Thứ Sáu, ngày 24 tháng 4 năm 2015

Giải bài toán “nông sản tới mùa rớt giá”

Ngày càng nhiều loại nông sản Việt Nam rơi vào thảm cảnh “tới mùa rớt giá”, bất kể được hay mất mùa, cùng với hiện tượng liên tục bị ùn tắc tại cửa khẩu càng làm cho người nông dân lâm vào tình thế bế tắc. Cung không tới được cầu, không chỉ xảy ra nhất thời mà gần như đã trở thành “quy luật” diễn đi diễn lại trong thời gian dài không chỉ đẩy người nông dân Việt Nam luôn phải đối mặt với rủi ro, bất trắc mà còn khiến cho một phần nguồn lực quốc gia bị lãng phí. Về sâu xa, còn cho thấy sự bất cập của một nền nông nghiệp manh mún và một hệ thống thương mại có vấn đề.

Một quan chức ở Bộ Công Thương khi được hỏi về vai trò quản lý nhà nước của bộ này ở đâu mà liên tục để điễn ra tình trạng dưa hấu bị ép giá đã cho biết: “nguyên nhân chính là do người nông dân chưa sản xuất theo tín hiệu của thị trường”. Vị quan chức này còn cảnh cáo: “Nếu không từ bỏ tư duy tự phát, manh mún và sản xuất không có kế hoạch, không chỉ vụ này mà nhiều vụ khác nữa dưa hấu cũng sẽ rớt giá”. Trên thực tế, không chỉ dưa hấu mà hàng loạt mặt hàng nông sản khác của Việt Nam như thanh long Bình Thuận, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Bắc Giang, cà phê Tây Nguyên, rau củ Đà Lạt, hành tím Sóc Trăng, chôm chôm miền Đông-Tây Nam bộ, lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long… cũng liên tục rơi vào tình cảnh tương tự trong hàng chục Năm qua. Nếu nông dân cả nước đều tư duy manh mún, sản xuất tự phát, cung không gặp cầu trong một thời gian dài như vậy,  thiết tưởng việc đầu tiên cần xem xét phải là trách nhiệm của các ngành nông nghiệp, thương mại cùng nhiều cơ quan chức năng khác của Nhà nước có liên quan. Người nông dân xét cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của các chính sách bất cập cùng sự thiếu trách nhiệm của cán bộ công chức được giao trách nhiệm hoạch định chính sách, quy hoạch và điều tiết vĩ mô lĩnh vực sản xuất và cung cầu nông sản.

Có thể nói cho tới nay, hiếm có người nông dân nào tiếp cận  được các dữ liệu về quy hoạch, về nhu cầu của thị trường với từng loại nông sản để có thể tự lên kế hoạch cho mình. Việc nông dân phải sản xuất tự phát, chạy theo phong trào trong một thời gian dài tới hàng chục năm qua là kết quả tất yếu của thực trạng “mù thông tin” mà lẽ ra các cơ quan chức năng từ trung ương tới địa phương có trách nhiệm phải nắm bắt, tổng hợp, phổ cập và tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân tiếp cận. Chưa kể, các kho dữ liệu và tính cập nhật sát với thực tế có liên quan tới thị trường nông sản nội địa và xuất khẩu của các ngành chức năng trong từng thời điểm hay dài hạn không hẳn đã được thực hiện đầy đủ chức trách. Chẳng hạn như trong lĩnh vực thương mại, Bộ Công Thương có vai trò chủ yếu trong việc xúc tiến thương mại để mở rộng thị rường xuất khầu lẫn nội địa.  Để làm được  điều đó, một yêu cầu hết sức quan trọng là phải nắm bắt được thông tin chính xác về nhu cầu của thị trường và khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước để làm cơ sở cho việc tổ chức sản xuất nội địa. Bộ Công Thương cần xây dựng cơ chế để liên tục có những cuộc điều tra, nghiên cứu nắm bắt thông tin kịp thời về nhu cầu của những thị trường quan trọng liên quan tới các mặt hàng thế mạnh nội địa, có các tổng hợp dữ liệu cùng các dự báo hàng năm. Chẳng hạn như cần phải biết rõ nhu cầu thị trường xuất khẩu sang Trung Quốc hay một số thị trường điểm khác về các loại ông sản chủ yếu… Và cung cấp thông tin cho các cơ quan, địa phương có nhu cầu trong cả nước một cách nhanh chóng.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT), phối hợp bằng cách tham khảo các thông tin dự báo thị trường  từ Bộ Công Thương để xác định diện tích canh tác cho từng loại mặt hàng. Qua hệ thống ngành dọc của mình, Bộ NN-PTNT cần có những cảnh báo, khuyến cáo kịp thời cho từng vùng, từng địa phương tới tận các huyện, xã khi diện tích canh tác có xu hướng vượt ngưỡng. Đến lượt mình, chính quyền địa phương các cấp không chỉ làm quy hoạch trên giấy mà cần có trách nhiệm thật sự với cuộc sống của người nông dân trong việc thường xuyên cung cấp các thông tin khuyến cáo, chỉ dẫn kịp thời về mùa vụ và thị trường cho họ. Một thành phần khác cũng có vai trò không kém quan trọng chính là các hệ thống tổ chức từ trung ương tới địa phương của hội nông dân, hiệp hội ngành nghề, các hợp tác xã… Các tổ chức này nếu thực thi đầy đủ chức trách sẽ phải kịp thời sát sao, đồng hành cùng nông dân trong định hướng mùa vụ, cây trồng cũng như thông tin về thị trường.

Đáng tiếc là cho tới nay, sau hàng chục năm tham gia vào thị trường xuất khẩu lẫn nội địa, người nông dân Việt Nam vẫn còn đang trong tình trạng “mù thông tin”. Không thể bắt nông dân sản xuất có kế hoạch, đáp ứng nhu cầu của thị trường nếu còn cơ chế “mù thông tin”, còn những cơ quan chức năng của Nhà nước, cán bộ công chức chưa làm tròn trách nhiệm của mình trong việc quy hoạch, cung cấp kịp thời thông tin định hướng cho họ. Ngay khâu quy hoạch cấp tỉnh, huyện trong thời gian qua cũng chỉ dừng lại ở việc phát động trồng bao hiêu héc-ta, bao thầu mua bán giống ở đâu. Còn khâu thu hoạch, chế biến, xây dựng thương hiệu, tổ chức tiêu thụ ra sao thì cũng chung chung, chủ yếu phó mặc cho thị trường trôi nổi. Đó là chưa kể, từng có những phong trào chuyển đổi cơ cấu “trồng cây gì nuôi còn gì” là do chính quyền địa phương “sốt ruột” quyết nhanh trên cơ sở “thấy người ta ăn khoai mình cũng vác mai đi đào”. Chưa hề có phân tích thị trường, điều tra thổ nhưỡng, khí hậu địa phương và luận chứng khoa học nên phong trào sớm chết yểu, sản phẩm chất lượng thấp, giá rớt thê thảm, nông dân nợ nần chồng chất, kinh tế địa phương lao đao.

Không ít người thắc mắc, nước ta ngoài hệ thống các ngành chức năng, hiệp hội ngành  nghề trong lĩnh vực có liên quan tới chuỗi sản xuất nông nghiệp còn có hàng loạt viện nghiên cứu, trường đại học liên quan đến khoa học nông ngiệp và thương mại, chưa kể ở mỗi tỉnh cũng có các cơ quan chức năng tương tự, sở khoa học, công nghệ…. Hàng năm ngốn rất nhiều kinh phí từ ngân sách nhà nước. Song, người nông dân hầu như không được sự hỗ trợ đáng kể nào của những tổ chức này trong suốt quá trình sản xuất và vẫn đang phải tự bơi, tự phát.

Tuy nhiên, người nông dân trong khi chờ đợi sự chuyển động của các chính sách cũng cần phải tư duy năng động hơn để tự cứu lấy mình. Một trong những giải pháp hữu hiệu  để có thể tự cứu mình là cần làm gia tăng sức mạnh của người sản xuất lên trong chuỗi sản xuất nông nghiệp bằng cách liên kết lại để tăng cường năng lực sản xuất cũng như tiếp cận thông tin thị trường. Người nông dân cần tạo ra vị thế cân bằng trong mối quan hệ với các thành phần khác trong chuỗi sản xuất. Mô hình hợp tác xã kiểu mới (HTX) được các chuyên gia xem là một trong các giải pháp hiệu quả cho bài toán này. Theo GS-TS Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam,  HTX kiểu mới  sẽ tạo ra động lực kép mạnh mẽ để tạo đột phá phát triển của nông nghiệp Việt Nam hiện nay, trong đó có vị thế của người nông dân. Vì, nó vừa duy trì sự quan tâm, nỗ lực sáng tạo cao nhất của từng hộ nông dân với vai trò ngưới chủ đầy đủ của chuỗi sản xuất nông nghiệp; đồng thời cũng vừa thông qua HTX các hộ nông dân sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ hiệu quả của nhà nước, phát huy mạnh mẽ hơn trong việc liên kết với các doanh nghiệp từ sản xuất tới tiêu thụ. 

Khi tham gia HTX kiểu mới, người nông dân không chỉ gia tăng được sức mạnh trong chuỗi sản xuất nông nghiệp mà còn có điều kiện thay đổi tập quán canh tác, hướng tới các tiêu chuẩn phổ quát của thị trường nên dễ dàng tiêu thụ sản phẩm hơn. Mặt khác, việc tiêu thụ sản phẩm của HTX kiểu mới không manh mún, đơn lẻ, bằng các hợp đồng không chính thức, hợp đồng miệng như với từng hộ nông dân theo tập quán nên không dễ bị thương lái ép giá. Kinh nghiệm cho thấy, “mù thông tin”, canh tác không tuân theo tiêu chuẩn thị trường và thiếu liên kết trong cân đối cung – cầu bằng các hợp đồng chính ngạch đã khiến nông dân luôn trở thành bên yếu thế và rơi vào tình trạng bế tắc triền miên do bị chèn ép.

Thứ Năm, ngày 23 tháng 4 năm 2015

Về “Lời tự sự của thi sĩ Hữu Loan”: Lại thêm một sự gian lận đê hèn của giới báo chí!



Nguyễn Đình Nguyên

Tình cờ trên FB lại chuyền nhau về "Lời tự sự của thi sĩ Hữu Loan" coi như là hồi ký của ông được đăng tải trên trang Petrotimes (18/08/14) do Nguyễn Như Phong làm Tổng biên tập. Đã đọc qua rồi, nhưng vốn mê "Màu tím hoa sim" như mọi người mê văn chương, nên tôi vẫn muốn đọc đi đọc lại về ông.

Bài tự sự của ông đã được biên tập lại gọn ghẽ, thành câu đoạn dễ đọc. Đọc qua một lượt, bỗng dưng gợi lại trong trí nhớ của tôi có những đoạn tôi ngờ ngợ là đã từng đọc khá lâu trước đây không phải như vậy. Những đoạn này đã được gọt tỉa một cách khéo léo, "tài tình", nếu không tinh ý thì không thể nhận ra đó có phải là văn gốc của tác giả hay không. Sinh nghi, kiểm tra lại thì thấy quả là có sự "biên tập" quá thô thiển. Tôi trích ra đây để bạn đọc tham khảo và nhận xét, dù tôi không có trong tay bút chỉ của ông nhưng vẫn tin là như thế.

Những phần được lược bỏ là những cụm từ, những câu chỉ trích về đoàn thể, về chính sách về sự vô cảm phi nhân tính của cấp lãnh đạo mà ông đã từng là một thành viên. Sau khi tỉnh ngộ ông "chán kháng chiến" (bị lược bỏ), họ "không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến" (bị lược bỏ) của ông, vì ông đã "chán ngấy bọn họ quá rồi!" (bị lược bỏ).
Nói về vụ "Nhân văn Giai phẩm" (NVGP), ông cho NVGP là nhằm "chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn" (bị lược bỏ). "Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! (bị lược bỏ).

Đỉnh điểm của sự việc là lúc ông viết "Màu tím hoa sim" để khóc người vợ trẻ đẹp xấu số của mình "không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương", "cấp trên" ông cấm ông khóc vợ, làm cách mạng không được phép ủy mị và không được lan truyền sự ủy mị. Ông tuyên bố bỏ ngũ một cách công khai sòng phẳng "cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được!" (bị lược bỏ).
Về quê ẩn dật cũng không yên. Dùng xe, thu xe. Đẩy xe cút kít, cũng thu, phải gánh đá bằng vai trần. Ấy thế mà "đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…" (bị lược bỏ).

Rồi ông gặp người vợ thứ hai, con của một gia đình địa chủ bị đấu tố. Ông kể lại sự tàn ác của đội đấu tố: "hai vợ chồng ông bị đội phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết." (bị lược bỏ) "Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng." (bị lược bỏ).

Cái tinh khí của nhân tài dù có ở đâu thì cũng phát tiết. Ông ẩn dật mấy chục năm "chẳng màng đến thế sự". Ngày đào đá núi đi bán, tối về bạn với rượu trăng để làm thơ "thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì." (bị lược bỏ).

Như lời kể, ông "tái xuất giang hồ" năm 1988. Ông "lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội Văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức", "để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự." (bị lược bỏ).

Sự thật vẫn là sự thật. Tài năng cộng với khí phách ngang tàng, không chịu khuất phục bất cứ một cường quyền nào của ông đã làm nên một Hữu Loan nổi tiếng (đến độ có căm thù ông vẫn phải nhắc đến ông) và bất diệt.

N. Đ. N.

Tác giả gửi BVN.

Bảng đối chiếu:Lời tự sự của Thi sĩ Hữu Loan
Những đoạn bôi vàng đã được lượt bỏ sau khi đăng lại trên Petrotimes

Lời tự sự của Thi sĩ Hữu Loan
Bài đăng trên Petrotimes 18/08/2014
http://petrotimes.vn/news/vn/xa-hoi/cong-dong-mang-roi-nuoc-mat-vi-tu-su-don-dau-cua-cha-de-mau-tim-hoa-sim.html
Xem bản đăng trên blog của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn ngày 3/2/2010:http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2010/02/loi-tu-thuat-cua-tac-gia-bai-tho-mau.html. Lưu ý Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn có ghi nguồn là www.danchimviet.com/articles/2004/1/Li-t-thut-ca-tac-gi-1-bai-th-ni-ting-Mau-Tim-Hoa-Sim/Page1.htmlnhưng nay địa chỉ này không thể truy cập được nữa.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời... từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều... Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!






Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý...
Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.
Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản...

Đó là thời năm 1955–1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng... 
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… 
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý,cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…



…..........
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.






... Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc....


.........
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết.Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ...
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi "tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức.
Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.

Thứ Tư, ngày 22 tháng 4 năm 2015

Ngày 30-4 của Phạm Xuân Ẩn

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

Tuần báo Newsweek đã miêu tả về ngày 29-4 của Phạm Xuân Ẩn - người được đánh giá là “nhân vật của Thế kỷ XX” một “Điệp viên hoàn hảo”, một “Người Việt trầm lặng” sau này mới rõ dần chân dung ông. Còn ngày 29-4 ấy trong một biến động được miêu tả là “cuộc tháo chạy tán loạn”, là ”Sài Gòn sụp đổ “, thì ông Ẩn đã làm gì?
Tờ Newsweek viết về việc Phạm Xuân Ẩn đã cứu trùm cảnh sát mật vụ của chế độ Sài Gòn, bác sỹ Trần Kim Tuyến, đi được chuyến bay cuối cùng di tản khỏi Sài Gòn như thế nào? “Tuyến sẽ bị giết chết nếu ông ta còn ở lại”, Newsweek viết.
Khi ông Tuyến cuống cuồng gọi điện cho Sứ quán Mỹ tìm sự giúp đỡ của CIA thì được trả lời là tất cả đã đi hết. Quá hoảng sợ lo cho tính mạng, ông quay lại tìm người bạn thân Phạm Xuân Ẩn, một phóng viên báo Time nhiều quyền lực và có mối quan hệ rộng vào bậc nhất Sài Gòn.. Ông Ẩn vội đưa Tuyến lên chiếc xe của mình tới Tòa Đại sứ Mỹ kiếm tìm cơ hội cuối cùng nào có được.
Nhưng cảnh tượng thật hãi hùng. Tòa đại sứ đông nghẹt những người cầu cứu hoảng loạn. Chiếc xe cũ Renault của ông Ẩn không sao len vào được... Gọi điện khắp các địa chỉ cần thiết khác trong thành phố, cuối cùng ông Ẩn liên lạc được với một nhà báo Mỹ có thể nhắn cho Tòa Đại sứ... Nhờ thế họ mới biết được còn chuyến di tản cuối cùng của CIA tại ngôi nhà của CIA ở đường Gia Long, nơi đã diễn ra biểu tượng cuối cùng của Sài Gòn sụp đổ.
Ở tòa nhà này, họ cũng suýt nữa thì trượt chuyến đi. Khi xe của ông tới nơi, cánh cửa thép của tòa nhà đã đóng lại để tránh dòng người có thể ập vào. “Đề nghị cho gọi ông Polgar”. Ẩn yêu cầu được gặp người sếp mà ông quen. Nếu gặp được Polgar chắc chắn ông ta biết được câu chuyện trầm trọng của ông Tuyến, sẽ giải quyết ngay. Nhưng người lính gác không chịu gọi.
Vừa may lúc vợ của người lính gác mua đồ ăn đến, cánh cửa hé ra cho bà ta vào. Thế là ông Ẩn một tay giữ chặt cửa, tay kia đẩy thật mạnh bạn mình vào lọt. Tờ Newsweek kết luận: “Thế là, vị trùm cảnh sát mật vụ Sài Gòn đã được một điệp viên của Hà Nội cứu thoát, leo lên mái nhà để lên máy bay đi di tản.”
Chuyện gì đã xảy ra sau đó? Vợ con ông Ẩn đã đi theo người của báo Time.  Để rồi sau này lại phải vất vả mới về lại Sài Gòn. Chỉ còn mình ông ở lại vì chưa có mệnh lệnh nào. Ông không đi, bởi “ngoài việc đất nước đang sang giai đoạn mới, đã đẩy được người ngoại quốc chiếm đóng ra khỏi xứ sở, còn lý do nữa là mẹ tôi đã quá già yếu không thể đi được”. Đó là lời ông Ẩn trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài.
Vào năm 1992 khi tôi bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên đưa Phạm Xuân Ẩn ra ánh sáng, mãi tới 10 năm sau mới in được, cuốn “Phạm Xuân Ẩn -- Tên người như cuộc đời”, một công việc có ý nghĩa trong đời viết lách của mình, tôi đã phỏng vấn Phạm Xuân Ẩn về ngày 30-4 ở Sài Gòn.
Vì sao ông Tuyến lại rơi vào cảnh đó, khi mà ông ta là người đứng đầu bảng danh sách số người mà Mỹ phải đưa đi? Phạm Xuân Ẩn tả lại: “Ông ta là nhân vật thứ ba sau Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Làm giám đốc Sở Nghiên cứu Văn hóa Chính trị Xã hội, người Mỹ gọi là Sở Mật vụ. Trong suốt cuộc đời tôi hoạt động dưới vỏ bọc làm một nhà báo của Mỹ, ông mến tôi. Sau đảo chính Ngô Đình Diệm năm 1963, ông ta cũng bị bắt. Ông ta đi cùng chuyến máy bay với ký giả Stanley Karnow từ Hồng Kông về và bị bắt ngay trước mắt Stanley. Sau lúc ông bị bắt, tôi tới nhà thăm. Bả đang mang bầu. Vì sao ông ta kẹt lại khi vợ con ông ta đi cả rồi? Vì ông này ghét Thiệu. Trước giải phóng một tháng, ngay sau khi Đà Nẵng đã thất thủ, Tuyến vẫn đang trong một âm mưu lật đổ Thiệu để lập chính phủ mới.
Tối 1-4 bác sỹ Trương Khuê Quang, giám đốc trường Quốc gia Nghĩa tử, người trung gian của Tuyến đưa Tuyến đến gặp Trí Quang. Đêm mùng 3 rạng mùng 4 Thiệu bắt nhốt hết những phần tử âm mưu đảo chính, kể cả nghị sỹ, dân biểu, nhà báo.. Ông Tuyến vẫn nấn ná chờ vì nghĩ rằng Thiệu bỏ chạy sớm sẽ thả đàn em của mình ra...  Nhưng mãi khi ông Hương lên rồi, ngày 26 mới thả. Ông Tuyến yên trí thế nào CIA cũng phải đưa mìh đi.”
Tướng Phạm Xuân Ẩn nhớ lại cảnh ông Tuyến chạy đến cầu cứu:
“Người cháu ông Tuyến - một viên thiếu tá - chở ông đến bằng xe Honda. Tôi giục nó về lo cho vợ con, để ông Tuyến lại. Tôi bắt đầu gọi điện. Kêu Tòa Đại sứ. Năm cái telephon tất cả. Sự thể diễn ra đúng như báo chí đã nói rồi.
Tuyến đi chuyến cuối cùng với ông Trần Văn Đôn. Ông Đôn cũng thảm, không sao chen lên được mấy chuyến trước. Con ông phải động viên “Ba, ba đừng bỏ cuộc.” Cô bí thư của ông Polgar chủ nhiệm CIA tên là Hà Hiếu Lang, em đại tá Điệp nhường 3 chỗ cho gia đình tướng Đôn. Người cuối cùng lên được máy bay là ông Tuyến. Trong hình, cái người thấp bé là ổng... Không leo lên được, tướng Đôn phải đưa tay kéo lên.
Chi tiết này sau tôi biết được do đọc báo trong bài người ta phỏng vấn tướng Đôn. Tấm hình minh chứng phút cuối cùng đó của một phóng viên hãng UPI. Hãng được sử dụng 20 năm, gần đây tác giả mới lấy bản quyền.”
Trong bài của Morley Safer, ông ta viết: “Ẩn đã can đảm giúp cho Trần Kim Tuyến thoát khỏi Việt Nam. Tuyến là một trong những viên chức cao cấp nhất của CIA tại Việt Nam. Là một tay âm mưu bất trị làm việc cho Thiệu sau đó chống lại chính quyền Thiệu. Vào ngày cuối cùng của Sài Gòn Tuyến vẫn còn nỗ lực thương thuyết với Phật giáo để lập một chính quyền mới.”
Những việc cứu “kẻ thù” như thế không chỉ diễn ra một lần. Ông đã từng cứu nhiều bạn Mỹ của ông thoát chết trong những hoàn cảnh vô cùng phức tạp và còn nguy hiểm cho ông trong chiến tranh.
Câu chuyện ngày 30-4 của tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn vẫn còn gây tranh luận tới tận gần 30 năm sau - vào năm 2006 khi ông Ẩn mất và giới truyền thông trong ngoài nước viết nhiều về ông.
Một bài do đài RFA phỏng vấn nhà báo Mỹ Don Southerland - người đang là Tổng giám đốc chương trình đài Châu Á tự do, trong đó có lý giải ngày 30-4 của Phạm Xuân Ẩn lý giải tại sao ông Ẩn lại cứu bác sỹ Trần Kim Tuyến.
Dan Southerland là người chứng kiến phút giây đó: “Đêm 29-4 trước khi các trực thăng chuẩn bị rời Việt Nam, tôi đang liên lạc với các trụ sở truyền thông nước ngoài thì Ẩn vẫn còn ở lại đó dù vợ con ông đã đi. Ông nói có một vấn đề hệ trọng là cần tìm cách cho bác sỹ Tuyến ra đi. Tôi sau khi liên hệ với một giới chức cao cấp của tòa Đại sứ Mỹ và được bảo là hãy nói cho ông Tuyến hay rằng có thể đến 22 Gia Long có thể gặp được số quan chức Nam Việt nam như Trần văn Đôn và một số người khác để được bốc đi khỏi Sài Gòn.” Và câu chuyện diễn ra như thế nào ta đã biết.
Dan Southerland nhận định như sau:
“Ông Ẩn đã giúp người vốn chống Cộng cuồng nhiệt. Tôi muốn nói là ông Ẩn đã giúp một người có lý tưởng mà ông Ẩn hoạt động gần hết đời để chống lại nó… Lời của đại tướng Võ nguyên Giáp đánh giá rằng “nhờ các tài liệu tình báo của Phạm Xuân Ẩn mà Hà Nội như có mặt tại phòng chiến tranh của Lầu Năm góc” là đúng.  Bởi vì Ẩn có thể cung cấp cho Hà Nội một số việc, chẳng hạn cách suy nghĩ, lý luận của người Mỹ. Đó là khả năng lớn nhất của ông Ẩn. Ông ta có thể cảm nhận sự thật.”
“Có thể kết luận việc ông Ẩn hết sức giúp Trần Kim Tuyến ra khỏi Việt nam là chỉ thuần về ơn nghĩa và tình bằng hữu mà chuyện này có thể đã khiến ông mất sự tin cậy của Hà Nội.”
Khi viết cuốn sách “Phạm Xuân Ẩn – Tên người như cuộc đời”, tôi cũng băn khoăn về suy diễn này và đã đem hỏi hai người chỉ đạo trực tiếp của ông là Trần Quốc Hương, Nguyên Bí thư TW Đảng, và Đại tướng Mai Chí Thọ. “Cứu Tuyến, đó là biểu hiện rất đặc biệt về tư chất Ẩn. Con người trung hậu như vậy nhất định sẽ thành công trong sự nghiệp. Đó gần như là Luật Nhân - Quả”(lời đại tướng Mai Chí Thọ). Còn ông Trần Quốc Hương thì nói: “Ẩn xử sự đúng với bản chất con người của mình trọng đạo lý.”
Ngày 30-4-1975 đã lùi xa 40 năm. Giá như tổ chức một cuộc đại phỏng vấn mọi người Việt Nam chung một câu hỏi: Ngày 30-4-75 đến với bạn như thế nào? Câu trả lời sẽ là phần máu thịt toàn vẹn đắp lên phần xương, là những diễn biến sự kiện lịch sử đã ghi lại.
Và trong số đó, ngày 30-4 của Phạm Xuân Ẩn đã hiện lên con người nhân văn nhất trong những giây phút sống còn. Viết về ông, tôi được các tác giả nước ngoài nhận xét tặng những lời ghi nhận quý báu:
Giáo sư sử học Mỹ Larry Berman, tác giả cuốn “Điệp viên hoàn hảo”:
“Cuốn sách của bà đã mở đường cho tất cả chúng tôi” (Your biography of Pham Xuân Ẩn led the way for the rest of us..). “Trong tất cả những người viết về Phạm Xuân Ẩn, bà là người hiểu rõ chủ nghĩa nhân văn của ông ấy hơn ai hết” (You know An’s humanity better than anyone who writes his story”.
Giáo sư người Mỹ Thomas Bass - tác giả cuốn sách mới viết về Phạm Xuân Ẩn “Điệp viên Z 21, kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ” đã trả lời phỏng vấn trên “Tuổi trẻ cuối tuần” ra ngày 27-4-2014 như sau:
“Bà Nguyễn Thị Ngọc Hải là tác giả quan trọng hàng đầu về Phạm Xuân Ẩn. Cuốn sách của bà là chỉ dẫn quan trọng cho tất cả chúng tôi những người theo bước chân bà viết về ông”.
Sau cùng, tôi vinh dự còn giữ một kỷ vật quý không công bố, đó là lá thư viết tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cảm ơn về cuốn sách Phạm Xuân Ẩn.
NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

Thứ Ba, ngày 21 tháng 4 năm 2015

Dân ngày càng giỏi chịu đựng tham nhũng?


Người dân ngày càng lo ngại và đặc biệt quan tâm tới vấn nạn tham nhũng đang có xu hướng gia tăng trong bộ máy hành chính công. Trong khi, chất lượng huy động sự tham gia của người dân vào đời sống chính trị và công cuộc phát triển ở địa phương thì lại đang giảm sút. Đó là một trong những kết luận đáng quan tâm của Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI), do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES) và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đồng thực hiện, được công bố sau khi khảo sát hơn 13.500 người trên toàn quốc trong năm 2014.

Theo PAPI, so với kết quả khảo sát năm 2011 thì mức độ cải thiện kiểm soát tham nhũng nhũng ở cấp tỉnh đang chậm lại. Phần lớn người dân cho rằng không có dấu hiệu tiến bộ nào trong chỉ số nội dung kiểm soát tham nhũng năm 2014.  Điều đáng lưu ý là dường như khả năng chịu đựng “chung sống với tham nhũng” của người dân lại đang gia tăng.  Chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3%) số người đã từng bị cán bộ, công chức vòi vĩnh, đòi hối lộ dám tố cáo các hành vi đó. Thậm chí ở nhiều nơi có tới 100% số người dân được hỏi sau khi bị vòi vĩnh, đòi đưa hối lộ đã không dám tố cáo các cán bộ, công chức có hành vi đó. Phần lớn lý do được đưa ra để giải thích là có tố cáo tham nhũng thì cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì. Ngược lại còn chuốc lấy phiền phức, nguy hiểm và có nhiều nguy cơ bị trù dập, trả thù. Sự giỏi chịu đựng với tham nhũng của người dân được biểu hiện cụ thể qua việc họ ngày càng chấp nhận chi nhiều tiền hơn. Năm 2014, khi bị vòi vĩnh với số tiền từ 8 triệu đồng trở lên thì họ mới bắt đầu có phản ứng (khảo sát năm 2011 là 5,5 triệu đồng). Kết quả khảo sát cũng dẫn chứng khả năng đặc biệt giỏi chịu đựng của người dân  Lào Cai khi họ chỉ bắt đầu tố cáo hành vi vòi vĩnh của cán bộ công chức với số tiền từ 16,82 triệu đồng.
Bản chất của tham nhũng là giấu mặt và phức tạp. Do đó, không thể chỉ đơn thuần dựa vào bộ máy nhà nước để phòng chống tham nhũng. Người dân vừa là nạn nhân nhưng đồng thời cũng có phần trách nhiệm trong việc hình thành các hành vi tham nhũng của cán bộ công chức. Tăng cường sự tham gia của người dân vào công tác phòng chống tham nhũng là một trong những phương pháp hiệu quả nhất. Cần nhớ rằng, phần lớn các vụ việc tham nhũng bị phát hiện, phanh phui và xử lý trong thời gian qua đều từ các thông tin tố cáo của người dân và phản ánh của báo chí. Tình trạng tham nhũng ngày càng trầm trọng, không phải dân không biết. Đáng quan ngại là người dân biết nhiều thông tin về tham nhũng, nhưng ngày càng phải chấp nhận, giỏi chịu đựng và ngại tố cáo hành vi tham nhũng hơn.
Thực tế cho thấy, người dân ngại tố cáo tham nhũng vì ngày càng nhận ra hiệu quả “bôi trơn” của hành vi tham nhũng để được việc cho mình một cách nhong chóng. Mặt khác, việc xử lý hành vi tham nhũng trong thời gian qua của các cơ quan chức năng còn mang tính hình thức, qua loa, chiếu lệ nên ngày càng làm mất lòng tin của người dân khi quyết định đấu tranh với tham nhũng. Không ít người nghĩ rằng có tố cáo cũng không được cơ quan chức năng giải quyết tới nơi tới chốn. Không ít trường hợp còn có hiện tượng bao che, nễ nang, thiếu kiên quyết trong xử lý cán bộ tham nhũng. Trong khi người tố cáo tham nhũng thì lại phải gánh chịu nhiều hậu quả, thiệt hại nặng nề về vật chất lẫn tinh thần. Rất nhiều người tố cáo tham nhũng bị trả thù, bị trù dập tới mất việc làm, bị hành hung, mất an toàn trong cuộc sống. Người dân không còn cách mào khác hơn là buộc phải tăng cường sức chịu đựng để chung sống với tham nhũng. Vì thực tế đau thương đã chỉ ra cho họ kinh nghiệm xương máu rằng có tố cáo tham nhũng cũng chẳng giải quyết được gì mà còn rước họa vào thân, làm vạ lây tới gia đình, bè bạn.

Pháp luật  Việt Nam hiện hành có khá đầy đủ các điều khoản quy định về việc bảo vệ người tố cáo cũng như người thân, gia đình nhằm giúp họ cảm thấy an toàn trong cuộc đấu tranh không cân sức với tham nhũng. Cần nhớ rằng, đối tượng của hành vi tham nhũng thường là những cán bộ có chức có quyền, có kiến thức pháp luật nhất định và nhất là có quan hệ chằng chịt, phức tạp tạo thành những nhóm lợi ích để che chắn, bảo kê cho nhau. Trong khi, từ quy định của pháp luật về việc bảo vệ người tố cáo tới thực tế hiện còn đang có khoảng cách khá xa khiến cho người dân yếu thế chưa thực sự yên tâm khi quyết định tố cáo tham nhũng. 

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng để tạo lập lòng tin với người dân, khuyến khích họ mạnh dạn tố cáo, tham gia tích cực vào công cuộc phòng chống tham nhũng cần phải xây dựng cơ chế hiệu quả trong việc bảo vệ người tố cáo và minh bạch thông tin. Đồng thời các cơ quan chức năng cũng cần phải làm tròn trách nhiệm, kiên quyết làm tới nơi tới chốn trong việc ngăn chận và xử lý các vụ tham nhũng cũng như cán bộ công chức có hành vi tham nhũng bị tố cáo. Thực hiện tốt việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng có tác dụng trực tiếp đến vai trò, sự tham gia của người dân nói chung. Đặc biệt là của những cán bộ, công nhân viên chức trong chính cơ quan, đơn vị có tham nhũng. Nếu các định chế pháp  lý về việc khuyến khích người dân tham gia phòng chống tham nhũng không đi vào cuộc sống, không làm cho người tố cáo tham nhũng thấy tự tin, yên tâm và tự hào vì sự góp phần công sức của mình vào cuộc chiến đấu chống “giặc nội xâm” thì trong nhiều trường hợp, qua thời gian sẽ triệt tiêu dần dần động lực, ý thức tham gia phòng chống tham nhũng của người dân. Khi người dân ngày càng trở nên giỏi chịu đựng hơn với tham nhũng như xu thế mà PAPI vừa cảnh báo trong kết quả khảo sát trên đây thì thật đáng lo ngại cho mục tiêu ngăn chận và đẩy lùi được quốc nạn tham nhũng.

Thứ Hai, ngày 13 tháng 4 năm 2015

Sở hữu toàn dân là của ai?

[Bài đã đăng trên báo Đại Đoàn Kết (xem ở đây) nhưng bị biên tập cắt xén không còn đầy đủ, bản dưới đây mới là nguyên văn của tác giả]

Có thể xem là vi hiến không khi người được giao đại diện chủ sở hữu và quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân lại có hành vi tước bỏ quyền thẩm định của chủ sở hữu tài sản đích thực, chính là người dân. Cụ thể như trong trường hợp chính quyền Hà Nội chặt hạ, thay thế cây xanh; chính quyền tỉnh Đồng Nai cho phép doanh nghiệp tư nhân lấp sông xây đô thị để kinh doanh, và cho rằng không cần thiết phải tham khảo ý kiến của người dân?

Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định về chế độ sở hữu toàn dân tại điều 53 như sau: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và quản lý”. Dự thảo mới nhất của Bộ luật Dân sự (sửa đổi) cũng quy định chế độ sở hữu toàn dân với nội dung “nguyên xi” như trong Hiến Pháp. Cũng theo dự luật, Nhà nước sẽ đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Khi tài sản toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó. Còn khi tài sản toàn dân được giao cho các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang thì các cơ quan, đơn vị này có quyền quản lý, sử dụng. Trong trường hợp luật định, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì tổ chức, cá nhân được sử dụng đất, khai thác nguồn lợi thủy sản và tài nguyên khác thuộc sở hữu toàn dân.

Những quy định như trên cho thấy một điều hết sức nghịch lý là tài sản thuộc sở hữu toàn dân nhưng người dân lại không thể trực tiếp “được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản” như nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu được luật pháp quy định mà phải thông qua “trung gian” là Nhà nước. Cơ chế này muốn được thực hiện nghiêm túc, đúng ý chí thực sự của người chủ sở hữu – người dân – cần phải có hệ thống kiểm tra, giám sát chặt chẽ, dân chủ và hiệu quả của người dân. Nếu không thiết lập được hệ thống này sẽ dễ dẫn tới việc lạm quyền và coi thường ý chí, nguyện vọng của dân để thỏa mãn các mục tiêu lợi ích nhóm, hay lợi ích cá nhân. Tham nhũng, lãng phí sẽ là chuyện không thể tránh khỏi và có nguy cơ trầm trọng khi việc ủy quyền của người dân cho đại diện chủ sở hữu là Nhà nước không được giám sát, kiểm soát hiệu quả. Người dân sẽ không có cơ chế và quyền lực để bảo vệ tài sản công cộng mà họ là chủ sở hữu khi chúng  bị những cá nhân, nhóm lợi ích có quyền lực xâm phạm trong xu hướng chuyển tài sản từ công sang tư một cách tất yếu.

Sự mù mờ của khái niệm “sở hữu toàn dân” trong quá khứ đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho quá trình phát triển, là mảnh đất màu mỡ cho tiêu cực và tham nhũng hoành hành trở thành “quốc nạn” trong quản lý, sử dụng tài sản quốc gia. Theo các chuyên gia, từ trước tới nay các nhà lập pháp Việt Nam chưa từng bao giờ đi tới cùng trong việc mổ xẻ bản chất và ý nghĩa của khái niệm “sở hữu toàn dân”.  Do vậy, để có thể luật hóa khái niệm này cần phải xem xét nghiêm túc để có sự minh định rõ ràng chế định pháp lý của nó. Trước hết, về khoa học pháp lý khái niệm “toàn dân” không phải là một pháp nhân. Cho nên, cần phải cụ thể hóa người chủ sở hữu thật sự có tư cách pháp nhân là ai, có trách nhiệm giải trình như thế nào và ai giám sát việc thực thi quyền sở hữu đó?

Từ trước tới nay hầu như các văn bản pháp luật đều ghi nhận một cách đơn giản rằng “Nhà nước là đại diện của chủ sở hữu toàn dân”. Tuy nhiên, khái niệm “nhà nước” quá rộng, trong thực tế nhà nước là một hệ thống tổ chức có rất nhiều thiết chế, nhiều cơ quan và nhiều cấp khác nhau từ Thủ tướng Chính phủ tới Chủ tịch xã. Do không làm rõ quyền đại diện chủ sở hữu mà trong thời gian qua bất kỳ chủ tịch xã nào hầu như cũng có quyền bán đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Có một thực tế là không ít người làm trong bộ máy chính quyền đều có thể xưng là người nhà nước và khi thực thi quyền lực nhà nước họ sẵn sàng xâm phạm tài sản, quyền tài sản của dân (sở hữu cá nhân hay toàn  dân) một cách “vô tư”. Điều này có thể thấy trong vụ chặt cây xanh ở Hà Nội, khi vấp phải sự phản đối của người dân thì một quan chức của thành phố đã phát ngôn cho rằng chính quyền sau khi đã được dân bầu rồi thì “không cần phải hỏi ý kiến dân nữa”.  Trong khi, nếu xem xét ở khía cạnh sở hữu, thì những cây xanh bị chặt ở Hà Nội thuộc sở hữu toàn dân. Do đó, khi người dân là chủ sở hữu thì họ có quyền bảo vệ tài sản của mình chưa nói đến các quyền khác liên quan tới môi trường sống.

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp mới là đại diện cho quyền lực của nhân dân, đồng thời có tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân. Do vậy, các vấn đề liên quan tới việc định đoạt, sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân cần thiết phải có luật định hoặc nghị quyết của cơ quan dân cử cùng cấp. Việc bảo vệ sở hữu toàn dân cũng cần phải được luật hóa và có cơ chế tổ chức, bộ máy thực hiện đầy đủ đi cùng. Bầu cử chỉ mới là giai đoạn hoàn tất việc thiết lập nên bộ máy chính quyền và người đại diện. Còn quyền giám sát và chất vấn của người chủ sở hữu đi kèm với trách nhiệm giải trình của người được ủy quyền đại diện trong quan hệ giữa người dân và chính quyền sẽ tiếp tục tồn tại sau đó.

Sự minh định khái niệm sở hữu toàn dân như là một định chế pháp lý là một yêu cầu hết sức quan trọng để ngăn chận các khe hở mà không ít cá nhân và nhóm lợi ích đã lợi dụng triệt để trong suốt thời gian qua, biến tài sản công thành của cá nhân. Đồng thời cần có các quy định, luật hóa cơ chế minh bạch thông tin liên quan tới tài sản thuộc về sở hữu toàn dân để người chủ đích thực có thể giám sát, kiểm tra việc quản lý, sử dụng của cá nhân và tổ chức được ủy quyền đại diện cho chủ sở hữu một cách dễ dàng, thuận lợi. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng cốt lõi của vấn đề là người chủ sở hữu đích thực phải có quyền quyết định ai sẽ là người đại diện đáng tin cậy cho họ bằng lá phiếu tín nhiệm theo định kỳ một cách công khai, minh bạch.

Hữu Nguyên


Thứ Năm, ngày 09 tháng 4 năm 2015

Hữu Loan kể về "Màu tím hoa sim"

Những người yêu thơ tình, không ai không biết đến bài thơ "Màu tím hoa sim" đầy xúc động. Đằng sau đó là một câu chuyện còn sâu sắc hơn, đau đáu hơn của tác giả Hữu Loan.
Nhà thơ Hữu Loan
Nàng có ba người anh
Đi bộ đội
Những em nàng còn chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê ...

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh ...

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...


Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim ...,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu
Hữu Loan
Xin trích đăng những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan:
"Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.
Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên.
Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.
Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.
Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…
Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì.
Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
- Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ…
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
- Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:
- Ngọt quá!
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến.
Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.
Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: "yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”.
Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng.
Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..
Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!
Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…
Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.
Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim…
Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời... từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều... Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!
Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý...
Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.
Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản...
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.
Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước.
Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.
... Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc....
Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no… Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ...
Năm 1988, tôi "tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán".
Nhà thơ Hữu Loan

Chủ Nhật, ngày 29 tháng 3 năm 2015

Đòi hỏi của nông dân

Một thực tế đáng quan ngại ở nông thôn đã và đang diễn ra ngày càng gay gắt là hầu hết con em nông dân đều có tâm lý “thoát ly” vĩnh viễn khỏi nghề nông.  Lên thành phố, học trường nào cũng được, làm việc gì cũng xong miễn là đừng phải trở lại với nhà quê. Chỉ một số rất ít không còn cách gì để xoay sở mới buộc lòng tạm thời chấp nhận trở về hay ở lại nơi chốn đã sinh ra và nuôi dưỡng họ trưởng thành từ nông nghiệp. Vậy thử hỏi, lực lượng lao động còn tồn tại ở nông thôn ngày nay họ là những ai? Liệu họ có phải là thế hệ kế thừa sáng giá các kinh nghiệm  nông nghiệp cổ truyền cũng như khả năng tiếp thu tri thức hiện đại cho nền nông nghiệp công nghệ cao hay không?

Chiều dài lịch sử của người Việt cho thấy nông dân luôn chiếm vai trò và vị trí then chốt trong mọi sự kiện gắn liền với sự hưng vong của đất nước. Họ luôn là lực lượng chủ lực trong tất cả các mặt trận, thời chiến cũng như thời bình. Năm 2014 vừa qua, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt trên 30 tỷ USD, chiếm 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, cho thấy vai trò và sự đóng góp của khu vực này vào nền kinh tế quốc dân. Chưa hết, chính trong lĩnh vực nông nghiệp người Việt Nam đã cho thế giới nhận thấy một Việt Nam đầy tiềm năng, thành viên có nhiều đóng góp tích cực vào an ninh lương thực toàn cầu, nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chiếm vị trí quan trọng trên thị trường quốc tế.

Thế nhưng, 70% dân số Việt Nam sống tại nông thôn hiện đang phải gánh chịu nhiều thiệt thòi về an sinh xã hội, thiên tai, môi trường, cơ sở hạ tầng, các chính sách bất hợp lý về quyền tài sản, điều kiện hạn chế khi  tiếp cận với các nguồn lực quốc gia về tài chính, tri thức, pháp lý… Họ luôn bị đẩy về phía nhóm yếu thế trong quan hệ với các thành phần khác khi tham gia vào các chuỗi sản xuất – tiêu thụ và xuất khẩu nông sản. Điều đáng nói là từ lâu Chính phủ cũng đã nhận ra sự bất cập này nên cũng từng ban hành nhiều chính sách hỗ trợ nông dân. Tuy nhiên, đáng tiếc là phần lớn các sự hỗ trợ này lại thông qua các tầng lớp trung gian, hoặc các điều kiện hỗ trợ xa rời thực tế nên người nông dân thực sự hưởng lợi từ các nguồn lực quốc gia nói trên chưa đáng kể.  Một vài ví dụ tiêu biểu cho các chính sách bất cập này là chương trình hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp thu mua tạm trữ lúa gạo hàng năm;  hay chính sách cho vay ưu đãi sản xuất nông nghiệp nhưng thời gian cho vay lại không căn cứ vào vòng đời đầu tư - thu hồi vốn cụ thể của từng loại vật nuôi cây trồng. Khiến nông dân vốn đã không có nguồn lực tài chính buộc phải đi vay phải luôn đứng trước món nợ quá hạn khó trả, vì thế mà không thể tiếp cận với nguồn tài chính được cho là ưu đãi.

Người nông dân Việt Nam hiện cũng đang phải đối mặt với nhều bất cập trong quản lý xã hội khi hàng ngày họ phải bỏ ra nhiều khoản tiền lớn hơn người thành thị để có được những tiện nghi sinh hoạt cần thiết. Chẳng hạn như người thành phố được nhà nước làm đường tới tận cửa nhà, có khi còn chiếm luôn vỉa hè để kinh doanh thu lợi. Trong khi người nông thôn phải tự bỏ tiền ra đóng góp vào việc làm đường giao thông thôn xã, có nơi ưu tiên lắm thì được cơ chế  “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Tương tự, xây dựng mạng lưới điện, nước sinh hoạt cho khu vực nông thôn cũng đòi hỏi khá nhiều sự đóng góp của nông dân. Chưa kể, sản phẩm vật tư nông nghiệp, cây con giống, nông sản nhập lậu,… luôn có nguy cơ bị làm giả, làm nhái, kém chất lượng gây hậu quả nghiêm trọng cho người nông dân mà các quan chức ngành chức năng gần đây từng phát biều hiện phài bó tay, không thể kiểm soát được do lực lượng quá mỏng, quá yếu.

Các chính sách về quy hoạch, sử dụng đất đai trong nhiều năm qua cũng chưa thực sự coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người nông dân. Đặc biệt là quyền sở hữu và sử dụng đất đai ổn định lâu dài chưa được ghi nhận minh bạch nên vẫn chưa mang lại niềm tin thật sự cho người nông dân nhằm có thể  khuyến khích sự đầu tư quy mô lớn.  Trong khi nhiều đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và không ít đai các loại khác đang rơi vào tay hàng loạt doanh nghiệp trong và ngoài nước với số lượng lớn thông qua các dự án kinh tế có vẻ rất hiệu quả trên giấy song phần lớn chỉ nhằm mục tiêu bao chiếm đất đai là chính. Hàng loạt nông dân buộc phải từ bỏ ruộng vườn, do bị mất đất từ các dự án phát triển đô thị, khu công nghiệp và hàng trăm lý do khác…. Nhiều người trong số họ không được bồi thường đầy đủ, thỏa đáng nên buộc phải khiếu kiện. Do chính sách và pháp luật bất cập, rối rắm lại thêm sự chi phối của các nhóm lợi ích ở địa phương nên việc giải quyết các khiếu kiện liên quan tới thu hồi đất đai trong nhiều năm qua hầu hết là không hiệu quả. Dẫn tới khiếu kiện càng kéo dài, bức xúc, gây phức tạp và bất ổn xã hội. Theo Thanh Tra Chính Phủ, không dưới  70% số vụ khiếu kiện kéo dài, khó giải quyết trong những năm gần đây có nội dung liên quan tới đất đai. Người nông dân thắc mắc, tại sao khi đất đai đã cho nhà đầu tư thuê làm khu công nghiệp, dự án phát triển đô thị hay làm sân golf, nếu nhà nước muốn thu hồi lại để làm đường xá hay công trình khác thì phải thương ượng với nhà đầu tư để mua lại quyền sử dụng đất theo giá thị trường. Trong khi với nông dân thì nhà nước lại thu hồi đất nông nghiệp và áp đặt giá đền bù  “sát giá thị trường “ theo quy định của nhà nước mà không cần thương lượng?

Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi mà các ngành nghề khác đều được “cởi trói”, mạnh mẽ thay đổi thế chế quản lý để bắt kịp đà phát triển chung của kinh tế thế giới thì người nông dân không chỉ lao động cần cù, chăm chỉ là đủ mà còn phải trở thành người lao động có tri thức và sáng tạo. Muốn vậy, về mặt chính sách, trước hết nhà nước phải tạo điều kiện để giữ chân những người con tinh hoa của nông dân trở về với nông thôn, nông nghiệp. Họ phải có cơ sở để thực hiện các ước mơ, các kế hoạch làm giàu bằng tri thức và khoa học nông nghiệp hiện đại trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Thực tế đòi hỏi cần có sự thay đổi quyết liệt về tư duy đầu tư cho tam nông, đổi mới cơ bản các chính sách hỗ trợ cho nông dân gắn liền với quyền và lợi ích hợp pháp, thiết thân của họ. Cần chấm dứt các chính sách tình thế, đối phó, lắt nhắt, theo đuôi… Và nhất là sử dụng nguồn lực quốc gia hỗ trợ nông dân nhưng lại thông qua các nhóm lợi ích trung gian mà nhà chức trách khó có thể kiểm soát.

Người nông dân thực sự cần được giải phóng khỏi gánh nặng của các chính sách bất cập, bất công và nhất là mang tính đối phó, tình thế, chỉ có lợi cho các nhóm lợi ích trung gian hơn là cho chính họ, cho đòi hỏi của sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tình hình hiện nay.