Thứ Năm, 21 tháng 6, 2018

Những di tích hiện còn lại ở Ngọa Vân

Như trên đã trình bày, am Ngọa Vân ban đầu chỉ là một am nhỏ được xây dựng trên đỉnh Ngọa Vân. Sau khi Phật Hoàng Trần Nhân Tông hóa Phật, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thiền phái Trúc Lâm, khu vực am Ngọa Vân được xây dựng và mở rộng với nhiều điểm chùa am khác nhau, biến Ngọa Vân thành một quần thể chùa tháp trên núi Bảo Đài. 

Đến thời Lê Trung hưng, khi Phật giáo được phục hưng, nhờ sự phát tâm công đức của phật tử và triều đình, các sư tăng của Thiền phái Trúc Lâm đã cho trùng tu, tôn tạo và xây dựng mở rộng Ngọa Vân, nhiều chùa tháp được mở rộng và xây mới về phía Đông. Nhưng trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử và những biến thiên của xã hội, quần thể chùa tháp Ngọa Vân phần lớn đã bị đổ nát và dần chìm vào quên lãng, số di tích còn lại chủ yếu là các di tích được xây dựng dưới thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn, các di tích thời Trần đã bị phá hủy hoàn toàn.

Kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học từ năm 2007, đến nay (2013) đã phát hiện được tổng cộng 15 điểm di tích, chia thành 4 khu, các di tích đều đã bị phá hủy nên tên gọi của di tích phần lớn được gọi theo tên dân gian hiện đang sử dụng hoặc được đặt theo thứ tự phát hiện, những di tích nào sau khi nghiên cứu và định danh được thì gọi theo kết quả nghiên cứu.

Đi theo con đường hành hương từ đền An Sinh, qua khu vực lăng tẩm nhà Trần, men theo suối Phủ Am Trà qua khu Tàn Lọng đến Phủ Am Trà đến dốc Đô Kiệu qua Thông Đàn, đến chùa, am Ngọa Vân rồi vòng tiếp về phía Đông, đến Ngọa Vân 1, Ngọa Vân 2 ra Đá Chồng và đến khu Ba Bậc là chúng ta đã đi một vòng từ phía Tây về phía Đông của toàn bộ quần thể di tích Ngọa Vân. Để tiện theo dõi cũng như nắm bắt những thông tin cơ bản về di tích ở đây, xin giới thiệu một cách khái quát vị trí, tên gọi, lịch sử hình thành và các dấu vết hiện còn của từng điểm di tích trong quần thể di tích Ngọa Vân.

1. Tàn Lọng

theo câu chuyện dân gian kể về việc tu hành, đắc đạo của vua Phật Trần Nhân Tông hiện còn được kể tại một số làng trong khu vực An Sinh, Tràng An thì, trước khi đến Cửa Phủ phải qua khu vực gọi là khu Tàn Lọng. Tàn Lọng có nghĩa là thu lọng lại. Tàn Lọng là vị trí nằm trên đường lên am Ngọa Vân, đến đây là bắt đầu đi vào rừng già, đường hẹp vì thế không cần và không thể che lọng được nữa và cũng bởi “rừng già che bóng mát, lọng vua không cần che” do vậy phải thu lọng lại.

Trên thực tế thật khó để xác định vị trí chính xác của Tàn Lọng là ở đâu vì việc hạ lọng cũng hoàn toàn không cố định và không bắt buộc. Theo truyền thuyết thì Tàn Lọng là vị trí bãi xe trâu của người Hoa sau này, nó cách Phủ Am Trà khoảng 250-300m về phía hạ nguồn suối Phủ Am Trà. Mặc dù chỉ là truyền thuyết song có thể thấy nó cũng phản ánh ít nhiều sự thật lịch sử. Quan sát bước tranh Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn chi đồ, bức vẽ mô tả Phật Hoàng Trần Nhân Tông xuống núi chúng ta thấy Phật Hoàng ngồi trên võng, phía sau có người che lọng. Như vậy, việc tồn tại một địa danh gọi là Tàn Lọng cũng có thể hiểu và tin được.

2. Phủ Am Trà
 Phủ Am Trà

Phủ Am Trà hay còn gọi là Cửa Phủ nằm cách Đô Kiệu khoảng 1000m về phía hạ nguồn của suối Phủ Am Trà, cách Tàn Lọng khoảng 250-300m. Đó là một khu đất hẹp tương đối bằng phẳng nằm cao hơn suối khoảng 5m. Dấu vết còn lại ở khu vực Cửa Phủ là nền móng của một kiến trúc nhỏ được xây dựng vào đầu thế kỷ XX. Cửa Phủ hiện là nơi thờ thần rừng, thần núi với tư cách như người cai quản khu rừng này, do vậy trước khi vào rừng mọi người phải qua đây thắp hương với ý để xin phép hay trình báo và cầu mong được các vị thần rừng, núi che chở vào bảo vệ. Về mặt tự nhiên, hiện nay, bắt đầu từ khu vực này là phạm vi rừng già, tuy nhiên vào thời Trần hẳn nó phải nằm sâu trong rừng, tức là cửa rừng phải ở xa phía ngoài hơn nữa.

Một điều đáng lưu ý nữa là tên địa danh “Phủ Am Trà”. Phủ và Am là hai khái niệm để chỉ công trình có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng khác nhau, Phủ là nơi thờ nhân thần hoặc thiên thần, còn Am là nơi các tu sĩ Phật giáo tu học. Do vậy, có lẽ trước khi là phủ thì ở đây có một am nói cách khác vị trí của Cửa Phủ vốn trước đó là vị trí của Am có tên gọi là Am Trà nên khi xây dựng phủ người ta đã lấy luôn tên của am để đặt tên cho phủ, vì vậy Phủ được gọi là Phủ Am Trà. Dòng suối chính ở đây cũng được gọi theo tên gọi của phủ này, nó được gọi là suối Phủ Am Trà là vì thế.

3. Đô Kiệu
 Đ/c Vũ Văn Học, Chủ tịch UBND huyện Đông Triều khảo sát di tích Ngọa Vân. Ảnh: Nguyễn Văn Anh

Đô Kiệu nằm cách Cửa Phủ khoảng 1000m về phía thượng nguồn suối Phủ Am Trà. Đô Kiệu nằm ở vị trí ngã ba của hai dòng suối dồn nước vào suối Phủ Am Trà, tới đây cũng là nơi kết thúc đoạn đường tương đối bằng phẳng, từ đây để lên am Ngọa Vân là phải leo dốc, dốc cao và dài, hai bên là vực sâu. Theo truyền thuyết, Đô Kiệu là nơi dừng kiệu. Trên thực tế với địa hình như dốc này không thể nào đi kiệu được vì thế, xét về mặt ngữ âm, Đô Kiệu chính là cách đọc chệch của Đỗ Kiệu.

Tại Đô Kiệu còn lại nhiều điểm di tích nhỏ, chúng phân bố thành hai khu. Khu vực thứ nhất phân bố trên vị trí đất tương đối bằng phẳng đối diện với khu vực thứ hai qua ngã ba suối Phủ Am Trà tại dốc Đô Kiệu. Khu vực thứ nhất còn một số bó nền kiến trúc, đặc biệt khu này có nhiều loại cây ăn quả như bòng (bưởi), nhãn, vải,.. Chính vì vậy, khu vực này còn được gọi là khu bạt bòng, bạt vải. Trong phạm vi các nền kiến trúc chưa tìm thấy dấu vết của gạch ngói hay các tảng kê chân cột.

Khu vực thứ hai nằm trên sườn phía nam chân núi khu vực Thông Đàn 1, nơi được gọi là dốc Đô Kiệu. Tại đây có 2 cấp nền chính, cấp thứ nhất cao hơn suối khoảng 3m, cấp thứ hai cao hơn cấp thứ nhất nhất khoảng 2m. 
Ngói mũi sen in nổi hai chữ Vân Phong tìm thấy tại Đô Kiệu Ảnh: Giang Vĩnh Thịnh

Hai cấp nền được hình thành bằng việc bạt núi, kè nền để tạo mặt bằng. Trên hai cấp nền này hiện còn một số loại hình vật liệu kiến trúc của thời Trần và thời Lê Trung hưng, trong đó ngói mũi sen thời Lê Trung hưng rất phổ biến. Đặc biệt tại đây cũng đã tìm thấy loại ngói cánh sen trên lưng in nổi hai chữ Vân Phong (雲 夆) là tên khác của chùa Ngọa Vân. Việc tìm thấy loại ngói này ở Đô Kiệu đã chứng minh Đô Kiệu là một phần trong quần thể của Ngọa Vân. Với vị trí và các dấu vết hiện còn tại hai khu vực Đô Kiệu có thể suy đoán chức năng khu vực thứ nhất là khu sinh hoạt với các kiến trúc nhỏ, vườn cây,... và khu vực thứ hai là khu thờ tự.

4. Thông Đàn
 Di tích Thông Đàn 1 sau khi được trùng tu, tôn tạo. Ảnh: Nguyễn Văn Anh

Thông Đàn là một cụm gồm 3 điểm di tích (được các nhà khảo cổ học gọi là Thông Đàn 1, Thông Đàn 2 và Thông Đàn 3) phân bố trên ba sườn núi kéo dài về phía Tây Nam của núi Vây Rồng, trên độ cao trung bình 430 đến 480m so với mặt nước biển. Có nhiều cách giải thích về địa danh Thông Đàn. Có ý kiến cho rằng do ở đây có nhiều cây thông cổ nên gọi là Thông Đàn; ý kiến khác thì cho rằng do có nhiều cây thông cổ, thân và tán cây lớn, ngồi dưới tán cây mỗi khi gió thổi các âm thanh nhiều cung bậc giống như một dàn nhạc mà mỗi cây thông là một nhạc công vì thế nên gọi là Thông Đàn, ý kiến này nghe có vẻ hợp lý hơn cả (!).

Cả ba điểm di tích tại Thông Đàn đều tìm thấy các dấu vết kiến trúc từ thời Trần cho đến thời Lê, Nguyễn, trong đó Thông Đàn 1 ở giữa và nằm trên con đường chính lên am Ngọa Vân đóng vai trò như trục chính của cả khu Thông Đàn. Tại đây, từ năm 2007 đến 2009 các nhà khảo cổ học đã tiến hành các cuộc điều tra và nghiên cứu khảo cổ học. Kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học đã cho thấy từ thời Trần tại Thông Đàn 1 đã có các công trình kiến trúc bằng gỗ, mái lợp ngói mũi sen được xây dựng để làm nơi thờ tự, các thời sau tiếp tục tôn tạo, xây dựng và phát triển. Thời Lê Trung hưng, cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 là giai đoạn phục hưng mạnh mẽ của Thiền phái Trúc Lâm, quần thể di tích Ngọa Vân được trùng tu, tôn tạo và mở rộng, Thông Đàn 1 cũng được trùng tu tôn tạo. Dưới thời Lê Trung hưng, tại đây có 2 tòa tháp bằng đá, tháp thứ nhất được xây dựng ở cấp nền trên là tháp Thờ Phật (Phụng Phật tháp - 奉佛塔); Tháp thứ hai được xây dựng ở cấp nền dưới là tháp mộ của một vị Thiền sư mà theo bài vị đặt trong lòng tháp thì thiền sư này thuộc Thiền phái Trúc Lâm, có tên chữ là Viên Mãn Chân Giác vì thế tháp này còn được gọi là tháp Viên Mãn Chân Giác thiền sư. Hai tòa tháp này tồn tại cho đến khoảng những năm 80 của thế kỷ 20 thì bị sập đổ. Năm 2012, với sự hỗ trợ về tài chính của Tập Đoàn An Viên, Ủy ban Nhân dân huyện Đông Triều và các Phòng ban chức năng của huyện cùng sự tham gia của cán bộ, nhân dân hai xã An Sinh, Bình Khê đã trùng tu phục dựng thành công hai tòa tháp và xây dựng lại toàn bộ khuôn viên di tích Thông Đàn 1, đáp ứng nguyện vọng của chính quyền, nhân dân địa phương, đồng thời mở đầu cho công tác trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị của khu di tích Ngọa Vân.

Đ/c Nguyễn Văn Lương, Nguyên PCT UBND huyện cùng các nhà khảo cổ học khảo sát tại di tích Thông Đàn 1. Ảnh: Bùi Minh Trí
Đ/c Nguyễn Thị Huân - Bí thư huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện khảo sát tại di tích Thông Đàn 1. Ảnh: Lê Đình Ngọc

Những khảo sát mới đây đã tìm thấy ở phía trên của tháp Phụng Phật, nơi có một mặt bằng rộng khoảng 40m2, nằm cao hơn so với khu vực tháp khoảng 50m có một nền kiến trúc, nền kiến trúc này có thể là một Tịnh thất, nơi dành cho việc tu thiền. Các Tịnh thất kiểu này cũng được tìm thấy ở cụm chùa Ngọa Vân và ở khu Đá Chồng. Ở chùa Hồ Thiên tịnh thất cũng được xây dựng ở trên đỉnh núi phía sau chùa, đây chính là đặc trưng về cấu trúc mặt bằng của một cụm chùa của Thiền phái Trúc Lâm.

Tác giả: Thạc sĩ Nguyễn Văn Anh Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Trích trong cuốn Am Ngọa Vân, tác giả Nguyễn Văn Anh, NXB Văn hóa Thông tin năm 2013

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2018

Ngọa Vân - thánh địa của thiền phái Trúc Lâm


Sau khi đã hoàn thành việc bình Bắc, định Nam, yên việc nước việc nhà, tháng 8 năm 1299, từ phủ Thiên Trường, ông xuất gia vào núi Yên Tử tu hành khổ hạnh, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ.



Chương III. NGỌA VÂN - NƠI ĐỨC VUA TRẦN NHÂN TÔNG TU HÀNH VÀ HÓA PHẬT


1. Ngọa Vân - thánh địa của thiền phái Trúc Lâm




Trích đoạn thư họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ


Sau hơn một năm nhường ngôi cho con lên làm Thái Thượng hoàng, tháng 7 năm 1294 Trần Nhân Tông xuất gia tu tập ở hành cung Vũ Lâm (nay thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình), sở dĩ nói Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tu tập bởi, trên thực tế cho đến trước năm 1299 khi Ngài xuất gia tu hành khổ hạnh tại am Tử Tiêu, núi Yên Tử thì Ngài vẫn giám sát việc nước, thân chinh đi đánh Ai Lao xâm lấn biên giới phía Tây, theo dõi “uốn nắn” vua con Trần Anh Tông giúp vua làm quen và trưởng thành trong việc quản lý và lãnh đạo đất nước.


Sau khi đã hoàn thành việc bình Bắc, định Nam, yên việc nước việc nhà, vua con Trần Anh Tông đã tự mình gánh vác việc quản lý và lãnh đạo đất nước, tháng 8 năm 1299, từ phủ Thiên Trường, ông xuất gia vào núi Yên Tử tu hành khổ hạnh, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ.


Sau thời gian tu hành khổ hạnh tại Yên Tử, Ngài xuống núi, đi khắp xóm làng, dạy dân chúng phá bỏ dâm từ và thực hành thập thiện, ban thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Ngài tìm người nối dòng pháp, gặp được Pháp Loa và trao truyền Y, Bát cho Pháp Loa. Tháng 5, năm Đinh Mùi, niên hiệu Hưng Long thứ 15 (1307), Điều Ngự lên tu tại một am nhỏ trên đỉnh Ngọa Vân.


Đỉnh Ngọa Vân đọc theo âm Hán – Việt là Ngọa Vân Phong (卧 雲 峯) vì vậy nó còn được gọi tắt là Vân Phong (雲 峯).


Bia Trùng tu Ngọa Vân tự tức là bia ghi chép việc trùng tu chùa Ngọa Vân được dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707) đời vua Lê Dụ Tông cho biết, Ngọa Vân là một đỉnh núi nằm trên núi Bảo Đài (Bảo Đài sơn). Trong những trước tác còn lại của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, ta thấy có bài thơ Đăng Bảo Đài sơn tức là lên núi Bảo Đài, giọng thơ mang đậm chất Thiền.


Lên núi Bảo Đài


Đất vắng đài thêm cổ,
Ngày qua xuân chửa nồng.
Gần xa mây núi ngất,
Nắng rợp ngõ hoa thông.
Muôn việc nước trôi nước,
Trăm năm lòng nhủ lòng.
Tựa lan, nâng sáo ngọc,
Đầy ngực ánh trăng trong5


Các tài liệu văn bia và đặc biệt là các nghiên cứu khảo cổ học tại Yên Tử và Đông Triều đã chứng minh, núi Bảo Đài thuộc dãy Yên Tử, xưa thuộc An Sinh, thời Trần là đất thang mộc của An Sinh Vương Trần Liễu, thời Lê – Nguyễn thuộc xã An Sinh, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, đạo Hải Dương nay thuộc hai xã An Sinh và Bình Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh6.


Tháng 10 năm 1308, sau khi xuống núi thăm chị là công chúa Thiên Thụy, Trúc Lâm Đại Sĩ quay về núi và nhờ hai đệ tử của mình là Tử Doanh và Hoàng Trung đưa lên am Ngọa Vân rồi cho người đi mời đệ tử là Bảo Sát đến để dặn dò. Giờ Tý, ngày 1 tháng 11, lúc nửa đêm, sao trời tỏ rạng, Điều Ngự nói: “Đây là lúc ta đi”, nói xong liền nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch”7 .


Sau khi Trúc Lâm Đại Sĩ nhập Niết bàn, Bảo Sát theo di chúc, hỏa thiêu Ngài ngay tại am Ngọa Vân. “Khi thiêu hương lạ bay xa, nhạc trời vang hư không, mây năm sắc phủ trên giàn hỏa”8, Pháp Loa dùng nước thơm tưới lên hỏa đàn thu ngọc cốt và hàng nghìn viên xá lợi9. Vua Trần Anh Tông tôn hiệu Ngài là: Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”.

Sau khi hỏa thiêu nhục thể của Phật Hoàng, ngọc cốt và xá lợi được đưa xuống thuyền vua, rước về kinh đô tạm lưu giữ tại bảo tháp chùa Tư Phúc trong Cấm thành Thăng Long. Tháng 9 năm 1310 ngọc cốt được đưa về an trí tại lăng Quy Đức (hay còn gọi là Đức Lăng) phủ Long Hưng (nay thuộc thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, Thái Bình). Xá lợi được phân phát và tôn trí ở nhiều nơi10. Tại Ngọa Vân, Pháp Loa cho xây dựng Phật Hoàng tháp để lưu giữ một phần xá lợi của Ngài, tảng đá nơi ngài nhập diệt được lưu giữ lại. Như vậy, hành trình tu luyện, nhập diệt theo thế sư tử nằm, phân phát xá lợi đi khắp nơi của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông là một chuỗi công việc mô phỏng quá trình tu luyện, viên tịch và phân phát xá lợi của đức Phật Thích-Ca-mâu-ni. Trong chuỗi sự kiện đó thì Yên Tử là nơi Phật Hoàng tu luyện, giảng pháp, độ tăng và Ngọa Vân là nơi kết thúc trọn vẹn quá trình tu luyện và thành Phật của Ngài, Ngọa Vân vì thế đã trở thành thánh địa của Phật giáo Trúc Lâm.


Sau khi Phật hoàng hóa Phật, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thiền phái Trúc Lâm, thánh địa Ngọa Vân đã được Pháp Loa, người nối dòng của Tông phái Trúc Lâm cho xây dựng và mở rộng thành một quần thể lớn. Dưới sự hỗ trợ của Thượng hoàng Trần Anh Tông, Pháp Loa đã xây dựng Ngọa Vân từ chỗ chỉ là một am nhỏ nơi Phật Hoàng tu luyện, trở thành một quần thể chùa tháp.


Các nghiên cứu khảo cổ học ở đây đã chứng minh, vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIV Ngọa Vân đã trở thành một quần thể lớn gồm nhiều cụm/điểm công trình được xây dựng bao quanh đỉnh Ngọa Vân ở phía nam của núi Bảo Đài (nay thường gọi là núi Vây Rồng) gồm: cụm Am – Tháp; chùa Chính, cụm Thông Đàn – Đô Kiệu; Khu Ngọa Vân 1 và 2. Khu chùa chính được xây mới và mở rộng ở phía ngoài, khu am được mở rộng thành khu am - tháp, và là nơi thờ đệ nhất tổ Phật Hoàng Trần Nhân Tông và tháp Phật Hoàng nơi lưu giữ xá lợi của Ngài.


Thế kỷ XV, sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi, nhà Lê được thành lập lấy Nho giáo là tư tưởng chính thống, Phật giáo vì thế bị suy yếu, chùa chiền, am tháp vốn đã bị hao mòn bởi chiến tranh nay lại ít được quan tâm sửa chữa, xây dựng như trước đây. Ngọa Vân mặc dù là nơi thánh địa cũng không tránh khỏi cảnh hoang tàn đổ nát. Bia Trùng tu chùa Ngọa Vân mô tả sau 400 năm kể từ ngày Phật Hoàng đến đây kết duyên tu luyện, Ngọa Vân đã bị thời gian và sự khắc nghiệt của tự nhiên làm cho phai mờ dần trong lòng người. Mặc dù văn bia không nói rõ về tình trạng của các kiến trúc ở Ngọa Vân nhưng qua các ghi chép và các tài liệu khảo cổ học chúng ta có thể hình dung, đến đầu thế kỷ XVIII thì hầu hết các công trình tại Ngọa Vân được xây dựng trước đó đã bị đổ nát hoặc phá hủy.



Am Ngọa Vân (ảnh Giang Vĩnh Thịnh)



Bước sang thế kỷ XVIII, trong xu thế phục hưng của Phật giáo nói chung, Thiền phái Trúc Lâm nói riêng, Ngọa Vân với tư cách là Thánh địa đã ngay lập tức được chú ý trùng tu tôn tạo và mở rộng.

Năm 1707, nhờ có sự phát tâm công đức của tín chủ Diệu Tín - một người dạy hát ở cung Thị Nội và bà Dương Thị Trinh - đệ nhất cung tần của ty Thị Nội, nhà sư Đức Hưng đã cho trùng tu và xây dựng “gác chuông và tăng phòng, tổng cộng là 25 gian, làm hai tòa bảo điện, dựng một tấm bia đá, làm thêm Kim am, Hương Vân am, Giải Thoát am, tất thảy đều kiên cố, thâm nghiêm”11.


Các kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại đây đã cho thấy nếu như thời Trần, quần thể chùa tháp Ngọa Vân chỉ tập trung phát triển ở xung quanh đỉnh Ngọa Vân thì đến thời Lê Trung hưng quần thể này được mở rộng về phía Đông của núi Bảo Đài với một cụm chùa lớn được xây dựng tại khu vực Đá Chồng. Như vậy có thể thấy, sau một thời gian bị “quên lãng”, thế kỷ XVIII Ngọa Vân được hồi sinh trên nền tảng các giá trị của giai đoạn trước, đồng thời phát triển và mở rộng.


Dấu ấn các công trình kiến trúc được xây dựng tại Ngọa Vân dưới thời Lê Trung hưng còn lại khá nhiều và chính nhờ các dấu vết này mà ngày nay chúng ta hiểu và khẳng định được Ngọa Vân là một quần thể chùa tháp lớn nằm trên dãy Yên Tử, đồng thời giúp chúng ta xác định được không gian Yên Tử xưa không chỉ bó hẹp trong khu vực danh thắng Yên Tử ngày nay mà Yên Tử của Trúc Lâm là một không gian rộng lớn kéo dài từ Uông Bí, qua Đông Triều đến Chí Linh với một hệ thống chùa tháp kết nối chặt chẽ với nhau tạo thành một trung tâm Phật giáo lớn suốt từ thời Trần đến thời Lê Trung hưng. Số phận của Trung tâm này gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử Phật giáo Việt Nam.



Tác giả: Thạc sĩ Nguyễn Văn Anh Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Trích trong cuốn Am Ngọa Vân, tác giả Nguyễn Văn Anh, NXB Văn hóa Thông tin năm 2013


------------------------------------------


5. Bản dịch của Ngô Tất Tố.
6. Xem thêm Nguyễn Văn Anh (2008). Am Ngọa Vân qua các bằng chứng khảo cổ học. T/c Nghiên cứu Phật học, Số 5/2008.
7. Về ngày mất của Phật Hoàng Trần Nhân Tông các tài liệu ghi chép có chỗ khác nhau, Đại Việt Sử ký toàn thư thì chép là ngày 3 tháng 11 năm 1308. Sách Tam tổ thực lục thì chép “Ngày 1 tháng 11, lúc nửa đêm, sao trời tỏ rạng, Điều Ngự hỏi “Bây giờ là mấy giờ, Bảo Sát đáp, giờ Tý, Điều Ngự nói, “Đây là lúc ta đi”, nói xong liền nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch”. Giờ Tý là từ 23 giờ ngày mồng 1 đến 01 giờ ngày mồng 2. Như vậy, có thể khi tin tức được chuyển về đến Kinh đô Thăng Long thì là ngày mồng 3 nên Sử quan chép là ngày mồng 3. Tam tổ thực lục là sách ghi chép hành trạng của tam tổ Trúc Lâm, đặc biệt là phần chép về tổ thứ nhất và tổ thứ hai của sách này giống như nội dung trên bia Thanh Mai. Bia Thanh Mai dựng năm Đại Trị thứ năm (1362) là bia ghi chép hành trạng của Pháp Loa, tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm, người đã trực tiếp tổ chức hỏa thiêu nhục thể của Phật Hoàng tại Ngọa Vân nên rất đáng tin cậy, vì thế chúng tôi theo Tam tổ thực lục. Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các chùa theo phái Trúc Lâm cũng lấy ngày 01/11 Âm lịch hàng năm là ngày giờ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
8. Tam Tổ thực lục, sđd
9. Ngọc cốt là phần xương cốt còn lại sau khi hỏa thiêu của cao tăng Phật giáo. Xá lỵ là những hạt nhỏ có dạng viên tròn lấp lánh trông giống ngọc trai hay pha lê được tìm thấy trong tro hỏa táng của một số vị cao tăng Phật giáo.
10. Xem thêm Nguyễn Văn Anh, Nơi lưu giữ xá lỵ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, T/c Nghiên cứu Phật học, số 2/2013, tr.30-32.
11. Bia Trùng tu chùa Ngọa Vân

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018

Kỳ 2: Am Ngọa Vân

Không chỉ là một vị tướng tài mà Trần Nhân Tông còn là một nhà tư tưởng, một nhà thơ và đặc biệt ông chính là người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một tông phái Phật giáo đậm chất văn hóa Đại Việt.


Chương II
TRẦN NHÂN TÔNG, ANH HÙNG DÂN TỘC, DANH NHÂN VĂN HÓA

Trần Nhân Tông là vị vua thứ 3 của nhà Trần, tên húy là Khâm, ông sinh ngày 11 tháng 11 năm Nguyên Phong thứ 8 (1258). Năm mười sáu tuổi (1274) được sắc phong làm Hoàng thái tử, kết hôn cùng con gái trưởng của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Ngày 22 tháng 10 năm 1278 được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi khi mới 21 tuổi, ông làm vua 14 năm (1278-1293). 

Năm 1293, ở tuổi 35, ông nhường ngôi cho con, lui về Thiên Trường làm Thái Thượng hoàng 1, xuất gia tu tập tại hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình). Năm 1299, khi vua Trần Anh Tông đã đủ trưởng thành, Thượng hoàng Trần Nhân Tông chính thức xuất gia tu hành khổ hạnh tại đỉnh Tử Tiêu núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và tự xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ.
Trong lịch sử dân tộc, vua Trần Nhân Tông là một trong những anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu. Vốn là người thông minh trời phú cộng với tính ham học, lại thừa hưởng một nền giáo dục hết sức rộng rãi với tinh thần cởi mở; kết hợp kiến thức khoa học với văn chương; quân sự với âm nhạc vì thế, ngay từ khi còn trẻ ông đã học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm bắt một cách sâu sắc.
Nhờ có đủ tầm vóc về bản lĩnh và trí tuệ như vậy nên mặc dù vừa lên ngôi, vua Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt qua tình thế hết sức hiểm nghèo có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của quốc gia, dân tộc, đó là việc quân Nguyên Mông ráo riết chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần thứ hai. 

Bằng bản lĩnh và trí tuệ của mình, ông đã khéo léo thi hành các chính sách ngoại giao mềm dẻo nhằm tạo cơ hội cho quân dân Đại Việt có thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị khí giới đồng thời khẩn trương tiến hành một loạt biện pháp nhằm nâng cao tiềm lực chính trị, kinh tế, quân sự, vv… để chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược mà ông biết chắc chắn rằng nó sẽ diễn ra. 

Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, trên dưới một lòng, anh em hòa thuận, ông đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh bại hai cuộc tấn công xâm chiếm của Nguyên Mông, cuộc xâm lược lần thứ 2 (1285) và cuộc xâm lược lần thứ 3 (1288) kết thúc bằng chiến thắng trên sông Bạch Đằng, một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, để cho “non sông ngàn thủơ vững âu vàng”2. Dấu ấn của chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3 trên sông Bạch Đằng hiện còn lại trên đất Yên Đức của quê hương Đông Triều và những bãi cọc tại Yên Hưng (Quảng Ninh).
Chiến thắng trên sông Bạch Đằng (1288), tranh sơn dầu

Mặc dù quân dân Đại Việt đã giành thắng lợi vẻ vang, bảo vệ vững chắc độc lập của dân tộc song một thực tế rõ ràng là, sau chiến tranh không ít làng xóm, gia đình bị li tán, mùa màng bị tàn phá. Trước tình hình đó, chỉ mấy ngày sau chiến thắng, khi về Thăng Long vua Trần Nhân Tông đã ban chiếu, tuyên bố lệnh đại xá cho thiên hạ và tha tô thuế, tạp dịch cho những vùng đã trải qua chiến tranh, các vùng khác tùy vào mức độ bị tàn phá mà giảm. 

Tiếp sau đó vua cho ban hành hàng loạt chính sách nhằm khoan thư sức dân, thúc đẩy sản xuất, tiến hành khen thưởng những người có công lao trong hai cuộc chiến, đồng thời tùy vào nặng nhẹ mà xử lý với những người mắc tội, để những người lầm lỡ hàng giặc khi giặc tới xâm lược được yên tâm sống, làm việc và có cơ hội chuộc lại lỗi lầm bằng việc lao động, sản xuất và cống hiến. Vua Trần Nhân Tông đã cho đốt toàn bộ giấy tờ, biểu, tấu mà họ đã gửi xin hàng giặc.
Song song với việc giải quyết chính sách hậu chiến, việc tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng phi quân sự bằng việc “chọn các quan văn chia đi cai trị các lộ” cũng được triển khai để thực hiện việc cai trị đất nước theo pháp luật. Từ đó tạo điều kiện cho người dân mở mang sản xuất, phát triển kinh tế. Với hàng loạt chính sách có tính sách lược và chiến lược được ban hành như vậy, Trần Nhân Tông đã đưa Đại Việt nhanh chóng “bước ra khỏi cuộc chiến”, các mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, nhân dân được hưởng cuộc sống thái bình thịnh trị. Có được những kết quả đó là nhờ tài năng và công đức của vua Trần Nhân Tông.
Bên cạnh công cuộc tái thiết đời sống vật chất, tạo bộ mặt tươi đẹp cho đất nước và con người, thì việc xây dựng một đời sống tinh thần lành mạnh cho người dân cũng được vua Trần Nhân Tông quan tâm một cách sâu sắc. Ông tổ chức và gây dựng một quá khứ thần thánh cho dân tộc bằng việc phong thần cho những người có công với dân với nước như Phù Đổng Thiên Vương, Sĩ Nhiếp, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Phùng Hưng, Lý Thường Kiệt v.v.. Trong hai đợt phong thưởng cho những người có chiến công trong các cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1285 và 1288, vua Trần Nhân Tông đã không quên tỏ lòng biết ơn những vị anh hùng đã khuất bằng cách phong thưởng cho họ các danh hiệu cao quý 3.
Không chỉ là một vị tướng tài mà Trần Nhân Tông còn là một nhà tư tưởng, một nhà thơ và đặc biệt ông chính là người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một tông phái Phật giáo đậm chất văn hóa Đại Việt. Tư tưởng Phật giáo của Ông là: hãy vui đạo giữa đời (cư trần lạc đạo), tư tưởng đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và nó được đánh giá là sự kết tinh những giá trị cao cả nhất của nhân loại: Trí tuệ, lòng nhân ái và sự hòa giải.
 Am Ngọa Vân (ảnh Anh Minh)
Trên phương diện văn chương, Trần Nhân Tông sáng tác nhiều thể loại văn học khác nhau bao gồm: thơ, phú, ngữ lục, vv.. thơ văn của Trần Nhân Tông “là sự kếthợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do của một nghệ sĩ. Ở đấy cũng thể hiện sự hòa hợp khó chia tách giữa một ngòi bút vừa cung đình vừa bình dị, dân dã, có cả những kiến thức sách vở uyên bác với sự từng trải lịch lãm”4 .
Với những đóng góp lớn lao trong việc lãnh đạo nhân dân Đại Việt trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước, đưa đất nước phát triển về mọi mặt, làm phát triển hơn nữa những giá trị của nền văn minh Đại Việt, ông đi vào lịch sử dân tộc với vị trí một vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.

Tác giả: Thạc sĩ Nguyễn Văn Anh Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Trích trong cuốn Am Ngọa Vân, tác giả Nguyễn Văn Anh, NXB Văn hóa Thông tin năm 2013

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2018

Am Ngọa Vân

Năm 1307, Trần Nhân Tông lên tu tại một am nhỏ trên núi Ngọa Vân; tháng 11, Ngài an nhiên hóa Phật tại Am Ngọa Vân, được suy tôn là: “Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”.

LỜI GIỚI THIỆU

Đông Triều, mảnh đất địa linh nhân kiệt, vùng quê giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hóa trên mặt đất cũng như trong lòng đất. Trên địa bàn huyện hiện có hơn một trăm di tích lịch sử và danh thắng, trong đó 25 di tích được công nhận là di tích cấp tỉnh, 08 di tích được xếp hạng di tích cấp quốc gia và hiện huyện đang phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng hồ sơ đề nghị công nhận Quần thể di tích nhà Trần tại Đông Triều là di tích Quốc gia đặc biệt.

Tự hào với truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng của quê hương Đông Triều, chúng ta, mỗi người con của Đông Triều càng cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc gìn giữ, bảo vệ và phát huy các giá trị của di tích cho hôm nay và cho con cháu mai sau.

Giáo dục, phổ biến giá trị lịch sử văn hóa và cách mạng của quê hương, từ đó nâng cao hiểu biết, tình yêu di sản, tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ và gìn giữ các giá trị văn hóa quý báu của quê hương cho mỗi người là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Việc Phòng Giáo dục và Đào tạo đề xuất đưa nội dung giáo dục giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng cấp quốc gia trên địa bàn huyện vào giảng dạy trong các các cấp học phổ thông là việc làm có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng, cung cấp cho các em những hiểu biết về các giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương, từ đó bồi đắp sự hiểu biết, hun đúc tình yêu thương mảnh đất quê hương trong mỗi con người. Để việc giáo dục có hiệu quả, song song với việc xây dựng chương trình giảng dạy, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện đã tổ chức biên soạn một bộ sách giới thiệu giá trị lịch sử, văn hóa,.. của 08 di tích được công nhận là di tích cấp quốc gia. Bộ sách này sẽ không chỉ đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập trong các trường Phổ thông của huyện mà nó còn là tài liệu giới thiệu và quảng bá giá trị của các di tích.

Cuốn sách Am Ngọa Vân là cuốn đầu tiên trong bộ sách được xuất bản, sách do thạc sĩ Nguyễn Văn Anh, người đã có nhiều năm gắn bó nghiên cứu các di tích nhà Trần ở Đông Triều biên soạn. Sách giới thiệu một cách khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của đức Vua, Phật Hoàng Trần Nhân Tông và đặc biệt, dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác nhau, nhất là các tư liệu thu thập được qua quá trình điều tra, nghiên cứu khảo cổ học, tác giả đã cố gắng phác dựng lịch sử hình thành, phát triển cũng như vị trí của quần thể di tích Ngọa Vân trong hệ thống di tích nhà Trần ở Đông Triều nói riêng và hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm trên dãy Yên Tử nói chung. Với các nội dung cơ bản được trình bày, hi vọng cuốn sách sẽ đem đến cho bạn đọc những hiểu biết cơ bản về lịch sử và giá trị văn hóa của quần thể di tích chùa - am Ngọa Vân nơi đức vua Trần Nhân Tông hóa Phật, thánh địa của Phật giáo Việt Nam.

Đông Triều, ngày 19 tháng 5 năm 2013
 
Nguyễn Thị Huân - Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Đông Triều

 
 Mộ tháp Phật hoàng Trần Nhân Tông trước Am Ngọa Vân

Chương I
MỞ ĐẦU

Vua Trần Nhân Tông là vị vua anh hùng, danh nhân văn hóa dân tộc, người có những đóng góp to lớn về nhiều mặt cho đất nước, cho dân tộc. Dưới thời trị vì của ông (1278-1293), đất nước Đại Việt phải trải qua những thời khắc cam go nhất trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc. Nhưng nhờ tài năng và đức độ của mình, ông đã tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động mọi tiềm lực của nhân dân và trực tiếp lãnh đạo quân và dân Đại Việt đánh thắng đội quân hung hãn và thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc.

Sau khi giành thắng lợi trong công cuộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc, ông lãnh đạo đất nước nhanh chóng đi vào ổn định và phát triển, đưa đất nước bước vào thời kỳ thái bình thịnh trị, xã hội phát triển trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và đạt được những thành tựu cao trong kỷ nguyên của văn minh Đại Việt. Đang trên đỉnh cao của quyền lực, ở tuổi 35 ông nhường ngôi cho con là vua Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng hoàng. Sau thời gian làm Thái Thượng hoàng, khi đã hoàn thành việc bình Bắc, định Nam, yên việc nước, việc nhà, vua con Trần Anh Tông đã tự mình gánh vác việc quản lý và lãnh đạo đất nước ông xuất gia tu hành khổ hạnh, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, “vân du đây đó” dạy dân chúng phá bỏ dâm từ, thực hành điều thiện, ban thuốc chữa bệnh cứu dân.

Năm 1307, Trần Nhân Tông lên tu tại một am nhỏ trên núi Ngọa Vân; tháng 11, Ngài an nhiên hóa Phật tại Am Ngọa Vân, được suy tôn là: “Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”. Am Ngọa Vân chính là nơi mà vị anh hùng dân tộc, tổ thứ nhất của Phật giáo Trúc Lâm kết thúc hành trình tu luyện và hóa Phật của mình.
 
Vua Trần Nhân Tông qua bức thư họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ


Tác giả: Thạc sĩ Nguyễn Văn Anh Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Trích trong cuốn Am Ngọa Vân, tác giả Nguyễn Văn Anh, NXB Văn hóa Thông tin năm 2013

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

“Cư dân mạng” là một nhóm dân gian và chia sẻ với nhau một văn hóa dân gian



HIỂU VỀ MẠNG XÃ HỘI TỪ GÓC NHÌN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA DÂN GIAN


Lê Thị Thanh Vy


Theo quan điểm của các nhà folklore học Hoa Kỳ thế kỷ XX, chủ thể của văn hóa dân gian không còn được hiểu theo nghĩa chung chung hoặc những nông dân không biết chữ nữa, mà là các “nhóm dân gian” (folk group) gồm từ hai người trở lên và chia sẻ với nhau một “văn hóa phi chính thống” (folk culture) nào đó. Một trong những “folk group” sôi nổi nhất của xã hội đương đại là các “folk group” trên mạng Internet/ “folk group” trong môi trường kỹ thuật số (Internet/ Digital folk group). Bài viết này khảo sát một bộ phận của “Internet folk group” đó tại Việt Nam là “folk group” trên mạng xã hội. Dựa vào các cách hiểu đương đại của Folklore học Hoa Kỳ về “văn hóa dân gian” (folklore), “truyền thống” (tradition), “nhóm dân gian” (folk group), chúng tôi vạch ra những “luật chơi” của môi trường dân gian trên mạng xã hội, từ đó lý giải cho sự say mê (và kèm theo cả sự e dè) đối với mạng xã hội tại Việt Nam.


“Truyền thống” bao hàm cả cái đang diễn ra, và “dân gian” có thể là tất cả mọi người, mọi thành phần xã hội

Folklore học (tạm dịch là ngành nghiên cứu văn hóa dân gian) là một ngành học phát triển mạnh ở Hoa Kỳ ngày nay. Lynne S. McNeill trong một giáo trình ngành Folklore học đã định nghĩa folklore như sau: “Folklore là văn hóa truyền thống và phi chính thống. Đó là tất cả những gì thuộc về văn hóa - như phong tục, truyện kể, trò đùa, nghệ thuật - mà chúng ta học lẫn nhau; bằng đường truyền miệng hay bằng cách quan sát, hơn là từ những tổ chức chính thống như trường học hay phương tiện truyền thông” (1).

Tại Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ngộ nhận về văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian thường được gắn với những gì xưa cũ, thuộc thế hệ ông bà cha mẹ của chúng ta, hay gắn với tầng lớp nông dân ít học. Tuy nhiên, ngành nghiên cứu văn hóa dân gian trên thế giới thế kỷ XX đã chỉ ra rằng: đặc tính của văn hóa dân gian là truyền thống chứ không phải cổ truyền, và dân gian cũng không đồng nghĩa với bình dân (2).

Khái niệm “truyền thống” tại Việt Nam thường được hiểu theo chiều kích lịch đại và theo thời gian; nhưng thật ra truyền thống còn có cả chiều kích đồng đại và trong không gian nữa. Từ năm 1893, nhà folklore học người Anh là Joseph Jacobs trong công trình The Folk (Dân gian) đã chỉ ra rằng [1] folklore liên tục được cập nhật (update) và sáng tạo ra (invent), và vì vậy mà folklore bao hàm sự đổi mới (innovation), và hệ quả là nó bao hàm cả sự chủ động và mang tính cá nhân; [2] “folk” không phải là một cấp bậc (level) của xã hội, mà là một nhóm người chia sẻ với nhau một truyền thống, và họ có thể thuộc về bất kỳ tầng lớp nào; và [3] truyền thống không phải là tri thức thuộc về những người không biết chữ/ thất học (illiterate), mà là một quá trình mà các thành viên trong đó hiểu các quy tắc ứng xử bằng cách làm theo những khuôn mẫu có tính không gian và tâm lý (3).

Như vậy, truyền thống là cái chúng ta đang tạo ra mỗi ngày, đang thích nghi những di sản của cha ông vào trong những điều kiện hiện đại và đương đại của chính chúng ta. Truyền thống không phải là cái cố định, tĩnh tại, đã qua; mà là cái đang vận động, đang biến đổi. Đồng thời, những biến đổi đó không phải ngẫu nghiên, rời rạc, cá thể mà là sự biến đổi được dân gian (folk) đồng thuận ở cấp độ xã hội. 

“Dân gian” ngày nay không chỉ có nghĩa là những nông dân không biết chữ, ít học; dân gian (folk) ngày nay được hiểu là tất cả mọi người, họ tạo thành các folk group (nhóm dân gian) theo nhiều cấp độ rộng hẹp khác nhau (folk group nghề nghiệp, folk group tôn giáo, folk group công sở, folk group trường đại học, folk group trẻ em, folk group kỹ thuật số - các “cư dân mạng” theo cách gọi hiện nay). Các thành viên trong folk group này chia sẻ với nhau một folk culture bên cạnh một văn hóa chính thống (institutional culture). Và bất cứ khi nào có con người, có sự giao tiếp thì có folklore hay văn hóa dân gian! (4) 


“Cư dân mạng” là một nhóm dân gian và chia sẻ với nhau một văn hóa dân gian

Như đã trình bày ở trên, văn hóa xã hội bao hàm văn hóa chính thống và văn hóa phi chính thống (tức văn hóa dân gian). Chúng ta không thể hiểu thời đại của mình nếu bỏ qua phần văn hóa dân gian đó. Và mạng xã hội cũng là một môi trường dân gian như thế. Ở đó, chúng ta có một “cộng đồng” đang giao tiếp và tương tác mạnh mẽ với nhau mỗi ngày, đang sản sinh ra những “luật chơi” (rules) riêng cho họ, sản sinh ra một nền văn hóa phi chính thống, tươi trẻ và đầy tính phản biện.

Ở phương diện nội dung và hình thức biểu đạt của nền văn hóa dân gian đó, chúng ta thấy một bức tranh phong phú bề bộn: các câu chuyện cười chính trị-xã hội-văn hóa, truyền thuyết đô thị, chuyện kể kinh nghiệm cá nhân, truyện ma…; các thông tin và kiến thức được chia sẻ hàng loạt: kĩ năng sống, nuôi dạy con, làm đẹp, sơ cấp cứu…. Cộng đồng mạng sử dụng những cách diễn đạt rất “dân gian”: vừa rập khuôn theo công thức (hay còn gọi là mô-típ), vừa sáng tạo trong việc tạo ra các dị bản đa dạng (“Chỉ có đàn ông mới mang lại hạnh phúc cho nhau”, “Chỉ có phụ nữ mới mang lại hạnh phúc cho nhau”; “Người yêu không có nhưng chó phải có một con”, “Người yêu không có nhưng bạn thân phải có một đứa”…); và một “kho” những biểu tượng cảm xúc (emoticons), những hình động, những từ viết tắt (lol, kaka, hehe, ahihi, ahuhu) để tăng tính biểu cảm chính xác hơn khi không thể giao tiếp mặt đối mặt. Văn hóa mạng xã hội có sự kết hợp của ngôn ngữ, hình ảnh và âm thanh. Rất phổ biến trên mạng xã hội là các Internet meme (thường gọi là “ảnh dìm”, “hình troll”) - một hiện tượng sống động của văn hóa dân gian thời đại kỹ thuật số. Các meme này sử dụng những hình ảnh có tính phổ biến (các nhân vật quen thuộc như Doraemon, Bạch Tuyết, Tổng thống Trump, Obama, “Cô giáo bọ cạp…”) và lắp ghép vào đó các câu châm ngôn hài hước theo một công thức nào nó được biến tấu lại (5).

“Cộng đồng mạng” chính là nhóm dân gian (folk group) và đây là môi trường dân gian đúng nghĩa. Không có một văn bản chính quy nào dạy chúng ta phải ứng xử ra sao trên facebook, chúng ta chỉ việc quan sát người ta làm và làm theo thôi. Quan sát và làm theo là một đặc thù của văn hóa dân gian. Trong đời sống dân gian, nếu chúng ta ngoáy mũi khi đứng trước mặt sếp, hay chạy đến ôm hôn thắm thiết cha mẹ của bạn mình, hay vào tiệm thức ăn nhanh và ngồi lên bàn, đưa tay vẫy người phục vụ đến ghi món… thì chẳng ai phạt tiền hay tống giam chúng ta cả, nhưng chúng ta sẽ bị nhìn như người ngoài hành tinh. Các khu vực dân gian đều có những quy định bất thành văn của nó. Trong nghệ thuật dân gian thì quy định này còn rõ ràng và chặt chẽ hơn. Chẳng hạn như, ca hát Quan họ - đỉnh cao của nghệ thuật ca hát dân gian - có những quy định rất nghiêm túc và đôi khi ngặt nghèo. Việc các liền anh, liền chị chỉ có thể giãi bày tình yêu dành cho nhau trong nghệ thuật nhưng trong cuộc đời thực thì không được tiến đến hôn nhân là một quy định rất “trái ngang” như thế, nhưng những người tham dự đều tự nguyện chấp nhận và làm theo. Tuy có những luật lệ nghiêm khắc và chặt chẽ nhưng ca hát quan họ vẫn không trở thành biến thành văn hóa chính thống mà vẫn trong địa hạt văn hóa dân gian; vì những quy định đó được xây dựng trên hạt nhân cốt lõi là sự tự nguyện của mỗi cá nhân khi muốn gia nhập vào cộng đồng đó (khác với thể chế chính thức - không có vấn đề tự nguyện hay ý muốn cá nhân).

Tuy nhiên, do thiết chế mạng xã hội quá mới mẻ (so với các thiết chế cổ truyền) nên những “rules” này cũng gây tranh luận gay gắt ngay trong chính những thành viên của mạng xã hội: người thì bảo chỉ nên chia sẻ những nội dung vui vẻ tích cực, người thì bảo facebook là trang cá nhân nên tôi toàn quyền sử dụng; người thì bảo đừng tranh luận trên facebook vì vô bổ, đầy rẫy ngụy biện, tốn thời gian, người lại bảo không góp tiếng nói gì hết thì sử dụng facebook làm gì, v.v..


Những “luật chơi” của mạng xã hội

Là một cộng đồng, không gian văn hóa đặc thù, mạng xã hội cũng có những “rules” (luật chơi) của riêng nó. Để hiểu về mạng xã hội không thể không vạch ra được các “rules” này; đồng thời để đánh giá khách quan về nó, không thể lấy “luật chơi” của những khu vực văn hóa khác để áp đặt và phê bình nó.

“Luật chơi” đó phải được thiết lập dựa trên những đặc thù của môi trường mạng xã hội và phải do các thành viên đồng thuận (một cách phi chính thức) chứ không thể do một cá nhân riêng lẻ nào thiết lập. Chẳng hạn như, nếu một người nào đó tham gia mạng xã hội rồi hùng hồn đưa ra quan điểm từ nay sẽ không tranh luận trên mạng xã hội vì cho rằng nó vô bổ, đầy rẫy ngụy biện và tốn thời gian. Lúc đầu, có thể anh/chị ấy sẽ được mọi người khen ngợi, đồng tình (vì mạng xã hội rất thích các tiếng nói trái chiều). Nhưng nếu về lâu dài, anh/chị ấy cứ tiếp tục “không bình luận” trên mạng xã hội thì các quan hệ mạng xã hội của anh/chị ấy sẽ dần dần biến mất; và tự bản thân anh/chị ấy cũng sẽ chán nản và cảm thấy bị đẩy ra rìa của mạng xã hội. Đặc trưng này là điều làm nên tính dân chủ và tươi trẻ của mạng xã hội.

Dù chưa định hình một cách cụ thể như đã nói ở trên, nhưng bước đầu chúng ta có thể nêu ra một số “rules” phi chính thức trên mạng xã hội, nhưng hầu hết mọi người sử dụng mạng xã hội đều ít nhiều thừa nhận, như sau:

Tính chất chính của mạng xã hội là giải trí, và nhiều ứng xử trên mạng sẽ tuân thủ nguyên tắc này. “Vui là chính” nên nhiều người sẽ không ngại ngần đăng rất nhiều ảnh (có thể đăng liên tục, ảnh tự chụp hoặc người khác chụp, “nghệ thuật” hoặc “báo chí” hoặc “bình dân/ đời thường”). Giải trí là quan trọng nên một bài viết cũng không quá dài (nhiều khi vài dòng là đã có một trạng thái), ngắn gọn, rõ ràng, kèm theo ảnh minh họa. Đó là nguyên tắc dựa trên tính chất của mạng xã hội, nên hoặc là bạn chấp nhận (có thể lặng lẽ bỏ theo dõi tin về người đó như một giải pháp không còn thấy về người đó trên “tường” của mình), còn nếu bạn phê bình trực tiếp thì bạn sẽ trở nên lạc lõng hoặc mất lòng bạn bè.

Tính chất quan trọng thứ hai của mạng xã hội là tương tác. Tương tác gồm nhiều hình thức: bày tỏ sự yêu thích, tiếc nuối, phẫn nỗ; hoặc bình luận đơn giản xã giao, hoặc bình luận thân mật…; và khi người khác bình luận về bạn thì bạn không thể không trả lời. Bởi vì là tương tác nên nó cũng tuân thủ những nguyên tắc về lịch sự giao tiếp thông thường: hô - ứng và hồi đáp, hài hước đúng chỗ, tùy vào quan hệ thân sơ mà có thái độ phù hợp,v.v..

Một đặc tính quan trọng nữa làm nên sức thu hút của mạng xã hội là tính chất dấn thân và ý muốn cải tạo xã hội. Đây chính là khía cạnh thực tế, cụ thể nhưng được xây đắp trên nền móng đượm màu sắc bay bổng, lãng mạn không thể thiếu của bất kỳ một nền văn hóa dân gian nào. Mạng xã hội là nơi tập hợp những con người có một lý tưởng hành động trên rất nhiều lĩnh vực đa dạng, tụ hội họ vào những nhóm lớn nhỏ khác nhau chia sẻ cùng một vấn đề nào đó: chính trị, làm đẹp, sức khỏe, nuôi dạy con cái, du lịch, tiêu dùng thông minh, bảo vệ môi trường… Đặc tính này được thể hiện qua hai hình thức: cá nhân (facebook cá nhân) và tập thể (fanpage). Đây là một môi trường mà sức cạnh tranh của facebook cá nhân nhiều khi còn mạnh mẽ hơn fanpage của một tổ chức. Các cá nhân có thế mạnh về một số lĩnh vực nào đó (lịch sử, nuôi dạy con, làm đẹp…) tập hợp xung quanh họ một lượng tương tác rất đáng kể. Do bị chi phối bởi đặc tính tương tác nói trên nên mọi người nhiều khi thích tương tác với một nhân vật mạng xã hội cụ thể, sống động hơn là một tổ chức chung, phi cá nhân nào đó được quản lý bởi một hoặc một đội admin (người quản lý) giấu tên.

Theo chúng tôi, ba thuộc tính nổi trội trên hình thành các “luật chơi ngầm” trên mạng xã hội mà các thành viên trong cộng đồng muốn tham dự phải tuân thủ nếu muốn có một đời sống trên mạng xã hội lành mạnh, tích cực: tôn trọng sở thích, khuynh hướng, lý tưởng của các thành viên khác của cộng đồng mạng; không thể từ chối tranh luận và khi giao tiếp phải tuân thủ những nguyên tắc về lịch sự giao tiếp như một giao tiếp ngoài đời thực,v.v..

Dù ngày nay đã có sự tham dự mạnh mẽ của tổ chức, tập đoàn, thậm chí phòng ban, chính phủ; nhưng chúng tôi nghĩ đặc điểm căn cốt, làm nên bản sắc và sự sống còn của mạng xã hội vẫn là tính cá nhân, trong đó tính giao tiếp, sự tương tác cá nhân trực tiếp là tối quan trọng để duy trì sự tồn tại của môi trường này (Đó là lý do chính mà chúng tôi tự tin gọi mạng xã hội là một hình thức của môi trường văn hóa dân gian đương đại). Các tổ chức văn hóa xã hội, các hình thức kinh doanh online, các fanpage chính phủ, fanpage các thương hiệu hàng hóa… nếu muốn gia nhập môi trường này thì họ phải tuân theo những “luận chơi” đó: phải giao tiếp và tương tác, phải có tính giải trí, phải quan tâm đến các vấn đề xã hội. 


Niềm yêu thích mạng xã hội tại Việt Nam và những “lấn cấn” của người Việt về ích lợi và tác hại của mạng xã hội

Tại sao mạng xã hội phát triển mạnh ở Việt Nam? Theo thống kê của Hootsute và We Are Social vào tháng 4/2018, mạng xã hội có đông người dùng nhất là Facebook với 2,23 tỉ người dùng; trong đó Việt Nam là nước có số lượng người dùng Facebook lớn thứ 7 thế giới với 58 triệu tài khoản (6). Dĩ nhiên có nhiều lý do để lý giải cho hiện tượng này. Trong bài viết này, chúng tôi thử lý giải dựa trên văn hóa và nếp sống “cổ truyền” của người Việt đã ảnh hưởng đến cách ứng xử và các hành vi, quan hệ văn hóa ngày nay.


Người Việt Nam là dân tộc yêu thích đời sống làng xã, những quan hệ thân tình. Vì thế mà phải chăng khi xã hội đô thị hóa và không gian sống bị thu vào những căn hộ chung cư, những ngôi nhà phố, cảm thức tiếc nuối về không gian “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, hay gần đây hơn là những khu “ngõ nhỏ, phố nhỏ/ nhà tôi ở đó” - những tổ dân phố - đã phần nào dần dần chuyển dịch lên mạng xã hội. Nơi đó có một đời sống sôi nổi những mối quan hệ từ họ hàng đến thân thiết, hơi thân thiết, và thậm chí không quen biết ngoài đời nhưng ít nhiều cảm mến nhau qua mạng.

Tại sao mạng xã hội bị phê phán tại Việt Nam (song song với sự say mê mạng xã hội tại Việt Nam)? Theo chúng tôi, đó là khi người sử dụng chưa ý thức được sự rạch ròi giữa các môi trường tương tác, dẫn đến sự chồng lấn giữa các môi trường. Có nhiều loại biểu hiện của sự chồng lấn này, xin đơn cử hai trường hợp: 

1) Chồng lấn giữa không gian của quan hệ cá nhân và không gian của quan hệ mạng xã hội. Có những hình ảnh mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu: gia đình đi ăn tối, bạn bè đi chơi, tình nhân hẹn hò nhưng mỗi thành viên trong nhóm đó lại mỗi người sử dụng một chiếc điện thoại thông minh để lên mạng xã hội;

2) Chồng lấn giữa không gian công việc và không gian mạng xã hội. Chúng ta có thể bắt gặp cảnh vào những giờ làm việc ở văn phòng, khu dịch vụ… nhưng máy tính của nhân viên luôn mở Facebook hoặc đang trò chuyện trên Messenger. Đó là sự lấn sân của không gian mạng xã hội sang không gian làm việc. Ở một hướng ngược lại là sự lấn sân của không gian làm việc sang không gian mạng xã hội: Với một chiếc điện thoại bật 3G 24/24, nhân viên có thể nhận chỉ đạo của sếp 24/24, học trò có thể hỏi han thầy cô 24/24, và một số thầy cô nhiều khi cũng chọn hình thức mạng xã hội để làm mới các hoạt động giảng dạy của mình.

Những sự lấn sân này hình thành một sự ác cảm về mạng xã hội (song song với sự tôn vinh mạng xã hội): mạng xã hội là nơi làm đứt gãy các quan hệ gia đình, cá nhân; mạng xã hội khiến chúng ta mệt mỏi vì đến thời điểm nghỉ ngơi vẫn phải trả lời các tin nhắn về công việc, khi việc học hành và làm việc lấn sang cả những giây phút thư giãn, giải trí. Tuy nhiên, cũng phải nhận thức rằng: những phân tích trên cho thấy tự thân mạng xã hội không tiêu cực. Nếu chúng ta biết cách khu biệt các không gian này và tránh sự chồng lấn kể trên thì mạng xã hội nhiều khi lại là phương tiện làm đầy thêm và sâu sắc hơn các quan hệ xã hội và cá nhân của chúng ta, trong điều kiện không gian sinh sống và tương tác thực tế đang thu hẹp như hiện nay. 


Lời kết

Một trong những vấn đề của nghiên cứu văn hóa là ranh giới giữa văn hóa trung tâm và văn hóa ngoại vi, hay sự chuyển dịch từ văn hóa từ trung tâm sang ngoại vi. Hiện tại, mạng xã hội là khu vực văn hóa ngoại vi, nhưng dần dần, nó đang chuyển vào trung tâm: ngày nay, nhiều người không đọc báo giấy mà đọc báo mạng (vì có nhiều comment tương tác thú vị hơn dưới các bài báo mạng), thậm chí không vào website của báo để đọc mà chỉ xem cư dân mạng chia sẻ những vấn đề thời sự gì vì thường cư dân mạng rất nhanh chóng và rất “thực” (theo quan điểm của người đọc những thông tin loại này); ngày nay, nhiều người không xem ti vi nữa vì mạng đã trở thành một kênh giải trí chính; mạng xã hội là công cụ giám sát của người dân, và nhiều quyết định của chính quyền hay tổ chức ngày nay đang bắt đầu dựa trên những phản hồi và những tiếng nói rất mạnh mẽ từ cư dân mạng.

Sâu xa hơn nữa, với điều kiện làm việc, học tập, ăn ở và giao thông đi lại ngày nay, tương tác mạng đang tăng dần lên; các mối quan hệ trên mạng đang dần trở thành một phần trong các quan hệ của con người: mạng không còn “ảo” nữa, mạng có những quan hệ bạn bè đích thực giúp đỡ nhau khi hoạn nạn ốm đau, chia sẻ với nhau những thời điểm đặc biệt (và cả không đặc biệt) của mỗi thành viên, trên mạng có những cuộc tranh luận học thuật nghiêm túc (lẫn thiếu nghiêm túc) mà những người tham gia không có quan hệ ngoài đời thực. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta phải nghiên cứu một cách nghiêm túc về môi trường “dân gian” này.



Lê Thị Thanh Vy, ThS.



Chú thích

(1) Lynne S. McNeill (2013), Folklore Rules, Utah State University Press, tr.16.

(2) Xem thêm:

- Mamie Harmon (1949), “Folklore”, Funk and Wagnalls Standard Dictionary of Folklore, Mythology, and Legend, 2 vols., ed. Maria Leach, New York: Funk & Wagnalls, tr.399-400.

- Alan Dundes (1980), “Who are the Folk?”, Interpreting Folklore, Indiana University Press, tr.1-19. 

(3) Joseph Jacobs (1893), “The Folk”, Folk-Lore 4, tr. 233-238, dẫn theo Simon J. Bronner, Folklore the Basics, Routledge - Taylor & Francis Group, tr.18.

(4) Xem thêm Alan Dundes (1980), “Who are the Folk?”, Interpreting Folklore, Indiana University Press, tr.1-19 và Lynne S. McNeill (2013), “Types of Folk Groups”, Folklore Rules, Utah State University Press, tr.65-88.

(5) Có thể tra cứu trên Google với các từ khóa như “Internet meme”, “Viet Nam” để tìm hiểu thêm.




Tài liệu tham khảo

1. Bronner, Simon J. (2017), Folklore the Basics, Routledge - Taylor & Francis Group.

2. McNeill, Lynne S. (2013), Folklore Rules, Utah State University Press.

3. Viện Nghiên cứu văn hóa (2005), Folklore thế giới - Một số công trình nghiên cứu cơ bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

4. Viện Nghiên cứu văn hóa (2005), Folklore thế giới - Một số thuật ngữ đương đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.



Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

Câu chuyện đặc khu và hơn thế nữa



Nguyễn Quang Dy


“Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu” (Nguyễn Cơ Thạch, 1990)

Khi đề cập đến câu chuyện đặc khu kinh tế, người ta dễ sa vào tiểu tiết nên “thấy cây mà không thấy rừng”. Chỉ tranh cãi và điều chỉnh “99 năm hay 70 năm” là vô nghĩa. Khi quan tâm đến “phần nổi của tảng băng” người ta cũng dễ quên phần chìm (mới là phần cốt lõi). Trong bài này, tôi đề cập đến hai vấn đề cốt lõi. Thứ nhất, câu chuyện đặc khu là một phần của bàn cờ Biển Đông, liên quan đến chiến lược “Một vành đai Một con đường” của Trung Quốc, đến chủ quyền Việt Nam và vấn đề “thoát Trung”. Thứ hai, câu chuyện đặc khu là một phần của vấn đề chống tham nhũng và đổi mới thể chế. Cả hai vấn đề đều liên quan đến yêu cầu kiểm soát quyền lực và dân chủ hóa để thoát khỏi cái vòng kim cô về ý thức hệ đã lỗi thời.

Đục nước béo cò

Nói cách khác, cả hai vấn đề cốt lõi nói trên đều có cùng yêu cầu cấp bách là phải tháo gỡ ách tắc về thể chế để dân chủ hóa và phát triển (cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm). Muốn phát triển phải dân chủ hóa, muốn dân chủ hóa phải phát triển (cả nguồn lực và dân trí). Cả hai vấn đề đều dễ bị nhầm lẫn (vì dân trí), và dễ bị lợi dụng bởi các nhóm lợi ích đang tranh giành quyền lực và thao túng chính sách để “đục nước béo cò”, bất chấp lợi ích cốt lõi của dân tộc. Trong bối cảnh “nội biến” thì dễ bị “ngoại xâm” bởi người láng giềng khổng lồ.

Trong câu chuyện đặc khu chỉ cần xác định “ai là kẻ thủ lợi” (câu La Tinh nổi tiếng: Cui bono?) nếu không phải là các nhóm lợi ích muốn “đục nước béo cò”, và người láng giềng khổng lồ đang quân sự hóa để kiểm soát Biển Đông (như “cái ao riêng”) và bắt nạt các nước láng giềng nhỏ yếu hơn để kiểm soát họ (cả phần hồn lẫn phần xác) như “lợi ích cốt lõi”. Nguy cơ “Hán hóa” không chỉ là câu chuyện lịch sử (trong sách giáo khoa) mà nó đang diễn ra tại nhiều nơi như Formosa và các đặc khu khác, không chỉ đe dọa sự tồn vong của Việt Nam mà cả các quốc gia khác.

Nếu đặt câu chuyện đặc khu kinh tế trong bức tranh lớn về Biển Đông, ngưởi ta rất dễ thấy “yếu tố Trung Quốc” nổi lên rất rõ và rất lớn. Tại sao lại là Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc (và Vũng Áng trước đây) mà không phải là chỗ nào khác? Đơn giản vì đó là những vị trí chiến lược xung yếu nhất. Chỉ có mù lòa về địa chính trị mới không hiểu tại sao. Còn cho thuê 99 năm vì đó là tiền lệ mà Trung Quốc đã áp đặt cho nhiều nước khác bị sập “bẫy nợ”. Đó là “chủ nghĩa thực dân mới kẻ cướp” (predatory neo-colonialism). Trong khi thế giới giật mình tỉnh ngộ và lo sợ, thì Việt Nam vẫn như mê ngủ, hay giả vờ không hiểu (và “không sợ”).

Đến lúc này mà họ vẫn chưa nhìn thấy nguy cơ đó thì có thể bị mù lòa về chính trị hoặc tối mắt vì lợi ích. Nhưng trong lúc đất nước lâm nguy mà chỉ tranh cãi và chống đối nhau thì tai họa càng lớn và đến càng nhanh. Bài học Miến Điện là trước nguy cơ Hán hóa, họ đã biết dẹp mâu thuẫn nội bộ để tìm đồng thuận quốc gia và đổi mới thể chế. Tuy Việt Nam đi trước Miến Điện (về cải cách kinh tế) và đi trước Triều Tiên (về thống nhất đất nước) nhưng Việt Nam đang tụt hậu không chỉ về kinh tế mà còn về thể chế và đồng thuận quốc gia.

Ván đã đóng thuyền

Hãy thử điểm lại vài nét cơ bản về thực trạng hiện nay trong câu chuyện đặc khu để thấy rõ chúng ta đang đi về đâu và đang làm gì trước nguy cơ Hán hóa. Nguy cơ đó không chỉ đến từ bên ngoài (như “ngoại xâm”) mà còn đến từ bên trong (như “nội biến”). Tuy người ta tranh cãi và chém gió đã nhiều, nhưng nếu vẫn chưa tìm được đồng thuận quốc gia thì sẽ là “tai họa quốc gia”. Khi giờ G tới, trước khi “ấn nút” quyết định, các đại biểu Quốc Hội hãy đặt tay lên ngực mình (như nhân viên “Thế giới Di động”) để tự hỏi mình là ai (có còn là đại biểu cho nhân dân nữa không) và mình đang phục vụ lợi ích của ai (người dân hay nhóm lợi ích, Việt Nam hay Trung Quốc). Việc “ấn nút” không chỉ đơn giản là “ván đã đóng thuyền” như bán Sabeco và Vinamilk, mà còn để lại hậu họa khôn lường cho nhiều thế hệ sau.

Theo Vneconomy (16/4/2018), Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh tại phiên thảo luận của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: “Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật”. Nói cách khác, bà Ngân muốn đẩy trách nhiệm vì “ván đã đóng thuyền” nên Quốc Hội bất lực, và gián tiếp thừa nhận vai trò Quốc Hội chỉ là “ấn nút” để hợp thức hóa quyết định của BCT. Nhưng Quốc Hội và BCT liệu có hình dung được nguy cơ tiềm ẩn và hệ quả khôn lường. Một lần nữa Việt Nam lại sa vào bẫy của Trung Quốc (trong khi Triều Tiên đang “thoát Trung”). Không phải chỉ có “một làn sóng phản đối khủng khiếp” (như Thủ tướng nói) mà nguy cơ phân hóa và bạo loạn có thể lại xảy ra lần nữa như trong vụ dàn khoan HD 981 (5/2014). Tướng Nguyễn Chí Thanh từng nói đúng: “Mất đất chưa phải là mất nước. Mất dân mới là mất hết”. Chẳng lẽ lãnh đạo ngày nay không cần đến dân, và coi người bạn “bốn tốt” và “16 chữ vàng” là “đại cục”.

Phát biểu với báo Tuổi trẻ (4/6/2018) tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng, và giám đốc nghiên cứu của Đại học Fulbright) cũng cho rằng dự luật đặc khu kinh tế chắc sẽ được thông qua vì trên thực tế “ván đã đóng thuyền”. Nhưng nếu được triển khai thì “khả năng thành công của mô hình đặc khu sẽ rất thấp”. Đó là một nhận xét khá khách quan và trung thực (nhưng cũng đầy bất lực). Tương tự như vậy, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng nhận xét, “Tôi rất ngờ rằng luật này sẽ vẫn được thông qua, dù người ta có thể sửa đôi điều để trấn an dư luận. Nhưng về cốt lõi nó vẫn thế, vì người mua kẻ bán đã thỏa thuận với nhau mấy năm nay rồi, giờ họ chỉ chờ luật để hợp thức hóa thôi”...

Theo Dân Trí (1/6/2018), Chủ tịch Quốc Hội cố lý giải những lợi ích mà đặc khu sẽ mang lại: “bỏ ra một đồng để thu lại vài chục, vài trăm đồng” (chắc chỉ có đánh bạc!). Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nói “vừa làm vừa thử nghiệm” và hùng hồn tuyên bố:“Làmđặc khu phải theo nguyên lý dọn tổ đón phượng hoàng”. Chắc ông này không học PR/Marketing, hoặc “nhỡ mồm”(Freudian slip). Không biết ông Lưu muốn nói đến phượng hoàng nào, nhưng câu nói đó của ông đã gây bão dư luận, và đi vào lịch sử như “trạm thu giá BOT” của Bộ trưởng Giao thông. Nếu ông Lưu muốn nói đến phượng hoàng nội (như Vingroup hay Sun Group) thì họ chẳng cẩn đến đặc khu nào cả, vì họ đã chiếm hết đất vàng làm tổ lâu rồi. Nếu ông muốn nói đến phượng hoàng ngoại (như ASEAN hay Mỹ, Nhật, Ấn, Úc…) thì nhầm to. Vậy chỉ còn phượng hoàng Tàu. Nhưng thực ra Trung Quốc không phải là phượng hoàng mà là “chó sói” (đó là từ ngữ mà một cán bộ cao cấp của Trung Quốc đã có lần thừa nhận). Con sói khổng lồ đã thò một chân vào Việt Nam (tại Formosa), nay muốn thò nốt cả ba chân và hợp pháp hóa sự có mặt của nó bằng luật định (cho “đúng quy trình”). Vì vậy, nhiệm vụ chính của Quốc Hội là phải “ấn nút” thông qua luật đặc khu kinh tế như là “đóng giầy theo chân con sói”.

Dọn tổ đón phượng hoàng

Theo báo Tuổi Trẻ (6/6/2018), Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Nguyễn Chí Dũng (bộ chủ quản của dự luật đặc khu) đã khẳng định, “Dự thảo không có một chữ nào về Trung Quốc, chỉ có những người cố tình hiểu theo hướng đó và đẩy vấn đề lên, chia rẽ quan hệ ta với Trung Quốc”. Vậy ông Dũng giải thích thế nào về Điều 55.4 Mục 5 trong dự luật: “Công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh sử dụng giấy thông hành hợp lệ… được miễn thị thực ...). Nước láng giềng đó là nước nào? Ông Dũng đã ngụy biện một cách vụng về nên “giấu đầu hở đuôi”, hoặc ông quá coi thường dân nên tưởng có thể dễ dàng “dắt voi qua rào” (như họ đã từng làm trong vụ Formosa). Tuy Formosa chưa phải là đặc khu nhưng họ đã hành xử như “Tô giới”: không cho cơ quan chức năng Việt Nam vào, và còn hỗn xược thách thức “chọn cá hay chọn thép?”. Đó là phượng hoàng nào? do ai?

Thực ra câu chuyện đặc khu kinh tế đã được đề cập từ mấy năm nay. Tuy bộ KH-ĐT chịu trách nhiệm chính (từ thời bộ trưởng Bùi Quang Vinh đến thời bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng), nhưng các tỉnh liên quan cũng có vai trò lớn (chạy dự án). Hà Tĩnh chạy Vũng Áng, Khánh Hòa chạy Bắc Vân Phong, Kiên Giang chạy Phú Quốc, Quảng Ninh chạy Vân Đồn. Theo GS Võ Đại Lược, ông Phạm Minh Chính (nguyên bí thư Quảng Ninh) là tác giả của đề án đặc khu kinh tế Vân Đồn (từ tháng 8/2012). Lúc đó, ông Chính muốn xây dựng hai đặc khu kinh tế (cả Vân Đồn và Móng Cái) và “rất hăng say về chuyện xây dựng đặc khu kinh tế”, theo đó nhà đầu tư nước ngoài được thuê đất 70 năm (thậm chí có thể đến 120 năm). Trường Đại học Thâm Quyến (Trung Quốc) tham gia hội thảo và chắc đã tài trợ kinh phí tổ chức…

Trong dự thảo luật đặc khu có rất nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, trái với các cam kết trong FTA về việc tạo lập môi trường đầu tư bình đẳng cho các nhà đầu tư khác nhau ở Việt Nam. Không những vậy, dự thảo còn cho phép kinh doanh nhiều lĩnh vực rủi ro cho quốc phòng và an ninh quốc gia, thậm chí cả các dự án điện hạt nhân. Điểm 4, Phụ lục IV cho phép: “Kinh doanh quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dụng quân sự, công an, linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng… Kinh doanh bất động sản, chất nổ, khai thác và làm giàu quặng kim loại có sử dụng hóa chất độc hại…

Chắc năm nay là thời điểm tốt nhất để Trung Quốc bắt nạt và bắt chẹt Việt Nam trên đất liền (cũng như tại Biển Đông) với chiến thuật “tằm ăn dâu”, biến thành “chuyện đã rồi”. Sau khi đã quân sự hóa và kiểm soát được Biển Đông, tất yếu họ muốn kiểm soát cả trên đất liền, không chỉ tại Campuchia mà còn tại Việt Nam (và các nước khác), theo chiến lược tổng thể “Một Vành đai, Một Con đường”, bằng cách lần lượt thôn tính các nước bằng “ bẫy nợ”. Những cánh tay dài của con bạch tuộc khổng lồ hay quái vật Frankenstein (như lời Richard Nixon) đã vươn tới Châu Phi (cảng Djibouti, $22 triệu/năm), tới Hy Lạp (cảng Piraeus, $436 triệu), tới Australia (cảng Darwin, $388 triệu, 99 năm), tới Sri Lanka (cảng Hambantora, $1.1 tỷ, 99 năm), tới Myanmar (cảng yaukpyu và khu công nghiệp, đầu tư $10 tỷ, 75 năm), tới Campuchea (cảng Sihanoukville & Koh Kong, đầu tư $3.8 tỷ, 99 năm), tới Thailand (siêu kênh đào Kra, đầu tư $20-$30 tỷ) để nối thẳng Vịnh Thailand với Ấn Độ Dương (bỏ qua eo Malacca).

Ba con ngựa thành Troy

Khi nói đến “thoát Trung”, chúng ta đừng nhầm với chống Trung Quốc như một đất nước và một dân tộc vĩ đại (là bạn). Nhưng người dân Việt Nam (cũng như người dân Trung Quốc) cần chống lại chính sách bá quyền nước lớn của họ (là thù). Cũng như trước đây, chúng ta không chống nước Mỹ và người Mỹ (là bạn) mà chỉ chống lại chính sách can thiệp của họ (là thù). Nếu nhầm lẫn, coi bạn là thù (hay coi thù là bạn) thì sẽ là tai họa. Người Việt lúc thắng thường hay ngạo mạn (như không sợ Mỹ), nhưng nay thất thế lại quá sợ Trung Quốc. Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả”, nhưng nếu nhầm lẫn biến bạn thành thù sẽ bị cô lập.

Gần đây, Thủ tướng và Chủ tịch Nước đã liên tiếp đi thăm các nước chủ chốt (như “tứ cường” Mỹ, Nhật, Ấn, Úc). Đó là những hoạt động ngoại giao đúng hướng để Việt Nam “tái cân bằng” quan hệ quốc tế. Nếu sự kiện bắt cóc Trịnh Xuân Thanh là một thảm họa đối ngoại, làm mất lòng các đối tác chiến lược (Đức và Châu Âu) đe dọa làm trật bánh hiệp định EVFTA, nay luật đặc khu kinh tế chắc sẽ gửi một thông điệp tiêu cực tới các đối tác chiến lược khác (như “tứ cường”) mà Việt Nam đang vận động (dễ làm “xôi hỏng bỏng không”).

Trong bối cảnh cả nước đang sục sôi phẫn nộ, nếu Quốc Hội quyết “ấn nút” để dắt “ba con voi qua rào” (như “ba con ngựa thành Troy”), thì khác gì hành động “tự sát chính trị” (theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng). Hành động mạo hiểm đó chắc chắn sẽ bị thiên hạ chê cười và nguyền rủa, như thằng bờm “cố đấm ăn xôi”, định bán chạy ba đặc khu xung yếu nhất cho lão hàng xóm khổng lồ tham lam và độc ác. Không chỉ dư luận trong nước phản đối quyết liệt, mà dư luận quốc tế cũng đang lên tiếng, vì vấn đề ba đặc khu không chỉ liên quan đến Việt Nam, mà còn liên quan đến tầm nhìn Indo-Pacific mà Việt Nam ủng hộ. Đây là thế “tiến thoái lưỡng nan” (như “catch-22”) không ai muốn, nên cần khôn ngoan thoát hiểm.

Sau sự kiện “tái xuất” (lần thứ nhất) tại hội nghị cấp cao APEC (6-12/11/2017), CTN Trần Đại Quang đã “tái xuất” (lần thứ hai) tại TW7 (7-12/5/2018). Sau chuyến thăm chính thức Ấn Độ (2-4/3/2018), ông Quang vừa thăm chính thức Nhật Bản (29/5-2/6/2018). Đó là mấy sự kiện nổi bật, đánh dấu “những đợt sóng ngầm chính trị” (lời Lê Hồng Hiệp) vẫn đang tiếp diễn và chưa ngã ngủ, còn nhiều ẩn số và biến số (cho tới TW8). Chắc CTN Trần Đại Quang và TT Nguyễn Xuân Phúc hiểu rõ nguy cơ và hệ quả của ba đặc khu này, nhưng Thủ tướng buộc phải nói (như thanh minh): “Nếu ai ở địa vị này cũng phải giao, không có cách gì khác”. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã bức xúc kết luận: “Không biết ai đưa ra ý tưởng như vậy, kể cả những người đồng ý, thì đều là những kẻ bán nước”.

Để triển khai “chủ trương lớn” này, BCT đã chỉ đạo Quốc Hội “ấn nút” để thông qua luật đặc khu kinh tế, định biến một chuyện bất khả kháng thành “chuyện đã rồi”, theo một thỏa thuận ngầm nào đó (với nhiều điều kiện đặc biệt). Nó chứng tỏ Việt Nam đang “bí tiền và bí cờ”, trong khi bị Trung Quốc bắt nạt không cho khai thác dầu khí tại mỏ Cá Rồng Đỏ (Bãi Tư Chính) và Cá Voi Xanh (lô 128). Trong khi ngân sách thiếu hụt (thu không đủ chi), nội bộ ngày càng mâu thuẫn sâu sắc khi “người đốt lò vĩ đại” chống tham nhũng quyết liệt. Trong khi trì hoãn những dự luật khác, Quốc Hội ráo riết chuẩn bị thông qua luật đặc khu kinh tế, được Quốc Hội thảo luận từ cuối năm 2017, nay phải thông qua sớm (dự kiến 15/6/2018)

Kế hoãn binh

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan (Tiếng Dân, 5/6/2018), “dự luật đặc khu rất nên dừng lại. Quốc Hội đừng thông qua vội, để hỏi thêm ý kiến của các chuyên gia về các lĩnh vực khác nhau, không phải chỉ về kinh tế, mà cả về xã hội và chuyên gia về an ninh, quốc phòng, nhìn từ nhiều góc độ để xem xét lại”…Theo bà Chi Lan, “mối nguy của việc ba đặc khu có thể biến thành những vùng lãnh thổ của Trung Quốc ở Việt Nam là rất lớn… Chưa chắc đã cần chờ đến 50 năm, 70 năm hay 99 năm đâu, các đặc khu này có thể rơi vào tay người Trung Quốc ở mức độ rất cao, đến mức họ khống chế hoàn toàn. Đấy là điều tôi thật sự lo lắng”…

Sáng 9/6/2018, Chính phủ thông báo đã đề nghị Quốc Hội lùi thời gian thông qua dự luật đặc khu sang kỳ họp thứ 6 Quốc hội XIV, thay vì kỳ họp thứ 5 như dự kiến (15/6) và giảm thời hạn thuê đất xuỗng dưới 99 năm. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khôn ngoan lắng nghe dân và đưa ra đề xuất kịp thời, hợp lòng dân, để tháo gỡ bế tắc (tuy đó chưa phải là vấn đề cốt lõi). Tuy nhiên, bà Phạm Chi Lan nhận xét: “Đây là một trong những quyết định sáng suốt nhất… là một tiền lệ tốt để sau này Chính phủ, và Quốc hội sẽ biết lắng nghe”…Dư luận chung tuy hoan nghênh Chính phủ, nhưng chưa được thuyết phục. Họ muốn thấy Bộ Chính Trị tập trung vào các chủ trương lớn, không áp đặt quan điểm đối với các cơ quan lập pháp và hành pháp. Họ muốn Quốc Hội hoãn thông qua dự luật an ninh mạng cũng như dự luật đặc khu.

Nhiều người nghi ngờ một số nhóm lợi ích đã câu kết với người Trung Quốc vì lợi ích riêng, làm phương hại cho lợi ích quốc gia. Nếu họ chưa bị vạch mặt để cho vào lò (như Trương Minh Tuấn trong vụ mua bán AVG), thì sớm muộn họ cũng sẽ bị lịch sử lên án và các thế hệ sau nguyền rủa. Nhưng cuối cùng, chắc Quốc Hội sẽ vẫn thông qua dự luật đặc khu, sau khi đã hoãn binh và điều chỉnh vài chi tiết cụ thể (để mị dân). Một số người khác lo ngại đó sẽ là “Thành Đô 2.0”, là bước nối tiếp của Hội Nghị Thành Đô đầy ô nhục, tuy đã diễn ra cách đây 28 năm (9/1990), nhưng cái bóng đen của nó vẫn đang ám ảnh đất nước này.

Theo nhà báo Vũ Kim Hạnh (Facebook, 9/6/2018) an ninh tiền tệ của Việt Nam đang bị Trung Quốc tấn công và đe dọa cũng như an ninh mạng (cyber security). Ngoài an ninh Biển Đông đang bị đe dọa, người Việt coi “đặc khu kinh tế là một cuộc tấn công từ Trung Quốc” (Bennett Murray, SCMP, 7/6/2018). Trong khi Việt Nam bất lực không đối phó được với các mối đe dọa của Trung Quốc, thì Quốc Hội vẫn định thông qua dự luật an ninh mạng và dự luật đặc khu kinh tế, mở toang cửa cho Trung Quốc xâm nhập, và làm thiệt hại cho nền kinh tế và doanh nghiệp. Bà Kim Hạnh cho rằng các cơ quan quản lý của Việt Nam đã phản ứng quá chậm. Đã gần hai năm sau khi Alipay công bố chính thức đã đặt đại lý thanh toán tại Việt Nam, các cơ quan chức năng của Việt Nam vẫn chưa có giải pháp để đối phó. Theo bà Kim Hạnh, không ở đâu luật pháp lại lỏng lẻo và các cơ quan quản lý lại lúng túng như ở Việt Nam.

Lời cuối

Nếu ai đã từng tìm hiểu về mô hình “đặc khu kinh tế” (special economic zone) chắc thấy “luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc” là một dự luật bất bình thường, từ cái tên dài lủng củng đến các điều khoản khó lý giải được nhồi nhét luộm thuộm trong văn bản luật và phụ lục. Có thể nói đó là hệ quả của sự kết hợp (cố ý) giữa nhận thức mơ hồ và ngộ nhận (do quan trí thấp) với sự đánh tráo khái niệm (bị thao túng bởi các nhóm lợi ích), giữa lợi ích nhóm trong và ngoài nước (có động cơ trục lợi) với thế lực ngoại bang (có ý đồ thôn tính Việt Nam). Chỉ có lý giải như vậy mới có thể hiểu được tại sao người ta lại ghép ba vị trí chiến lược xung yếu (Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc) vào một văn bản luật. Tuy người ta có thể thỏa hiệp về thời hạn thuê đất (dưới 99 năm) nhưng chắc không thỏa hiệp về ba vị trí đặc khu, đánh đổi lấy các vị trí mới như khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội) và Quang Trung (Sài Gòn) để phát triển “công nghệ 4.0” như chính phủ kiến tạo vẫn đề cập.

NQD. 10/6/2018



Tác giả gửi cho viet-studies ngày 10-6-18