Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

THÔNG ÐIỆP CỦA NHỮNG NGƯỜI ANH


Alan Ereira – Nguyên Phong dịch


Lời dịch giả: Tháng 10-1993 vừa qua, đài BBC tại Luân Đôn và PBS tại Hoa Kỳ đã cho phát hình một tài liệu đặc biệt ghi nhận nếp sống của một bộ lạc thiểu số tại Nam Mỹ. Cuốn phim nầy đã gây chấn động dư luận thế giới và hiện là một đề tài được bàn cãi rất nhiều trong giới khảo cổ, môi sinh và nhân chủng học. Lần đầu tiên được trình chiếu trong kỳ đại hội Tôn Giáo hoàn cầu tổ chức tại Chicago, nó đã gây một xúc động lớn cho toàn thể cử tọa. Chúng tôi ghi nhận lại đây bài thuyết trình “Elder Brother's Warning” của ký giả Alan Ereira để bạn đọc cùng suy gẫm.
____________

Từ ngàn xưa, nhân loại đã có những nền văn minh lớn. Những nền văn minh đã tạo ra các kiến trúc vĩ đại như Kim Tự Tháp, Vườn treo Babylon, Vạn Lý Trường Thành v.v... Tuy nhiên dù phát triển đến đâu chăng nữa, nền văn minh nào cũng chịu sự chi phối của luật vô thường, nay còn mai mất, cái gì cực thịnh thì cũng có lúc suy tàn. Lịch sử đã chứng minh điều đó một cách hiển nhiên vì ngày nay không mấy ai nhắc nhở gì đến những nền văn minh cổ xưa đó nữa ngoại trừ những giai thoại rời rạc, pha trộn nhiều hư cấu, khó tin.

Nói đến Kim Tự Tháp, người ta thường nghĩ đến những Kim Tự Tháp Ai Cập, chứ ít ai nhắc đến những Kim Tự Tháp Nam Mỹ, mặc dù tại đây số Kim Tự Tháp còn nhiều hơn, đặc biệt hơn và bao trùm nhiều bí mật kỳ dị hơn. Có lẽ vì phần lớn Kim Tự Tháp tại Nam Mỹ bị bao phủ bởi rừng rậm, không thuận tiện cho việc nghiên cứu, khảo sát.

Columbia là một quốc gia nằm ở phía Nam Mỹ Châu. Phần lớn lãnh thổ xứ nầy được bao phủ bởi những khu rừng rậm rạp chưa được khai phá, đặc biệt là các khu rừng quanh rặng Sierra thì gần như còn nguyên vẹn từ mấy ngàn năm nay, không mấy ai đặt chân đến. Đối với dân xứ này thì rặng Sierra vẫn được coi là một nơi chốn linh thiêng chứa đựng nhiều bí mật. Huyền thoại xứ này nói rằng đó là chỗ ở của những bậc Thần linh, có nhiệm vụ che chở cho nhân loại. Vì đỉnh núi lúc nào cũng bị che phủ bởi những đám mây mù, thêm vào đó khí hậu ẩm ướt quanh năm nên cây cối mọc chằng chịt, khó ai có thể vượt rừng đến đó được. Năm 1974, một phi công bay lạc vào phía Đông Bắc của rặng Sierra và phát hiện một Kim Tự Tháp rất lớn tọa lạc giữa rừng. Việc khám phá ra Kim Tự Tháp này đã thúc đẩy nhiều phái đoàn khảo cổ của các quốc gia khác nhau kéo đến đây nghiên cứu. Họ kết luận rằng chiếc Kim Tự Tháp xây bằng đá rất công phu này có những đường nét kiến trúc khác hẳn những Kim Tự Tháp khác tại Nam Mỹ, do đó nó thuộc một nền văn minh riêng biệt nào khác chứ không phải nền văn minh Incas hay Maya. Quanh Kim Tự Tháp là một thành phố bỏ hoang với những hệ thống đường xá được lót bằng đá hết sức công phu. Đặc biệt hơn nữa, quanh thành phố còn có một hệ thống ống cống thoát nước rất hữu hiệu, chứng tỏ người xưa đã hiểu biết rành rọt về vấn đề vệ sinh. Theo các nhà khảo cổ thì thành phố này đã được xây cất trên bảy ngàn năm trước khi nền văn minh Incas và Maya phát triển, và có lẽ là một trong những nền văn minh cổ nhất ở Nam Mỹ. Nếu thế, lịch sử nền văn minh này như thế nào? Chủng tộc nào đã sống tại đây? Tại sao họ lại biến mất, không để lại một dấu tích gì trừ chiếc Kim Tự Tháp và hệ thống đường xá tinh vi kia?

Các nhà nghiên cứu nhận xét rằng dù đã trải qua bảy tám ngàn năm mà hệ thống đường xá vẫn còn rất tốt, không bị hư hại, trong khi hệ thống xa lộ tối tân nhất tại Hoa Kỳ ngày nay nếu không được tu sửa, bảo trì thì chỉ vài chục năm đã hư hại chứ đừng nói đến trăm hay ngàn năm. Dọc theo những con đường lót bằng đá là những thửa ruộng trồng lúa và khoai, chứng tỏ nền văn minh này chú trọng nhiều về nông nghiệp. Một điểm đặc biệt là mỗi ngã tư đường lại có những tảng đá lớn, khắc ghi những ký hiệu lạ lùng trông như một tấm bản đồ. Bản đồ đường xá hay bản đồ chỉ dẫn điều gì vẫn còn là một câu hỏi lớn. Thông thường các nền văn minh cổ thường để lại nhiều dấu tích hay tài liệu ghi khắc về lịch sử, phong tục, tập quán, nhưng không hiểu sao tại đây họ không hề tìm thấy một dấu tích đặc biệt gì về nền văn minh này ngoài các tấm bản đồ kỳ lạ kia.

Cách đó không xa ở gần đỉnh núi có một bộ lạc người thiểu số gọi là Kogi sống biệt lập, không giao thiệp với ai. Các nhà khảo cổ đoán rằng có lẽ giống dân Kogi là con cháu của những người đã xây dựng lên Kim Tự Tháp và thành phố với đường xá xây bằng đá này, nhưng họ vẫn không biết vì sao một nền văn minh như vậy lại suy tàn và biến mất, không để lại dấu tích nào? Vì người Kogi sống biệt lập trên đỉnh Sierra, không tiếp xúc và giao thiệp với ai nên rất ít người biết đến họ. Trong khi những bộ lạc quanh vùng thường giao dịch, trao đổi hàng hóa với những người tỉnh thành, thì người Kogi rất thận trọng và kín đáo, rút lên những vùng núi cao, không tiếp xúc với ai hoặc chỉ giới hạn việc giao thiệp với một vài bộ lạc lân cận mà thôi.

Đầu năm nay (1993), ký giả Alan Ereira, phóng viên của đài BBC tại Columbia, nhận được tin bộ lạc Kogi từ lâu không tiếp xúc với ai, đã chấp thuận cho anh được phỏng vấn với điều kiện là anh phải đến tham dự buổi đại hội Tôn Giáo thế giới tổ chức tại Chicago vào tháng 9 năm 1993 và công bố một thông điệp của họ. Ký giả Ereira đã viết: “Đây là một biến cố đặc biệt. Tại sao bao năm nay không giao thiệp tiếp xúc với ai mà tự nhiên họ lại cho phép tôi được đến phỏng vấn, quay phim? Họ muốn gì đây? Tại sao một bộ lạc sống biệt lập trong vùng rừng sâu núi thẳm, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, lại biết có một đại hội Tôn Giáo nhóm họp tại Hoa Kỳ để gửi một thông điệp? Một điều may mắn là tuy người Kogi không liên lạc với ai, rất ít người biết đến ngôn ngữ của họ, nhưng vì họ tiếp xúc giới hạn với vài bộ lạc gần đó, nên chúng tôi đã tìm được một người dân bộ lạc này có thể nói được tiếng Kogi để làm công việc thông dịch”.

Phái đoàn của ký giả Ereira gồm 6 người, 2 ký giả, 1 nhân viên y tế và 3 nhân viên thu hình đã lên đường vào đầu năm 1993. Trải qua nhiều ngày tháng trèo đèo, lội suối, họ đã đến vùng đất của người Kogi nằm sâu trên đỉnh Sierra. Đường vào đây phải vượt qua một vực thẳm rất sâu, chỉ có độc một cây cầu treo bện bằng dây thừng bắt ngang qua bờ vực. Được thông báo trước, một phái đoàn Kogi đã ra đón tiếp trước bờ vực.

Khác với những bộ lạc thiểu số sống trong vùng thường ít mặc quần áo, tất cả những người Kogi đều mặc quần áo dệt bằng sợi màu trắng với tay áo thụng như cánh bướm. Một người lớn tuổi đã bắt đầu bằng một bài diễn văn ngắn:

- Chúng tôi là những trưởng lão của dân Kogi, chúng tôi chấp thuận cho phép các ông được đặt chân vào đây trong ba ngày. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng đây là lần đầu tiên và có lẽ cũng là lần cuối các ông được phép đến đây. Hiển nhiên việc này đã được Hội Đồng Trưởng Lão thảo luận rất kỹ và đồng ý. Chúng tôi là con cháu của một giống dân cổ, một giống dân đã có mặt trên trái đất này từ lâu lắm rồi, trước khi tổ tiên của các ông ra đời. Vì chúng tôi có mặt từ trước, chúng tôi tự coi mình là những người anh lớn trong đại gia đình nhân loại, do đó chúng tôi là anh và các ông là em. Theo lệ thường trong gia đình, người anh thay mặt Mẹ Cha để giáo dục, dạy dỗ các em; nhưng chúng tôi biết rằng các em còn trẻ quá, còn hung hăng quá, còn cứng đầu, cứng cổ, ngang bướng quá, chưa thể học hỏi được gì, nên trải qua mấy ngàn năm nay, chúng tôi, những người anh, đã quyết định giữ thái độ im lặng. Chúng tôi hy vọng theo thời gian, các em sẽ hiểu biết hơn, trưởng thành hơn và học hỏi được qua những lỗi lầm đã tạo. Tiếc thay thời gian qua nhanh, trải qua bao thế hệ mà các em không những chẳng học hỏi được gì lại còn tiếp tục phá hoại gia tài Mẹ Cha để lại, do đó những người anh lớn bắt buộc phải lên tiếng. Trước khi đi vào chi tiết, chúng tôi cho phép các ông được quan sát nếp sống của chúng tôi, một nếp sống truyền thống đã tiếp diễn mấy ngàn năm không thay đổi. Các ông được tự do nghiên cứu, ghi nhận, quay phim, chụp hình và làm tất cả những gì cần thiết, và sau đó chúng tôi có một thông điệp muốn gởi cho thế giới bên ngoài.

Ký giả Ereira ghi nhận: “Thật không thể tưởng tượng được cảm giác lạ lùng của chúng tôi khi vượt qua chiếc cầu treo lơ lửng trên miệng vực thẳm đó để bước chân vào vùng đất của người Kogi. Chúng tôi có cảm tưởng rằng thời gian đã dừng lại hoặc chúng tôi đã đi ngược thời gian để trở về một thời điểm nào đó của lịch sử. Mặc dù thời gian chỉ vỏn vẹn có ba ngày nhưng phái đoàn của chúng tôi đã làm việc không ngừng. Mọi người tùy theo khả năng chuyên môn đã tận dụng thời gian để khảo cứu, ghi nhận. Chuyên viên thu hình đã làm việc không nghỉ, ghi nhận được hơn hai mươi giờ phim ảnh tài liệu. Chuyên viên y tế đã khám hơn một trăm người và hoàn tất hồ sơ đầy đủ chi tiết về tình trạng sức khỏe của những người dân tại đây. Điều đặc biệt là tuy sống trong một tình trạng có thể tạm gọi là “thiếu tiêu chuẩn vệ sinh” theo quan niệm của những người “văn minh” như chúng ta nhưng chuyên viên y tế không hề tìm thấy một dấu hiệu nào về bệnh tật cả. Hàm răng của họ rất tốt, ngay cả triệu chứng sâu răng thường thấy tại các bộ lạc khác cũng không hề có tại đây. Tôi xin xác nhận rằng tất cả những gì chúng tôi ghi nhận đều được kiểm chứng cẩn thận để bảo đảm tính cách trung thực của nó. Vì thời gian quá ít, chúng tôi chỉ làm được những gì có thể làm và chắc chắn có nhiều thiếu sót. Tôi được biết có đến hơn hai mươi làng mạc rải rác trên đỉnh Sierra, nhưng chúng tôi chỉ được đến thăm một làng duy nhất mà thôi. Chắc hẳn người Kogi đã có một lý do riêng nào đó nên không muốn chúng tôi đi thăm những nơi khác, nhưng chúng tôi cũng không muốn tò mò tìm hiểu thêm làm gì. Các Trưởng Lão xác nhận rằng họ không giấu giếm chúng tôi điều gì nhưng cũng không muốn sự có mặt của chúng tôi gây xáo trộn cho đời sống yên lành của những người dân trong vùng.

Điều đặc biệt đầu tiên mà chúng tôi thấy là những người dân Kogi thường sinh hoạt chung. Mỗi khi cần làm việc gì thì mọi người kéo nhau ra làm việc đó một cách rất tự nhiên. Chúng tôi đã chứng kiến việc toàn thể dân chúng trong làng kéo nhau đắp lại con đường bằng đá dẫn vào làng. Họ tự động phân chia ra nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm làm một phần mà không cần phải có người hướng dẫn hay chỉ huy. Vì con đường này nối liền hai làng nên dân cả hai làng kéo nhau ra làm việc một cách hết sức trật tự.

Chúng tôi được biết mỗi làng có một Hội Đồng Trưởng Lão. Những người này thường cầm một chiếc ống nhỏ bằng gỗ, bên trong đựng vôi. Họ cầm một chiếc que xoay qua xoay lại để tán những mảnh đá vôi ra thành bột, thỉnh thoảng lại đưa lên miệng chấm một chút vôi vào đầu lưỡi. Một Trưởng Lão cho biết: chiếc ống vôi tượng trưng cho đời sống. Họ luôn tay xoay chiếc ống vôi đó vì đời sống luôn luôn thay đổi, tiếp diễn không ngừng. Đá vôi tượng trưng cho chất liệu của đời sống. Sở dĩ họ nghiền nát những miếng vôi rồi đưa lên miệng vì hành động đó làm cho đời sống trở nên ý nghĩa hơn. Tôi không hiểu rõ nghĩa của câu đó nên yêu cầu ông giải thích thêm. Vị Trưởng Lão đã nói: ”Đời sống là một sự mầu nhiệm. Nếu con người biết mài dũa thân và tâm để ý thức đời sống một cách trọn vẹn thì người ta sẽ ý thức được những việc khác phi thường hơn”.

Ký giả Ereira kết luận: “Tôi đã quan sát việc này rất lâu mà không thể giải thích gì hơn. Theo tôi thì có lẽ đây là một phương pháp tĩnh tâm, ý thức hành động của mình, một phương pháp giống như cách thực hành thiền định của người Á Châu. Việc mài dũa tâm và thân qua hành động xoay xoay chiếc ống vôi nhỏ trên tay là một điều lạ lùng rất khó giải thích”.

Chính giữa làng có một căn nhà rất lớn cất bằng lá cây. Đây là nơi hội họp của dân làng mỗi khi có việc quan trọng. Khác hẳn với những bộ lạc khác, chúng tôi không hề nhìn thấy các biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng gì cả. Căn nhà hoàn toàn trống trơn và rất sạch sẽ. Một vị Trưởng Lão cho biết đây là trung tâm sinh hoạt của làng, mọi việc quan trọng như cưới hỏi, chôn cất, trồng trọt, cày cấy, tiên đoán thời tiết đều được mang ra thảo luận tại đây để lấy quyết định chung. Tất cả mọi người đều có quyền phát biểu ý kiến, không có Tù Trưởng hay một ai nắm quyền hành cả. Ký giả Ereira ghi nhận: “Thật là một điều lạ lùng chưa từng thấy. Một bộ lạc không có Tù Trưởng, không có người lãnh đạo, mọi quyết định đều là quyết định chung. Phải chăng đây là một hình thức dân chủ thô sơ nhất và chân chính nhất đã có từ ngàn xưa? Theo chỗ chúng tôi dò hỏi thì không có một điều gì được làm nếu không có sự đồng ý chung, nhưng quyết định chung ở đây không có nghĩa là đa số trên thiểu số mà là quyết định của toàn thể mọi người (Concensus). Thật khó có thể tưởng tượng một bộ lạc sống biệt lập lại có một truyền thống dân chủ đặc biệt như vậy! Phải chăng nền văn minh cổ xưa ngày trước là một nền văn minh dựa trên căn bản dân chủ?”

Đơn vị nhỏ nhất của xã hội Kogi là đơn vị gia đình. Trung bình một gia đình gồm Cha Mẹ và các con nhỏ. Khi trẻ em còn nhỏ chúng được nuôi dưỡng bởi Cha Mẹ, phần lớn là người Mẹ trực tiếp nuôi nấng con cái. Nếu có bệnh tật thì các em được đưa đến cho các Trưởng Lão chữa bệnh. Đôi khi các Trưởng Lão cũng bó tay và em nhỏ không thể sống nhưng Cha Mẹ chúng chấp nhận, cho rằng đó là luật thiên nhiên. Nếu sống được đến lúc trưởng thành thì người Kogi có tuổi thọ rất cao, tuổi trung bình của họ là khoảng một trăm hay hơn thế nữa. Một Trưởng Lão cho biết: “Theo quan niệm của chúng tôi thì sống thuận theo thiên nhiên không thể có bệnh. Bệnh tật chỉ là hậu quả của những gì trái với thiên nhiên. Ngoài ra sự tương giao giữa con người với thiên nhiên hết sức mật thiết và khi thiên nhiên bị phá hoại, chắc chắn con người sẽ bị ảnh hưởng theo, do đó con người phải biết tìm môi trường thích hợp để sống. Chính vì sống trái với các định luật thiên nhiên mà có đủ thứ bệnh kỳ lạ xảy ra, đây là bằng chứng hiển nhiên rằng con người chịu ảnh hưởng nhiều về môi trường và cách thức mà họ sinh sống”. Khi đứa nhỏ được khoảng bảy tuổi thì chúng bắt đầu rời Cha Mẹ để sống với Ông Bà Nội, Ông Bà Ngoại ở cách đó không xa để được giáo dục thêm về cách sống tự lập. Khi được hai mươi mốt thì đứa nhỏ đi theo các bậc Trưởng Lão học hỏi và khi gần ba mươi mới bắt đầu khởi sự lập gia đình riêng.

Người Kogi sống bằng cách canh tác và hái trái cây trong rừng, một lối sống hết sức thô sơ thường được gán cho các dân tộc còn man dã. Phương pháp trồng trọt của họ cũng rất giản dị. Họ dùng một cây nhọn để xắn đất, thảy vào đó vài hạt đậu rồi lấp lại. Việc trồng trọt hay gieo hạt được dành cho phái nữ vì người nữ “mát tay” hơn người nam. Một Trưởng Lão cho biết: “Chúng tôi vẫn biết có những phương pháp trồng trọt, canh tác khác có thể làm hoa mầu nảy sinh rất nhiều, nhưng có nhiều để làm gì? Gia đình nào thì cũng chỉ ăn ngày ba bữa. Có nhiều sẽ tạo nên tình trạng tham lam, tạo ra phiền toái vô ích. Thiên nhiên đã lo liệu chu toàn thì cứ theo đó mà sống. Các ông hãy nhìn kia, chim chóc không gieo hạt mà thiên nhiên có để cho chúng chết đói đâu? Các thú rừng khác cũng thế, chả loài nào thiếu ăn cả, vậy tại sao con người phải lo tàng trữ, gia tăng thu hoạch thực phẩm? Có dư làm rối loạn trật tự thiên nhiên, có nhiều hơn cái mình cần là lấy đi mất phần của người khác hay sinh vật khác, và như thế là vi phạm một định luật căn bản của thiên nhiên và truyền thống sẵn có của dân Kogi. Các ông nên biết người Kogi chỉ sống vừa đủ, hoàn toàn không có gì dư thừa và do đó tại đây không hề có trộm cướp hay các tệ nạn như các bộ lạc khác”.

Một điểm rất đặc biệt là người Kogi không hề ăn thịt cá. Khác hẳn với những bộ lạc khác, họ không hề săn bắn hay có võ khí. Truyền thống của họ không hề có vấn đề giết hại bất cứ một sinh vật nào, dù lớn hay nhỏ. Đây là một chi tiết đang làm nhức đầu nhiều nhà nhân chủng học và xã hội học. Từ trước đến nay, các lý thuyết đều cho rằng những bộ lạc dã man đều sinh sống bằng săn bắn và ăn cây trái trong rừng. Việc một bộ lạc không hề có tập tục ăn thịt cá là một sự kiện độc đáo, lạ lùng hiếm có và khó giải thích. Người Kogi cho rằng giết hại sinh vật là trái với luật thiên nhiên. Có lẽ vì lý do đó trong thời gian quay phim, phái đoàn đài BBC đã thấy rất nhiều hươu, nai, thỏ rừng, chồn cáo đi qua đi lại trong làng như những gia súc mà không hề sợ hãi. Vì chỉ sống bằng rau cỏ thiên nhiên nên việc học hỏi, nghiên cứu các lá cây có dược tính là một môn học được giảng dạy rất kỹ lưỡng tại đây. Người Kogi cho biết họ có thể sống từ ngày này qua ngày khác bằng cách ngậm một vài lá cây mà thôi, có lẽ vì chỉ ăn rau trái mà họ sống lâu như vậy!

Phái đoàn đã ghi nhận việc một Trưởng Lão dạy dỗ một thanh niên cách ăn uống như sau: “Khi ăn phải nhai thật từ từ, thong thả, phải ý thức từng chút một và tuyệt đối chú tâm vào việc ăn chứ không được nghĩa gì khác”. Cách ăn uống, làm chủ vị giác là bài học vỡ lòng đầu tiên trong phương pháp giáo dục của họ. Truyền thống tại đây không có trường học mà chỉ có cách dạy dỗ khẩu truyền từ Cha Mẹ, Ông Bà cho con cháu, và từ các bậc Trưởng Lão cho những thanh niên. Cách giáo dục thanh niên tại đây cũng hết sức lạ lùng, có một không hai. Khi được khoảng hai mươi tuổi, thanh niên được gửi đến học hỏi với các bậc Trưởng Lão trong những túp lều đơn sơ hay một hang đá. Tại đây họ sẽ tập ngồi yên quay mặt vào vách tường trong bảy đến chín năm liền. Họ chỉ nhai một ít lá cây, uống một chút nước và chú tâm suy gẫm về những điều được giảng dạy. Mỗi ngày vào giờ giấc nhất định, các bậc Trưởng Lão có nhiệm vụ hướng dẫn sẽ bước vào trao cho họ một đề tài chi đó để suy gẫm.

Ký giả Ereira đã ghi nhận buổi giảng dạy trong một hang đá như sau: Thanh niên ngồi quay mặt vào vách, vị Trưởng Lão bước vào ngồi ở phía sau quan sát thanh niên kia một lúc rồi mới đưa chiếc ống đựng vôi cho thanh niên sử dụng. Ông nói: “Ngươi hãy xoay chiếc ống thật từ từ, thong thả, ý thức từng hành động và biết rằng mọi vật trong thiên nhiên lúc nào cũng thay đổi như chiếc ống đang xoay trong tay ngươi vậy. Ngươi phải biết rằng đời sống vốn quý báu như vôi đựng trong ống, phải biết quý trọng đời sống của mình cũng như của mọi sinh vật. Tất cả hiện diện nơi đây vì một ý nghĩa nhất định chứ không phải tình cờ”.

Trong một hang đá khác, một Trưởng Lão giảng dạy về cách canh tác: “Ngươi phải biết tôn trọng từng gốc cây, từng ngọn cỏ vì cây cỏ cũng có đời sống riêng của nó. Đừng bao giờ nghĩ đến việc chặt một cây mà không nghĩ đến hậu quả mà ngươi sẽ gây ra. Cây cối cho ngươi trái ăn, cho ngươi bóng mát và che chở ngươi khi cần thiết, vậy ngươi phải biết tôn trọng cây cối. Ngươi phải biết vạn vật liên quan với nhau chặt chẽ và ngươi phải ý thức rõ rệt về sự tương quan mật thiết này. Phá hoại trật tự này là phá hoại đời sống và phá hoại đời sống chính là tự hủy đó”.

Ký giả Alan Ereira kết luận: “Trong suốt chín năm ngồi quán xét sự liên hệ giữa các sinh vật với nhau, về mối liên quan giữa con người và con người, người và thú vật, người và rừng cây, người và con suối, mà họ biết tôn trọng thiên nhiên, không giết hại, không ăn thịt cá. Họ biết ý thức sự sống tràn đầy trong thiên nhiên, từ đỉnh núi cao xa to lớn cho đến những côn trùng bé nhỏ, từ những trận mưa đầu mùa đổ nước xuống các giòng suối tươi mát cho đến những hoa thơm cỏ lạ mọc trong các thung lũng. Tâm thức họ tràn đầy các hình ảnh tuyệt vời của thiên nhiên qua các điệu nhạc mà chim chóc hòa tấu, thưởng thức hương thơm của cỏ hoa, rung động với các thay đổi của thời tiết... Chắc chắn điều này phải có một kết quả lạ lùng nào đó vì khi trưởng thành, bước ra khỏi hang đá, con người đó phải là một con người ý thức rất sâu xa về mình và sự tương quan giữa mình và mọi vật. Khi đó họ trở nên một con người mà theo tập tục của xã hội Kogi là người đã trưởng thành, có thể lập gia đình, có bổn phận với xã hội hoặc tiếp tục đi theo các bậc Trưởng Lão để học hỏi thêm và trở nên một trong những người này. Danh từ “Trưởng Lão” của người Kogi không hề có nghĩa là người chỉ huy mà chỉ có nghĩa là một người khôn ngoan (wise man) mà thôi”.

Muốn đi theo con đường của các bậc Trưởng Lão, một thanh niên còn phải học hỏi trong nhiều năm. Một trong những phương pháp quan trọng là việc tĩnh tâm để “giao cảm với tâm thức vũ trụ”, nhờ đó họ có thể biết được nhiều việc xảy ra trên thế giới mặc dù không rời khỏi phạm vi của đỉnh Sierra. Đa số các Trưởng Lão thường bỏ ra nhiều giờ mỗi ngày để ngồi yên lặng, giao cảm với thiên nhiên, vì đối với họ việc tĩnh tâm là mục đích chính của đời sống. Các nhu cầu như ăn uống chỉ là phụ thuộc. Người ta chỉ bỏ ra vài giờ vào rừng hái trái cây, uống nước suối là đủ rồi, nhưng người ta không thể sống mà thiếu ý thức về mình được.

Một vị Trưởng Lão cho biết: “Vũ trụ là một tấm gương lớn, phản ảnh tất cả mọi việc xảy ra trong đó. Biết rung động với vũ trụ là biết quán xét tấm gương kia, do đó người ta đâu cần phải đi đâu xa mà cũng biết được những điều cần thiết. Việc ngồi chín năm trong động đá đâu phải chỉ ngồi đó nhai vài lá cây, suy nghĩ vài câu nói, mà đòi hỏi người ta phải nổ lực tìm hiểu về mình, vì biết mình chính là biết được vũ trụ và biết được vũ trụ thì tất hiểu được các định luật thiên nhiên. Đã hiểu được các định luật này một cách sâu xa thì làm sao có thể làm trái với nó được? Sở dĩ con người làm việc sai quấy vì họ không biết mình, chỉ sống hời hợt, quay cuồng và dựa trên những giá trị có tính cách giả tạo, những giá trị do tập đoàn tạo ra chứ không phải phát xuất từ những công phu suy gẫm sâu xa. Sống như thế không thể gọi là sống. Đó là sống mà như chết, thân thể tuy sống mà đầu óc đã chết từ lâu rồi!”

Đối với người Kogi, việc chết cũng rất giản dị. Khi cảm thấy đã đến lúc phải ra đi, một người già thường tìm vào một hang đá sâu và ngồi yên trong đó chờ chết. Họ không làm đám tang, gia đình than khóc như những bộ lạc khác, mà họ cho rằng đó là một việc bình thường, không có gì đáng quan tâm. Một điểm hết sức đặc biệt nữa của người Kogi là họ không hề có một tín ngưỡng thờ thần linh hay vật tổ như các bộ lạc khác. Truyền thống nơi đây chú trọng trên căn bản tĩnh tâm suy gẫm nên họ đã có những quan niệm hết sức đặc biệt, khác hẳn với những nền văn minh khác tại Nam Mỹ. Theo quan niệm của người Kogi truyền từ đời này qua đời khác thì thuở ban sơ, vũ trụ hoàn toàn trống rỗng, không có mặt trời, mặt trăng, tinh tú hay bất cứ một cái gì và chính cái trống rỗng uyên nguyên đó được gọi là “Mẹ Vũ Trụ” hay Kaluna. Danh từ “Mẹ Vũ Trụ” không phải một đấng Hóa Công (Creator) mà chỉ là một tâm thức (Mind), một trạng thái tuyệt đối hoàn hảo của tâm thức.

Một Trưởng Lão đã nói: “Các quan niệm như tinh tú, mặt trời, mặt trăng, đất nước gió lửa từ đâu đến? Phải chăng từ tâm thức này sinh ra? Chính tâm thức đó phát sinh ra tư tưởng và khi tư tưởng vận hành, giống như cuộn chỉ xoay từ sợi, mà tất cả mọi vật đều phát sinh. Tóm lại, tất cả đều do Tâm tạo. Có tất cả chín thế giới phát sinh từ tâm thức vũ trụ cũng như một người Mẹ sinh ra chín đứa con. Một đứa con có một đặc tính hay sắc thái tiêu biểu bằng các màu sắc khác nhau. Thế giới thứ chín chính là cái thế giới mà hiện nay chúng ta đang sống. Tất cả mọi thế giới đều tuân theo những quy luật nhất định liên quan đến việc sinh ra, lớn lên, phát triển rồi chết đi. Đó là định luật thiên nhiên không thể thay đổi. Ý thức rõ rệt các định luật này rất quan trọng vì nó là cây cầu tâm thức nối liền chúng ta và các cảnh giới khác và sau cùng với Mẹ Vũ Trụ (Kaluna). Chính vì ý thức mà người ta biết rằng trái đất này không phải tạo ra riêng cho loài người mà cho tất cả mọi sinh vật khác nữa”.

Ký giả Ereira đã đặt câu hỏi về Kim Tự Tháp và thành phố bỏ hoang với Trưởng Lão người Kogi nhưng họ lắc đầu từ chối không tiết lộ gì về lịch sử của thành phố đó. Mặc dù họ tự nhận là con cháu của những người đã xây cất ra thành phố đó nhưng họ cho biết: “Tại sao các ông cứ quan tâm đến những ký hiệu lạ lùng, những tấm bản đồ bằng đá kia làm chi? Các ông sẽ không thể hiểu nổi những ẩn nghĩa đó khi tâm các ông còn xáo trộn. Các tâm hồn non dại, chưa trưởng thành, chưa biết làm chủ mình thường chỉ thích tò mò chạy theo những gì kỳ lạ, những hão huyền bên ngoài chứ không biết quay vào bên trong để hiểu chính mình. Chỉ khi biết mình thì mới biết được những điều mà Kim Tự Tháp kia được xây cất vào việc gì và những tảng đá ghi khắc các ký hiệu kia để chỉ dẫn những gì. Khi xưa tổ tiên của chúng tôi đã biết rõ những điều này nhưng khi con người trở nên tham lam, ích kỷ, giết hại, ăn thịt cá, phá hoại trật tự của thiên nhiên thì tổ tiên chúng tôi biết không thể thay đổi gì được. Họ rút vào rừng sâu núi thẳm, chờ đợi những người em sẽ rút tỉa những bài học mà họ phải học, những lỗi lầm mà họ đã gây ra, nhưng tiếc thay đã bao lâu nay hình như chẳng mấy ai học hỏi được điều gì hết!”

Sau ba ngày ghi nhận, tiếp xúc và quay phim, buổi tối hôm ấy, mọi người quây quần trong căn nhà chính để nghe một Trưởng Lão tuyên bố về thông điệp mà họ muốn gửi cho thế giới. Đó là một ông lão lớn tuổi nhưng còn khỏe. Nhìn hàm răng còn nguyên vẹn, mọi người nghĩ ông lão chỉ vào khoảng sáu mươi là nhiều nhưng về sau ký giả Ereira được biết vị Trưởng Lão này đã sống trên một trăm năm rồi. Hầu như vị Trưởng Lão nào cũng đều trên một trăm tuổi trở lên cả. Chúng tôi không nhìn thấy những dấu vết già yếu, bệnh tật trên thân thể họ như vẫn thường thấy ở các bộ lạc khác.

Vị Trưởng Lão lên tiếng: “Chúng tôi đã thảo luận rất kỹ về điều chúng tôi muốn nói. Chúng tôi muốn gửi một thông điệp cho các em trong gia đình nhân loại. Chúng tôi nói bằng trái tim, những lời nói chân thành nhất rằng hiện nay nhân loại sắp bước vào một thảm họa rất lớn mà từ trước đến nay chưa hề xảy ra.

Thứ nhất, nhân loại cần biết rằng tất cả chúng ta đều là anh em một nhà, đều là con cùng một Mẹ. Dù chúng ta có màu da khác nhau, mặc quần áo khác nhau, có những truyền thống khác nhau, tuân theo những quan niệm khác nhau, sống trong những điều kiện khác nhau nhưng tất cả chỉ là bề ngoài mà thôi. Bên trong chúng ta đâu hề khác biệt. Khi đói chúng ta đều đói như nhau, lúc khát chúng ta đều khát như nhau, chúng ta đều có cảm giác vui buồn như nhau. Hiển nhiên phải như vậy rồi vì chúng ta đều là con cùng một Mẹ, nhưng tiếc là các em đã không chú ý đến điều này vì các em đã quên mất nguồn gốc thiêng liêng của các em rồi!

Sống xa Mẹ đã lâu, các em đã quên hẳn người Mẹ sinh ra các em, săn sóc, che chở, nuôi dưỡng các em. Vì thiếu ý thức, các em đã phá nát gia tài Mẹ Cha để lại, phá hoại một cách không thương tiếc, không một mảy may thương tiếc! Các anh đây sinh trước, gần Cha Mẹ hơn nên hiểu được lòng Mẹ Cha đang tan nát, đau khổ. Mẹ đã buồn vì các con sinh sau nở muộn đã không biết thương yêu nhau mà trái lại cứ chém giết, hận thù nhau, làm hại lẫn nhau khiến Mẹ Cha khổ sở vô cùng. Không những thế, các em còn dày xéo lên thân thể Mẹ Cha mà không biết rằng các em đang giết hại chính đấng đã sinh ra các em. Các anh biết rõ việc này nên chỉ muốn khuyên các em hãy dừng lại, quan sát và ý thức việc làm hiện nay của các em vì giết hại đấng sinh thành ra mình chính là giết hại chính mình đó.

Mẹ của các em là ai? Chính là trái đất này. Lòng Mẹ chính là biển cả và trái tim của Mẹ chính là những dãy núi cao có mặt khắp nơi. Này các em! đốt rừng, phá núi, đổ đồ ô uế xuống biển chính là chà đạp lên thân thể của Mẹ đó. Mẹ là nguồn sống chung và con người không thể sống mà không có Mẹ. Nếu trái đất bị hủy hoại thì chúng ta sẽ sống ở đâu? Đây là một vấn đề hết sức quan trọng và cần xét đoán một cách nghiêm chỉnh. Các anh không biết trong vòng vài năm nữa thế giới sẽ biến đổi như thế nào? Chắc không lấy gì tốt đẹp lắm đâu nếu các em cứ tiếp tục phá hoại mà không biết bảo trì môi trường sinh sống. Tại sao được thừa hưởng một gia tài tốt đẹp như thế mà chúng ta lại phá hoại nó đi vậy? Tại sao các em không nghĩ rằng trải qua mấy ngàn năm nay, thế hệ trước đã giữ gìn cẩn thận, đã trân trọng từng tấc đất, từng ngọn suối, từng khóm cây, ngọn cỏ mà ngày nay các em lại phá nát không hề thương tiếc? Làm sao các em có thể tự hào rằng mình “văn minh” khi nhân loại và mọi sinh vật mỗi ngày một khổ đau nhiều hơn xưa? Làm sao có thể nói rằng nhân loại đã “tiến bộ” khi con người ngày càng gia tăng thù hận, chỉ thích gây chiến tranh khắp nơi? Các anh biết vậy nhưng phải làm sao đây? Làm sao có thể nói cho các em biết rằng vũ trụ có những định luật vô cùng lớn lao, không thể vi phạm được? Lòng các anh vô cùng đau đớn vì các anh thấy rằng trái đất đã khô kiệt rồi, mọi sự sống đang lâm nguy và thảm họa diệt vong chỉ còn trong giây lát. Do đó các anh muốn kêu gọi khẩn thiết rằng hãy thức tỉnh, ngưng ngay những việc có tính cách phá hoại đó lại, nếu không thì trễ quá mất rồi!”

Ký giả Ereira ghi nhận: “Thật khó có thể tin rằng những người Kogi lại biết rõ tình trạng phá hoại môi sinh và chiến tranh đang xảy ra trên thế giới hiện nay khi họ không rời khỏi phạm vi của đỉnh Sierra. Tuy nhiên điều này có lẽ cũng không sai vì có nhiều bằng chứng rằng môi trường sinh sống của nhân loại đang bước vào một giai đoạn nguy kịch rõ rệt. Một bằng chứng hiển nhiên là lớp tuyết trên đỉnh Sierra trước kia vẫn đóng rất dày mà nay chỉ còn trơ lại một vài mảng mà thôi. Gần đỉnh núi có một hồ nước rất lớn, vốn là nơi lưu trữ nước khi tuyết tan vào mùa hè. Hồ nước này sẽ đổ xuống các sông ngòi, chảy qua những đồng bằng trước khi chảy ra biển. Hiện nay hồ nước này cũng đã gần cạn khô, mực nước tại sông ngòi quanh vùng đều xuống rất thấp và dân chúng ở vùng đồng bằng đã than là suốt mấy năm nay, nạn hạn hán đã hoành hành dữ dội, số lượng thóc lúa thu hoạch được càng ngày càng xuống rất thấp. Khắp nơi trên thế giới, người ta nói về tình trạng nhiệt độ gia tăng (Global Warming) gây ra bởi nạn đốt rừng, phá núi, xẻ đường và hậu quả của những ô nhiễm kỹ nghệ. Thêm vào đó biển cả cũng gặp nhiều khó khăn bởi việc các chất cặn bã gia tăng, giết hại các vi sinh vật, căn bản của đời sống các loài thủy tộc. Thêm vào đó, việc phát triển các kỹ thuật đánh cá tối tân bằng các tấm lưới khổng lồ như lưới vét (Drift Net) của các quốc gia tân tiến đã làm nhiều dân tộc sống ở ven biển gặp nhiều khó khăn về thực phẩm vì chẳng còn có cá để ăn”.

Người ta đã tiên đoán rằng chỉ vài năm nữa thế giới sẽ lâm vào tình trạng suy kiệt dinh dưỡng. Nạn đói kém sẽ xảy ra khắp nơi, và những quốc gia làm chủ được thực phẩm sẽ là những quốc gia có quyền lực mạnh nhất. Biết rõ nguy nan này, các quốc gia tân tiến đang phát động những căn bản kinh tế, kỹ nghệ mới đặt trên vấn đề môi sinh mà nạn nhân đầu tiên sẽ là các quốc gia kém mở mang, chậm tiến. Chính những quốc gia này sẽ trở thành miếng mồi ngon để các quốc gia tân tiến kéo đến mở mang kỹ nghệ, phóng uế bừa bãi các chất cặn bã, và phá hoại môi sinh. Nhân danh khoa học kỹ thuật, các quốc gia tân tiến đang cho thuyên chuyển những nhà máy, kỹ nghệ từ xứ họ qua những quốc gia khác dưới những danh nghĩa rất tốt đẹp như hợp tác, phát triển kỹ thuật. Hiển nhiên họ đã ý thức tình trạng phá hoại môi sinh và hậu quả của nó trong quốc gia của họ và quyết định nếu kỹ nghệ là cần thiết thì hậu quả của nó phải xảy ra một nơi nào khác chứ không phải trên lãnh thổ của họ.

Nói một cách khác, chính sách “thực dân mới” sẽ không xây dựng trên tình trạng chiếm đất, nhưng sẽ đặt trên căn bản phá hoại môi sinh tại những nơi khác, vì đây là một sự phá hoại có tính cách vĩnh viễn, không thể phục hồi. Những quốc gia mà môi sinh bị phá hoại sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được khi tình trạng thực phẩm thiếu sót vì đất mầu bị phá hoại, rừng rậm bị phá hủy, biển cả và đất đai chứa đựng toàn những chất ô nhiễm. Dĩ nhiên dân chúng sẽ bị những bệnh tật kỳ dị không thể chữa, những thứ bệnh có thể gây tổn thương đến yếu tố di truyền và hoàn toàn suy kiệt nhân lực (Oligarchy) bởi các hóa chất kỹ nghệ.

Thế giới ngày nay đang bước vào một khúc quanh lịch sử mà trong đó tình trạng môi sinh sẽ đóng một vai trò thiết yếu, quan trọng. Khi phái đoàn ký giả đài BBC rời rặng Sierra vào tháng hai năm 1993, những người Kogi đã ân cần nhắn nhủ: “Xin các ông hãy mang thông điệp này ra gửi cho thế giới bên ngoài để nhân loại biết rằng tình trạng đã thực sự nguy kịch lắm rồi! Nếu họ không chịu thức tỉnh thì đợi đến bao giờ nữa đây?”.

Đây là những cây mà NASA khuyên bạn nên trồng trong nhà



Vừa lọc được khí độc lại vừa cung cấp oxi trong lành, chần chừ gì nữa? Hãy cùng tham khảo những cây trồng trong nhà mà NASA khuyên các bạn nên trồng dưới đây.
Bạn mới mua nhà nhưng không biết phải trang trí như thế nào? Hãy nghĩ ngay tới việc trồng cây cảnh, vừa "mát mắt" như các cụ nhà ta vẫn khen, lại vừa giúp phủ xanh Trái Đất này, dù chỉ là một phần bé nhỏ.
Cây cảnh cung cấp oxi cho không khí trong lành, điều này không phải bàn cãi gì rồi nhưng bạn có biết nó còn có khả năng lọc khí độc? NASA biết điều đó và họ đã bỏ ra nhiều tài nguyên nghiên cứu để tìm ra được những loài cây thích hợp nhất để trồng trong nhà bạn!
Chúng có khả năng lọc khí độc thường có trong không khí, phát ra từ những phụ phẩm như sơn, véc-ni hay khí thải công nghiệp nói chung.
Infographic dưới đây sẽ cho bạn biết tất cả những thông tin bạn cần biết:
Từ năm 1989 Nasa đã nguyên cứu chương trình không khí sạch để tìm ra loại cây trong nhà lọc không khí tốt nhất.
Trong không khí của chúng ta có Trichloroethylene, formanldehyde, benzen, xylenne, ammonia...

Bạn có thể trồng những cây như Lan ý, hoa Cúc, Quan trúc âm trong nhà...


Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

Mất tích trên mạng

Nguyễn Khắc Giang

(TBKTSG Xuân AL) - Trên một chuyến bay từ London về Hà Nội ba năm trước, tôi gặp một nhà nhân học trẻ người Ý, tên là Giulio. Để hoàn thành luận văn tiến sĩ, anh sẽ phải đi điền dã - một phương pháp nghiên cứu yêu cầu người thực hiện phải sống cùng nhân vật ở địa bàn - là một vùng núi xa xôi trên Thượng Lào, trong thời gian hai năm rưỡi. Tôi hỏi: “Vậy anh liên lạc với người thân thế nào?”. Anh cười trả lời: “Ở đó không có sóng điện thoại, không có Internet. Tôi sẽ chết trên Facebook”.
Mất tích trên mạng là một điều khủng khiếp. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà chỉ cần vài tiếng không “lên sóng” cũng sẽ thấy bồn chồn không yên. Chúng ta sợ bị tụt hậu vì không biết được tin nóng nào đang được thảo luận, bạn bè đang cập nhật những chuyến đi chơi, hay đơn giản là không ai còn nhớ đến mình. Các nhà tâm lý học gọi đây là hội chứng sợ bị lãng quên (hội chứng FOMO - fear of missing out).
Bị bỏ quên là nỗi sợ quen thuộc với loài người. Kể từ lúc còn sống bầy đàn, tổ tiên của chúng ta sợ bị đồng loại bỏ rơi trong rừng thẳm, không có được thông tin về đợt săn thú mới, hay biết được mối đe dọa từ bên ngoài. Bị bỏ lại khi đó đồng nghĩa với cái chết.
Khi loài người bước ra khỏi thời kỳ hỗn mang và phát triển hơn, bị bỏ lại không còn mang ý nghĩa sống còn, dù có thể quyết định việc một người giàu có hay nghèo nàn hơn (nhờ tiếp cận được nguồn thông tin độc quyền, như đầu tư vào loại cổ phiếu nào hay mua nhà ở đâu). Nhưng đâu đó trong mỗi con người, nỗi sợ đó vẫn tồn tại. Và với sự xuất hiện của mạng xã hội, nó đã có điểm tựa hoàn hảo để quay trở lại.
Riêng ở Việt Nam, theo số liệu của hãng nghiên cứu thị trường We Are Social, tính đến năm 2017, đã có đến 46 triệu người dùng Facebook thường xuyên. Trong số đó, trung bình dành ra khoảng gần bảy tiếng mỗi ngày trên Internet, và ba tiếng đồng hồ mỗi ngày để “lướt phây”. Con số ba tiếng, dù nhiều so với 24 giờ đồng hồ chúng ta có mỗi ngày, không đủ để kết luận là nhiều hay ít. Nhưng một nghiên cứu trích dẫn trên tờ Tâm lý học ngày nay (Psychology Today) trong năm 2016 cho thấy, chỉ có 9% số người dùng Facebook là để giao tiếp thực sự với bạn bè. Còn lại, đa phần dùng Facebook để đọc những thông tin ngẫu nhiên trên mạng. Thời gian lướt tin càng nhiều, nhóm nghiên cứu cho biết, càng khiến cho người dùng Facebook cảm thấy chán nản hơn. Cho đến khi chúng ta đóng cửa sổ Facebook lại, hầu hết đều tiếc rẻ thời gian bị lãng phí. Cảm giác làm việc không hiệu quả khiến chúng ta stress.
9% số người dùng Facebook để giữ liên lạc với bạn bè cũng không khá khẩm hơn. Công dân mạng có xu hướng ghen tị với người khác - có ý thức hay trong vô thức - khi đọc những tin vui được cập nhật, xem những bức ảnh xinh tươi khi đi du lịch của bạn bè (mà không có mình). Khi đó, chúng ta sẽ nhìn lại bản thân, và cho rằng đời mình quá nhạt nhòa so với cuộc sống đầy màu sắc của bạn bè. Tâm lý này lại được nhân lên khi tất cả người dùng đều có xu hướng tô hồng quá mức những gì mình trải nghiệm qua lăng kính ảo.
Tìm kiếm niềm vui trên Facebook, phải chăng, đang là cuộc đua xuống đáy? Người dùng kỳ vọng Internet và mạng xã hội sẽ mang lại mức độ thỏa mãn nhất định về thông tin, nhưng càng sử dụng thì họ càng lún sâu vào tâm trạng tiêu cực. Nghiên cứu vào năm 2015 của Giáo sư Ofir Turel, Đại học California, cho rằng cơ chế hoạt động của não khi dùng Facebook giống như khi chúng ta dùng cocaine.
Cùng với nỗi sợ bị bỏ quên, mạng xã hội còn tạo ra một hiệu ứng ngược: thông tin cá nhân của chúng ta mãi mãi tồn tại trên Internet. Trong hầu hết trường hợp, điều này không phải là vấn đề lớn. Nhưng thử tưởng tượng, nếu bạn là những đứa trẻ bị bạo hành được báo chí và mạng xã hội đưa tin liên tục trong thời gian qua, bạn sẽ cảm thấy thế nào khi lớn lên và bất chợt bắt gặp quá khứ kinh hoàng của mình trên một kênh YouTube có hàng triệu người theo dõi?
Mạng xã hội, nói theo ngôn ngữ âm nhạc, như khách sạn ma mị trong bài hát nổi tiếng Hotel California của Eagles: “Bạn có thể trả phòng bất kỳ lúc nào, nhưng sẽ không bao giờ thoát khỏi nơi đây”.
Con người, về mặt thể chất và tinh thần, cần được tái tạo liên tục để tồn tại. Chúng ta cần quên - và được quên - những ký ức hay hình ảnh tiêu cực mà chúng tạo ra rào cản để bước tiếp. Internet và mạng xã hội, với công cụ tìm kiếm siêu đẳng, từ chối loài người quyền cơ bản đó. Tất cả những gì được tải lên mạng, dù đúng hay sai, cũng có thể trở thành bằng chứng chống lại chúng ta trước tòa án cộng đồng mạng. Vào năm 2014, một người Tây Ban Nha đã kiện Google lên tòa án châu Âu, yêu cầu hãng này gỡ bỏ các thông tin tiêu cực về anh này cách đây 15 năm. Google thua cuộc, dẫn đến việc phải gỡ bỏ thông tin về anh ta trên công cụ tìm kiếm. Đó là một án lệ có ý nghĩa rất to lớn về “quyền được lãng quên”: một ngày sau vụ án, 12.000 người đã nộp đơn lên Google với yêu cầu tương tự.
Tất cả những bất cập trên tất nhiên không làm mất đi lợi ích khổng lồ của mạng xã hội. Tuy nhiên, cũng giống như những tiến bộ công nghệ khác, để tối đa hóa hiệu quả, người dùng cần nhìn nhận nó một cách đa chiều hơn. Bill Gates có lẽ là nhân vật quan trọng nhất trong cuộc cách mạng máy tính và Internet tỏ thái độ rất dè chừng với công nghệ. Ông chỉ đọc sách giấy, và không cho phép con cái sử dụng các thiết bị điện tử cầm tay cho đến năm 14 tuổi.
Không phải ai cũng là Bill Gates, và không phải những gì Bill Gates làm cũng đúng, nhưng xu hướng hạn chế bớt công nghệ, đặc biệt là Internet và mạng xã hội, đang dần được chú ý nhiều hơn. Nhiều người dần quay lại với cách sống tiền Internet: giao tiếp trực tiếp nhiều hơn, trở về hòa mình vào thiên nhiên, tham gia các hoạt động thiện nguyện, hay dấn thân vào các cuộc hành trình, để tự giải thoát khỏi “cộng đồng mạng”. Nhiều người bạn của tôi thậm chí đã đóng hẳn trang Facebook cá nhân của mình. Và họ cho rằng mình thực sự làm được nhiều thứ có ý nghĩa hơn khi không bị đắm chìm trong cạm bẫy của Mark Zuckerberg.
Như một thói quen của thị dân điển hình, một sáng mùa đông, tôi dậy sớm và “check” Instagram bên ly cà phê sữa nóng. Bất chợt tôi thấy Giulio “like” bức ảnh mới tôi đăng lên hôm qua. Giulio - trên mạng đã hồi sinh. Ba năm không kết nối, anh nói không thấy bị loại trừ một chút nào khỏi thế giới ảo. Facebook, Instagram, và Twitter nồng nhiệt đón anh trở lại với những làn sóng thông tin rất quan trọng và không thể bỏ lỡ. Mạng xã hội, nói theo ngôn ngữ âm nhạc, như khách sạn ma mị trong bài hát nổi tiếng Hotel California của Eagles: “Bạn có thể trả phòng bất kỳ lúc nào, nhưng sẽ không bao giờ thoát khỏi nơi đây”.
Tâm đắc với suy nghĩ của mình, tôi định chia sẻ nó trên trang Facebook của mình, vốn đã có vài ngàn lượt theo dõi. Nhưng tôi đã kịp nhận ra chính mong muốn chia sẻ đó đã biến bản thân thành nô lệ của mạng xã hội lúc nào không hay. Tôi tắt điện thoại và tiếp tục nhâm nhi ly cà phê của mình trong tiếng chim kêu và nắng sớm, cảm thấy mình đã quyết định sáng suốt. 
Nguồn TBKTSG

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

Thực ra chúng ta là gì? (What are we, Really?)

Phạm Việt Hưng



Abstract: In 1897, Paul Gauguin, a grand French painter, put a query to humankind: “Que sommes-nous?” (What are we?)[1]. Are we simply descendants of monkeys as Darwinism said? No! Rabindranath Tagore warned: “Man is worse than animals when he is an animal”[2]. So, what are we, really? In searching the answer, I suddenly remembered an instruction in the Bible: “Knock, and it will be opened to you”[3]. I knocked at the door of human mysteries, and joyfully found a profound  answer: that’s “Life of Pi”, a miraculous story by Yann Martel (Năm 1897, danh họa Pháp Paul Gauguin nêu lên một câu hỏi chất vấn nhân loại: “Chúng ta là gì?”. Phải chăng chúng ta đơn giản là hậu duệ của loài khỉ như Học thuyết Darwin đã nói? Không! Rabindranath Tagore cảnh báo: “Con người tồi tệ hơn con vật khi nó là con vật”. Vậy thực ra chúng ta là gì? Trong khi tìm kiếm câu trả lời, tôi chợt nhớ tới một chỉ dẫn trong Kinh Thánh: “Hãy gõ, cửa sẽ mở!”. Tôi gõ vào cánh cửa của những bí mật về con người, và vui mừng tìm thấy một câu trả lời sâu sắc: đó là “Cuộc đời của Pi”[4], một câu chuyện kỳ ảo của Yann Martel).
Tôi gọi đó là một câu chuyện kỳ ảo vì nó đưa ta vào một thế giới nửa thực nửa hư, có lúc thì rùng rợn, có lúc thì lấp lánh như chuyện thần tiên, với các sự kiện và lời nói xen lẫn những triết lý lúc thì dí dỏm, lúc thì uyên thâm, sâu sắc, lúc thì sắc bén logic như khoa học, lúc thì bay bổng văn chương,… Tất cả được cài đặt, lồng ghép, đan xen một cách khéo léo, tinh tế, thông qua những câu chữ đầy kích thích, gợi mở, buộc ta phải dừng lại đôi chút để suy ngẫm, và khi vỡ nhẽ ra thì không ngăn nổi một tiếng reo như một đứa trẻ, “Ah, hiểu rồi, hiểu rồi, hay quá, sâu sắc quá, tuyệt vời quá!”. Thật vậy, tôi đã bị thuyết phục hoàn toàn bởi những ngụ ý của tác giả. Hàng loạt ngụ ý làm cho tác phẩm có dáng dấp như một truyện “ngụ ngôn hậu hiện đại”, như dịch giả Trịnh Lữ đã nhận xét. Tôi mến phục dịch giả Trịnh Lữ không chỉ vì bản dịch của ông quá hay, mà còn vì ông có chung một nhịp đập trái tim với tác giả, khi nhấn mạnh ngay từ đầu rằng “câu chuyện này sẽ khiến ta tin vào Thượng đế”. Tôi tán thưởng dịch giả khi ông viết “Giờ đây, khi cả thế giới đang dần biến thành một cái siêu thị và đạo đức ngày càng lệ thuộc vào quy luật tài chính và thương mại, thông điệp ấy của tác giả càng nên được truyền bá rộng rãi”. Chỉ vài chữ ấy cũng đã đủ để tôi mua ngay cuốn sách. Lật lưng sách để xem giá: chỉ có 75000 đồng (khoảng 3.5 USD). Chao ôi, sao chữ nghĩa rẻ thế! Một cuốn sách lớn như thế mà chỉ có chừng ấy tiền thôi ư? Về đến nhà tôi mở ngay ra đọc. Tuổi tôi không còn trẻ để đọc ngốn ngấu nữa. Vậy mà tôi đọc một mạch, để rồi gấp sách lại, không ngừng nghĩ về nó, về Pi Patel, về Richard Parker,… về quá nhiều bài học thâm thúy trong đó…
BÀI HỌC THỨ NHẤT: KHI BẢN NĂNG ÁC ĐƯỢC SỔ LỒNG
Khi viết loạt bài “Luận về bản tính Thiện/Ác”[5], tôi tưởng những nhận định của Freud và Hàn Phi được trích dẫn để tố cáo bản tính ác trong con người đã là quá đủ. Nhưng đọc “Cuộc đời của Pi”, tôi giật mình nhận ra rằng việc lên án cái Ác không bao giờ là đủ. Nếu Freud làm ta xót xa khi phán xét “Homo homini lupus” (Người với người là lang sói) thì Yann Martel làm ta rùng minh khi được biết những sự thật trong vườn thú ở Pondicherry:
“… con vật nguy hiểm nhất trong một vườn thú là người… tính cách ăn thịt lẫn nhau quá đáng của giống loài chúng ta đã biến toàn thể hành tinh này thành một con mồi của loài người”[6], Martel viết.
Rồi ông kể cho ta nghe, có những khách thăm vườn thú tìm cách thỏa mãn thú vui độc ác của họ bằng cách cho rái cá ăn lưỡi câu, cho gấu ăn dao cạo, cho voi ăn táo có đinh nhọn ở trong,… một con hải cẩu đực chảy máu nội tạng sau khi có kẻ cho nó ăn một chai bia vỡ; một con cò mỏ hình giãy chết vì choáng khi mỏ của nó bị búa đập giập nát; một con tuần lộc bị một kẻ dùng dao lột bộ râu kéo theo một mảng da thịt rồi sau đó nó bị chết vì đầu độc; một con khỉ bị bẻ gẫy tay chỉ vì thò tay ra khỏi chuồng nhận một hột lạc dử cho ăn; một con hươu bị cưa mất sừng; một con ngựa vằn bị đâm bằng kiếm; bọn cuồng dâm với súc vật thì cưỡng hiếp khỉ, ngựa non, chim; một kẻ cuồng tín chặt đầu một con rắn; một kẻ bệnh hoạn tìm mọi cách đái vào miệng một con hươu Bắc Cực…
Không giấu được sự ghê tởm những kẻ độc ác ấy, nhưng tác giả vẫn bình tĩnh, nhẹ nhàng kể lại một chi tiết đầy chất bi hài:
“Ngay sau quầy bán vé, cha tôi[7] cho kẻ một dòng chữ sơn đỏ lên tường: “Đố quý vị biết con vật nào trong vườn thú là nguy hiểm nhất?”. Một mũi tên chỉ về phía một tấm rèm nhỏ. Đã biết bao nhiêu bàn tay tò mò háo hức kéo tấm rèm đó, đến nỗi chúng tôi phải thường xuyên thay cái mới. Đằng sau nó là một tấm gương”[8].
Vâng, vén tấm rèm đó lên, nhìn vào gương ta sẽ thấy chính mình: con vật nguy hiểm nhất trong vườn thú! Chao ôi, không biết khi viết những dòng trên, Yann Martel có nghĩ tới câu hỏi chất vấn của Paul Gauguin hay không, nhưng dẫu thế nào thì ông cũng đã trả lời Gauguin một phần rồi! Và câu trả lời của ông có khác gì lắm so với nhận định của Tagore về con người khi nó là con vật đâu?
Các nhà văn là những người biết rõ hơn ai hết về nghệ thuật viết lách: không có gì thuyết phục hơn là để tự câu chuyện nói lên những gì cần phải nói. Đó là nghệ thuật đảm bảo tính khách quan của ngôn từ, không cần sự can thiệp cố ý của tác giả. Nhưng dường như thói xấu độc ác của con người làm cho Martel không thê che giấu được sự căm phẫn đến mức khinh bỉ. Ông đã mượn lời nhân vật chính của câu chuyện, Pi Patel, lớn tiếng tố cáo “có một con vật nữa nguy hiểm hơn chúng ta… đó là loài Animalus anthropomorphicus (Con vật mang hình người)”. Ông không nêu đích danh “con vật mang hình người” này là ai, nhưng dường như ông muốn ám chỉ một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng loài người mà tinh thần của chúng bệnh hoạn đến mức tột cùng, không còn chút xíu nhân tính nào nữa, những kẻ mà ông mô tả là “các con vật đồi trụy, xấu xa, khát máu… Tâm lý bệnh hoạn luôn muốn đặt mình vào trung tâm của mọi vật…”. Những kẻ ấy không chỉ giết chóc động vật không thương tiếc, hủy hoại môi sinh, mà còn hạ bệ mọi giá trị tâm linh, tôn giáo, khinh rẻ các giá trị đạo lý, vô cảm trước cái đẹp, tóm lại là một lũ vô học, vô đạo, vô văn hóa.
Nói đến đây không thể không đề cập đến vai trò của giáo dục.
Trước khi được giáo dục, mọi người sinh ra đều bình đẳng về tư cách và phẩm chất. Không ai có quyền vỗ ngực nói rằng cái mầm ác trong “bộ gene” của mình ít hơn của người khác. Các nhà tội phạm học ở Mỹ, với sự trợ giúp của các nhà sinh học di truyền, đang cố gắng khám phá ra gene tội phạm[9]. Nhưng đó là một con dao hai lưỡi hứa hẹn nhiều nguy cơ hơn là ích lợi. Sẽ vô cùng nguy hiểm nếu quả thật tồn tại một thứ gene được quy cho nguyên nhân của tội phạm. Nhưng cũng không thể phủ nhận một sự thật rằng tính Ác nằm trong phần bản năng vô thức của con người mà Freud đã gọi tên đích danh: Eros và Thanatos[10]. Kẻ độc ác đơn giản là kẻ không được giáo dục đủ cần thiết để biết kiềm chế những bản năng đó.
Giáo dục còn quan trọng hơn pháp luật để kiềm chế tính Ác.
Nền giáo dục hiện đại, sau khi giải phóng con người khỏi những ràng buộc tôn giáo và những định chế nghiêm khắc khác, đã phạm một sai lầm lớn là đề cao quyền tự do cá nhân quá đáng tới mức làm cho con người không còn biết tiết chế gì nữa, không còn lễ nghĩa gì nữa – con người được sổ lồng với bản năng vô thức của nó, và như Freud đã cảnh báo trong tác phẩm “The Civilisation and its discontents”, đó là đầu mối dẫn tới sự diệt vong của nền văn minh[11].
Lão tử nói: “Cố thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ” (Cho nên, mất đạo rồi sau mới có đức, mất đức rồi sau mới có nhân, mất nhân rồi sau mới có nghĩa, mất nghĩa rồi sau mới có lễ). Rồi Ngài kết luận: “Phù lễ giả, trung tín chi bạc dã, nhi loạn chi thủ dã” (Cho nên lễ là biểu lộ cái đức mỏng manh và là đầu mối của hỗn loạn)[12].
Lão tử coi Đạo là cái gốc sinh tồn của nhân loại. Nhưng vào thời Xuân Thu Chiến Quốc thì Đạo đã mất rồi, chẳng lẽ cứ khoanh tay mà đứng nhìn thiên hạ diệt vong hay sao. Dẫu sao thì Lễ cũng là chiếc phảo cuối cùng để cứu cho con thuyền nhân loại khỏi đắm chìm. Đó là lý do để Khổng tử không chỉ ngồi một chỗ mà triết lý – Ngài ra sức dạy bảo người đời, từ vua chúa cho tới thứ dân, làm sao tổ chức lại xã hội cho có trật tự, lễ nghĩa.
Nhưng ngày nay, với cung cách đối xử của con người như Martel đã mô tả, rằng chỉ muốn “biến toàn thể hành tinh này thành một con mồi” của chính mình thì chiếc phao cuối cùng ấy của Khổng tử cũng đang tuột khỏi tay nhân loại, chứ còn nói gì đến cái gốc sinh tồn là Đạo của Lão tử nữa!
Đó là lý do để Yann Martel, như bao nhiêu bậc tiền bối khác, phải lên tiếng trước khi quá muộn. Mặc dù ngôn ngữ ông sử dụng là ngôn ngữ Tây phương trăm phần trăm, nhưng tác phẩm của ông gợi cho chúng ta một suy nghĩ rất gần với Đạo: làm người phải có Đạo!
Đạo ở đây trước hết là tư tưởng về tính liên thuộc (interdependence) – sự phụ thuộc lẫn nhau giữa mọi tạo vật trên thế gian. Đó là tính vũ trụ nhất thể (universe as one / universe as a whole) như tôi đã trình bầy trong bài viết về con lắc Foucault mới công bố gần đây[13].
Tư tưởng về tính liên thuộc hay vũ trụ nhất thể không chỉ có ý nghĩa như một bản chất của Tạo Hóa, một định luật của Tự Nhiên, mà còn là một cơ sở của đạo đức: Nếu biết rằng sự tồn tại của bản thân ta liên thuộc chặt chẽ với toàn bộ phần còn lại của vũ trụ thì sẽ hiểu ra rằng mọi hành động tàn sát lẫn nhau và tàn sát các giống loài khác là tàn sát chính mình – tính ác trong ta sẽ hủy diệt chính bản thân ta. Đó là bản thông điệp thứ nhất của Yann Martel.
Bản thông điệp thứ hai là Đức tin, tiếng Anh là The Belief, hay cụ thể hơn và rõ ràng hơn, đó là Theological virtues, một niềm tin hướng tới cái cao đẹp, thiêng liêng, mà cái thiêng liêng ấy có sẵn nơi con người, đó là lòng trắc ẩn, nhân hậu, làm cơ sở cho đạo đức.
Tư tưởng về Đức tin lộ ra ở rất nhiều trang sách của “Cuộc đời của Pi”. Nếu ai không thích khái niệm Thượng Đế hoặc Chúa thì tôi xin thay thế những khái niệm đó bằng thuật ngữ “Giá trị thiêng liêng”. Nếu ai đó lại nói chẳng có gì thiêng liêng cả thì quả thật tôi không còn chuyện gì để nói. Có lẽ khi đó Yann Martel cũng không còn gì để viết, dịch giả Trịnh Lữ cũng sẽ không còn gì để dịch. Thú thật là tôi rất thích những câu mở đầu trong Lời Người Dịch. Rõ ràng là uy tín các giải thưởng om sòm không đủ sức thuyết phục dịch giả, nhưng Cái Đẹp, Cái Thiện, con người biết sống yêu thương – những giá trị người người nhất – đã làm dịch giả xúc động. Nếu nhân loại chỉ bao gồm những người như Yann Martel hay Trịnh Lữ,… thì chắc chắn cuộc sống sẽ có bình an, hạnh phúc. Tôi yêu những người như thế. Tôi ghét những kẻ cho rằng thế gian chỉ là tập hợp của các phân tử và nguyên tử, hạt cơ bản, năng lượng… còn những giá trị thiêng liêng chỉ là sản phẩm thuần túy của tưởng tượng, ảo, “imaginary”, bịa đặt. Xét cho cùng, những người này thật đáng thương, vì họ nghèo quá, bất kể trong túi họ có có bao nhiêu triệu hoặc tỷ dollars.
Cách đây nhiều năm, khi tôi còn làm việc tại một công ty của Úc, trong một bữa ăn trưa, tôi tán chuyện làm quà với mọi người: “In Vietnam, people say: “Chinese food, Western house, Japanese wife”, that is happiness”. Một cô bạn người Afganistan lập tức lên tiếng: “In my own country, people say the same, but add one thing more: US dollars!”. Mọi người phá lên cười.
Thế đấy. Đồng tiền ngự trị trong lòng dạ con người bây giờ như thế đấy. Phần lớn các triệu phú, tỷ phú dollars, nhất là những triệu phú, tỷ phú kiếm được tiền bằng con đường bất lương, chỉ tin vào những “tờ xanh” họ sờ thấy, mặc dù ngay trên đó, nhà nước Mỹ dõng dạc tuyên bố: IN GOD WE TRUST!
Đáng sợ thay khi cuộc sống không có hoặc bị mất niềm tin vào những giá trị thiêng liêng!
Có lẽ vì thế mà Yann Martel phải mượn lời của Pi Patel để gắt lên với hai điều tra viên Nhật Bản: “Nếu các ông ngập ngừng ấp úng trước điều đáng tin, thì các ông sống vì cái gì?”[14]. Hai vị Nhật Bản này chỉ tin vào những gì mà lý trí của các vị ấy có thể giải thích được. Chuyện này sẽ còn được phân tích thêm sau.
Tuy vậy, Yann Martel không áp đặt độc giả phải nghĩ như ông muốn. Ông chỉ gợi ý để chúng ta tự lựa chọn điều chúng ta muốn. Thật vậy, toàn bộ câu chuyện của ông có thể tóm tắt trong ba câu nói:
“Đời là một câu chuyện… Bạn có thể lựa chọn câu chuyện của bạn… Câu chuyện có Chúa là câu chuyện tốt đẹp hơn”[15].
Pi Patel kể cho các điều tra viên Nhật Bản nghe hai câu chuyện về cuộc khổ nạn của anh trên biển, giải thích vì sao anh sống sót trở về đất liền.
Chuyện thứ nhất rất KHÓ TIN nên anh buộc phải kể câu chuyện thứ hai.
Chuyện thứ hai quá rùng rợn – rùng rợn đến nỗi tôi không dám kể lại ở đây. Tôi chỉ xác nhận rằng những gì Pi kể cũng giống như những sự thật mà tôi từng biết qua lịch sử thật. Tóm lại là câu chuyện thứ hai của Pi phù hợp với KHẢ NĂNG SUY LUẬN BẰNG LÝ TRÍ của con người.
Nhưng khi Pi hỏi các điều tra viên xem họ thích chuyện nào hơn, thì may mắn thay, họ đều nói họ thích chuyện thứ nhất hơn[16], mặc dù họ thấy rất khó tin.
Vâng, chuyện thứ hai dễ tin hơn, nhưng quá GHÊ TỞM, tàn bạo, độc ác, làm ta sợ hãi, không muốn nó tiếp tục diễn ra trên đời!
Chuyện thứ nhất rất khó tin, nhưng ĐẸP, có hậu, làm ta tin vào Thượng Đế, bởi trong đó cái Ác bị trừng phạt:
Thật vậy, vào lúc khốn khổ nhất trên chiếc xuống cứu nạn lênh đênh trôi dạt trên Thái Bình Dương, Pi bị mù mắt, không bắt được cá nên càng yếu mệt, kiệt sức, và rơi vào mê sảng. Bỗng anh nghe thấy tiếng vọng trên biển cả. Trong cơn mê, anh tưởng đó là tiếng nói của Richard Parker, con hổ sống sót duy nhất cùng với anh trên chiếc xuồng đó. Nhưng hóa ra không phải, đó là tiếng người, một kẻ khốn khổ khác trên một chiếc xuồng khác cũng đang trôi dạt trên biển như Pi, cũng bị mù lòa như Pi. Hai kẻ khốn khổ chia sẻ mơ ước được ăn uống những thứ mình thèm khát. Kẻ kia đang thèm ăn thịt, khốn khổ vì không được ăn thịt. Pi tin người bạn khốn khổ của mình, nhưng người bạn ấy, trong cơn trỗi dạy mạnh mẽ của bản năng, hắn nẩy sinh dã tâm giết Pi để ăn thịt Pi. Hắn bước sang xuồng của Pi… Pi hốt hoảng lo cho bạn, nhưng không kịp nữa, Richard Parker đã xuất hiện từ dưới tấm bạt, vồ lấy kẻ khốn nạn đó, xé xác…
Khi làm bộ phim cùng tên, đạo diễn Lý An (Ang Lee) đều không nỡ đưa những chi tiết ghê rợn ăn thịt người lên màn ảnh. Nhưng đọc những đoạn ghê rợn đó trong tiểu thuyết của Yann Martel, tôi nặng chĩu lòng nghĩ đến câu chuyện về “Chiếc bè của Chiến thuyền Méduse”[17], hoặc những đau thương của Vietnamese boat-people trong thập kỷ 1980 mà tờ Saigon Times ở Úc đã nhiều lần tường thuật. Tôi cũng nghĩ đến họa sĩ Gericault, người đã vẽ bức tranh khổng lồ để tố cáo tội ác của những kẻ ích kỷ bất nhân trong câu chuyện bi thảm trên “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse”. Bức tranh ấy hiện vẫn là một trong những bức tranh nổi tiếng nhất trong Bảo tàng Louvre. Chúng ta cần bao nhiêu người như Géricault, Gauguin, Freud, Tagore,… để cảnh báo loài người hãy cảnh giác với cái Ác nằm trong bản năng của chính giống loài mình?
Yann Martel chẳng làm điều gì mới hơn so với Gericault và Tagore. Nhưng ông không dừng lại ở bức tranh bi thảm. Ông muốn chỉ cho chúng ta thấy phía chân trời đầy ánh sáng: Đức tin vào cái Thiện, vào cái cao cả, vào những giá trị thiêng liêng mà tiếng Anh gọi là God, dịch giả Trịnh Lữ dịch là Thượng đế. Đó là lý do để Gordon Houser, một nhà xuất bản ở Mỹ, nói rằng Yann Martel gửi tới chúng ta hai thông điệp chủ yếu, “rằng tất cả mọi sinh linh đều liên-đới-phụ-thuộc (interdependent) vào nhau, và rằng chúng ta sống và thở thông qua Đức tin”[18].
(Phần tiếp theo đã được viết thành một bài riêng, nhan đề: CỨU TINH CỦA NỀN VĂN MINH (SAVIOR OF THE CIVILISATION) và đã đăng trên PhamVietHung’s Home ngày 24/10/2013)

[1] Trong một bức họa mô tả cảnh sinh hoạt tại Tahiti (một thuộc địa cũ của Pháp ở nam Thái Bình Dương) nhằm thể hiện thân phận con người qua một kiếp sống, Gauguin đã ghi ở góc trên bên trái dòng chữ sau: “D’où venons-nous? Que sommes-nous? Où allons-nous?” (Chúng ta từ đâu tới? Chúng ta là gì? Chúng ta đi đâu?).
[4] Bản tiếng Việt do NXB Nhã Nam xuất bản năm 2004, tái bản năm 2012, dịch giả Trịnh Lữ.
[5] Tất cả gồm 4 bài. Xem trên PhamVietHung’s Home / Khoa học & Tổ quốc Tháng 10+11+12/2011 và 1+2/2012 / và
[6] Chương 8, trang 60, sách đã dẫn ở ghi chú 4
[7] Ông chủ vườn thú, cha của Pi Patel
[8] Chương 8, trang 62, sách đã dẫn ở ghi chú 4
[9] Xem “Luận về bản tính Thiện/Ác” phần (3): “Gene tội phạm, một câu hỏi lớn” trên PhamVietHưng’s Home; Khoa học & Tổ quốc Tháng 12/2011; và trên Vietsciences: http://vietsciences.free.fr/timhieu/trietly-giaoduc/luanvethienac03.htm
[10] Xem “Luận về bản tính Thiện/Ác” phần (1): “Học thuyết của Sigmund Freud” trên PhamVietHưng’s Home; Khoa học & Tổ quốc Tháng 10/2011; và trên Vietsciences: http://vietsciences.free.fr/timhieu/trietly-giaoduc/luanvethienac.htm
[11] Xem tài liệu đã dẫn trong ghi chú 9
[12] Lão tử Đạo Đức Kinh, GS Vũ Thế Ngọc dịch và chú giải, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
[13] Xem “Con lắc Foucault và Vũ trụ Nhất thể” trên PhamVietHung’s Home và trên Vietsciences:
[14] Nguyên văn: If you stumble about believability, what are you living for? (dịch giả Trịnh Lữ dịch hơi khác với cách dịch nói trên của tôi, nhưng ý cũng tương tự như nhau).
[15] Xem Wikipedia, Life of Pi. http://en.wikipedia.org/wiki/Life_of_Pi
[16] Trong cuốn phim cùng tên của Lý An (Ang Lee) với 4 Giải Oscar, đạo diễn để cho Pi Patel hỏi câu hỏi đó với chính Yann Martel, và để cho Martel trả lời thích chuyện thứ nhất hơn.
[17] Xem Khoa học & Tổ quốc Tháng 07/2010; trên PhamVietHung’s Home; và trên Vietsciences:
[18] Wikipedia, như ghi chú 13.

Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

Tại sao đồng tiền Mỹ lại có dòng chữ “In God We Trust”?



Quỳnh Vy



Vào ngày này cách đây 61 năm, cụm từ “In God We Trust” (tạm dịch: “Chúng ta tin Chúa”) trở thành tiêu ngữ quốc gia Mỹ.

Ai đã từng cầm một tờ đô-la Mỹ trên tay đều dễ dàng nhìn thấy dòng chữ này. Vì sao một nhà nước thế tục như Mỹ lại sử dụng dòng chữ mang đầy tính tôn giáo này làm tiêu ngữ quốc gia?

“Chúng ta tin Chúa” bắt nguồn từ bài thơ Lá cờ sao lấp lánh được luật sư Francis Scott Key viết trong Cuộc chiến Anh-Mỹ năm 1812. Bài thơ này được nhà soạn nhạc John Stafford Smith phổ nhạc, và vào năm 1931, đã chính thức trở thành Quốc ca Hoa Kỳ.

Một đạo luật của Quốc hội vào năm 1864 đã cho phép khắc dòng chữ này trên đồng hai xu sau khi có rất nhiều người dân đưa ra đề xuất. Người đi đầu trong nỗ lực này là mục sư M. R. Watkinson của bang Pennsylvania.

Theo thông tin từ Bộ Ngân khố Hoa Kỳ, mục sư M. R. Watkinson cho rằng, khi Cuộc chiến Nam – Bắc trở nên khốc liệt hơn, đại bộ phận người dân miền Bắc cảm thấy họ cần phải được tiếp sức niềm tin để tiếp tục chiến đấu.

Niềm tin của họ, theo Watkinson, chính là God. God ở đây được hiểu là Chúa trời, hay Thượng đế. Nhiều người Mỹ tin rằng Chúa trời đã bảo vệ nước Mỹ từ những năm đầu lập quốc, nhờ vậy, cho dù đã từng trải qua nhiều cuộc chiến ác liệt, Liên bang Hoa Kỳ (the Union) vẫn tồn tại.

Bài thơ Lá cờ sao lấp lánh đã truyền cảm hứng đặc biệt cho người dân miền Bắc. Lý do là nó ra đời sau khi tác giả chứng kiến pháo đài McHenry tại thành phố Baltimore, bang Maryland vẫn ngoan cường chiến đấu và không thất thủ, dù bị quân đội Anh tấn công dữ dội vào đêm 18/6/1812.

Francis Scott Key hoàn thành bài thơ vào năm 1814, và ông đã viết:

“Hãy cùng ca tụng quyền lực nào đã làm nên và bảo toàn Tổ quốc ta! Chiến thắng rồi sẽ đến với những ai mang lý tưởng của sự công bình. Hãy lấy điều này mà làm tiêu ngữ, ‘Chúng ta tin Chúa’!”

Và theo mục sư Watkinson, niềm tin của các binh sĩ trong cuộc chiến Anh – Mỹ cũng chính là niềm tin của người miền Bắc trong thời kỳ Nội chiến, rằng Chúa đứng về phía họ, như đã từng đứng về phía cha ông họ trong những cuộc chiến trước, và sẽ giúp họ chiến đấu bảo vệ một nước Mỹ toàn vẹn.

Đến tháng 3/1865, khi Nội chiến sắp kết thúc, Quốc hội Mỹ tiếp tục ban hành một đạo luật nữa, cho phép tiêu ngữ này được khắc trên tất cả các đồng tiền kim loại. Ngay sau khi Nội chiến chấm dứt, từ năm 1866 trở đi, tiêu ngữ này đã bắt đầu xuất hiện trên các đồng xu Hoa Kỳ.

Tiến vào thập niên 1950, cuộc chiến chống lại ý thức hệ cộng sản dâng cao tại Mỹ. Một số người dân cho rằng, việc xác quyết niềm tin vào tôn giáo một lần nữa cần được đề cao để khẳng định Hoa Kỳ là một đất nước có niềm tin tôn giáo, trái ngược với tư tưởng vô thần của những người cộng sản. God đến lúc này được họ hiểu là đấng tối cao nói chung của các tôn giáo, chứ không riêng tôn giáo nào.

Vì vậy, ngày 11/7/1955, Tổng thống Dwight D. Eisenhower đã ký ban hành Đạo luật H.R.619, và kể từ năm 1957 trở về sau thì không chỉ các đồng xu, mà tất cả các đơn vị tiền tệ của Hoa Kỳ sẽ đều in dòng chữ “In God We Trust”.

Ngày 30/7/1956, tiến thêm một bước, Tổng thống Eisenhower lại ký ban hành Đạo luật P.L.84-140, chính thức công nhận dòng chữ “In God We Trust” là tiêu ngữ quốc gia của Hoa Kỳ.


Có trái ngược với Hiến pháp không?


Ngay từ những ngày đầu tiên khi “In God We Trust” trở thành tiêu ngữ quốc gia, nó đã bị phản đối.

Những người ủng hộ một nhà nước thế tục tuyệt đối (secularists) cho rằng nó vi phạm Tu chính án thứ Nhất của Hiến pháp Mỹ, vốn ngăn cấm Quốc hội ban hành bất kỳ đạo luật nào tôn vinh một tôn giáo nào hay cấm đoán quyền tự do tôn giáo của người dân.

Hầu hết những người cho rằng tiêu ngữ này vi hiến đều dựa vào lập luận của Thomas Jefferson, là một trong những tổ phụ cổ xúy cho việc Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ phải tuyệt đối trở thành một nhà nước thế tục.

Trong bức thư gửi Hội thánh Danbury năm 1802, Jefferson đã giải thích lý do vì sao ông ủng hộ việc phân chia rõ ràng giữa quyền lực nhà nước và thần quyền của một tôn giáo.


“Tôi, cũng như quý vị, tin rằng tôn giáo là vấn đề riêng tư giữa một cá nhân và Thượng đế, rằng một người không cần phải giải thích với bất kỳ ai về niềm tin hay cách thức mà anh ta thờ phụng, và rằng các quyền lực chính đáng của một nhà nước chỉ có thể vươn đến các hành vi của một người chứ không phải là những suy nghĩ của anh ta.

Tôi đoan chắc, với chủ quyền nhân dân đáng kính mà người dân Hoa Kỳ đã dùng để tuyên bố rằng, cơ quan lập pháp của họ sẽ ‘không tạo ra những luật lệ chỉ tôn vinh sự thiết lập của một tôn giáo, hay cấm đoán quyền được có tự do tín ngưỡng’, là chính người dân đã dựng lên một bức tường phân cách giữa Nhà nước và Tôn giáo” – Thomas Jefferson (1802).


Theo Giáo sư Công pháp Jesse H. Choper của Đại học Luật Berkeley, bang California, Tu chính án thứ Nhất thường được các án lệ diễn giải là Hiến pháp không cho phép nước Mỹ có quốc giáo (national religion) và cũng nghiêm cấm chính quyền liên bang dùng ngân sách quốc gia để ủng hộ việc thiết lập hoặc vận hành của bất kỳ một tôn giáo nào.

Vào năm 1971, trong án lệ Lemon v. Kurtzman, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã đưa ra ba tiêu chuẩn để giúp xác định một hành vi hay đạo luật của chính phủ có vi phạm Tu chính án thứ Nhất hay không, bao gồm:


mục đích của nhà nước phải mang tính thế tục (secular purpose),
kết quả tiên quyết (primary purpose) của hành vi hay đạo luật của nhà nước không thể ủng hộ hay ngăn cấm bất kỳ một tôn giáo nào, và
không được tạo ra quan hệ đan xen quá mức giữa nhà nước và tôn giáo.

Tự do tôn giáo lại còn có nghĩa là người ta có quyền theo hoặc không theo bất kỳ một tôn giáo nào. Những ai phản đối sử dụng “Chúng ta tin Chúa” thì cho rằng, mục đích của việc đưa nó trở thành tiêu ngữ rõ ràng là ý tứ của những người tin vào thần quyền. Vì thế, mục đích của đạo luật này đã mất đi tính thế tục, và là hành vi vi hiến.

Tuy nhiên, tòa án Hoa Kỳ đã không đồng ý với lập luận trên, và tiêu ngữ này vẫn tiếp tục được sử dụng.


Tiêu ngữ “Chúng ta tin Chúa” trên tem Hoa Kỳ thập niên 1960. Nguồn: Shutterstock.

Tòa án nghiêng về phe ủng hộ tiêu ngữ

Trong 61 năm kể từ khi “Chúng ta tin Chúa” trở thành tiêu ngữ quốc gia, đã có khá nhiều vụ kiện phản đối nó. Lần gần đây nhất là vào năm 2016, khi một người theo chủ nghĩa vô thần (atheist), luật sư Michael Newdow, nộp đơn kiện yêu cầu tòa án không công nhận “Chúng ta tin Chúa” là tiêu ngữ quốc gia vì lý do vi hiến.

Nhưng mặc cho các nỗ lực của những người như Michael Newdow, cho đến thời điểm hiện tại, quan điểm của các vị thẩm phán Hoa Kỳ trong các án lệ liên quan vẫn không thay đổi, và nghiêng về phía ủng hộ tiêu ngữ.

Theo các thẩm phán, tiêu ngữ “In God We Trust – Chúng ta tin Chúa”, không phải là một câu văn có ý nghĩa tôn giáo tại Mỹ. Do đó, tiêu ngữ này không vi phạm Tu chính án thứ Nhất.

Ngoài ra, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ liên tục từ chối, cũng như chưa bao giờ xem xét những vụ kiện liên quan đến tiêu ngữ “Chúng ta tin Chúa”.

Và vì thế, hiện nay, án lệ Aronow v. United States (1970) của Toà Phúc thẩm Liên bang Khu vực số 9 có thể được xem là phán quyết có thẩm quyền cao nhất về vấn đề pháp lý này.

Theo án lệ này, “rất hiển nhiên là câu tiêu ngữ quốc gia được in trên các đồng xu và toàn bộ hệ thống tiền tệ của Hoa Kỳ – ‘Chúng ta tin Chúa’ – không có bất cứ mối liên quan gì đến việc thiết lập một tôn giáo nào (làm quốc giáo)”.

Ngoài ra, những gì thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, William J. Brennan Jr., viết trong án lệ Lynch v. Donnelly (1984) – là một vụ kiện liên quan đến lời tuyên thệ trung thành với nước Mỹ (pledge of allegiance) – cũng nói rõ quan điểm chung của các tòa án Mỹ về vấn đề này.

Đó là, ngày nay, các tiêu ngữ như “Chúng ta tin Chúa” hay “Dưới Thiên Chúa” (Under God) đã mất đi màu sắc tôn giáo của nó bởi vì mọi người cứ nhai đi nhai lại những câu nói này theo kiểu học vẹt. Điều này đã khiến chúng không còn được xem là một cách tuyên xưng tôn giáo nữa, mà chỉ còn mang tính hình thức, đủ để xem đó là một phần của nghi lễ dân sự (civil religion).

Thái độ của các thẩm phán cũng đại diện cho số đông dân chúng.

Đến thời điểm hiện tại, đa số người Mỹ vẫn ủng hộ “In God We Trust”, và điều này được thể hiện qua việc Quốc hội Mỹ đã rất nhiều lần tái khẳng định đó chính là tiêu ngữ quốc gia. Lần gần nhất là vào năm 2011.

Vì sao người Mỹ lại có thái độ như vậy?

Ủng hộ tiêu ngữ “Chúng ta tin Chúa” vì lý do lịch sử

Ngoài việc nghe quen tai như các thẩm phán đã chỉ ra ở trên, đa phần những người ủng hộ (hoặc không phản đối) dựa vào lịch sử và bối cảnh ra đời của nó tại Hoa Kỳ, chứ không hẳn bởi vì họ là những người sùng đạo.

Theo thời gian, trong sâu thẳm tâm thức của người Mỹ, ca từ của bài Quốc ca hiển nhiên được xem là một phần của lịch sử đất nước, với một tinh thần rất thế tục chứ không có mục đích tôn giáo nào nữa.

Hơn thế, hoàn cảnh ra đời của tiêu ngữ trong thời kỳ Nội chiến càng giúp người Mỹ khẳng định niềm tin vào sự vẹn toàn của Tổ quốc họ, cũng như lý do để họ tiếp tục bảo vệ quốc gia và những giá trị, di sản ông cha để lại.


Vì vậy, chúng ta có thể phần nào hiểu được vì sao đa số người Mỹ không cảm thấy họ đang tuyên xưng cho một quốc giáo, khi chọn một câu trong bài thơ Lá cờ sao lấp lánh của luật sư Francis Scott Key làm tiêu ngữ quốc gia của mình.