao ùy viên trung ương đảng lại mắc tội tày trời, là tội phạm cỡ bự, lôi kéo, xô đẩy hàng triệu người dân cả nước vào vòng tội phạm đỏ đen cờ bạc. Mỗi ông tướng đều đút túi cả chục tỉ, trăm tỉ tiền bẩn mà mỗi ông tướng tội phạm chỉ phải nhận bản án chưa đến chục năm tù, thấp hơn cả án tù của mấy ông nông dân ít học bị ma men xui khiến đã bắt trộm con vịt về làm mồi nhậu. Quan đảng Tất Thành Cang, trên thềm cao nhà đỏ chỉ sai phạm, đâu phải tội phạm, càng bình chân như vại.
Không phải tội phạm, quan đảng Tất Thành Cang vẫn bình chân trên ghế phó bí thư thường trực thành ủy, vẫn ngồi ô tô Toyota Camry biển xanh tiền tỉ đi ăn nhậu cùng những đàn em thân tín: Tăng Hữu Phong vốn cũng từ bệ phóng thành đoàn, nhà trẻ của thành ủy, Lê Trương Hải Hiếu, quí tử của lãnh chúa Lê Thanh Hải cũng là một đứa trẻ của thành ủy. Ăn nhậu khuya khoắt với quan đảng Tất Thành Cang còn có cả người đẹp tổng biên tập tờ báo Đàn Bà miền đất Bến Thành mới thấy thế lực của quan đảng Tất Thành Cang còn tỏa rộng và mạnh mẽ như thế nào.
Không phải là tội phạm, quan đảng Tất Thành Cang vẫn tươi cười lên diễn đàn hội trường thành ủy tặng hoa cho những nhân sự mới được cất nhắc, thăng tiến ở Hội Đồng Nhân Dân thành phố.
Tội phạm ở Thủ Thiêm, ở Phước Kiển. Gây tội ác tày trời với người dân Thủ Thiêm rồi bình thản trước nỗi khổ đau, lầm than, rên xiết của người dân Thủ Thiêm. Vẫn vô tư bám ghì chiếc ghế quyền lực chính khách nhà đỏ, phó đảng thành phố. Vẫn nhơn nhơn kéo cả đám đàn em đi ăn nhậu. Vẫn hớn hở lên diễn đàn Hội Đồng Nhân dân thành phố. Đó là sự vô liêm sỉ của quan đảng Tất Thành Cang
Đảng cai trị dung dưỡng cho quan đảng Tất Thành Cang, một tội phạm với dân với nước nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Đảng cai trị đang thách thức người dân, thách thức lương tâm con người, thách thức đạo lí xã hội. Với sự cai trị đó.làm sao văn hóa, đạo lí xã hội không suy đồi!



Phạm Đình Trọng

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2018

Hồ sơ chống tham nhũng ở Việt Nam và bài học vay nợ Trung Quốc

Phương Thơ

Có lẽ đây là câu chuyện khá bi kịch và có thể nói là bi hài kịch về câu chuyện chống tham nhũng của ông Nguyễn Phú Trọng hiện tại là Chủ tịch kiêm Tổng bí thư nước CHXHCN VN. Và cũng có thể nói là về chức vụ lãnh đạo quốc gia thì ông Nguyễn Phú Trọng này có lẽ đang là nhân vật lãnh đạo có quyền lực nhất thế giới, tính cho từng quốc gia đó, thậm chí là còn quyền lực hơn cả ông Tập Cận Bình bên Trung Quốc. Tức là tôi tính cho chức vụ giới hạn quyền hành trong một quốc gia đối nội đó.
Vì ông Trọng này đang giữ chức vụ ngoài Chủ tịch và Tổng bí thư thì còn lãnh đạo các chức vụ, nhiệm vụ khác như là Bí thư Quân ủy Trung ương (lãnh đạo quân đội nhân dân, thống lĩnh các lực lượng vũ trang, vì giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và đứng trên chỉ huy cả Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người chỉ huy cao nhất đối với Quân đội), rồi kế đến là chức Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, và rất nhiều chức vụ khác,… có nghĩa là bao hàm mọi chức vụ ở VN, thì quả nhiên ông Trọng này có quyền lực bất tận.
Nhưng câu hỏi đặt ra là, làm thế nào mà những công việc chống tham nhũng của ông Trọng này hầu như không đả động gì đến các vụ án tham nhũng, các dự án kinh tế thua lỗ và đội vốn hàng tỷ USD, tàn phá đất nước VN do TQ tham gia ở VN, thì người ta chưa thể dám đụng đến. Đó là chuyện khó tin, nhưng nó có thật ở VN.
Chuyện khó tin hơn nữa là các dự án đầu tư kinh tế của VN đi vay nợ và chỉ định nhà thầu do TQ làm chủ đầu tư, thì VN đi vay TQ với lãi suất cao gấp nhiều lần khi vay Hàn Quốc, Nhật, hoặc WB. Ví dụ như ODA và vốn vay ưu đãi có mức vay có lãi suất tới 3%/năm mà còn phải đi kèm điều kiện như phí cam kết, phí quản lý mà hai cái phí này cộng lại cũng chiếm tới 1% lãi suất vay rồi, nghĩa là khoản vay này áp dụng ở kỳ hạn vay 15 năm, thời gian ân hạn 5 năm,… đã thế TQ còn đòi được chỉ định thầu và thậm chí đưa nhiều nhân công lao động đủ thành phần của họ vào làm dự án đầu tư ở VN.
Trong khi VN đi vay các quốc gia khác thì lãi suất khá thấp gần như cho không, là chỉ có 0,2%, như việc Hàn Quốc có lãi suất dao động từ 0% đến 2%. Nếu Hàn Quốc cho vay 2% thì có thể gói điều kiện đấu thầu, và liên doanh do công ty Hàn Quốc và VN cùng tham gia làm dự án để chia đôi phí tổn lời lãi lợi ích cho kinh tế, như Hàn Quốc có thể đưa người và thiết bị của họ tuồn vào dự án.
Phía VN cũng được hưởng lợi là tạo ra lao động và có thể chỉ định các công ty trong nước tham gia cung cấp nguyên liệu vật liệu, công nghệ cho xây cất dự án,… trong khi mức lãi suất cao cho vay của TQ mà họ còn bao thầu thiết bị nhân công nhiều thứ, thì các nước kia cấp các khoản vay cho VN như từ Nhật Bản (chỉ cỡ 0,35% – 1,2%), Hàn Quốc (0% – 2%). Thậm chí là Ấn Độ: 1,75%… thì ta tự hỏi ai là kẻ rước dự án đầu tư vay nợ và còn làm hao tổn nền kinh tế với các dự án đầu tư của TQ dìm chết kinh tế VN.
Hãy nói về một ví dụ kinh điển mà TQ không bao giờ muốn VN lớn, cũng như kinh nghiệm một số dự án đầu tư của TQ tại nước khác. Đối với VN thì TQ luôn có chính sách kiềm chế không cho VN lớn mạnh lên nổi để họ dễ bề khống chế VN, đó là dự án Gang thép Thái Nguyên được khởi động (giai đoạn 1) năm 2007, cách đây hơn 1 thập kỷ, do TQ làm chủ thầu đầu tư và bao thầu nhiều thứ, và các giai đoạn sau này thì tôi không nhắc và chỉ gói gọn kết quả và hậu quả sau này nó là đống sắt vụn ki một tập đoàn thép TQ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà tôi ví von là “nhiệm vụ gián điệp phá hoại kinh tế VN”.
Đó là Tập đoàn Luyện kim Trung Quốc -Metallurgical Corporation of China (MCC), nó niêm yết tại Thượng Hải và Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông với mã chứng khoán ở Thượng Hải có ký tự số (SHA: 601618); ở Hồng Kông có mã là 1618. Nói về thành tích công ty MCC tàn phá VN này thì nó cũng có thành tích phá hoại đất nước Afghanistan. Và công ty TQ này còn nhòm ngó 1-3 ngàn tỷ $ tài sản khoáng sản, chủ yếu quặng đồng và quặng sắt ở Afghanistan và cũng có thành tích đấu thầu giá rẻ trước đây vào năm 2007, khi họ trả thầu thấp để loại các đối thủ như công ty Strikeforce – một phần của Tập đoàn nguyên tố cơ bản của Nga, Tập đoàn Kazakhstan, Hunter Dickinson của Canada, và công ty khai thác đồng của Mỹ, Phelps Dodge,…với chi phí trào thầu thấp hơn 2 tỷ USD thì rất lấy làm kinh ngạc, và dự án khai thác quặng đồng và quặng sắt, niken mấy trăm triệu tấn này, thì chế độ nhà nước Bắc Kinh đã đi đêm đàm phán với phe Taliban cầm quyền.
Thực tế, dự án béo bở đó cũng khó nuốt trôi cho TQ, bởi chính quyền Bắc Kinh có thành tích đàn áp người Hồi giáo ở tỉnh Tân Cương, người Hồi giáo Uighur và đi đêm đàm phán với những kẻ khủng bố Taliban, khi đó Taliban phá hoại hai bức tượng Phật cổ đại khổng lồ vào năm 2001 tại Bamiyan, Di sản Thế giới được UNESCO công nhận, với sự nghi ngờ ủng hộ ngầm của TQ để TQ muốn phá hủy địa điểm Mes Aynak để tạo điều kiện cho họ khai thác đồng dồn dập nhanh chóng.
Đó là cái chế độ mọi rợ mà man rợ của Bắc Kinh thì các phe phái Hồi giáo chủ chiến và thánh chiến ở Afghanistan, Pakistan, và nhóm Hồi giáo cực đoan Al-Qaeda họ cũng chẳng dễ dàng gì để yên cho TQ tự tung khai thác khoáng sản ở Afghanistan, có giá trị cả 100 tỷ USD. Dự án này và các dự án nhiều lần trì hoãn vì rủi ro an ninh khi các dự án đầu tư của TQ này thường xuyên bị các nhóm thánh chiến nã tên lửa và đánh bom, thậm chí thuộc hạ của Osama bin Laden, trùm khủng bố quốc tế, là lãnh đạo al-Qaeda kình chống phe Taliban cũng đã cho nổ bom tự sát làm sập nhiều mỏ đồng và đánh bom nhắm vào các chuyên gia, kỹ sư TQ và cũng giết chết nhiều nhân mạng kỹ sư TQ, khiến Bắc Kinh ngậm nhiều đau đớn.
Và sau này vẫn thế, Osama bin Laden bị Mỹ giết thì các tay chân khác lên là họ cứ truy sát đánh đuổi người TQ ở TQ, khiến cho TQ bỏ ra khá nhiều tiền và chỉ mong khai thác nhanh để gỡ vốn mà bỏ của chạy lấy người về TQ, vì thực lực an ninh của TQ quá kém, cũng như TQ không có các đồng minh và các căn cứ quân sự ở Trung Đông như Mỹ…
Trở lại hồ sơ của các dự án đầu tư TQ đội vốn và phá hoại kinh tế VN, thì tôi cũng lấy làm ngạc nhiên là làm thế nào mà quan chức VN lại chỉ định công ty MCC của TQ trúng thầu dự án Gang thép Thái Nguyên vào năm 2007 như vậy, khi mà công ty MCC của TQ này phải dồn tiền và công nghệ gần như hết tiềm năng để đầu tư vào Afghanistan với các mỏ quặng đồng và quặng sắt, niken, với giá trị tài sản khai thác 40 có giá tới 1-3 ngàn tỷ USD và TQ phải bỏ ra số tiền đầu tư khai thác dần dần như xây cất hạ tầng, đầu tư nhà máy điện,… với số tiền lớn gấp 4 lần vốn hóa thị trường niêm yết cổ phiếu hiện tại của công ty Tập đoàn Luyện kim Trung Quốc MCC này. Đó là kinh nghiệm về đầu tư mà tôi không nói về rủi ro yếu tố chính trị vào thời gian đó, năm 2007.
Tức là trong đầu tư ta cần phải thẩm định phân tích rủi ro dự án đầu tư dàn trải của một công ty nào đó khi mời thầu. Nếu thấy rằng công ty đó đang đầu tư quá nhiều dự án quá lớn, mà còn có rủi ro về chính trị, bất ổn an ninh, thì cần loại công ty đó ra, bất kể lý do đó là công ty gì, vì chắc chắn công ty đó sẽ thiếu tiền mặt, thiết bị công nghệ, đội ngũ kỹ sư, chuyên gia của họ, vì họ phải đang dồn quá nhiều nhân lực tiền bạc để đầu tư ở dự án khác và chắc chắn vốn vay nợ đòn bẩy tài chính công ty đó rất cao và dễ gặp rủi ro phá sản.
Nhất là công ty MCC của TQ khi đó đang tham gia quá nhiều dự án đầu tư lớn ở nước ngoài, và họ đang gặp rủi ro vay nợ bảo lãnh của chính quyền Bắc Kinh quá cao, thì làm sao mà đầu tư vào dự án Gang thép Thái Nguyên vào năm 2007 đó được. Kể cả sau này TQ rút khỏi dự án thép này của VN, nó cũng trùng hợp các vụ nổ bom tự sát ở Trung Đông khi bị các nhóm Hồi giáo chủ chiến đánh bom vào các công ty TQ,…thì tất nhiên rủi ro nhân gấp bội cho phía VN, bởi vì khi đó cổ phiếu công ty MCC hay bất cứ công ty nào dính vào vụ đánh bom đó đều sụt giá mạnh.
Đối với công ty MCC này của TQ, thì hiện nay giá cổ phiếu nó sụt giá rất mạnh là cần phải cầu viện chính quyền Bắc Kinh bơm vốn. Đó là Metallurgical Corporation of China thì giá chứng khoán của nó tính từ đầu năm 2018 cho tới nay niêm yết trên thị trường Thượng Hải tính bằng đồng ¥ thì mất giá gần -37% giá trị. Ở thị trường Hồng Kông thì sụt giá -15%.
Với VN, vào những năm 2007 họ phát triển ngành công nghiệp thép để làm trụ cột đốt xương sống cho phát triển kinh tế VN, dù hơi muộn nhưng đó là hướng đi đúng, nếu họ biết cách đầu tư vào ngành công nghiệp thép để xây dựng một thương hiệu “công ty thép quốc doanh” thì nó là ý tưởng cực kỳ tốt. Và nhà nước VN làm chủ đầu tư sở hữu nó thì rất hoàn hảo nếu có chiến lược chấp nhận hao tổn tài chính và nhân lực để thành lập công ty thép có khả năng đáp ứng cho ngành công nghiệp thép chế tạo như đúc khuôn, kim loại màu, thép cho ngành công nghiệp xây cất đường xe lửa như đường ray. Và cần bảo hộ nó cũng không có gì quá đáng mà cần làm thì nếu nó được đầu tư hoàn hảo thì kinh tế VN sẽ kiếm được mối lợi rất lớn là sau này có thể bao thầu cho các dự án xây cất lợi ích quốc gia để làm giảm tất cả các chi phí xây cất khổng lồ tốn kém xuống.
Tuy nhiên qua việc dự án Gang thép Thái Nguyên phá sản và nhiều dự án thép khác thất bại tan tành mà còn tốn kém thời gian, tiền bạc, rồi nhân lực mà còn chất lên một núi nợ quá lớn, và nó cũng rút luôn cái đốt xương sống sắt thép để phát triển ngành công nghiệp này của VN thì quá đau đớn và ở VN họ cần truy tố những ai đứng đằng sau các dự án gang thép do TQ gây ra này. Vì hậu quả của nó quá lớn như việc hiện nay VN không thể có ngành công nghiệp thép và luyện kim để làm các dự án đường sắt, kể cả nâng cấp đường sắt cũ kỹ, lạc hậu, mà mọi thứ phải lệ thuộc bên ngoài, mà có thể lệ thuộc từ TQ cung ứng, thì quả là chuyện bi kịch cho VN.
Làm thép không hẳn là xấu mà nó rất cần thiết là bất cứ quốc gia nào muốn đi lên thành con hổ kinh tế đều trải qua nó. Ví dụ, Hàn Quốc, dù bây giờ là cái nôi của điện tử, công nghệ ở Á châu, nhưng cái đốt xương sống nuôi dưỡng nền kinh tế Hàn Quốc xưa kia là họ dựa vào nó để xây dựng công nghiệp đất nước, đó là Tập đoàn thép POSCO, do chính quyền tổng thống Hàn Quốc Park Chung-hee nắm quyền và quyết định xây dựng một nhà máy thép tự thân đi lên vào những năm 1960 rồi thành lập năm 1968, nay đã nửa thế kỷ.
Tập đoàn thép POSCO ban đầu là công ty quốc doanh do nhà nước nắm quyền chỉ huy để đầu tư xây đựng đất nước không vì tư lợi mà dùng nó để phát triển kinh tế. POSCO hiện là nhà sản xuất thép lớn thứ 5 của thế giới. Năm 2017, chỉ xếp sau tập đoàn thép ArcelorMittal (Luxembourg và các nước Âu châu), China Baowu Group (TQ), Nippon Steel and Sumitomo Metal Corporation (Nhật), HBIS Group (TQ),…
Với VN thì chiến lược của họ xây dựng các dự án xương sống cho kinh tế như dự án Nhà máy xơ sợi Đình Vũ (PVTEX) để tự cung về ngành công nghiệp may mặc, thì dự án này bị phá hoại tan hoang do hậu quả công nghệ TQ và cái bóng của TQ thò bàn tay vào. Có lẽ những kẻ thân TQ và cả TQ không muốn VN làm chủ lĩnh vực này và họ bắt VN tiếp tục lệ thuộc TQ và dự án này người ta đổ lỗi và đem thí tốt vài kẻ chứ không dám đụng đến yếu tố TQ.
Rồi những dự án sản xuất xăng sinh học Ethanol thua lỗ ngàn tỷ VND, phá hoại kinh tế VN mà người ta chỉ chiết xuất sản xuất xăng E5 (hỗn hợp nhiên liệu ethanol 5%, còn lại là 95% xăng hoặc hydrocacbon) là cấp thấp thì dự án này nó cũng có bàn tay TQ thò vào, giật sập luôn giấc mơ hoang dại này của VN. Nghĩa là tôi rất sốc và lấy làm ngạc nhiên là TQ họ không có bất cứ kinh nghiệm làm xăng sinh học, vì quốc gia này lương thực và thực phẩm còn không đủ ăn vì dân số quá lớn và phải đi nhập khẩu lương thực bên ngoài, thì lấy đâu dư dả để có kinh nghiệm làm xăng sinh học này. Vậy mà người ta cũng mời chào, rước TQ vào đầu tư, rồi khi nó phá sản tan tành thì yếu tố TQ vô can, và ở VN người ta chỉ lo đốt củi lửa nội bộ chính họ.
Nói chung, kể ra không hết như các dự án chiến lược Bauxite ở Việt Nam, rồi bất cứ dự án nào cũng có yếu tố TQ vào, kể cả Đường sắt Cát Linh – Hà Đông, Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (do nhà đầu tư Trung Quốc thực hiện) và mấy cái nhà máy nhiệt điện to lớn nhất khác do TQ chi phối và hiện nay nó đang gây gánh nặng và bất ổn cho quốc gia này. Vậy mà cũng không ai dám kiện cáo hay xử phát các công ty TQ cả.
Thậm chí trước đây việc xây Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình một biểu tượng quốc gia về thể thao, thì ở VN người ta cũng rước nhà thầu TQ làm dự án, dù rằng TQ không hề có nhiều kinh nghiệm xây cất sân vận động, và hậu quả cái sân vận động quốc gia Mỹ Đình rất thô kệch và xấu xí, tốn kém…
Ôi thôi, tính ra không hết các dự án phá hoại kinh tế của TQ đối với VN, mà toàn những dự án bóp yết hầu trọng yếu mà TQ đã thành công kiềm chế VN, và bắt quốc gia này buộc phải lệ thuộc TQ. Và những câu chuyện khó tin hơn nữa là TQ nắm giữ trọng yếu các dự án đầu tư vào ngành than thép, Bauxite ở VN và xuất khẩu ngược từ VN qua TQ phần thô với giá rẻ mạt, rồi sau đó TQ bán lại cho VN phần sơ chế với giá đắt đỏ nhất thế giới. Và họ như thể cho VN ăn phải thứ thuốc phiện gây nghiện, để trôi vào vòng xoáy nợ nần và bào mòn tài nguyên không lối thoát.
Ở VN thì người ta đang đau đầu 12 đại án mà, còn dự án đổ nợ do cái Bộ Công thương gây ra thì hầu như đều có cái bàn tay TQ thò vào phá hoại, mà người ta cũng không dám truy cứu trách nhiệm hay kiện cáo TQ, thì quả là chuyện hài kịch khó tin nổi.
Nói về kinh nghiệm bên ngoài của TQ đầu tư thì ngoài cái vùng đất Châu Phi hiện nay TQ phá nát nó, mà nạn nhân điển hình Zambia với cục nợ từ các dự án đầu tư của TQ gây ra. Rồi thảm họa lạm phát và vỡ nợ của xứ dầu, tài nguyên dầu mỏ khí đốt Venezuela cũng do TQ gây ra. Xa hơn nữa là Cộng hòa Congo cũng do TQ tạo ra sổ nợ siết cổ quốc gia này, chỉ còn cách bán tài nguyên nhượng đất cho TQ. Rồi bài học Sri Lanka với các dự án đầu tư của TQ tạo ra cái sổ nợ và buộc Sri Lanka phải cho TQ thuê cảng chiến lược Hambantota vì không thể trả được khoản nợ quá lớn và các dự án đầu tư đội vốn của TQ gây ra.
Trước đây tôi hay dự báo các dự án vĩ cuồng như dự án “Nhất Đới Nhất Lộ”, rồi “Con Đường Tơ Lụa Mới”, gọi chung là sáng kiến One Belt One Road, mà tôi hay gọi là dự án “con đường tơ lụa vỡ nợ của thế kỷ 21″. Tức là tôi hay nhắc về cụm từ “’Silk Road Economic Belt” (Con đường tơ lụa Kinh tế), “One belt, one road” (một vành đai, một con đương), rồi khẩu hiệu khác nữa “21st Century Maritime Silk Road” (Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21),… thì hiện nay có 12 quốc gia đã lâm nguy hoặc gần như vỡ nợ, đó là Pakistan, Djibouti, Maldives, Lào, Mông Cổ, Montenegro, Tajikistan và Kyrgyzstan,… Gần đây là quốc gia nhỏ bé Vanuatu đã vẫy cờ trắng vì sổ nợ của TQ siết cổ quốc gia này.
TQ là quốc gia đầu tư rất kém, nhưng họ luôn làm các dự án đầu tư có lời rất lớn là cách duy nhất các dự án đầu tư đó là “rút ruột công trình” và ban đầu trả thầu thấp rồi dùng thủ đoạn cho vay để cho những kẻ lãnh đạo quốc gia bất tài đó hoa mắt mà đặt bút ký dự án đầu tư đó, rồi sau đó dùng thủ đoạn “bẫy nợ”, hoặc đàm phán áp đặt, sửa lại dự án đầu tư ban đầu, khiến dự án đầu tư ban đầu tưởng rẻ, chứ thật ra sau này nó đội vốn đắt gấp đôi dự án đầu tư các nước Âu châu, Mỹ họ trả giá đấu thầu.
Tuy nhiên dự dự án đầu tư bẫy nợ của TQ nó cũng có những cái rủi ro mắc nợ, như việc các chế độ ở các nước độc tài bị dân chúng hay phe đối lập lật đổ chế độ thân Bắc Kinh đó, thì người ta sẽ đàm phán lại nợ và dự án đầu tư của TQ, hoặc sử dụng pháp lý xù nợ như các chính quyền mới, họ viện dẫn các khoản nợ và dự án đầu tư của TQ cho chế độ bất tài bị lật đổ đó nó không chảy vào sự đóng góp quốc gia cho người dân, mà nó chảy vào túi quan chức tham lam bất tài tham nhũng và không có lý do gì để người dân quốc gia đó phải è cổ trả nợ cả.
Những trường hợp mắc nợ và bị hủy dự án đầu tư này thì TQ cũng đã chuốc nhiều cay đắng rồi, chứ không phải các dự án đầu tư nào họ cũng thành công cả. Ở Châu Phi hiện nay có lẽ cũng đang xẩy ra nhiều bất lợi cho TQ, như các chính phủ độc tài và bất tài quy đầu ngả về phía người dân là họ hủy nhiều dự án đầu tư của TQ và đàm phán lại nợ, buộc TQ phải nhượng bộ, thậm chí người ta kỳ thị người TQ, ra đường hễ thấy ai giống người TQ thì bị tấn công, khá bất ổn…

Nguồn: FB Phương Thơ

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

Thư gởi Quốc hội Việt Nam của một kỹ sư an ninh mạng người Mỹ gốc Việt

"Kính thưa Quốc Hội
Tôi là Dương Ngọc Thái, kỹ sư an ninh mạng đang làm việc ở Mỹ. Tôi năm nay 34 tuổi, bắt đầu học và làm an ninh mạng từ năm 18 tuổi. Năm 20 tuổi tôi đã là trưởng phòng an ninh mạng của một Ngân hàng ở Việt Nam. Năm 2011, tôi rời Việt Nam sang Silicon Valley làm việc. Tôi là một chuyên gia nghiên cứu về an ninh phần mềm. Các phát hiện của tôi có ảnh hưởng sâu rộng đến sự an toàn của Internet, được trích dẫn trong nhiều bài báo khoa học, được đưa vào giảng dạy ở các đại học danh tiếng và đăng tải trên các tờ báo lớn trên thế giới.
Tôi giới thiệu dài dòng như vầy với hi vọng Quốc Hội hiểu rằng tôi là một kỹ sư an ninh mạng có kinh nghiệm thực tế và được thế giới biết đến.
Để soạn thảo và thông qua một bộ luật đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn như Luật An Ninh Mạng, Chính phủ và Quốc hội cần phải dựa vào sự tư vấn và lắng nghe ý kiến của các chuyên gia. Tuy vậy cho đến ngày 31/5/2018, mục “Ý kiến chuyên gia" trên trang Dự Thảo Online của Quốc hội không có ý kiến nào. Cá nhân tôi chỉ biết về dự thảo khi báo chí đưa tin. Với trách nhiệm xã hội của một chuyên gia, tôi viết thư này để chia sẻ với Quốc hội và những ai quan tâm góc nhìn của một người đã dành nhiều thời gian suy nghĩ về an ninh mạng. Ba vấn đề tôi đặt ra và phân tích với Quốc hội (1) liệu dự thảo có đưa ra được các giải pháp chính sách thực sự để giải quyết vấn đề an ninh mạng? (2) tác động dự thảo đến doanh nghiệp, đến phát triển kinh tế như thế nào; và (3) khuyến nghị của tôi cho luật an ninh mạng và chính sách an ninh mạng Việt Nam.
Đây là ý kiến của cá nhân tôi, không thể hiện quan điểm hay ý kiến của nơi tôi làm việc hay bất kỳ ai khác.
1. Chống nói xấu Đảng không đảm bảo được an ninh mạng.
Tôi đã học và làm việc chung với nhiều giáo sư và chuyên gia hàng đầu thế giới, nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai giải thích về an ninh mạng như đại biểu Nguyễn Thanh Hồng - Uỷ viên thường trực Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã nói trên tờ VnExpress: "An ninh mạng nếu giải thích dễ hiểu nhất là không truyền bá, cổ súy, khai thác những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước và làm sao để mỗi công dân có ý thức trong việc phòng chống tội phạm, bảo vệ bản thân và gia đình". Hiểu an ninh mạng như vậy là sai bản chất và có thể dẫn đến nguy cơ vừa mất an ninh quốc gia vừa kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Đúng là Việt Nam đã và đang liên tục bị tấn công trên không gian mạng. Năm 2014, giữa lúc người Việt trong nước và hải ngoại đang sôi sục vì Trung Quốc kéo giàn khoan HD-981 vào Biển Đông, các chuyên gia đã phát hiện hệ thống máy tính của Bộ Tài Nguyên Môi Trường Việt Nam bị xâm nhập. Tại sao lại là Bộ Tài Nguyên Môi Trường? Vì đây là cơ quan nhà nước sở hữu nhiều thông tin quan trọng về bản đồ, sơ đồ, hải trình, báo cáo… của các chuyến thăm dò dầu khí, khai thác ngư sản cũng như các hoạt động tuần tra bảo vệ của Việt Nam trên Biển Đông. Ngoài Bộ Tài Nguyên Môi Trường, Tập Đoàn Dầu Khí, Thông Tấn Xã và Tập Đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam cũng bị xâm nhập. Có nhiều bằng chứng để tin rằng những đối tượng đứng đằng sau các vụ tấn công này đến từ Trung Quốc.

Gần đây hơn, nhiều sự cố an ninh mạng cũng liên tục xảy ra:

Tháng 5/2016, ngân hàng Tiên Phong Bank bị hacker xâm nhập, đánh cắp 1,1 triệu đôla Mỹ (đại diện Tiên Phong Bank nói rằng họ phát hiện và chặn được tấn công đúng lúc).
Tháng 7/2016, mạng máy tính sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Nội Bài và Vietnam Airlines bị hacker Trung Quốc phá hoại.
Tháng 5/2017, ngay trong lúc ngài Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang sang thăm Mỹ, hệ thống máy chủ email của Bộ Ngoại Giao lại bị hacker “lạ" xâm nhập.
Từ nhiều năm nay, các công ty công nghệ Việt Nam đã nằm trong tầm ngấm của những nhóm hacker “lạ". Tháng 4/2018, kẻ tấn công đã tung lên mạng thông tin cá nhân bao gồm tên, ngày sinh, chứng minh nhân dân, số điện thoại, email và mật khẩu của gần 75 triệu tài khoản người dùng của VNG, công ty game và Internet lớn nhất Việt Nam.

Có lẽ không cần nói thêm, Quốc hội cũng hiểu rằng “chống truyền bá, cổ súy, khai thác những nội dung chống phá Đảng, Nhà nước” không thể bảo vệ Việt Nam khỏi những vụ tấn công như trên.
2. Đảm bảo an ninh mạng không có nghĩa là phải hi sinh phát triển kinh tế và tự do của người dân.
Trong lúc hệ thống mạng máy tính Việt Nam liên tục bị tấn công, chính phủ mất bí mật, doanh nghiệp bị mất tiền, người dân mất thông tin cá nhân, sẽ là một sai lầm chiến lược nếu Quốc hội thông qua dự thảo Luật An Ninh Mạng. Dự thảo này không có nhiều sáng kiến cụ thể có thể giúp Việt Nam kiện toàn an ninh mạng mà còn có khả năng cản trở đà phát triển kinh tế, kìm hãm sự tự do sáng tạo và xâm hại riêng tư của người dân.
Một vệ sĩ giỏi là người biết lùi lại phía sau, âm thầm quan sát, đảm bảo an toàn cho yếu nhân mà không gây cản trở công việc của họ. Một chuyên gia lành nghề là người hiểu mục tiêu kinh doanh của công ty, từ đó sáng tạo các giải pháp có sự cân bằng giữa an ninh, chi phí và tiện dụng để sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu khách hàng, giúp công ty kinh doanh thuận lợi, với những rủi ro chấp nhận được. Tôi hay nói với đồng nghiệp công việc của chúng ta không phải là chỉ là đảm bảo an ninh, mà là đảm bảo an ninh để công ty vẫn có thể sáng tạo và phát triển. Trách nhiệm của chúng ta là phục vụ các nhóm làm sản phẩm, giúp họ đảm bảo an toàn thông tin mà vẫn có thể tự do sáng tạo, vẫn tiết kiệm được thời gian, công sức, chứ không thể bắt họ phục tùng. Nếu chính sách an ninh kìm hãm sự tự do sáng tạo, làm chậm tốc độ phát triển, thì chính sách đó chưa đạt yêu cầu. Kỹ sư an ninh mạng làm việc có tâm phải luôn trăn trở tìm cách để chính sách an ninh không những không gây cản trở, mà còn đem đến lợi thế cạnh tranh.
Tương tự như vậy, ở tầm quốc gia, một chiến lược an ninh mạng đúng đắn không thể bỏ qua phát triển kinh tế. Việt Nam cần đảm bảo an ninh mạng, nhưng an ninh mạng chỉ là phương tiện, không phải đích đến, để đạt đến các mục tiêu quan trọng nhất của đất nước là phát triển kinh tế, khai phóng con người, bảo vệ môi trường sống và nâng cao chất lượng cuộc sống. Muốn vậy, lực lượng chuyên trách an ninh mạng quốc gia cần đóng vai trò người hỗ trợ chứ không phải người kiểm soát. Nhưng tôi e rằng trao quyền cho cơ quan quản lý trực tiếp can thiệp vào cách doanh nghiệp điều hành và quản lý hệ thống thông tin của họ (như điều 26 và 24 dự luật) dễ dẫn đến lạm quyền, tạo điều kiện cho tham nhũng. Việc yêu cầu báo cáo, đánh giá - đi kèm với phê duyệt, chấp thuận - sẽ làm tăng chi phí; giảm sự sáng tạo; làm mất lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (vì thời gian là ‘vàng’ trong kinh tế số và thị trường công nghệ vốn cạnh tranh khốc liệt).
Bài toán mà Quốc hội cần phải đặt ra cho dự thảo Luật An Ninh Mạng là: làm thế nào để không bị tấn công mạng, nhưng vẫn giữ tốc độ phát triển kinh tế cao, đảm bảo tự do cho người dân, tăng khả năng cạnh tranh và uy tín của Việt Nam trên thế giới? Đặt đúng câu hỏi là đã giải quyết được một nửa vấn đề. Trong phần tiếp theo tôi đề xuất một số ý kiến về chính sách để giải quyết nửa còn lại.
3. Giải pháp nào cho an ninh mạng quốc gia?
Đối với Luật An Ninh Mạng nói riêng, chính sách và chiến lược an ninh mạng quốc gia nói chung, tôi đề xuất ba điểm.
Thứ nhất, thay vì ôm đồm rất nhiều nội dung, luật chỉ nên tập trung vào hệ thống thông tin trọng yếu, chủ thể trung tâm trong vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Hệ thống thông tin trọng yếu bao gồm hệ thống công, do Chính phủ quản lý và hệ thống tư, thuộc sự quản lý và là tài sản của các doanh nghiệp tư nhân. Chính phủ chịu trách nhiệm và tùy nghi điều chỉnh hệ thống công, nhưng Chính phủ không được phép kiểm soát hệ thống tư, mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ, ngoại trừ có sự đồng ý của doanh nghiệp hoặc lệnh của tòa án.
Để giúp đỡ doanh nghiệp, Chính phủ có thể chủ động chia sẻ thông tin tình báo, thông tin sự cố an toàn thông tin, hoặc các nhóm hacker nước ngoài mà Chính phủ đã theo dõi và nắm bắt được. Chính phủ cũng có thể khuyến khích doanh nghiệp hợp tác, chia sẻ thông tin, nhưng bất kỳ sự chia sẻ nào cũng phải là tự nguyện và phải đảm bảo được sự riêng tư của khách hàng của các doanh nghiệp. Chính phủ không thể mặc nhiên yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tất cả thông tin mà Chính phủ muốn. Quá trình chia sẻ thông tin, nội dung chia sẻ giữa doanh nghiệp và Chính phủ phải được luật hóa cụ thể.
Chính phủ cũng có thể giúp doanh nghiệp bằng cách đặt ra các tiêu chuẩn về an toàn thông tin. Các tiêu chuẩn này chỉ áp dụng cho hệ thống mạng máy tính của Nhà nước. Tuy nhiên doanh nghiệp có thể dựa vào đó để tự xây dựng tiêu chuẩn cho hệ thống máy tính và sản phẩm của họ. Nhà nước chỉ mua các sản phẩm đạt chuẩn, tạo động lực để doanh nghiệp muốn bán sản phẩm cho Nhà nước xây dựng các sản phẩm đúng chuẩn.
Một việc có ích khác Chính phủ nên làm là dùng ngân sách để đào tạo nguồn nhân lực an toàn thông tin chất lượng cao và nâng cao nhận thức an toàn thông tin cũng như quyền riêng tư của người dân. Bộ Thông Tin Truyền Thông đã trình Chính phủ những đề án cụ thể về hai vấn đề này, trách nhiệm của Quốc hội lúc này là giám sát việc thực thi các đề án này. Để đánh giá đề án thực thi có hiệu quả, có đúng với mục tiêu đặt ra, Quốc hội nên tham khảo ý kiến đánh giá độc lập của các chuyên gia.
Thứ hai, chính sách an ninh mạng quốc gia cần phải bảo vệ quyền riêng tư của người dân. Quyền riêng tư là một quyền hiến định và được Liên Hợp Quốc công nhận là quyền cơ bản của con người. Nhà nước không thể dựa vào lý do an ninh quốc gia để tùy tiện xâm phạm riêng tư của người dân.
Luật An Toàn Thông Tin Mạng có đề cập đến quyền riêng tư, nhưng tôi e rằng chưa đủ. Để bảo vệ riêng tư của người dân, tối thiểu Việt Nam cần có luật yêu cầu những tổ chức thu thập thông tin cá nhân của người dân phải thông báo đại chúng khi những nơi này bị xâm nhập và để lộ thông tin. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần cân nhắc tạo luật yêu cầu những do tổ chức thu thập và xử lý thông tin cá nhân nhạy cảm như tài chính và y tế phải có cơ chế đảm bảo sự riêng tư của khách hàng. Luật này sẽ đặt ra những tiêu chuẩn cụ thể, cách thức người dân có thể phản ánh khiếu nại và cách Nhà nước sẽ xử lý chế tài ra sao các doanh nghiệp hay tổ chức phạm luật.
Nhưng bảo vệ riêng tư không có nghĩa là phải lưu trữ dữ liệu ở Việt Nam. Đa số người dân châu Âu sử dụng dịch vụ của các công ty Mỹ, nhưng Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) không yêu cầu các công ty Mỹ phải đặt máy chủ ở châu Âu. Do đó cách quy định như điều 26 của dự thảo luật không có mấy ý nghĩa thực tế.
Dữ liệu là vấn đề pháp lý phức tạp, tôi cho rằng Quốc hội nên nghiên cứu kỹ lưỡng để có một đạo luật riêng về vấn đề này thay vì gộp chung vào Luật An Ninh Mạng như hiện nay.
Cuối cùng, tôi cho rằng, để chống lại tấn công mạng, điều cốt lõi là con người, chứ không phải là công cụ pháp lý. Tuy nhiên, những chuyên gia hàng đầu Việt Nam mà tôi đã có dịp trao đổi đều không làm việc cho Chính phủ vì khu vực doanh nghiệp trả lương cao hơn, đãi ngộ tốt hơn, cơ hội nghề nghiệp công bằng hơn. Nhưng với uy tín của Chính phủ, tôi tin rằng Chính phủ dễ dàng huy động được những chuyên gia tên tuổi tham gia vào các dự án giúp đỡ đất nước. Năm 2016 tôi có đề xuất Việt Nam nên thành lập một đội đặc nhiệm bao gồm những chuyên gia Việt Nam giỏi nhất mà Việt Nam hiện có (xem bài Có một Biển Đông trên không gian mạng). Nhóm chuyên gia này, tương tự như tổ tư vấn về chính sách kinh tế, làm việc theo cơ chế phi lợi nhuận, sẽ giúp Chính phủ về chính sách và công nghệ. Đội đặc nhiệm này có vai trò tương tự như “Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an” mà dự thảo nêu ra, nhưng chỉ đóng vai trò hỗ trợ, chứ không có quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Từ vài năm nay tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ về chiến lược an ninh mạng quốc gia cho Việt Nam. Những ý kiến của tôi ở đây đều là tổng kết của quá trình suy nghĩ lâu dài, không phải những suy nghĩ vội vàng.
Tôi thấy cần phải chỉnh sửa, thu hẹp phạm vi của dự thảo Luật An Ninh Mạng, chỉ nên tập trung vào mục tiêu đảm bảo an ninh mạng cho hệ thống máy tính trọng yếu do nhà nước quản lý, loại bỏ những nội dung vi phạm quyền hiến định của người dân như quyền tự do ngôn luận, quyền riêng tư, cản trở tự do báo chí, tăng chi phí kinh doanh, giảm năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở pháp lý cho một nhóm thiểu số nhũng nhiễu doanh nghiệp. Tôi không phải là một luật sư, nhưng với vốn kiến thức hạn hẹp tôi thấy rằng làm luật để kiểm soát người dân, kiểm soát doanh nghiệp là dùng pháp luật để cai trị dân chúng, chứ không phải dùng pháp luật để vận hành và phát triển đất nước. Dự thảo Luật An Ninh Mạng, do đó, nếu được thông qua, sẽ đẩy Việt Nam đi thụt lùi trên con đường trở thành một quốc gia pháp quyền.
Kính thưa Quốc hội,
Tôi đến Mỹ vì muốn tìm kiếm cơ hội chạy đua cùng thế giới, nhưng điều mà tôi tìm thấy lại quý giá hơn nhiều lần, đó là sự tự do. Nước Mỹ được như hôm nay là vì hiến pháp và văn hóa tôn trọng tự do của mỗi cá nhân. Ai cũng có quyền nói. Báo chí độc lập, là quyền lực thứ tư, giữ vai trò giám sát Nhà nước cho người dân. Internet không bị tường lửa ngăn chặn. Ở Trung Quốc thì ngược lại hoàn toàn. Vì vậy, mặc dù Trung Quốc đang giàu lên rất nhanh, nhưng người Trung Quốc vẫn muốn thành người Mỹ, chứ người Mỹ không muốn thành người Trung Quốc. Dự thảo Luật An Ninh Mạng có khả năng biến Việt Nam thành một bản sao xấu xí của Trung Quốc.
Tôi hi vọng Quốc hội sẽ có một lựa chọn sáng suốt để người dân Việt Nam, chí ít là cá nhân tôi, không phải mong muốn trở thành công dân một quốc gia khác.
Alsace, 31/5/2018
Dương Ngọc Thái".