Thứ Năm, 21 tháng 2, 2019

Diễn văn kêu gọi tự do cho Venezuela của Tổng thống Trump tại Miami 18/2/2019




Ngày 18/2/2019, trước những người Venezuela và Cuba lưu vong và nhập cư tại thành phố Miami, Hoa Kỳ.

"Tại Venezuela và trên khắp Tây bán cầu, chủ nghĩa xã hội đang chết dần, trong khi tự do, thịnh vượng và dân chủ đang được tái sinh. Hôm nay, trái tim của chúng ta tràn đầy hy vọng đối với quyết tâm của hàng triệu thường dân Venezuela, sự ái quốc của Quốc hội Venezuela, và sự dũng cảm phi thường của Tổng thống Juan Guaido.

Nhân dân Venezuela đang đứng lên vì tự do và dân chủ, và Hoa Kỳ đang kề vai sát cánh với họ".




Tôi đặc biệt muốn cảm ơn cộng đồng lưu vong Venezuela, những người đã làm quá nhiều để ủng hộ Tổng thống Guaido trong tổ chức viện trợ cho những người dân yêu nước của họ. Cảm ơn các bạn rất nhiều. Chúng tôi sát cánh cùng các bạn.

Chúng tôi vô cùng cảm kích đối với mỗi nhà bất đồng chính kiến, mỗi người dân lưu vong, mỗi tù nhân chính trị và bất cứ ai phải chứng kiến sự khủng khiếp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, và những ai đã dũng cảm lên tiếng chống lại những giáo điều này.

Thực tế là các bạn đã nhìn thấy tội phạm và tham nhũng. Các bạn đã chứng kiến đói kém và khổ đau. Các bạn đã nghe về những lời cầu xin thống khổ. Các bạn đã phản kháng, và phản kháng với sự tôn trọng, nhưng dõng dạc. Và các bạn đã cầu nguyện có một ngày mà giờ chúng ta có thể nhìn thấy, chỉ ở phía trước thôi – ngày mà toàn bộ nhân dân của xứ này cuối cùng sẽ được tự do.

Khi chúng ta họp mặt hôm nay, nhân dân Venezuela đang đứng trước ngưỡng cửa của lịch sử, sẵn sàng đòi lại đất nước và tương lai của mình.

Cách đây không lâu, Venezuela là một quốc gia giàu có nhất, hơn nhiều các nước khác ở Nam Mỹ. Nhưng nhiều năm dưới sự cai quản của chủ nghĩa xã hội đã khiến một quốc gia từng thịnh vượng đi tới bờ vực của đổ nát. Đó là thực trạng của đất nước này hôm nay.

Chính quyền xã hội chủ nghĩa độc tài đã quốc hữu hóa các ngành kinh tế tư nhân và tước đoạt các doanh nghiệp tư. Họ tiến hành những cuộc tịch thu tài sản khổng lồ, bóp nghẹt thị trường tự do, đàn áp tự do ngôn luận và tạo ra một cỗ máy tuyên truyền không ngơi miệng, các cuộc bầu cử gian lận, sử dụng chính quyền để khởi tố các đối thủ chính trị và phá hoại sự công bằng của pháp luật.

Nói cách khác, điều những người xã hội chủ nghĩa đã gây ra ở Venezuela cũng giống tất cả những gì mà những kẻ xã hội chủ nghĩa, cộng sản, và độc tài đã gây ra ở bất cứ đâu chúng có cơ hội cai trị. Kết quả đều là thảm họa.

Gần 90% dân số Venezuela nay sống trong nghèo đói.

Năm 2018, siêu lạm phát tại Venezuela vượt mức 1 triệu phần trăm. Thiếu thốn trầm trọng thức ăn và thuốc men đã làm què quặt quốc gia. Chủ nghĩa xã hội đã hoàn toàn tàn phá đất nước tuyệt vời này đến mức mà những mỏ dầu dự trữ dầu mỏ lớn nhất thế giới cũng không đủ để thắp sáng bóng đèn điện. Điều này sẽ không bao giờ xảy ra với chúng ta.

Hơn 3 triệu người Venezuela đã chạy trốn sự ngược đãi tàn bạo của chế độ Maduro.

Hôm nay, chúng ta vinh dự với sự có mặt của Amintha Perez, mẹ của Oscar Perez – một sĩ quan cảnh sát Venezuela dũng cảm. Các bạn biết câu chuyện này.

Vào tháng 6/2017, Oscar đã lái chiếc máy bay trực thăng bay lên bầu trời thành phố Baruta kéo theo dòng chữ “350 Tự do”. Anh nói đến Điều 350 trong Hiến pháp Venezuela rằng: “Nhân dân Venezuela sẽ chối bỏ bất cứ chế độ, luật pháp hay quyền lực nào vi phạm các giá trị dân chủ hoặc xâm phạm nhân quyền.”

Oscar nói anh muốn mang lại hy vọng cho con người. Anh ấy yêu nhân dân của mình. Anh đã chiến đấu vì họ, và họ yêu anh. Nhưng Oscar đã bị bắt và giết hại bởi lực lượng an ninh Venezuela một cách dã man. Các bạn đều đã biết câu chuyện này.

Amintha, trái tim chúng tôi quặn đau vì sự mất mát của bạn. Oscar đã hy sinh vì tự do cho người dân của mình. Chúng ta đều được ở đây bởi những con người vĩ đại và trung kiên như Oscar.

Vài tuần trước, vào ngày 23/1, Quốc hội Venezuela sử dụng Hiến pháp để tuyên bố Chủ tịch Quốc hội Juan Guaido là lãnh đạo chính danh của đất nước. Một trong những hành động đầu tiên của Chủ tịch Guaido là kích hoạt cùng điều luật trong hiến pháp mà Oscar đã mang theo trên bầu trời Venezuela để thông báo cho thế giới biết Maduro là kẻ bất chính.

Trong vòng 30 phút, Hoa Kỳ tự hào là nước đầu tiên trên thế giới công nhận Tổng thống Guaido.

Hôm nay, hơn 50 quốc gia trên thế giới đã công nhận chính phủ hợp pháp của Venezuela. Người dân Venezuela đã cất tiếng, thế giới đã nghe giọng nói tuyệt đẹp của họ. Họ đang khép lại những trang cuối của chủ nghĩa xã hội, của chế độ độc tài và họ sẽ không quay trở lại.

Các quốc gia yêu mến hòa bình sẵn sàng giúp đỡ Venezuela đòi lại dân chủ, sự tôn nghiêm và định mệnh của mình. Tất cả các quốc gia trong bán cầu của chúng ta đều có chung mong muốn ngăn chặn sự lan rộng của chuyên chính xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội, từ chính bản chất của nó, không tôn trọng biên giới. Nó không tôn trọng những ranh giới hoặc chủ quyền của công dân hay nước láng giềng. Nó luôn luôn tìm cách bành trướng, để xâm lấn và nô dịch những người khác theo ý muốn của nó.

Mặt trời sắp lặn đối với chủ nghĩa xã hội trên bán cầu chúng ta, và nói thẳng ra, ở trên rất nhiều nơi trên thế giới. Những ngày của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản chẳng còn là bao không chỉ ở Venezuela, mà trên cả Nicaragua và Cuba.

Trong lúc đó, tất cả chúng ta phải phối hợp với nhau để chấm dứt một thảm họa nhân đạo. Trong khi ta đang nói chuyện, có những hàng xe tải chở hàng trăm tấn hàng cứu trợ nhân đạo bị chặn tại biên giới Venezuela, phải chờ đợi để phục vụ hàng triệu người cần nó đến tuyệt vọng.

Hai ngày trước, chiếc C-17 đầu tiên của không quân Mỹ hạ cánh xuống Colombia, chở đầy hàng cứu trợ quan trọng, bao gồm hàng chục gói dinh dưỡng cho những trẻ em Venezuela. Bất hạnh là tên độc tài Maduro đã chặn không cho những chuyến hàng cứu trợ cứu mạng này vào Venezuela. Hắn ta thà nhìn người dân chết đói còn hơn cho họ cứu trợ và giúp họ.

Hàng triệu người dân Venezuela đang chết đói và chịu khổ trong khi một nhóm những kẻ chóp bu trong chính quyền vơ vét khiến quốc gia kiệt quệ cho đến chết. Chúng ta biết họ là ai, và chúng ta biết nơi họ giấu hàng tỷ đô la đã bỏ túi riêng. 

Đáng ngạc nhiên là vẫn còn những thành viên trong quân đội Venezuela vẫn duy trì ủng hộ chế độ độc tài thất bại này. Họ đang đánh bạc với tương lai, sinh mạng của chính họ và tương lai của Venezuela vì một kẻ bị điều khiển bởi quân đội Cuba và được bảo vệ bởi quân lính Cuba. Maduro không phải là một người Venezuela yêu nước, ông ta là con rối của Cuba.

Nhớ rằng hàng triệu USD đã được hắn trả cho Cuba, nhưng sẽ không còn thế nữa, bởi hắn không còn đủ tiền để làm như vậy. Vì thế mọi chuyện đang thay đổi, và thay đổi rất nhanh.

Hôm nay, tôi có một thông điệp gửi tới tất cả các viên chức còn đang giúp duy trì chế độ Maduro:

Con mắt của toàn bộ thế giới đang hướng về các vị hôm nay, mỗi ngày và mỗi ngày trong tương lai. Các vị không thể trốn tránh khỏi lựa chọn đang đối chất với các vị. Các vị có thể chọn chấp nhận đề nghị ân xá hào phóng của Tổng thống Guaido, để sống trong hòa bình với gia đình và đồng bào của mình. Tổng thống Guaido không muốn trả thù các vị, và chúng tôi cũng vậy. Nhưng các vị không được nghe theo lệnh của Maduro chặn hàng cứu viện, và các vị không được đe dọa dùng bất cứ hình thức bạo lực nào lên những người biểu tình ôn hòa, các lãnh đạo đối lập, thành viên Quốc hội hay Tổng thống Guaido và gia đình của ông.

Chúng tôi muốn chuyển giao quyền lực trong hòa bình, nhưng tất cả lựa chọn đều đang được cân nhắc. Chúng tôi muốn khôi phục nền dân chủ Venezuela và tin rằng quân đội Venezuela và lãnh đạo của họ đóng một vai trò chủ đạo trong tiến trình này. Nếu các vị chọn con đường này, bạn sẽ có cơ hội gây dựng một tương lai an toàn và thịnh vượng cho tất cả nhân dân Venezuela.

Hoặc các vị có thể chọn con đường thứ hai: tiếp tục ủng hộ Maduro.

Nếu chọn con đường này, các vị sẽ không bao giờ tìm thấy một nơi chốn an toàn, không thể rút lui dễ dàng và không lối thoát. Các vị sẽ mất tất cả.

Vì thế hôm nay, tôi kêu gọi tất cả thành viên của chế độ Maduro: Hãy chấm dứt cơn ác mộng đói nghèo và chết chóc này đối với người dân của các vị. Hãy cởi trói cho nhân dân, để cho đất nước được tự do. Bây giờ là lúc toàn bộ nhân dân ái quốc Venezuela hành động cùng nhau như một dân tộc đoàn kết. Không gì tốt đẹp hơn tương lai của Venezuela. Và không gì có thể tốt cho tương lai của một quốc gia bị cầm giữ khác – Cuba – hơn là sự tái sinh của tự do và dân chủ ở Venezuela.

Trong hàng thập kỷ, những chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa ở Cuba và Venezuela đã chống đỡ cho nhau trong những hợp đồng đầy tham nhũng. Venezuela cho Cuba dầu mỏ. Ngược lại, Cuba cho Venezuela một nhà nước cảnh sát, được giật dây trực tiếp từ Havana.

Nhưng hôm nay là ngày khác trước rất nhiều, và những ngày trước đó đã kết thúc. Liên minh xấu xí giữa 2 chế độ độc tài đang chóng vánh đi đến cáo chung. Một tương lai mới đang bắt đầu. Tất cả chúng ta trong sân khấu này, và hàng ngàn, hàng ngàn người bên ngoài, cảm thông với nhau bởi vì chúng ta biết sự thật về chủ nghĩa xã hội ở Venezuela, ở Cuba, ở Nicaragua và trên khắp thế giới.

Chủ nghĩa xã hội hứa hẹn giàu sang nhưng chỉ đem đến nghèo khổ.

Chủ nghĩa xã hội hứa hẹn đoàn kết, nhưng đem đến thù hận và chia rẽ. Chủ nghĩa xã hội hứa hẹn một tương lai tốt đẹp hơn, nhưng nó luôn luôn mang những chương đen tối nhất trong lịch sử trở lại với loài người. Chưa bao giờ sai, luôn luôn là như vậy.

Chủ nghĩa xã hội là một ý thức hệ buồn đau đầy tai tiếng, có gốc rễ nảy sinh từ sự ngu dốt hoàn toàn của lịch sử và bản chất con người, đó là lý do vì sao chủ nghĩa xã hội, đến cuối cùng luôn luôn khiến bạo chúa ra đời. Những người chuộng chủ nghĩa xã hội thuyết giảng về tình yêu đối với những người khác biết, nhưng họ khăng khăng bắt tất cả đều phải khuất phục hoàn toàn.

Chúng ta biết rằng chủ nghĩa xã hội không phải tồn tại vì công lý, không vì bình đẳng, không vì giúp người thoát nghèo khổ. Chủ nghĩa xã hội tồn tại vì một mục đích duy nhất: Quyền lực cho những kẻ thống trị. Và khi chúng có càng nhiều quyền lực, chúng càng thèm khát quyền lực. Họ muốn cai quản y tế, cai quản giao thông, tài chính, năng lượng, giáo dục – tất cả mọi thứ.

Họ muốn có quyền phán quyết ai thắng ai bại, cho phép ai ngoi lên và ai phải hạ đài, cái gì đúng cái gì sai và thậm chí là ai sống ai chết.

Tóm lại, tất cả chúng ta ở đây hôm nay biết rằng không có điều gì kém dân chủ hơn chủ nghĩa xã hội. Ở mọi nơi, bất cứ đâu nó xuất hiện, chủ nghĩa xã hội sinh sôi dưới lá cờ tiến bộ, nhưng cuối cùng nó chỉ mang lại tham nhũng, bóc lột và tàn phá.

Ở cùng với chúng ta hôm nay là David Smolansky. David và một trong những thị trưởng trẻ nhất trong lịch sử Venezuela khi chính quyền Maduro cách chức và ra lệnh truy nã anh. David bỏ trốn vào khu rừng rậm đầy nguy hiểm phía nam. Cuối cùng, anh đến được Brazil, nơi chào đón anh với vòng tay rộng mở.

Hôm nay, David sống lưu vong ở Mỹ, nơi anh tiếp tục lên tiếng cho nhân dân Venezuela. Một bi kịch là David là thế hệ thứ ba trong gia đình chạy trốn khỏi nỗi thống khổ của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ông bà David chạy khỏi Liên Xô năm 1927 và cha anh chạy trốn cộng sản Cuba năm 1970.

Như David nói: “Tôi muốn một điều khác với ông tôi và cha tôi, đó là trở về quê hương. Ông bà tôi chưa bao giờ trở lại Kiev, cha tôi chưa bao giờ trở lại Havana. Tôi hy vọng có thể sớm trở lại Venezuela”.

Tôi nghĩ rằng điều đó sẽ sớm xảy ra. Sự dũng cảm của bạn, David, là một niềm cảm hứng. Mà không chỉ David, rất nhiều người trong phòng này đã phải chịu đựng quá nhiều, nhưng các bạn đang chứng kiến nó kết thúc. Lần đầu tiên, các bạn sẽ nhìn thấy nó kết thúc, bởi vì Hoa Kỳ, một quốc gia thực vĩ đại, đang ở sau lưng các bạn.

Và trong khi Hoa Kỳ ủng hộ dân chủ ở Venezuela, chúng tôi tái xác nhận tình đoàn kết với nhân dân khổ đau Cuba và Nicaragua, và những dân tộc bất cứ nơi đâu đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản.

Và hỡi những kẻ đang muốn áp đặt chủ nghĩa xã hội cho nước Mỹ, chúng tôi lặp lại một thông điệp vô cùng đơn giản: Hoa Kỳ sẽ không bao giờ là một quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta sinh ra đã tự do và sẽ mãi mãi tự do.

Chúng ta biết tự do có thể làm gì cho Venezuela bởi vì ta đã tận mắt chứng kiến tương lai đó ngay ở đây, ở Doral.

Chúng ta biết tự do có thể làm gì cho Cuba bởi vì ta đã tận mắt chứng kiến tương lai đó ở Miami. 

Chúng ta biết tự do có thể làm gì cho Nicaragua bởi vì ta đã tận mắt chứng kiến tương lai đó ở Sweetwater.

Và một ngày nào đó, với hồng ân của Chúa, chúng ta sẽ chứng kiến những gì người dân sẽ thực hiện ở Caracas, Managua và Havana.

Và khi Venezuela tự do, khi Cuba tự do và Nicaragua tự do, chúng ta sẽ trở thành bán cầu đầu tiên được hưởng tự do trong toàn bộ lịch sử loài người.

Được ở đây với các bạn ở đây là vinh hạnh của tôi và Đệ nhất phu nhân. Chúng ta đang chiến thắng. Chúng ta đang thắng ở tất cả các mặt trận.

Cảm ơn các bạn. Cầu Chúa phù hộ cho các bạn. Cầu Chúa phù hộ cho nhân dân Venezuela. Cầu Chúa phù hộ cho nhân dân Cuba. Cầu Chúa phù hộ cho nhân dân Nicaragua. Và Xin Chúa phù hộ cho Hoa Kỳ.



Trọng Đức chuyển nghĩa

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2019

"Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người"...


“CHIỀU NAY THẤY HOA CƯỜI CHỢT NHỚ MỘT NGƯỜI…”
(Nhớ một chiều xuân – NS Nguyễn Văn Đông)


Cách đây đúng 1 năm, ngày 11 tháng Giêng âm lịch, cũng một buổi chiều xuân, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đang trong bệnh viện, nhờ cô cháu ở cùng nhà mua nước mía, dặn dò: "Đừng bỏ đá uống nhạt" và uống khen ngon.
Quê nhà ở xã biên giới Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, Tây Ninh - vốn khô cằn nhưng mía Tây Ninh lại ngọt nổi tiếng. Liệu những vườn mía quê xưa có khiến vị nhạc sĩ này thích uống nước mía hơn các loại nước uống khác?
Đó là ly nước mía - vị ngọt quê nhà Tây Ninh cuối cùng của ông, vì chỉ ít phút sau thì ông ra đi - 19g30 ngày 26-2-2018 (11 tháng Giêng năm Mậu Tuất) ở Bệnh viện Chợ Rẫy, TP.HCM.
Chuyện ẩm thực mỗi người thiệt ra cũng khó nói. Chỉ biết chắc rằng tâm hồn, tính cách vị nhạc sĩ "Chiều mưa biên giới" ấy như cây mía Tây Ninh quê ông, khô quắt bên ngoài nhưng bên trong ngọt lịm; ngọt như những dòng nhạc ông viết. Từ nhạc lính (VNCH) cho đến nhạc đạo (dù ông theo đạo Phật): Chiều mưa biên giới, Vạn dặm sơn khê, Phiên gác đêm xuân, Bến đò Biên giới, Về mái nhà xưa, Niềm đau dĩ vãng, Hải ngoại thương ca, Khi đã yêu, Bóng nhỏ giáo đường, Tình người ngoại đạo, Ave Maria (Lời Việt từ nhạc Franz Schubert), Đêm thánh huy hoàng (nguyên tác Stille Nacht của Franz Xaver Gruber; bài này có một lời Việt khác là "Đêm thánh vô cùng" do Hùng Lân soạn), Hồi chuông nửa đêm (Nguyên tác Jingle Bells của James Lord Pierpont)...
Vì vậy, sau khi ông ra đi, có nhà thờ ở Bến Tre đã tổ chức lễ cầu nguyện cho ông nhân 49 ngày - theo đúng thông lệ những người theo đạo Phật (người Công giáo thường "xin lễ" khi đủ 100 ngày).
Ngoài Nguyễn Văn Đông, ông còn ký tên Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử...
Ông sinh 15-3-1932 ở Bến Cầu, Tây Ninh; theo binh nghiệp từ năm 14 tuổi (1946) ở Trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu và chức vụ cuối cùng trong Quân lực VNCH là đại tá Chánh văn phòng Tổng tham mưu phó Quân lực VNCH.
Khi trong Thiếu sinh quân, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp; thành viên Ban Quân nhạc Thiếu sinh quân, sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ và 16 tuổi đã có những sáng tác đầu tay: Thiếu sinh quân hành khúc, Tạm biệt mùa hè...
Trước 1975, tên tuổi của ông lừng lẫy một cách đằm thắm - như tính cách của ông, không phải bằng binh nghiệp (dù tướng Dương Văn Minh từng bắt tay ngưỡng mộ ông trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu) mà là những tác phẩm âm nhạc.
Tính cách nhẹ nhàng, yêu quê hương da diết của nhạc sĩ cũng khiến ông không chỉ viết tân nhạc mà còn cả cổ nhạc: viết nhạc, đạo diễn trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước 75 như: Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng…
Thập niên 1950, ở tuổi đôi mươi, ông là Trưởng ban (văn nghệ) Vì Dân; 26 tuổi (1958), ông là Trưởng ban (ca nhạc) Tiếng thời gian của Đài Phát thanh Sài Gòn. Ông từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia do đích thân bà Trần Lệ Xuân, phu nhân cố vấn Ngô Đình Nhu trao.
Phía sau cuộc sống khói lửa binh nghiệp thời chiến, phía sau ánh đèn sân khấu, dù là đại tá Chánh văn phòng Tổng tham mưu phó Quân lực VNCH, ông lui về ngôi nhà nhỏ trên đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) vốn gần khu vực những ngôi nhà bị dân chiếm của khu trồng trọt cây giống và ở cho đến lúc ra đi. Nhà ông mặt tiền cách nhà của nhà thơ Bùi Chí Vinh trong hẻm - cũng dân "ngoại ô" Ông Tạ - vài bước chân. Sống lặng lẽ từ trước 75, sau 75 và cả khi cải tạo về năm 1985 cho đến lúc ra đi...
Ông đạo Phật, con trai duy nhất một gia đình điền chủ vừa vừa ở Tây Ninh, gần nơi có xóm đạo Tha La bao phen binh lửa (nhưng ông sinh ra và học ở quận Nhứt, Sài Gòn). Rồi sau đó sống ở vùng "ngoại ô" khu "thủ phủ" Bắc di cư Công giáo Ông Tạ, thuộc khu nhà thờ Ba Chuông (Đa Minh) nên có nhiều nhạc phẩm Công giáo rất nổi tiếng: Bóng nhỏ giáo đường, Màu xanh Noel, Mùa sao sáng, Tình người ngoại đạo... Và viết lời Việt cho một số bản nhạc cổ điển, nhạc ngoại: Ave Maria, Đêm thánh vô cùng (Stille Nacht), Hồi chuông nửa đêm (Jingle Bells)...
Tất cả đều là những giai điệu êm ả, nhẹ nhàng - như tính cách của ông: khi hành quân ở Đồng Tháp, lính tráng thời chiến thường đi săn bắn ở vùng biên giới lúc đó còn hoang sơ, ông thú thiệt "săn một con vật về cũng thương, ăn không được". Cô cháu ở cùng nhà bảo: "Chưa bao giờ thấy ông la ai một tiếng".

Theo binh nghiệp cả đời nhưng nhạc của ông không hề hứng thú với chiến tranh, thậm chí tác phẩm nổi tiếng "Chiều mưa biên giới" (cùng với "Mấy dặm sơn khê" của ông và 15 ca khúc khác) có lúc bị Bộ Thông tin của chính quyền VNCH yêu cầu Đài phát thanh Sài Gòn không thu âm và phổ biến vì hơi hướng phản chiến, với ca từ bắt đầu trong hoang mang của một anh lính: "Chiều mưa biên giới anh đi về đâu - Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu..." (những năm 1955 - 1956, ông đóng quân ở khu biên giới Đồng Tháp Mười).
Nhạc phẩm này thoạt đầu do ca sĩ Trần Văn Trạch (em nhạc sĩ Trần Văn Khê) hát với giọng miền Tây, cụ thể là giọng Mỹ Tho rặt; s/x, ch/tr... rành mạch. Sau do ca sĩ Hà Thanh, người Huế nhưng hát với giọng Hà Nội xưa - trong trẻo, tròn vành rõ tiếng rất sang trọng chứ không uốn éo, ma mị như một vài ca sĩ Hà Nội hiện nay. Khác hoàn toàn giọng, nhưng cả hai ca sĩ đều hát với giọng ca rung động lòng người khi ấy và cả hôm nay.
Tôi quen và là "khách ruột" mua giò chả, phômai... mấy chục năm nay ở cửa hàng của vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, cô Nguyệt Thu. Cô Thu cùng quê Gò Công với hoàng hậu Nam Phương (nhưng như chú, quê Tây Ninh nhưng cả hai vợ chồng đều sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn) và nét mặt cũng hao hao: mặt thon dài, trắng trẻo, mắt một mí lót, hơi xếch; vốn là quản lý Hãng dĩa hát Continental mà ông là giám đốc nghệ thuật. Cô Nguyệt Thu về với ông năm 1968, ở nhà mướn khu cư xá Đô Thành.
Hai năm sau, năm 1970, hai vợ chồng trẻ mới gom góp tiền mua ngôi nhà nhỏ gần góc đường Nguyễn Minh Chiếu - đại lộ Cách Mạng 1-11 (nay là Nguyễn Văn Trỗi) lúc đó còn rất vắng vẻ, nhưng gần nơi chú làm việc là trụ sở Bộ Tổng tham mưu VNCH.
Thực sự nhiều người ngạc nhiên khi lúc đó ông là sĩ quan cấp tá Bộ Tổng tham mưu VNCH, rồi là giám đốc 3 công ty băng dĩa thuộc hàng lớn nhất Sài Gòn lúc đó mà lại mua ngôi nhà nhỏ ở khu vực nhà cửa khi ấy khá lụp xụp như vậy (ở sát khu vực vốn là đất trồng cây giống của Sở Bảo vệ mùa màng VNCH bị thương phế binh VNCH chiếm). Thời điểm đó, cách vài bước chân là ra đại lộ Cách Mạng 1-11 có rất nhiều ngôi nhà lớn, biệt thự của sĩ quan VNCH chức vụ và cấp bậc còn dưới ông.
Niềm vui hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ chỉ được vài năm. Sau 75, ông đi cải tạo. Cải tạo về năm 1985 với nhiều bịnh; cô phải bồng bế ông, chăm sóc từng chút. Ông không chịu định cư ở Mỹ theo diện HO do nhiều lý do. Cô Nguyệt Thu vẫn lặng lẽ một cách sang trọng chăm sóc chồng, từ cửa hàng ban đầu bán cám gà, chuối... rồi mới thành tiệm bán thịt nguội, tạp hóa nhỏ Nhiên Hương mà tôi đi qua hàng ngày, ghé mua hàng ngày và tết nào cô cũng lì xì tôi: khi hộp bánh, khi gói lạp xưởng...
Cửa hàng tên Nhiên Hương phải chăng là suy nghĩ của hai vợ chồng: "Hữu xạ tự nhiên hương", không cần phải gồng mình, lớn tiếng khẳng định? Và cả hai vợ chồng đều sống lặng lẽ, lặng lẽ đến mức khi ông ra đi, nhiều người hàng xóm và khách mua hàng mới biết ông là tác giả nhiều nhạc phẩm họ yêu thích...
Riêng nhạc sĩ không hề phát biểu gì sau khi cải tạo về. Lãnh sự quán Mỹ liên hệ kêu đi HO (đại tá VNCH, đi cải tạo 7 năm mà, đi không khó), chú cũng từ chối. Nhà thơ Bùi Chí Vinh nổi tiếng sống trong hẻm sát cạnh đó, mua đồ ở tiệm mấy chục năm cũng không hề biết; khi chú ra đi mới sửng sốt, ra thắp nhang tiễn đưa.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sống lặng lẽ như khi còn trong Trại cải tạo Suối Máu (Biên Hòa, Đồng Nai), ông nằm lắng nghe tiếng xe lửa chạy xình xịch cách trại không xa và viết nhạc phẩm không lời "Tiếng chim hót trong lồng". Lặng lẽ nhớ Sài Gòn, nơi ông sinh ra, lớn lên cho một nhạc phẩm có lời: "Sài Gòn trong trái tim tôi": "Cho nhớ thương vời vợi… Sài Gòn luôn trong trái tim tôi…”...

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ra đi sau giao thừa thứ 87 của đời mình và chỉ hơn nửa tháng nữa là sinh nhật ông. Thế là hết những "Phiên gác đêm xuân": "Đón giao thừa một phiên gác đêm...". Đến ngôi nhà nhỏ (chiều ngang khoảng 3m; do vợ chồng ông gom góp mua từ năm 1970, sau hai năm về với nhau) thắp nhang, cô Nguyệt Thu gương mặt vẫn sang trọng nhưng đôi mắt đỏ hoe: "50 năm cô chú đã đi cùng nhau và 48 năm ở ngôi nhà nhỏ này...".
Và những ngày sau đó, cô Thu gầy sụp đến 4 -5kg - trong khi cô vốn gầy yếu; lơ thơ đi lại, sống với ngôi nhà ngập tràn kỷ niệm xưa. Người thân hoảng. Ngày 5-8-2018, cô kêu tôi tới nhà tặng đĩa nhạc tưởng niệm chú do chương trình Thúy Nga tổ chức ở Mỹ, thấy cô gầy sọp mà không cầm nổi nước mắt.
Trong cơn buồn đau, cô còn có ý định đốt bỏ hết những tư liệu, di cảo âm nhạc của chú; bán ngôi nhà kỷ niệm, mang bàn thờ chú, ba mẹ chú về quê cô ở Gò Công thờ. Sao không mang về Bến Cầu? "Cả chục ha đất quê sau 75 không còn..." - cô bảo. Tôi cầm bàn tay trơ xương của cô xin cô bình tĩnh, ăn uống cho lại sức. Khi bớt đau, tính gì thì tính chứ giờ chắc chắc cô chưa tỉnh đâu.
Hôm tết, cô nằng nặc bắt tôi phải nhận đòn chả lụa và tấm bánh chưng Bắc "chú cho về cúng mẹ".
Hôm nay 11 tháng Giêng là đúng giỗ đầu của ông. Nhưng thật ra, cô đã tổ chức giỗ chú từ hôm qua, 10 tháng Giêng vì mẹ chú đi 10 tháng Giêng năm 1948, khi chú 16 tuổi. Giỗ chung hai mẹ con.
"Hồi trước, Công tới mua đồ hàng ngày. Chú ngồi trên phòng cứ hỏi thăm. Giờ chú về dặn nấu xôi chè, gởi Công đó..." - cô Thu đỏ hoe mắt khi kêu tôi tới nhận xôi chè cô nấu...
Với tôi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, đó là một trong ba nhạc sĩ lớn nhất miền Nam trước 1975 cùng Phạm Duy, Trịnh Công Sơn.

Nhạc sĩ Phạm Duy viết nhạc đa dạng, gần gũi mọi lứa tuổi; có cuộc sống sôi động dù không phải không có ít nhiều điều tiếng trong sinh hoạt riêng tư. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết nhạc với những hợp âm đơn giản nhưng ca từ sâu sắc; trong cuộc sống riêng, cũng có ý kiến ít nhiều lăn tăn, đặt vấn đề về thái độ thật với cuộc sống của vị nhạc sĩ này.
Nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thì có một vẻ khác biệt rất rõ: sang trọng một cách nhẹ nhàng, sâu lắng và đẫm yêu thương. Và ông sống với một nhân cách sống của kẻ sĩ miền Đông Nam bộ trong thời tao loạn: hiền lành nhưng cứng cỏi giữ tiết tháo, không thay đổi cả trong lúc khó khăn đến tận cùng.
Và như tính cách của ông, mùa xuân trong nhạc ông sao mà sâu lắng và buồn quá, buồn mênh mông cả trong ca từ lẫn nhịp nhạc...
Năm nay, lập xuân ngày 30 tháng Chạp (4-2-2019). 11 tháng Giêng hôm nay (15-2-2019) vẫn còn lập xuân. Hoa xuân vẫn còn tươi trước cửa nhiều nhà.
Không hiểu sao lúc nào tới nhà cô chú cũng gặp hoa cúc vàng - một loài hoa của mùa xuân miền Nam. "Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người..."...

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2019

Chuyến thăm Đà Lạt của GS ‘t Hooft



Nguyễn Xuân Xanh

Lời nói đầu. Tôi có may mắn tháp tùng GS Gerard ‘t Hooft và phu nhân, từ phi trường Tân Sơn Nhất lên Đà Lạt, và chuyến tham quan thành phố, cũng như buổi thuyết trình tại đại học vào đầu tháng 5 vừa qua. Dưới đây là bài viết của tôi ghi lại một số sự kiện của chuyến đi, đời thường cũng như khoa học. Tôi có thêm đôi chút ý kiến riêng trong phần khoa học như một sự bổ sung, cũng như những cảm nghĩ và mơ ước thô thiển cá nhân. Trong mạch này, tôi kể lại chuyến thăm có nhiều hệ quả của Einstein ở Buenos Aires, thủ đô của Argentina, năm 1925, cũng như hai nước khác của Nam Mỹ. Hôm nay chúng ta có một chuyến đi rất vui, một buổi nói chuyện khoa học thật thú vị. Hãy mơ, và nuôi dưỡng, chấp cánh cho giấc mơ để một ngày nào có một sự đổi thay tốt đẹp cho Việt Nam. NXX
***
Nghệ thuật quan trọng nhất của người thầy là đánh thức niềm vui sáng tạo và nhận thức.A. Einstein
Như đã được báo trước trong Thông cáo báo chí, Giáo sư Gerard ‘t Hooft có hai ngày thăm thành phố Đà Lạt. Ông đến chiều tối ngày 5/5, tham quan ngày 6/5, nói chuyện tại ĐH Đà Lạt ngày 7/5 và rời Đà Lạt chiều hôm đó đi Nha Trang và Quy Nhơn.
Chuyến đi thăm Đà Lạt của GS ‘t Hooft là một sự kiện rất ư thú vị cho thành phố. Từ 125 năm qua khi thành phố được khám phá bởi Bác sĩ Yersin, Đà Lạt là thành phố của quan quyền Pháp Việt, nơi nghĩ dưỡng của họ, thành phố của giới trung lưu sang trọng, của nhà thờ, tu viện, trường học, các villa đẹp, và của hoa. Vào thời Việt Nam mở cửa kinh tế, có một người khách lạ đầu tiên đến vùng đất này, đã đem lòng yêu nó, và đầu tư mà cơ sở ngày nay được biết đến là Cty hoa Đà Lạt Hasfarm. Ông là người Hà Lan. Và hôm nay thành phố được tiếp một vị khách đặc biệt, nhà vật lý giải Nobel rất tên tuổi Gerard ‘t Hooft, cũng từ Hà Lan. Ông không phải nhà đầu tư như thường lệ, mà mang đến cho Đà Lạt tri thức, và muốn đánh thức các tài năng.
Cái ‘duyên’ GS ‘t Hooft đến Đà Lạt có được là do ‘ông tơ bà nguyệt’ Trần Thanh Vân và Lê Kim Ngọc ‘se’. GS ‘t Hooft quyết định thăm “thành phố cao nguyên”, từng được ví là một “Paris nhỏ”, nằm cao 1.500 mét trên mặt biển. Ông có thể xem trên mạng, nhưng có lẽ chưa hình dung về thành phố thanh lịch và đáng yêu này.
Hôm đi máy bay từ Sài gòn lên phi trường Liên Khương, do bị trễ, ông bà không thấy gì không gian ngoài bầu trời tối. Ông bà được đội tiếp tân của Edensee resort tiến đón với hai vòng hoa choàng cổ, và hai hàng người hoan nghênh chào đón. Sau đó họ được đưa lên xe limousine về resort. Trời tối nên chỉ thấy qua ánh đèn xe những khoảnh nhỏ rừng thông hai bên đường trong sự tĩnh mịch. Tại Edensee resort, ông bà được hai vợ chồng doanh nhân Việt kiều Đức, anh Tiêu Như Phương và chị Bạch Mai, chào đón trọng thể với tất cả lòng hiếu khách và sự quý trọng. Resort này đẹp và sang trọng có lẽ thuộc loại “đệ nhất đẳng” tại Đà Lạt, tọa lạt tại một vị trí độc đáo bên bờ hồ Tuyền Lâm, có lẽ là resort đầu tiên của khu hồ. Resort có sức phục vụ các hội nghị “ma-mút” rất lớn, nhưng trong những ngày ít khách, nó chìm trong không gian lắng đọng thần tiên. Đã từng có một đoàn khách Thái Lan từ Chiang Mai đến nghỉ, để được thiền với vài vị sư của họ, bởi họ tìm thấy ở đây một không khí lý tưởng cho việc hành thiền!
Tôi hôm đó, vợ chồng GS ‘t Hooft được chiêu đãi một bữa cơm Việt Nam thanh lịch rồi đi ngủ sớm sau một chuyến bay mười nghìn cây số. Khách mời tiệc tối là TS Phạm S, phó chủ tịch UBND tĩnh Lâm Đồng phụ trách khoa học công nghệ. Ông là người ủng hộ tích cực cuộc thăm viếng của GS ‘t Hooft.
***
Sáng hôm sau, tôi chắc rằng khi vén các bức màn cửa sổ để nhìn ra khung cảnh bên ngoài, ông bà t’ Hooft sẽ cảm nhận một cảnh “thần tiên” có thật: trước mặt là hồ Tuyền Lâm nước xanh lung linh, xung quanh là rừng thông hàng hàng trên các sườn đồi lượn khúc xen lẫn những tia nắng vàng ấm áp đầu tiên của ngày. Mặt trời, rừng thông xanh, sự tĩnh lặng bao trùm, một cảnh tượng hài hòa thánh thiện biết bao. Chắc phải vui lắm đối với ông bà, giúp mau quên nỗi đi xa mệt nhọc. Ở “thiên đường” đâu ai bao giờ biết mệt. Đất nước của ông bà là đồng bằng. Cái “núi” đầu tiên ông thấy ở tuổi thơ, như được kể trong tự truyện (Tiểu sử Giáo sư Gerard ‘t Hooft), chỉ là một cái đồi cao hơn 100 mét ở Anh!
Điểm tâm xong, ông bà ‘t Hooft, với sự phối hợp với Sở du lịch tỉnh Lâm Đồng, được đưa đi tham quan một số nơi và giải thích về thành phố “Paris nhỏ” này. Xe chạy ngang qua hồ Xuân Hương vào khu trung tâm cho biết. Thành phố tương đối khang trang hơn trước, tuy cũng có vài kiến trúc “hiện đại” không mấy phù hợp lắm với cái nền cổ điển. Ông bà đi thăm một số nhà thờ kiến trúc xưa, trong đó có “nhà thờ con gà”, tức nhà thờ chính tòa đường Trần Phú (tên xưa St Nicholas of Bari Cathedral), nhà ga xưa Đà Lạt, trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt (tên xưa Petit Lycée Dalat), tất cả có kiến trúc Pháp ấn tượng. Và trưa hôm đó ông bà đến thăm làng nuôi dạy trẻ mồ côi SOS của vợ chồng GS Trần Thanh Vân & Lê Kim Ngọc gầy dựng. Buổi thăm trẻ mồ côi có lẽ là một sự kiện thú vị và sinh động nhất đối với ông bà. Khoảng 150 em, cùng với những “bà mẹ nuôi” tề tựu trong sân làng SOS để đón tiếp hai vị khách quý. Họ chụp ảnh lưu niệm và ăn trưa chung trong sân làng. Mọi người đều cảm thấy niềm vui lạ. GS ‘t Hooft nói ý nghĩ của ông, làm sao để các em được giáo dục sớm đến với khoa học. Tôi thầm nghĩ, một chuyến tham quan ở planetarium Quy Nhơn sắp khai trương sẽ là một cuộc khám phá truyệt vời trong đời thơ ấu của các em! Việt Nam làm gì có? Làm gì có những công trình giáo dục khoa học kỹ thuật như thế? Làm gì có được những “cánh cửa sổ” mở ra thế giới khoa học công nghệ, những thứ đã định hình nền văn minh phương Tây, và từ lâu đã tràn qua châu Á?
Buổi chiều trời mưa nên tiết mục chèo kayak trên hồ Tuyền Lâm bị hủy. Tối đến ông bà đi dự buổi chiêu đãi của Sở Văn hóa và Thông tin và nghe nhạc cồng chiêng. Ông bà đã tham gia nhiệt tình vào sinh hoạt văn nghệ với các nghệ nhân dân tộc nam nữ trong những bộ đồ và dụng cụ âm nhạc đặc trưng của họ. Từ hạt Higgs thâm sâu, và các hạt cơ bản ông trở về sống với những cảm giác của nhân loại xa xưa và mộc mạc.
Khác với vợ, GS ‘t Hooft lúc nào cũng ít nói, tập trung. Ông chăm chú ngắm các công trình kiến trúc Pháp và chụp ảnh các loài hoa lạ. Ông không dễ để ngoại cảnh kéo ra khỏi thế giới của ông. Ông giống một “absent-minded professor”, nhưng không phải “đãng trí”, mà luôn luôn sống trong “chánh niệm” trong thế giới của ông.
***
Sáng hôm sau chúng tôi đến trường Đại học Đà Lạt. Ngài hiệu trưởng Nguyễn Đức Hòa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, TS Phạm S, Phó hiệu trưởng Nguyễn Văn Kết và nhiều vị lãnh đạo khác đã có mặt sẵn lúc 9 giờ, rất đúng hẹn. Họ mời GS ‘t Hooft và chúng tôi vào phòng riêng để chào mừng, và giới thiệu hoạt động của đại học, cũng như nhân sự. Có vợ chồng GS Trần Hà Anh và chị Hà Ngọc Mai, những Việt kiều Pháp đã gắn bó với đại học từ những năm hòa bình lập lại. Có GS Phù Chí Hòa, người làm vật lý lý thuyết thuộc thế hệ hòa bình, đồng thời là trưởng khoa sư phạm, GS vật lý rất trẻ Nguyễn Đăng Chiến. Tất cả buổi nói chuyện cũng như thuyết trình sau đó đều được thông dịch bởi một người chúng tôi được biết dưới cái tên Tú Anh, duyên dáng và rất chuyên nghiệp. Cô tốt nghiệp tiến sĩ vật lý tại Hàn Quốc, và là trưởng phòng quan hệ quốc tế của đại học. Cô đã góp phần quan trọng trong sự thành công của buổi diễn thuyết.
Hiệu trưởng Nguyễn Đức Hòa đánh giá cao sự hiện diện của GS ‘t Hooft thông qua tổ chức Gặp gỡ Việt Nam của GS Trần Thanh Vân. GS ‘t Hooft là nhà khoa học đạt giải Nobel đầu tiên đến thăm và nói chuyện, đó là một vinh dự rất lớn cho Đại học, ông nói.
Phòng diễn thuyết đại học lớn vừa phải, có sức chứa khoảng hơn 100 người. Khi chúng tôi đến, phòng đầy ắp người, phần lớn các bạn trẻ, trong một không khí náo nức. Chỉ hơi tiếc một điều, hôm đó là thứ hai, các em học sinh cấp III, nhất là của các trường chuyên, phải đi thi, nên các em không thể có mặt, điều GS Trần Thanh Vân lấy làm tiếc.
***
Lần theo bài nói chuyện
Bài thuyết trình của GS Gerard ‘t Hooft là rất thú vị cho những người yêu vật lý, vẻ lên một cầu vòng ngủ sắc của vật lý hiện đại đã diễn ra nửa đầu và nửa sau thế kỷ trước. Ông đi từ thế giới phân tử, thế giới nanao, sang thế giới hạt cơ bản như quark, lepton và gluon, và các lực chi phối, lực yếu, lực điện từ và lực mạnh, tất cả tạo thành cái gọi là Mô hình chuẩn mà ông là một trong những người cha khai sinh. Mô hình này đã hình thành rõ nét những năm đầu1970 và có thể gải thích tất cả các hiện tượng vi mô hoàn toàn khớp với các kết quả thí nghiệm. Cao điểm là hạt Higgs, và cơ chế BEH (Brout-Englert-Higgs), cơ chế đã tạo ra khối lượng cho vật chất, mà nếu không có, sẽ không có gì hết, kể cả chúng ta. Thế giới hạt cơ bản được qui định bởi cơ học lượng tử và thuyết tương đối hẹp Einstein.
Những vẫn còn một lực còn nằm ngoài mô hình trên. Đó là lực hấp dẫn, lực cực kỳ yếu so với ba lực nguyên tử trên, nhưng lại có “quyền năng” điều khiển các khối lượng vật chất cấp hành tinh, thiên hà. Lực này được giải thích lần đầu tiên bởi Isaac Newton thế kỷ 17 như định luật hấp dẫn vũ trụ, tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách. Hơn 250 sau lực này được Albert Einstein “tinh luyện” bằng thuyết tương đối rộng với hệ thống các phương trình trường diễn tả lực hấp dẫn như độ cong của không-thời gian là thế giới thực chúng ta đang sống. Thuyết này có khả năng diễn tả lực hấp dẫn chính xác hơn ở những nơi mà lực này thất bại với Newton.
Chính từ thuyết tương đối rộng này người ra rút ra những hệ quả mang tính “kỳ dị” khó tin: big bangvào buổi sơ khai của vũ trụ, và lỗ đen nơi “chôn vùi” ngay tất cả những gì đến gần nó.
Lỗ đen là những vật thể lạ lùng, do mật độ vật chất tập trung cao độ nên nó có thể hút tất cả vật chất, cả ánh sáng nào đến gần nó, và không cho bất cứ cái gì thoát đi. Nhưng các thăng giáng lượng tử (quantum fluctuations) trong một trường hấp lực mạnh − và đây là khám phá độc đáo của Hawking những năm đầu 1970 − lại cho phép bức xạ thoát ra khỏi quyền năng của hấp lực vô cùng mạnh mẽ, tạo thành bức xạ Hawking một cách yếu ớt với một nhiệt độ nhất định. Lỗ đen, do đó, với thời gian sẽ tự mất dần năng lượng và khối lượng của nó. Đó là một nghịch lý, và cũng là nghịch lý giữa lực hấp dẫn và cơ học lượng tử. Các lỗ đen càng nhỏ, dòng hạt phát ra càng mạnh, làm cho lỗ đen càng nhỏ hơn, cường độ tiếp tục tăng lên cho đến khi bùng nỗ!
Tại đường chân trời (nơi không có điểm trở về), thời gian ngừng chảy đối với người quan sát từ xa, nhưng đối với một người bước vào đó, thì anh ta vẫn nghĩ thời gian vẫn tiếp tục. Hãy tưởng tượng điều gì xảy ra khi chúng ta xem xét cơ học lượng tử trong sự hiện diện của các lỗ đen? Những điều lạ lùng xảy ra đối với các hạt. Còn không gian, thời gian thì sao? Trên nguyên tắc, các lỗ đen có thể nhỏ hơn những hạt căn bản nhỏ nhất đã tìm thấy trong các phòng thí nghiệm.
Các lỗ đen có phải chính chúng là những hạt cơ bản không? Đâu là các phương trình cho một lỗ đen? Lỗ đen sẽ dẫn ta đến một “thế giới khác” bằng “cầu nối Einstein-Rosen” (ký hiệu ER)? Sự hiện diện của “thế giới khác” dẫn đến các vấn đề. Thông tin có thể rò rĩ sang thế giới kia, và trở lại chăng?
Nếu thế thì một lỗ đen riêng lẽ tự nó không thể tuân thủ các phương trình cơ học lượng tử. Nhưng chẳng phải chúng ta đã sử dụng cơ học lượng tử để khám phá các hạt Hawking hay sao? “Không thể được”, theo Leonard Susskind (Quyển sách tham khảo: The Black Hole War – My Battle with Stephen Hawking to Make the World Safe for Quantum Mechanics của Leonard Susskind)
Bây giờ chúng tôi tin tưởng rằng cầu Einstein-Rosen đơn giản nối các điểm đối ngược nhau của cùng một lỗ đen. [Juan Maldacena và Leonard Susskind gợi ý rằng ER = EPR, nghĩa là cầu nối Einstein-Rosen có tính chất thực hiện sự vướng víu lượng tử giữa hai miền của lỗ đen. Người viết] Chúng tôi đã khám phá rằng điểu này đã tái lập một cách chính xác các định luật cơ bản của cơ học lượng tử cho một lỗ đen đơn độc.
(Một slide của bài diễn thuyết powerpoint của GS ‘t Hooft. Cám ơn GS.)
Lỗ đen là một không bào (vacuole): bên trong nó, không-thời gian không phải rỗng. Và cũng không có chút không-thời gian nào trong đó!
Nếu bạn có thể vượt qua đường chân trời với tốc độ lớn hơn ánh sáng, bạn sẽ xuất hiện lại bên kia lỗ đen! Bởi vì lỗ sâu (wormhole, như cầu ER) kết nối lỗ đen với chính nó. Nhưng bạn xuất hiện với sự đảo ngược-CP (CP-inverted; C phép biến đổi liên hợp điện tích (charge conjugation), P phép biến đổi chẵn lẻ điện tích (parity transformation), và đảo ngược-T (sự đảo ngược thời gian, time reversal). Lúc đó sẽ có “hệ quả quan sát được”: sự vướng víu lượng tử đối cực của các hạt Hawking [antipodal entanglement (EPR) of the Hawking particles]. Có thể các thăng giáng lượng tử dẫn đến các “lỗ đen ảo” (virtual black holes) khắp mọi nơi!
Ở đó kết thúc câu chuyện hành trình vật lý mà GS ‘t Hooft muốn trải lòng với thính giả Đà Lạt.
***
Tôi nghĩ, mọi người hôm đó “ngỡ ngàng” trước bức tranh của vũ trụ diễn ra trước mắt, và có nhiều điều không hiểu. Nhưng tôi tin chắc rằng thính giả Đà Lạt hôm nay hiểu nhiều hơn các thính giả thời Einstein đối với thuyết tương đối một trăm năm trước! Nhưng sự thu hút và truyền cảm hứng mãnh mẽ của mới là điều quan trọng hơn. Có nhiều câu hỏi, nhất là từ các bạn trẻ, đã được nói ra, cũng như chưa được nói ra. Tiếc thời gian đã không cho phép. Về câu hỏi làm sao để trở thành một nhà vật lý lý thuyết giỏi, GS ‘t Hooft cho rằng cần phải có đủ độ đam mê  hoài bão, nếu không muốn nói cháy bỏng, như những điều kiện tiên quyết. Và lao động cật lực. Điều hàm ý phải có một cuộc sống khác, nếu không muốn nói trong “cô đơn và tự do” của Humboldt. Ông đã và còn đang thiết kế một trang mạng “thích học vật lý” giúp sinh viên, người đam mê tự học thêm, và ở đó ông liệt kê những lãnh vực của vật lý hiện đại mà các sinh viên có hoài bảo có thể tham khảo (xem Giáo sư vật lý giải Nobel Gerard ‘t Hooft thăm Đà Lạt: Thông cáo báo chí)
Dường như sau Einstein, chúng ta đang di chuyển đến cột mốc Hawking quan trọng như một bản chỉ đường trong cuộc chinh phục vũ trụ. Trong chốc lát, khám phá của Hawking kết nối ba miền khoa học với nhau: lực hấp dẫn, hay thuyết tương đối rộng, cơ học lượng tử, và khoa học nhiệt. Lỗ đen có thể là viên đá rosetta của vật lý học như dấu hiệu nóng phục vụ cuộc săn lùng bản đồ của Chúa mà Einstein từng trăn trở.
Lỗ đen quả thật chất chứa rất nhiều bí ẩn, khiến các nhà vật lý hàng đầu tập trung vào đó. Bekenstein và Hawking khám phá rằng các bit thông tin chứa trong lỗ đen không hề tỷ lệ với thể tích như thông lệ, mà với diện tích (!), nghĩa là chúng được phân bổ bên trên bề mặt của lỗ đen! Điều đó cho thấy các độ tự do (degrees of freedom, tương ứng với entropy) trong trường hấp lực tỉ lệ với diện tích, khác với những trường hợp không có hấp lực thì tỉ lệ với thể tích. Điều đó có nghĩa là lỗ đen tuân thủ nguyên lý toàn ảnh (holographic principle, ‘t Hooft 93, Susskind 94). Năm 1997, Juan Maldacena chứng minh điều này cho cặp không gian đối ngẫu (duality) /hay tương ứng (correspondence) AdS/CFT. AdS (anti-de Sitter space) có thể hình dung là phần trong của một quả cầu nhiều chiều, một dạng của vũ trụ giới hạn, trong khi CFT (Conformal Field Theory) là bề mặt của nó. Đối ngẫu, hay tương ứng có nghĩa rằng cả hai là tương đương. Cho nên, nếu vũ trụ là một thực thể giới hạn, thì các quá trình vật lý diễn ra trên bề mặt của nó tương đương với những gì diễn ra trong lòng thể tích nó!
Nguyên lý toàn ảnh, hay là sự tương đương giữa bề mặt và không gian bên trong. Những sự kiện vật lý ở bề mặt có thể tái tạo tất cả mọi thứ diễn ra bên trong thể tích của không gian. (Courtesy of Jen Christensen & George Musser)
Đàm Thanh Sơn và các cộng sự nghiên cứu một loại nhớt, và tìm thấy lỗ đen có một độ nhớt vô cùng thấp. Do tính chất tương ứng toàn ảnh nói trên, các hạt quark và gluon tương tác mạnh ở nhiệt độ cao cũng sẽ có độ nhớt rất thấp. Kết quả lý thuyết này đã được kiểm tra là đúng tại phòng thí nghiệm Brookhaven, xác nhận nguyên lý toàn ảo và sự hữu ích của lý thuyết dây đã được sử dung ở đây. Kết quả này có tiếng vang rất lớn trong cộng đồng vật lý. Maldecena có nhắc đến kết quả này trong bài viết The Illusion of Gravity (Ảo giác Hấp dẫn) trên tạp chí Scientific American, 2007.
Tranh luận về thông tin của vật thể khi rơi vào còn hay mất vẫn còn tiếp diễn sôi nổi, cũng như về bản chất không-thời gian, mối quan hệ của nó và hiệu ứng EPR (vướng víu lượng tử Einstein-Podolsky-Rosen). Hệ thức ER=EPR giữa cầu nối Einstein-Rosen và vướng víu lượng tử EPR được Leonard Susskind và Juan Maldacena đề nghị năm 2013, là một tiên đoán nói rằng các hạt vướng víu được nối nhau bởi một cầu ER (hay lỗ sâu), và hệ thức đó có thể làm nền tảng để thống nhất thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử. Lỗ sâu có tác dụng phi cục bộ (nonlocality), nghĩa là có tác dụng như EPR. Người ta nghĩ rằng giữa các hạt vướng víu nhau có thể có một lỗ dâu bé tí nối liền để thực hiện hiệu ứng vướng víu phi cục bộ. EPR, gắn liền với các tên gọi “phi cục bộ”, hay “tác dụng ma quái từ xa” (spooky action at a distance) như Einstein gọi, một thời gian dài bị bỏ quên, rồi được khám phá có thể có những ứng dụng siêu cao cấp trong công nghệ lượng tử, giờ đây có thể trở thành một chìa khóa quan trọng để hiểu bản chất của không-thời gian và cơ học lượng tử! Trong mạch này, tiên đoán Ryu-Takayanagi của hai nhà vật lý Nhật Bản nói rằng entropy vướng víu (entanglement entropy) có một ý nghĩa hình học cho không-thời gian trong một trường hấp lực, cho thấy có mối quan hệ mật thiết giữa vướng víu và hình học của không-thời gian. Hy vọng qua entropy, các phương trình Einstein của thuyết tương đối rộng có thể được tìm thấy lại (Mark van Raamsdonk). Người ta tin rằng EPR sẽ tạo ra không gian. Không có vướng víu, sẽ không có không gian như chúng ta đang sống. Những điều vô cùng thú vị! Ở đây chúng ta nhớ lại rằng “tác dụng từ xa” của lực hấp dẫn Newton ngay từ đầu không thể giải thích được, đó là chỗ lúng túng của ông, làm cho nhiều người bán tín bán nghi. Giải pháp tạm bợ của ông là giả thuyết có một môi trường ether trong không gian làm trung gian cho lực truyền. Mãi 250 năm sau, lực huyền bí này mới được giải thích bằng độ cong của không-thời gian trong thuyết tương đối rộng của Einstein! Và tác dụng của lực không phải là tức thì như tác dụng ma quái từ xa của EPR, mà chỉ được truyền đi từ vật thể này đến vật thể khác theo vận tốc ánh sáng.
Nếu hai phần của vũ trụ vướng víu càng nhiều với nhau, chúng sẽ tiến gần hơn làm thành một khối. Và nếu ngược lại, không gian sẽ tan rã. Có lẽ cũng đúng cho xã hội, trong đó “vướng víu” là các sinh hoạt dân sự kết nối nhau dưới muôn vàn hình thức. Càng có nhiều vướng víu dân sự, quốc gia càng phát triển và vững bền. (Courtesy of Mark van Ramsdonk & George Musser)
Bức tranh ngộ nghĩnh của hai sumo khủng và bé hạt tiêu có thể minh họa cho sự khác biệt của lực hấp dẫn, gravity, thứ chuyển động những vật thể khổng lồ như hành tinh, thiên hà, đối lập với cơ học lượng tử, thứ chuyển động các vật thể nhỏ bé như nguyên tử và các hạt cơ bản. Sự kết hợp của chúng tạo ra bức tranh vũ trụ hôm nay. Người ta vẫn chưa hiểu giữ chúng có điểm chung nào, lại càng không thể thống nhất chúng.
Con người vẫn đi tiếp để thấu hiểu và thống nhất lực hấp dẫn và cơ học lượng tử. Nhưng bất chấp khó khăn, mặc cho lời “cảnh báo” của Wolfgang Pauli: không nên tìm cách thống nhất những gì Chúa đã tách ra, các bộ óc tài năng vẫn đi tìm cái mắc xích còn thiếu. Cái toàn thể, như Hegel nói, mới là chân lý tối hậu. Mục tiêu thống nhất có thể là chuyện thần thoại, nhưng chẳng phải chuyện thần thoại đã từng nuôi dưỡng khoa học hay sao? Và sự thống nhất bao giờ cũng đem lại những kết quả mới hoàn toàn ngạc nhiên, như sự thống nhất điện-từ, với sự tiên đoán sóng điện từ và giúp hiểu bản chất ánh sáng, hay sự thống nhất hai lực yếu và điện từ, gọi là lực điện-yếu, tiên đoán bốn hạt boson không khối lượng của lực, những thứ được tìm thấy sau đó. Chính lý thuyết mới quyết định cái gì có thể quan sát được, như quan điểm triết lý của Einstein!
***
Ngày hôm đó, tôi có cảm tưởng, trên bầu trời Đà Lạt xuất hiện một vì sao chổi, sao chổi của tri thức  ánh sáng. Nếu nhìn xa hơn, chỉ cách đó vài trăm cây số, người ta sẽ còn thấy một nơi mà các sao chổi xuất hiện từng chùm: Quy Nhơn. Hãy chiêm ngưỡng, và biến năng lượng bên trong thành tác phẩm. Khoa học nói cho cùng là tác phẩm của óc tò mò vô hạn.
Từ nghìn năm, người ta nhìn thấy sao chổi trên trời mà không lý giải được. Isaac Newton, người huyền thoại, đầu tiên lý giải được bằng thuyết sức hấp dẫn vạn vật, tính được chu kỳ thăm viếng của sao chổi. Và chính ông đã trở thành một sao chổi trên bầu trời khoa học thế giới. Khoa học đã tạo ra nhiều sao chổi, có những cái họp nhau từng chùm. Sao chổi Newton chiếu sáng cả bầu trời cho nhân loại hơn 250 năm, trước khi một vì sao chổi khác vĩ đại không kém xuất hiện: Albert Einstein. Thời đại Einstein là thời có lẽ xuất hiện nhiều sao chổi nhất trong lịch sử chỉ trong ba thập niên đầu thế kỷ 20, như một trận “sao băng”.
Để hiểu tầm quan trọng của GS ‘t Hooft, chúng ta hãy nghe Leonard Susskind, một nhà vật lý học lớn của Đại học Stanford nói về ông:
Gerard ‘t Hooft là một người Hà Lan. Nếu đo lường ở số lượng những đóng góp to lớn cho vật lý theo đầu người, thì người Hà Lan chắc chắn là những nhà vật lý lớn nhất của thế giới. Christiaan Huygens, Hendrick Antoon Lorentz, Willem de Sitter, Heike Kamerlingh Onnes, George Uhlenbeck, Johannes Diderik van der Waals, Hendrik Gerhard Casimir, Martinus Veltman, Gerard ‘t Hooft, họ chỉ là một số ít những tên tuổi lịch sử lớn nhất. Lorentz và ‘t Hooft có thể nói là những khuôn mặt lịch sử lớn nhất của vật lý. Đối với tôi, ‘t Hooft, hơn cả một nhà vật lý đương thời nào, tượng trưng cho tinh thần của Einstein, Lorentz, và Bohr. Mặc dù ông trẻ hơn tôi sáu tuổi, tôi luôn luôn kính sợ (in awe) ông.
Tôi vui mừng mà nói rằng ‘t Hooft không chỉ là một trong những anh hùng của tôi nhưng còn là một người bạn quý. Mặc dù ông giỏi hơn tôi nhiều về phương diện toán học, tôi luôn luôn cảm nhận trong những đồng nghiệp của tôi, ông là một người mà tôi thấy gần gủi nhất về mặt quan điểm. Trải qua năm tháng, chúng tôi cùng làm việc về những bài toán khó, bị khổ sở vì cùng những nghịch lý, và có những dự đoán tương tự về giải pháp cho những bài toán này. Tôi nghĩ, cũng như tôi, Gerard là một nhà vật lý rất bảo thủ, người không chịu chấp nhận một giải pháp triệt để nào cho một bài toán trừ khi ông cảm thấy tất cả những con đường khác đều vô ích. Và khi đó, ông không biết sợ hãi là gì.
Trong Susskind, The Cosmic Landscape, tr. 326
***
Chiều hôm đó, rời Đà Lạt chúng tôi lên đường QL27C để đưa ông bà ‘t Hooft đi xuống thành phố biển Nha Trang. Con đường này được viền hai bên bằng núi và vách đá, thỉnh thoảng có những con suối rất dốc, trông rất ngoạn mục. Mùa mưa chắc còn ngoạn mục hơn nhiều lần. Tối đó chúng tôi có một bửa cơm do bạn bè của anh chị Tiêu Như Phương thếch đãi trong không khí hết sức vui vẻ và cơi mở. Sáng hôm sau tại Nha Trang chúng tôi đưa ông bà đến thăm viện bảo tàng Bác sĩ Yersin nằm trong Viện Pasteur do ông thành lập một thế kỷ trước, một cuộc tham quan rất thú vị, một con người sống vị khoa học, khám phá – cho Việt Nam. Sau đó chúng tôi đi Quốc lộ 1A thẳng ra Quy Nhơn. Đường tương đối tốt, cảnh quang thú vị. Trên đường chúng tôi ghé thăm “Ghềnh đá đĩa” nằm sát biển, một cái tên nghe lạ, nhưng là nơi hàng vạn cọc đá dài hình khối xếp san sát nhau thành một cảnh quan rất lạ mắt. Ông bà ‘t Hooft dừng lại và thưởng ngoạn rất lâu. Tại cầu Bình Phú, nơi rẽ vào thành phố Quy Nhơn khoảng 30 km, đoàn chúng tôi ngạc nhiên được một đoàn xe đặc biệt của thành phố gửi ra để dẫn đường và hộ tống, vừa chạy vừ kéo còi, đèn hiệu chớp chớp, công an ra dấu để xe giao thông phải tránh! Quả là thành phố Quy Nhơn đã dành cho GS ‘t Hooft một cuộc tiếp đón hết sức trọng thể như một chính khách. Khi xuống xe trước khách sạn, nơi các vị khách sẽ ở trong hai ngày tới, nhiều phóng viên báo đài đã trực sẵn. Hai ông bà được một vị Phó chủ tịch UBND Quy Nhơn và GS Lê Kim Ngọc đón tiếp và trò chuyện thân mật, xen lẫn với những cuộc phỏng vấn của báo đài.
***
Ở tuổi 72, GS ‘t Hooft có thể nghỉ ngơi và “gác kiếm”, “vui thú điền viên”, như người Việt Nam quen nói. Nhưng không, ông vẫn miệt mài theo đuổi những vấn đề vật lý ở biên giới tri thức, giống như Einstein cho đến những ngày tháng cuối cùng. Ông không xem khoa học như một nghề để sống, mà xem khoa học như một tiếng gọi, một sứ mệnh ông có nhiệm vụ khám phá và truyền bá. Ông xem khoa học như một lý tưởng sống, đúng như tinh thần của Humboldt, và ông cũng sống “cô đơn và tự do”. Ông là người đi gieo hạt, như hình ảnh trong bức tranh Người gieo hạt buổi sáng của danh họa Vincent van Gogh, một đồng hương của ông cuối thế kỷ 19. Ông cũng không phải là trường hợp riêng lẻ, mà cả nền văn hóa của phương Tây là như thế. Họ sống với khoa học cho đến trọn đời. Khoa học chính là lẽ sống. Họ nghiêm chỉnh với khoa học, điều cần thiết như GS ‘t Hooft nói, cho nên họ mới có khoa học. Khoa học quá thú vị, và “thiêng liêng” để “gác kiếm”, hay hưởng nhàn. Con mắt của các nhà khoa học kết nối với “con mắt của Chúa” như nhà thần học Đức Meister Eckhart thế kỷ 13 diễn tả khi ông bàn về bản chất của quan hệ con người với Chúa: “Con mắt mà qua đó tôi nhìn Chúa cũng là cùng con mắt mà qua đó Chúa nhìn tôi. Mắt của tôi và mắt của Chúa là một, và cùng một cái nhìn, và một tri thức, và một tình yêu.” Phải có con mắt sâu sắc như thế mới nhìn thấy Chúa, thấy vũ trụ. Làm sao không “thiêng liêng”, đầy cảm hứng và thôi thúc được?
Bức tranh Người gieo hạt khi mặt trời lên, năm 1888, của danh họa Vincent van Gogh
Xin mở ngoặc: chúng ta nhớ rằng năm 1925 Einstein có một chuyến viếng thăm ba nước châu Mỹ La tinh Brazil, Uruguay và Argentina kéo dài hai tháng, đặc biệt tại Rio de Janeiro, Brazil và Buenos Aires, Argentina. Mục đích của chuyến đi là truyền bá các ý tưởng khoa học, quan điểm hòa bình, và tranh thủ các cộng đồng Do Thái ủng hộ Đại học Hebrew. Ông có một chương trình làm việc dày đặc. Ông được các tổng thống và bộ trưởng tiếp đón. Ông diễn thuyết về thuyết tương đối cho các nhà khoa học cũng như những người-không khoa học. Ở những nơi cho đại chúng, có cả các quan chức tham dự, đưa cả gia đình con cái theo. Hiểu khoa học không quan trọng bằng nhìn thấy và nghe con người đặc biệt này để được truyền cảm hứng. Thời điểm đó, Argentina đã có những sinh viên được đào tạo tại Đức, nên một số nhật báo đã đưa lên trang của mình toàn bộ bài nói chuyện mà sinh viên ghi lại được cho công chúng. Argentina là quốc gia có nền khoa học phát triển nhất ở châu Mỹ La tinh. Cuộc thăm viếng tại Argentina cũng đã được chuẩn bị từ nhiều phía, từ nhà triết học José Ortega y Gasset, chuyên gia thuyết tương đối và bạn thân của Einstein, Paul Langevin, và nhà toán học Rey Pastor, người đã quen Einstein tại Berlin và hết lòng vận động cho chuyến thăm của ông. Tại Buenos Aires, ngoài buổi nói chuyện trước cộng đồng Do Thái, Einstein có 7 hội nghị tại phân khoa các khoa học tự nhiên, vật lý và chính xác, và một bài diễn văn về “chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa duy tâm: hình học và không gian hữu hạn và vô hạn của Thuyết tương đối rộng” tại khoa triết và văn chương.
Chuyến đi của Einstein đã có những tác động đặc biệt lên cộng đồng đại học Argentina, lên các giới chính trị có trách nhiệm thiết kế các chính sách văn hóa, làm cho họ hiểu rằng nghiên cứu trong các ngành khoa học cơ bản, toán học, vật lý lý thuyết cũng là một bộ phận cấu thành của văn hóa, cái đã bị sao lãng trong quá khứ. Các khoa học cơ bản chính là cỗ máy dẫn đến những thay đổi cơ bản về hiểu biết của con người đối với thế giới và tự nhiên. Các ý tưởng khoa học của Einstein cho thấy cần phải tư duy lại mới về bản chất của tri thức khoa học, và thực tại vật lý. Những điều trên diễn ra sau Phong trào cải cách Đại học năm 1918 nhằm làm cho đại học có quyền tự chủ, một phong trào có ảnh hưởng lên toàn khu vực. Ngày nay, Argentina, đất nước không phải chỉ nổi tiếng về bóng đá với Maradona và Messi, đã có người khổng lồ Juan Martín Maldacena (sinh năm 1968) trên tuyến đầu của vật lý lý thuyết thế giới. Ở độ tuổi ba mươi, ông đã có ảnh hưởng lớn nhất lên ngành vật lý lý thuyết hơn bất cứ ai cùng thế hệ ông. Chính ông là người đã biến Nguyên lý toàn ảnh trở thành một khoa học hữu ích. Ông có nhiều đóng góp toán học cho vật lý, như Witten, và có ảnh hưởng lớn lên sự diễn giải vật lý của toán học, như Polchinski (Susskind). Ông được trao tặng các huân chương dang giá Dirac, Lorentz và các giải thưởng Fundamental Physics, Pomeranchuk. Người ta tính đến nay, trong 21 người được giải Lorentz có 11 người được giải Nobel. Chắc chắn đến lược mình, ông sẽ tác động mạnh mẽ lên sự phát triển vật lý hiện đại ở Argentina và châu Mỹ La Tinh nói chung. Phải chăng đã có một “vướng víu lượng tử” nào đó qua nhiều thế hệ giữa Einstein và Maldecena? Và chúng ta có quyền mơ một vướng víu như thế cho Việt Nam?
***
Trước khi từ giả Việt Nam, GS ‘t Hooft nhắn gửi GS Trần Thanh Vân những lời sau đây:
“Chuyến thăm Đà Lạt và lộ trình khám phá VN Đà Lạt−Nha Trang−Quy Nhơn ngắn ngủi quá, nhưng tôi biết đây không phải là lần duy nhất vợ chồng tôi đến những nơi tuyệt diệu này. Cho tôi gởi lời biết ơn đến tất cả mọi người đã lo cho chúng tôi, nhất là những người đã khởi xướng việc này, các bạn của tôi: Vân-Kim Ngọc!”
Trước đó, tại Hội nghị khoa học Quy Nhơn, một GS Nobel kinh tế Na Uy (Finn Kydland) sau cuộc trò chuyện với GS ‘t Hooft về chuyến viếng thăm Đà Lạt, đã thốt lên: “Không biết vợ chồng tôi cũng sẽ có được diễm phúc này không?” Điều đó xác nhận chuyến thăm Đà Lạt của GS ‘t Hooft là một sự thành công! Được như thế là nhờ sự ủng hộ hết nhiệt tình của UBND tỉnh, TS Phạm S, của hiệu trưởng Đại học Đà Lạt, GS Nguyễn Đức Hòa, và sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, của vợ chồng doanh nhân Tiêu Như Phương và Bạch Mai đã hết lòng vì một trái tim cho khoa học và tri thức.
Dưới đây là một chùm ảnh của chuyến thăm
Đà Lạt Edensee resort thơ mộng bên bờ Tuyền Lâm, một “thiên đường nghỉ dưỡng”
Ảnh lưu niệm với nhân viên của Edensee resort
Với tập thể nhân viên của Edensee resort
Nhà thờ con gà (xây dựng 1931, xong 1942)
Ảnh trước nhà thờ con gà
Ga xe lửa Đà Lạt (xây dựng 1932, hoàn tất 1938)
Trường cao đẳng sư phạm (Petit Lycée Dalat, 1927, sau đó Grand Lycée de Dalat Lycée Yersin)
Ngạc nhiên và thich thú trước các loài hoa (Ảnh Mai Vinh)
Ảnh chụp trong nhà ga trước một đầu máy xe lửa còn lại. Bên trái ngoài cùng là chị Bạch Mai, còn người cầm nón là anh Tiêu Như Phương,
những người tổ chức cuộc tiếp đón nồng hậu và hết mình cho vợ chồng GS. (Ảnh: Mai Vinh)
Với các trẻ mồ côi tại làng SOS. Ông bà vui mừng và xúc động.
Đốt lửa khai mạc đêm nhạc dân tộc
Với đoàn nhạc cồng chiêng; bên phải là vợ chồng TS Phạm S.
Cùng uống rượu cần truyền thống của người dân tộc; bên phải là TS Phạm S.
Ảnh chụp với ban lãnh đạo của Đại học Đà Lạt. Bên trái GS ‘t Hooft là hiệu trưởng Nguyễn Đức Hòa. Kế tiếp là vợ chồng anh chị Trần Hà Anh; tiếp nữa là GS Phù Chí Hòa. Bên phải ông là Phó hiệu trưởng Nguyễn Văn Kết, cạnh là cô Tú Anh, người thông dịch và trưởng phòng quan hệ quốc tế. (Ảnh: Minh Đạo)
C:\Users\HP\AppData\Local\Microsoft\Windows\INetCacheContent.Word\17-Dalat-Uni.jpg
Hiệu trưởng Nguyễn Đức Hòa giới thiệu và khai mạc buổi diễn thuyết
Diễn thuyết
Đặt câu hỏi
Phát biểu cuối cùng
Ăn tối với các bạn Việt Nam tại Nha Trang
Thăm Viện bảo tàng Yersin Nha Trang
Tại Ghềnh đá đĩa
Tại Quy Nhơn