Thứ Bảy, ngày 23 tháng 7 năm 2016

La-de Con Cọp thời Sài Gòn


Phạm Trường Giang

Trước năm 1975, người miền Nam ít khi nói đến từ bia, mà nói là la-de nhưng viết thì là la-ve. Rủ nhau đi làm ít la-de, nhâm nhi la-de, mời anh nâng ly...


Khúc đường Phạm Ngũ Lão - Bùi Viện bây giờ là phố Tây ba lô, trước năm 1975 vốn là khu ăn nhậu sầm uất, chiều chiều bàn ghế bày ra đầy vỉa hè, khách bình dân hay trung lưu vẫn tạt vào.
Món nhậu bình dân khoái khẩu của người Sài Gòn lúc đó là uống la-de Con Cọp nhắm với tôm khô củ kiệu (bây giờ thì cả la-de Con Cọp không còn và món tôm khô củ kiệu cũng dần mai một trên bàn nhậu).
Giống như Honda được gọi cho xe máy, la-de cũng được gọi cho bia nhưng từ đâu mà lại có chữ la-de?
La-de từ đâu anh tới?
Giả thuyết thứ nhất cho rằng xuất phát từ cụm từ beer Lager, Lager là một dòng bia nhẹ kiểu Đức, nên người ta nói chệch từ lager thành la-de.
Giả thuyết thứ hai liên quan đến sự ra đời của hãng bia BGI làm ra bia Con Cọp. Lần ngược thời gian, năm 1875 hãng BGI được thành lập tại Sài Gòn bởi một sĩ quan hàng hải giải ngũ có tên Victor Larue.
Tên BGI là viết tắt của Brasseries Glacières d’Indochine (hãng bia và nước đá Đông Dương, đến năm 1954 không còn Đông Dương nữa nên chữ “In” đổi lại là Internationales - Quốc tế), lúc đầu chủ yếu làm nước đá, sau mấy năm mới sản xuất bia và nước giải khát.
Sản phẩm bia Con Cọp bên cạnh hình con cọp trên nhãn, hai bên có hai chữ Pháp là Biere Larue, Larue chính là tên ông chủ hãng, phát âm theo tiếng Việt là la-ruy-ê đọc liền nhau, dân Việt đọc chệch đi thành la-de, rồi lâu dần bỏ luôn chữ bia, gọi la-de thôi và la-de cũng dần trở thành cách hiểu để nói về bia của người miền Nam.
Tùy mỗi người tin, còn bản thân tôi tin rằng chữ la-de xuất phát từ giả thuyết thứ hai.
Con Cọp làm trùm
Ngoài hai loại bia Bière Royale và Bière Hommel (loại nhẹ), hãng BGI sản xuất chính hai loại bia khác nổi tiếng hơn.
Loại thứ nhất là bia xuất khẩu, gọi là bia 33 Export, cái tên 33 đơn giản là do nó đựng trong chai có dung tích 0,33 lít. Bia này có độ cồn cao hơn nên vị uống đậm hơn.
Trên nhãn bia ghi chữ bia theo nhiều ngôn ngữ khác nhau: Bière (tiếng Pháp), Beer (tiếng Anh),Bier (tiếng Đức), Bir (tiếng Indonesia), Birra (tiếng Ý)…
Loại thứ hai phổ biến nhất là bia Con Cọp, đựng trong chai có dung tích 0,66 lít nhưng không hiểu sao ở vỏ chai chỉ ghi dung tích là 0,61 lít.
Đây là loại bia phổ biến được đông đảo người tiêu dùng đón nhận, từ người lao động bình dân cho đến trí thức hay đại gia, từ nhà hàng đến quán cóc lề đường đều có hình ảnh của bia Con Cọp.
Binh lính và sĩ quan Việt Nam Cộng hòa cũng rất ưa chuộng bia Con Cọp nhưng giá mua cao, nên Chính phủ đã ký hợp đồng với BGI sản xuất bia với nhãn riêng để bán lại cho quân đội, cảnh sát và viên chức, giá rẻ hơn, gọi là bia Quân Tiếp Vụ.
Năm 1965, quân Mỹ đổ vào miền Nam, năm 1966 Mỹ xây dựng căn cứ Long Bình làm kho hậu cần khổng lồ phục vụ quân đội.
Dân Tam Hiệp, Biên Hòa đua nhau mở cửa hàng ăn uống phục vụ nhu cầu lính Mỹ, trong đó có bán bia Con Cọp.
Họ phát hiện ra lính Mỹ có bia lon riêng do quân đội cung cấp (phát hay bán rẻ gì đó) nhưng lính Mỹ chê, họ nói là chua và nhạt nên không thèm uống, mà đi mua bia Con Cọp uống.
Điều này đủ thấy khẩu vị của bia Con Cọp cuốn hút ra sao từ ta đến Tây.

Chiến thắng thuộc về kẻ thừa kế
Sau năm 1975, BGI bị quốc hữu hóa và hãng mẹ BGI tiếp tục dùng nhãn hiệu này trên toàn thế giới, trong khi đó loại bia tại Việt Nam được Nhà máy bia Sài Gòn (tức BGI cũ) sản xuất ra theo công thức của bia 33 không được mang nhãn hiệu 33 vì đây là nhãn hiệu đã đăng ký toàn cầu, nên đổi là 333, chỉ thêm số 3 vào cho khác đi.
Đến năm 1991, BGI mới quay lại Việt Nam nhưng không giành lại thời huy hoàng, dù cho những tháng đầu tiên đã khiến bia Sài Gòn không bán nổi một két và sau cùng BGI phải bán lại cho Foster của Úc.
Lý giải thất bại của BGI, đó là bia Con Cọp đã trở lại với chất lượng kém hơn xưa. Có hai nguyên nhân chưa hề được xác nhận chính thức:
Thứ nhất, BGI đã sử dụng công nghệ mới hiện đại, ủ men nhanh hơn nên mùi vị khác trước. Trong khi bia Sài Gòn vẫn dùng công nghệ cũ, lạc hậu của BGI trước đây nên vẫn giữ nguyên được chất lượng quen thuộc.
Thứ hai, lúc đầu BGI rất muốn liên doanh với bia Sài Gòn để sản xuất tại nhà máy cũ ở Sài Gòn nhưng không được, đành phải về Tiền Giang.
Một bí quyết then chốt trong sản xuất bia Con Cọp trước đây chính là nguồn nước, ở Tiền Giang không có nguồn nước ngầm giống của nhà máy ở Sài Gòn nên chất lượng cũng không bằng.
Điều này cũng tương tự rượu Bắc Hà nổi tiếng ở Lào Cai, khi người làm rượu ở Bắc Hà đi nơi khác làm rượu, cũng con người đó, công thức đó, nguyên liệu đó nhưng rượu không ngon vì dùng nguồn nước khác…
Thế nên kẻ thừa kế của bia Con Cọp lại đánh bại được chính chủ. Nhãn hiệu Con Cọp nổi tiếng năm xưa không còn nhưng hương vị của nó vẫn ở lại cùng các “bợm bia”.
Sự thật về bia Con Cọp Trái Thơm
Năm 1973, hãng BGI tung ra một nhãn hiệu mới, cũng chai 0,66 lít có hình con cọp nhưng hai bên có vẽ thêm hình ảnh dây leo và một trái tròn tròn khía vuông mà người ta thấy giống như trái thơm, nên người ta gọi là bia Con Cọp Trái Thơm.
Điểm đặc biệt là bia này bỏ chung với các chai bia Con Cọp khác, cứ một két thì có một chai, có khi có 2-3 chai.
Thiên hạ đồn đây là loại bia đặc biệt, ngon hơn loại thường nên tặng kèm theo một két để khuyến mãi khách hàng mua sỉ. Thành thử từ đó người ta hay mua cả két bia để được lấy chai "trái thơm", trong bàn nhậu, bậc trưởng thượng, chủ xị… được ưu tiên uống chai này.
Trong phân chia chất lượng bia của BGI thì bia Con Cọp Trái Thơm đứng đầu, sau đó tới bia Con Cọp thường và đứng chót sổ, bị chê nhiều nhất là bia Quân Tiếp Vụ.
Sự thực bia Con Cọp Trái Thơm có phải là loại bia ngon nhất?
TS luật Phan Văn Song, từng là trưởng phòng tiếp thị rồi giám đốc BGI từ năm 1973 đến 1976 tại Việt Nam, đã bác bỏ điều này.
Ông nói: "Nấu hai loại bia đã tóe phở, hộc xì dầu. BGI đâu có hưỡn nấu ba, bốn loại còn vô chai vô cộ, đổi kíp đổi người. Phức tạp lắm. Nội cách đổi vỏ chai cho hạp với rượu cũng đủ hao tiền. Nhưng cắt nghĩa hổng ai tin".
Vậy vì sao BGI lại tung ra nhãn bia chai Trái Thơm? Nguyên nhân này cũng được tiết lộ từ người trong cuộc: Năm 1973, BGI muốn thay đổi nhãn bia mới, để đỡ tốn tiền thuê họa sĩ thiết kế ở pháp như mọi khi, ông Song giao cho họa sĩ quảng cáo trong công ty vẽ.
Cũng là nhãn Con Cọp cũ nhưng vẽ thêm hoa houblons (còn gọi là hốt bố - là loại hoa tạo ra vị đắng của bia), khổ nỗi họa sĩ chưa từng nhìn thấy hoa houblons tươi bao giờ, chỉ thấy hoa khô trong hãng nên từ đó tưởng tượng vẽ ra.
Cả khâu duyệt cũng trót lọt vì dân marketing ngồi văn phòng có ai biết hoa houblons tươi thế nào.
Đem qua nhà máy thủy tinh Khánh Hội đặt in trên 100.000 vỏ chai xong mang về nhà máy Chợ Lớn, mấy kỹ sư trong xưởng bia mới cười rần rần vì vẽ sai, thế là thôi không in tiếp nữa. 100.000 chai đã lỡ in sai không lẽ bỏ, thế là số chai này được phân công bỏ chen vào các két bia mỗi két một chai để phân tán ra.
Từ đâu dẫn đến diễn biến về bia Trái Thơm đặc biệt khiến thiên hạ lùng mua để uống? Cũng từ các Hoa kiều làm công việc phân phối bia của BGI mà ra.
Người Hoa rất nhanh nhạy với các cơ hội làm ăn, họ chụp lấy sự kiện này để "bỏ nhỏ" với các đại lý: Bia Trái Thơm là loại đặc biệt, mỗi két chỉ có một chai nhưng nếu "nị" lấy hàng nhiều, chịu chi thêm thì "ngộ" sẽ thêm mỗi két vài chai, thậm chí muốn có cả một két toàn Trái Thơm cũng có…
Quy tắc mỗi két một chai bị phá tan nhưng bộ sậu lãnh đạo ở BGI lờ đi, mặc cho nhóm nhân viên phân phối thao túng.
Ai đời từ một sai sót kỹ thuật vớ vẩn như vậy lại được biến thành một sự kiện khiến nhãn hàng gây chú ý với người tiêu dùng miễn phí và khiến doanh số bán tăng vọt thì họa có… điên mới đi giải thích, đính chính (!).
Nói như vậy, không lẽ cả mấy vạn "bợm bia" không phân biệt được bia ngon, bia dở? Thật ra những ai hiểu về tâm lý học và marketing sẽ biết rằng cùng một sản phẩm nhưng nếu cho vào chai lọ, bao bì thật đẹp, bán giá cao… người ta sẽ cảm thấy nó ngon và tốt hơn cũng sản phẩm đó cho vào bao bì xấu hoặc giá rẻ.
Đó cũng là lý do bia Quân Tiếp Vụ ngày xưa bị chê trong khi nó cũng "y chang" hai loại kia, chẳng qua là đặt sỉ giá rẻ mà thôi.

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 7 năm 2016

Ép buộc Trung Quốc tuân thủ phán quyết biển Đông như thế nào?

Phán quyết mang tính lịch sử của một tòa án quốc tế trong vụ tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc đã minh định một cách dứt khoát các vùng hải phận mà Philippines và Trung Quốc được hưởng thể theo Công ước Quốc tế về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea – UNCLOS). Phán quyết đồng thời làm rõ việc sử dụng các vùng biển trong khu vực này của các quốc gia khác.
Quyết định của tòa xác định rằng việc dùng “đường chín đoạn” như một tuyên bố chủ quyền trên gần 90% diện tích biển trong khu vực của Trung Quốc là không hợp pháp. Kết quả theo đó là khoảng 25% diện tích biển trong khu vực biển Đông là hải phận quốc tế nằm chính giữa biển. Hải phận quốc tế là nơi phải có các quyền tự do hàng hải và tự do hàng không cho các phương tiện dân sự và quân sự của tất cả các nước. Hải phận quốc tế thuộc về cả thế giới.
Sự khẳng định tính phi pháp của đường chín đoạn đồng thời cũng xác nhận các khu vực đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zones – EEZs) trên biển của các nước trong khu vực: Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và Trung Quốc.
Quan điểm phổ biến được đại đa số các quốc gia tôn trọng triệt để chính là trong EEZ cũng có các quyền tự do hàng hải và tự do hàng không cho các phương tiện dân sự và quân sự. Không cần phải có sự cho phép của các quốc gia dọc bờ biển để tàu thuyền và máy bay có thể đi qua các khu vực này. Trung Quốc thuộc một nhóm thiểu số ít ỏi các quốc gia mang quan điểm đối nghịch cho rằng tàu thuyền và máy bay nước ngoài phải xin phép mới có thể được cho đi vào EEZ của một nước.

Lược đồ các vùng tranh chấp biển Đông (Nguồn ảnh: abc.net.au)
Ai có thể đảm bảo việc tuân thủ các phần phán quyết liên quan đến hải phận quốc tế và EEZ?
Không có một “cảnh sát quốc tế” để làm công việc này nhưng các cường quốc hàng hải của thế giới mà dẫn đầu là Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng các tàu thuyền và máy bay của họ sẽ tiếp tục đi lại trong vùng hải phận quốc tế và và các EEZ thuộc biển Đông để khẳng định quyền tự do hàng hải và hàng không dành cho các phương tiện dân sự và quân sự của họ.
Bởi vì Trung Quốc không thể ngăn chặn các cường quốc hàng hải khẳng định quyền tự do hàng hải và hàng không của họ, một phần quan trọng của phán quyết như thế có thể được thi hành. Biển Đông không thể trở thành cái ao làng của Trung Quốc như mong muốn của nước này thể hiện qua tuyên bố đường chín đoạn.
Sự phi pháp của đường chín đoạn có nghĩa là phạm vi nằm trong đường này không thể chồng lấn lên EEZ của Philippines. Bất kỳ sự chồng lấn nào chỉ có thể đến từ hải phận thuộc phạm vi xung quanh một cấu trúc địa chất – lãnh thổ đất đai thực sự – mà Trung Quốc đang đòi chủ quyền. Phán quyết tuyên bố rằng không có một cấu trúc địa chất nào trong toàn bộ quần đảo Trường Sa (Spratly archipelago) có thể được hưởng vùng đặc quyền kinh tế EEZ phạm vi 200 hải lý. Ngay cả đảo lớn nhất trong quần đảo là đảo Itu Aba (đảo Ba Bình) cũng không được hưởng EEZ. Tòa xác định rằng một số cấu trúc địa chất trong khu vực này là “bãi đá” tự nhiên không thể cư ngụ và theo đó chỉ có thể hưởng hải phận 12 hải lý xung quanh các cấu trúc địa chất đó. Tòa cũng quyết định rằng bãi cạn Scarborough chỉ được hưởng hải phận 12 hải lý.
Kết quả như vậy là hai khư vực bãi đá do Trung Quốc kiểm soát, Đá Ken Na (McKenna Reef)  và bãi cạn Scarborough đều nằm trong khu vực EEZ của Philippines. Hai cấu trúc địa chất này chỉ được hưởng hải phận 12 hải lý. Vì vậy, toàn bộ diện tích các khu vực EEZ của Philippines tại biển Đông – ước tính khoảng 381,000 ki lô mét vuông, còn lớn hơn tổng diện tích đất của Philippines – không thể bị chồng lấn bởi các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, ngoại trừ hai bãi đá với hải phận 12 hải lý là Đá Kenna và bãi cạn Scarborough.
Làm cách nào để Philippines đảm bảo đặc quyền khai thác tài nguyên tự nhiên trong khu vực EEZ của nước này nếu Trung Quốc từ chối phán quyết?
Tương tự với câu hỏi trên, không có “cảnh sát quốc tế” không có nghĩa là Philippines không có cách.
Nếu một công ty dầu hỏa Trung Quốc mang giàn khoan vào khu vực Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) thuộc vùng EEZ của Philippines để khai thác khí đốt, Philippines có thể kiện công ty dầu hỏa đó ra tòa tại một nước mà công ty này có tài sản, ví dụ như Canada – vốn cũng là một thành viên của UNCLOS.
Phía Philippines có thể cho tòa Canada thấy là phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực có nghĩa là khí đốt trong khu vực Bãi Cỏ Rong thuộc quyền khai thác của Philippines. Phía Philippines có thể yêu cầu tòa Canada ra lệnh tịch biên tài sản tại Canada của công ty Trung Quốc nói trên để bồi thường cho Philippines lượng khí gas mà Trung Quốc đã khai thác mất của họ.
Philippines cũng có thể đòi bồi thường trực tiếp từ Trung Quốc. Phán quyết cũng chỉ ra rằng các hoạt động nạo vét của Trung Quốc gây ra những hậu quả không thể cải tạo cho hệ sinh thái biển mỏng manh của một số khu vực trong quần đảo Trường Sa bao gồm khu vực Đá Vành Khăn (Mischief Reef) và khu vực Đá Xu Bi (Subi Reef) vốn thuộc thềm lục địa của Philippines. Theo Luật Biển, một nước phải có trách nhiệm bồi thường nếu đã gây ra thiệt hại trong môi trường biển của một nước ven biển khác.

Logo của Cơ quan quản lý Đáy biển Quốc tế (ISA) (Nguồn ảnh: logodesignblog.net)
Philippine cũng có thể yêu cầu Cơ quan quản lý Đáy biển Quốc tế (ISA – International Seabed Authority), một cơ quan thành lập theo nội dung UNCLOS,thu hồi bốn giấy phép mà cơ quan này đã ban hành cho Trung Quốc cho phép nước này thăm dò đáy biển trong hải phận quốc tế bên ngoài hải phận của nước này.
Các nước đã thông qua UNCLOS đã thống nhất tuân thủ “trọn gói” bộ luật này – chấp nhận toàn bộ các điều khoản của nó chứ không chấp nhận chọn lọc. Nếu Trung Quốc từ chối phán quyết biển Đông, Philippines có thể cáo buộc là Trung Quốc đang chấp nhận hưởng lợi từ UNCLOS thông qua các điểu khoản về thăm dò đáy biển của bộ luật này trong khi từ chối các điều khoản nằm trong cơ chế giải quyết tranh chấp của nó.
Về lâu về dài thì phán quyết biển Đông sẽ được đảm bảo thi hành một cách sâu rộng vì cộng đồng thế giới sẽ không chấp nhận việc một nước đòi chủ quyền trên gần như toàn bộ một vùng biển giáp biên giới nhiều nước khác. Việc chấp nhận thực tế đó sẽ tạo ra một tiền lệ có ý nghĩa hủy diệt cho Luật Biển quốc tế./.

Luật Khoa

Cận cảnh những bí mật về cuộc sống trong rừng của "Tarzan Việt Nam" Hồ Văn Lang

Năm 1972, một cựu chiến binh Việt Nam đã mang con chạy vào rừng sau khi ngôi nhà của anh bị ném bom. Trong trận bom năm ấy anh đã bị mất mẹ và 2 người con của mình.


Cận cảnh những bí mật về cuộc sống trong rừng của "Tarzan Việt Nam" Hồ Văn Lang

Hồ Văn Lang sống trong rừng suốt 41 năm.
Mới chỉ 3 năm trước cả thế giới đã rất kinh ngạc trước thông tin một ông lão và con trai của mình đã được “giải cứu khỏi rừng” sau 41 năm sống trong rừng, tách biệt hoàn toàn với xã hội bên ngoài. Con trai của ông là anh Hồ Văn Lang và anh đã lớn lên mà không hay biết chút gì về sự tồn tại của nhân loại, thậm chí không có cả những thông tin cơ bản nhất về “con người”.
Dưới đây là nội dung bài viết khá sâu sắc và chi tiết của anh Alvaro Cerezo - người sáng lập công ty du lịch mạo hiểm Docastaway - về cuộc sống của anh Lang sau 3 năm về với xã hội văn minh. Anh đã tới thăm và dành một khoảng thời gian sống cùng với anh Lang để có thể nắm bắt một cách đầy đủ nhất về tâm tư, tình cảm và những thay đổi của Lang trong cuộc sống mới, từ đó khám phá về con người thật sự của anh Hồ Văn Lang.
"Tháng 11 năm ngoái, trong chuyến công tác tới Việt Nam, tôi đã may mắn có vài ngày tiếp xúc với “cậu bé người rừng” này. Anh hiện đã chuyển vào làng sinh sống và dần thích nghi với cuộc sống văn minh.
Khi mới tiếp xúc, tôi nhận thấy Lang rất nhiệt tình với ý tưởng trở lại rừng. Sau khi suy nghĩ về điều này, tôi nghĩ thật tuyệt nếu chúng tôi cùng nhau quay về rừng, sống 5 ngày ở đó và dựa hoàn toàn vào những gì mà thiên nhiên mang lại, như anh từng làm trong suốt quãng đời trước đó của mình.
Không chút phân vân, Lang lập tức nhận lời và chúng tôi rủ thêm em trai của Lang cùng phiên dịch của tôi cùng nhau tiến sâu vào rừng.
Mới đầu, ý định của tôi chỉ là muốn tìm hiểu kỹ năng sống sót mới từ Lang mà không nhận ra rằng tôi đang được tiếp xúc với một trong những người đáng quý nhất mà tôi từng gặp. Vì điều này và nhiều lý do khác khiến tôi quyết định thả lỏng bản thân và tận hưởng cuộc sống cùng với Lang trong môi trường của anh ấy.
Hình thức sống nguyên thủy của Lang không chỉ đưa chúng tôi trực tiếp tới thời đại đá mới mà do nhiều năm sống cô lập trong rừng từ ngày mới sinh ra nên hình thức này cũng giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về bản chất thật sự của “con người”.
1. Cuộc sống cô lập
Một cuộc sống hoàn toàn tách biệt khỏi thế giới văn minh
Lang đã rời xa xã hội văn minh khi anh mới chỉ được hơn 1 tuổi nên anh không hề có bất cứ ký ức nào về khoảng thời gian đó. Đối với anh, cuộc sống được bắt đầu ở trong rừng.
Trong suốt 41 năm hoàn toàn cách ly khỏi xã hội loài người, Lang hiếm khi nhìn thấy bất kỳ con người nào khác nên từ sau khi trở về sống ở làng thì anh luôn làm tất cả mọi việc ở một khoảng cách xa mọi người. Trong gần nửa thế kỷ hai cha con “tarzan” rất ít khi để lộ bản thân và luôn lẩn trốn sau các bụi cây.
Trong suốt cuộc đời sống trong rừng của mình, Lang chưa bao giờ được nhìn thấy xe máy hay ô tô, hay thậm chí là một con đường do con người mở ra. Anh cũng không biết bất kỳ nguồn năng lượng nào khác ngoài lửa, mặt trời, mặt trăng và các vì sao.
Cả hai cha con sống ở những nơi rất xa và kín đáo trong rừng nên cho dù Lang hiện đã 41 tuổi nhưng vẫn chưa bao giờ nhìn thấy ánh sáng nhân tạo. “Chú bé người rừng” này hoàn toàn không biết đến cuộc sống bên ngoài, thế giới văn minh là như thế nào, ngoại trừ những câu chuyện mà cha anh kể lại về những chiếc máy bay bay ngang bầu trời.
Trừ việc reo rắc vào đầu cậu con trai về nỗi sợ hãi “con người”, cha anh chính là nguồn cung cấp những thông tin cần thiết về thế giới văn minh cho anh. Trong số rất nhiều câu chuyện kể lại cho con trai, cha anh từng giải thích rằng có rất nhiều người bên trong những “con chim” có thể bay rất cao trên trời.
Tuy nhiên, thông tin mà anh nhận được luôn hạn chế vì cha anh quyết định bỏ qua những điều có khả năng trở thành mối đe dọa tới việc chung sống của hai cha con. Một trong những điều quan trọng nhất mà cha Lang không kể cho anh đó là về sự tồn tại của giới tính nữ trong xã hội loài người. Ông đã làm việc này để dập tắt bản năng của con trai mình. Quyết định bỏ qua điều này cùng nhiều việc khác liên quan đến thế giới văn minh của ông đã được thực hiện rất hoàn hảo vì cho tới năm 41 tuổi, Lang vẫn chưa bao giờ bị cám dỗ muốn đi tới thế giới mà cha anh kể.
2. Xây dựng cuộc sống
41 năm thoát ly khỏi con người
Trong suốt những năm dài sống tách biệt trong rừng, hai cha con đã định cư tại 5 địa điểm khác nhau nhưng luôn ở trên cùng một dãy núi. Ngôi nhà cuối cùng, nơi họ bị “bắt” cũng là nơi họ đã sống 8 năm trong rừng cuối cùng của mình. Với kinh nghiệm đã trải qua với Lang trong rừng, tôi có thể đi tới 2 trong số 5 ngôi nhà của anh. Ngôi nhà được dựng trước cái cuối cùng chỉ cách đó khoảng 1 giờ đi bộ.
Hai thập niên đầu tiên họ dựng nhà ở vùng đất thấp, nơi ấm áp hơn và có nguồn nước dồi dào. Việc sống gần sông đặc biệt quan trọng với họ vì đây là con sông chính chạy quanh dãy núi nên đó cũng là nguồn cung cấp cá duy nhất của họ.
Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của loài người – những người bị bắt gặp xuất hiện quanh khu vực này – nên họ đã quyết định rời nhà đi tới một nơi cao hơn.
Sự khổ sở và đau đớn mà họ phải chịu đựng trong suốt những năm tháng đó chắc hẳn cũng tương tự như những gì mà các loài động vật trong rừng cảm thấy khi chúng cảm nhận được sự tiến bộ của loài người. Trong 20 năm vừa qua, vùng núi này đã bị tàn phá nghiêm trọng và nếu nhìn vào bản đồ chúng ta có thể thấy rằng nơi định cư cuối cùng của họ thực sự là một trong số rất ít khu vực vẫn còn nguyên vẹn.
Lúc này cả hai cha con đều bị vây chặt và lựa chọn duy nhất của họ là bỏ chạy tới những khu vực cao hơn của ngọn núi, nhưng cái lạnh và sự khan hiếm nước là những lý do ngăn cản họ thực hiện điều này. Và, trên tất cả là nỗi e sợ của họ về các vị thần linh mà họ tin rằng đang ngự trên đỉnh núi.
Năm 1994, trong khi tìm kiếm gỗ trong rừng, một người nông dân đã phát hiện ra hai cha con người rừng đang sợ hãi chạy trốn vào rừng. Người nông dân đã kể lại chuyện này với mọi người sống trong làng và Hồ Văn Tri, người con út và là em trai của Lang đã rất vui mừng khi biết chắc rằng hai người rừng này là cha và anh trai của mình, và hiện vẫn đang sống đâu đó trong rừng.
Ngay lập tức, một cuộc tìm kiếm lâu dài đã được bắt đầu và chỉ kết thúc khi người ta tìm thấy ngôi nhà họ từng sống được nguỵ trang trên một ngọn cây. Ban đầu anh Tri khá thất vọng khi phát hiện nó đã bị bỏ trống. Anh Lang và cha của mình đã bỏ chạy ngay khi nhìn thấy các nhân viên cứu hộ tới.
Trong nhiều năm cha con anh Lang và đội tìm kiếm như đang chơi trò mèo đuổi chuột. Cứ khi nào người ta tìm thấy nơi ở mới của hai cha con thì họ lại bỏ trốn. Tuy nhiên, do tuổi cao nên người cha càng ngày càng trở nên chậm chạp hơn và cuối cùng ông đã không thể lẩn trốn khỏi cuộc viếng thăm của người tự nhận là con trai mình: người cha không thể tin được người đàn ông nhân hậu, dễ mến đó là con trai mình. Ông từng nghĩ – và vẫn luôn nghĩ – rằng cả gia đình mình đã bị chết khi ngôi nhà bị ném bom (trừ Lang). Tuy nhiên, Lang dễ tiếp cận hơn và anh không thấy phiền khi anh Tri thường tới thăm họ mỗi năm và luôn mang theo muối cùng các loại gia vị cho họ.
Dù mỗi khi tới thăm hai cha con anh Tri đều cố gắng thuyết phục họ trở về với cuộc sống văn minh nhưng chưa lần nào thành công. Đặc biệt là bởi người cha, do bị rối loạn tâm thần nghiêm trọng nên bị ám ảnh sâu sắc về việc trở lại vì ông không tin rằng chiến tranh đã kết thúc.
Suy nghĩ của người cha cũng giống với người lính Nhật Bản – Hiroo Onoda, người đã sống 30 năm trong rừng trên một hòn đảo ở Philippine – cả hai đều tin rằng cuộc chiến chống đế quốc Mỹ vẫn đang tiếp diễn.
Hiroo Onoda chưa bao giờ tiếp nhận bất cứ thông báo nào trong hàng trăm tin nhắn anh nhận được từ gia đình nói với anh rằng cuộc chiến đã chấm dứt từ 30 năm trước. Vài tháng trước, tôi đã mạo hiểm tới hòn đảo có tên là Lubang này và trải qua vài ngày khám phá và sống trên những ngọn núi nơi Onoda từng ẩn nấp. Tôi muốn hiểu rõ hơn về cuộc sống của người lính này trong suốt 30 năm. Điều kỳ lạ là Onoda đã đầu hàng năm 1974, và thời điểm người lính Nhật bản này quay trở lại cuộc sống của xã hội văn minh thì cùng lúc đó tại Việt Nam hai cha con anh Lang cũng đang bắt đầu cuộc phiêu lưu làm “Tarzan” của mình.
3. Những ngôi nhà
Ngôi nhà trên cây
Vì mục đích an toàn, hai cha con anh Lang luôn xây dựng nơi trú ngụ của mình trên một cái cây vững chãi. Trái ngược với những gì mà người ta vẫn tin – do thực tế rằng những bức ảnh được truyền đi trong giới truyền thông đã phần nào sai lệch – sự thật là ngôi nhà không hề dựa vào các nhánh cây cao mà chỉ được dựng cách mặt đất khoảng vài mét và dựa vào thân cây.
Tuy nơi ẩn náu cuối cùng không quá cao so với mặt đất nhưng Lang phải chịu đựng rất nhiều vì liên quan đến người cha bệnh tật của anh. Do trạng thái tinh thần không mấy tỉnh táo của cha Lang nên những năm cuối cùng sống trong rừng anh luôn phải chịu nhiều căng thẳng và lo lắng, thường thức trắng đêm để trông chừng cho cha khỏi bị rơi từ trên cây xuống.
Đây là lý do chính mà khi cùng nhau tiến vào rừng, Lang vẫn giữ được sự tỉnh táo cho đến thời điểm gần bình mình và luôn là người ngủ cuối cùng.

Vì mục đích an toàn, hai cha con anh Lang luôn xây dựng nơi trú ngụ của mình trên một cái cây vững chãi.
Vì mục đích an toàn, hai cha con anh Lang luôn xây dựng nơi trú ngụ của mình trên một cái cây vững chãi.
Vì mục đích phòng thủ, hai cha con đã đặt một số chiếc bẫy quanh nơi ẩn náu của mình để đe dọa kẻ thù. Nhưng thực tế việc này không thực sự đe dọa được bất cứ người nào vì ai cũng biết rằng họ là người dân vô tội và vô hại.
Họ luôn giữ một ngọn lửa nhỏ âm ỉ cháy trong nhà để tránh khỏi bị nước mưa dập tắt đồng thời có tác dụng đuổi muỗi. Và do ngôi nhà được dựng ở trên cao nên họ có thể tránh khỏi rắn, rết.
Thật không may, năm ngoái ai đó đã phá hủy ngôi nhà cuối cùng của họ vì vậy tôi không thể tới thăm nó. Tuy nhiên, khi nhìn vào hình ảnh được lưu lại thì chúng ta có thể thấy thật đáng kinh ngạc khi họ dựng được một ngôi nhà trên cây mà hoàn toàn không có kết cấu khung.
4. Nước
Luôn có sẵn rất nhiều nước
Nước chưa bao giờ là vấn đề với họ. Vùng núi này của Việt Nam luôn nhận được một lượng mưa lớn vào mùa mưa, đủ để khiến con sông chảy quanh năm. Họ chưa bao giờ đun sôi hoặc lọc nước, mà chỉ đơn giản là uống trực tiếp từ các dòng sông. Vì vậy họ cũng có một vài vấn đề đường ruột nhưng không có gì quá nghiêm trọng.
Chi khi phải dời đến những khu vực cao hơn thì hai cha con mới uống nước được đựng trong các ống tre vì nước ở những nơi này khá khan hiếm.
5. Thức ăn
Mọi thứ đều lấy từ rừng
Thức ăn cũng không phải là vấn đề đối với hai cha con anh Lang. Họ có được một nguồn thức ăn phong phú trong rừng. Họ trồng một số loại cây và rau nhưng không bao giờ tìm cách thuần hóa động vật để chăn nuôi mà chỉ săn bắn chúng. Họ thậm chí rất thích ăn mật ong, trầu hoặc thuốc lá.
Vương quốc thực vật
Họ không chỉ thu thập dứa, chuối, sầu riêng, mít, sắn, thu lúa và ngô mà còn bất kỳ giống cây nào ăn được: một trong những điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là khả năng tìm kiếm các loại thực phẩm dại trong rừng của Lang. Đối với anh, phần lớn các loại cây trong rừng đều ăn được. Trong khi chờ nước trong nồi được đun sôi, Lang đã mang về khá nhiều loại cây khác nhau mà anh tìm được ở xung quanh.

Đối với anh, phần lớn các loại cây trong rừng đều ăn được.
Đối với anh, phần lớn các loại cây trong rừng đều ăn được.
Trong những năm tôi sống ở các ốc đảo, tôi luôn rất cẩn thận tìm kiếm và lựa chọn các loại cây ăn được, và cho rằng phần lớn trong số chúng không có chất dinh dưỡng, hoặc có chứa axit hay thậm chí là chất độc. Nhưng Lang không ngần ngại nhổ lên bất kỳ cây lá xanh nào anh tìm thấy dọc đường đi và cho tất cả chúng vào nồi. Và dù sao thì hương vị của món ăn đó cũng không quá tệ.
Hai cha con anh Lang thường tìm mật ong trong những tổ ong mà họ thấy được trong lúc đi lại trong rừng. Trong số những thứ hai cha con đều nghiện có cả thuốc lá và trầu/cau, thứ khiến răng họ bị nhuộm màu đỏ.
Có thể nói rằng Lang và cha mình ăn mọi thứ mà họ tìm thấy còn sống trong rừng, trừ côn trùng. Các món thịt của họ bao gồm: khỉ (đặt bẫy), chuột (đặt bẫy), rắn (bắt), ếch (bắt), chim (bẫy), dơi (bắt), động vật thân mềm (bắt).
Họ cũng ăn cá trong thời gian sống gần con sông chính suốt 10 năm đầu tiên vào rừng. Nhưng do sự phát triển của “con người hiện đại” khiến họ buộc phải chuyển tới những nơi cao hơn nên trong 20 năm cuối cùng họ chưa bao giờ có nhiều cá để ăn. Cách bắt cá của hai cha con đó là dùng đá quây hai đầu của một khúc sông và dùng tay bắt cá ở đó. Thật không may là tôi đã không thể cùng với Lang bắt cá kiểu này vì đang là mùa mưa và nước sông chảy rất xiết. Ngoài cách trên họ cũng dùng lưỡi câu và những chiếc lao.
Đối với Lang, không phần nào của con vật bị lãng phí. Khi ở cùng anh trong rừng tôi thấy anh ăn những con dơi như thế đó là trái oliu. Anh dùng cả đầu và nội tạng của chuột. Chúng tôi không bắt được con khỉ nào nhưng anh nói với tôi rằng kể cả mắt khỉ cũng có thể ăn được. Món ăn ưa thích của Lang là thịt khỉ simian, và đây cũng là loài khỉ khó săn bắt nhất.
6. Lửa
Đánh lửa
Cách duy nhất hai cha con anh Lang dùng là cọ kim loại vào đá thạch anh. Họ tìm thấy các mảnh kim loại của những quả bom nổ tung vương vãi trong núi. Nhưng đá thạch anh thì chỉ có tại các nhánh sông chính và dưới lòng sông. Các vật liệu dẫn cháy họ dùng được lấy từ một lớp bông nhỏ mà họ tìm thấy trong thân một loại cây. Cha Lang biết đến cách lấy lửa này từ trước khi họ bỏ chạy vào rừng và chưa bao giờ thử bất kỳ cách nào khác.
Trong suốt 4 thập kỷ sống trong rừng, hai cha con luôn cố để giữ lửa trong nhà càng nhiều ngày càng tốt. Nhưng đôi khi lửa bị tắt và họ phải tìm cách thắp sáng lại.
Đôi khi, trong những ngày ẩm ướt và họ không thể đánh được lửa nên họ phải ăn sống thức ăn và sống trong bóng tối mỗi đêm cho tới khi tạnh mưa.
7. Quần áo
Họ luôn mặc quần áo
Điều nghịch lý là hai cha con luôn khoác một thứ gì đó lên người để che đậy phần kín, cho dù họ hoàn toàn đơn độc trong rừng. Theo Lang, cha anh đã dạy anh phải mặc đồ từ khi anh còn rất nhỏ. Mặc dù, khi tôi ở cùng Lang trong rừng, tôi chưa bao giờ cảm thấy anh ấy bối rối khi bị bắt gặp đang khỏa thân. Điều này khiến tôi cho rằng đó là một nề nếp mà cha anh đã truyền cho anh.

Lang và cha mình ăn mọi thứ mà họ tìm thấy còn sống trong rừng, trừ côn trùng.
Lang và cha mình ăn mọi thứ mà họ tìm thấy còn sống trong rừng, trừ côn trùng.
Những bộ quần áo đều được làm từ vỏ cây, gồm có một chiếc áo gi-lê dùng trong những ngày giá lạnh – vào mùa mưa, nhiệt độ ban đêm xuống thấp khoảng 15oC. Họ cũng có một chiếc ô khá kỳ dị được làm từ lá cây và giống hình chiếc mai rùa.
Trong suốt cuộc đời mình, Lang không hề có bất kỳ ý niệm nào về khuôn mặt của mình vì anh chỉ nhìn thấy bản thân được phản chiếu trên mặt nước.
8. Công cụ
Được làm từ vỏ những quả bom thời chiến
Hầu hết các dụng cụ cắt, gọt đều được làm từ thép của các quả bom họ tìm thấy rải rác trong rừng trong khoảng 10 năm đầu tiên. Bằng cách hơ thép trên lửa, họ có thể tạo hình cho các mảnh vỏ đạn và thậm chí còn làm được cả những chiếc rìu.
Mặt khác, các đồ dùng nhà bếp như chảo, nồi và đĩa cũng đều được làm trong những năm đầu tiên và được làm bằng nhôm được tìm thấy trong một chiếc trực thăng bị rơi vỡ của Mỹ. Dựa trên số lượng những chiếc đinh tán mà hai cha con anh thu thập được thì đó có lẽ là một chiếc Bell UH-1 và nhiều khả năng nó cùng loại với chiếc máy bay đã phá sập ngôi nhà và giết hại cả gia đình Lang nhiều năm trước.
Hai cha con anh không bao giờ ăn bốc mà luôn dùng đũa được làm từ tre. Họ có khoảng 20 đồ dùng làm bếp và đến giờ chúng vẫn được giữ trong làng. Lang cho biết trong suốt 41 năm ở rừng họ chưa bao giờ để mất một đồ vật nào.
Dựa trên những kinh nghiệm trong rừng của chúng tôi, tôi đã đề nghị Lang mang theo mọi dụng cụ của anh ấy để chúng tôi có thể dùng chúng trong sinh hoạt hàng ngày. Và phần lớn những dụng cụ này đều rất hữu ích.
9. Bệnh tật
Luôn khỏe mạnh
Theo lời kể của Lang, trong 41 năm sống cô độc trong rừng cả hai cha con anh đều không gặp phải bất kỳ vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nào.
Cha Lang bị hỏng một bên mắt do cành cây sắc nhọn đâm vào khi đi lại trong rừng lúc ban đêm. Cho tới giờ bên mắt này của ông vẫn không thể nhìn thấy được, và ông cũng bị điếc vì đã lớn tuổi. Còn Lang bị mất một đốt ngón tay do bị bỏng khi nấu ăn hồi còn bé.
Trung bình cả hai cha con chỉ bị cảm lạnh 1 lần/năm và hiện đều bị bệnh đường ruột. Họ luôn tự chữa bệnh cho mình bằng các cây thuốc. Ngoài những bệnh này thì cả hai đều rất khỏe mạnh, đặc biệt là đối với người lớn tuổi như cha của Lang - ông đã 83 tuổi khi hai cha con được tìm thấy.
Tháng 8/2013, khi được đưa trở lại với cuộc sống văn minh cả hai cha con đều bị ốm đúng như những gì các chuyên gia dự đoán, đặc biệt là Lang vì anh chưa bao giờ tiếp xúc với những loại virut và vi khuẩn thường xuyên tấn công con người. Trong những tháng tiếp theo, Lang luôn bị dính bệnh này hay bệnh khác và nhiều lần phải đưa vào bệnh viện để chữa trị. Khi cùng sống với Lang trong rừng tôi đã rất lo lắng về sức khỏe của anh ấy mỗi khi chúng tôi chia nhau thức ăn, đồ uống và đồ dùng vì em trai của anh nói rằng anh chưa bao giờ tiếp xúc với một người da trắng.
Trái ngược với điều mọi người thường nghĩ, bộ răng của Lang rất hoàn hảo và anh chưa bị mất bất kỳ một chiếc răng nào. Vấn đề duy nhất của Lang là màu sắc của hàm răng, màu đỏ sậm chứ không phải màu đen – do thói quen ăn trầu. Họ tạo ra vôi bằng cách nghiền vỏ của một loại động vật thân mềm nhỏ sống ở các dòng sông. Còn trầu và cau thì rất dễ kiếm trong rừng.
Lang bị nghiện loại “thuốc” này, một thứ khá phổ biến ở Châu Á, đặc biệt là tại Ấn Độ nơi người ta gọi nó là “Paan”. Trong suốt thời gian ở cùng Lang và có điều kiện quan sát anh ấy, điều khiến tôi chú ý nhất chính là kích cỡ ấn tượng của đôi bàn tay anh ấy.
10. Những mối nguy hiểm và các loài động vật
Không gì có thể đe dọa họ
Kẻ thù đáng sợ nhất của họ là rết. Trái với những gì người ta vẫn nghĩ, không có bất kỳ loài động vật nào trong rừng khiến họ sợ hãi. Chỉ có những con đỉa hút máu là nỗi phiền toái hàng ngày của họ. Trong 5 ngày ở rừng cùng Lang, tôi đã bị 2 con đỉa cắn. Muỗi cũng là vấn đề gây khó chịu mỗi ngày nhưng cha con Lang không coi đó là vấn đề gì to tát và họ thậm chí không hề né tránh chúng.
Rắn
Trong những năm dài sống trong rừng, Lang đã có đôi lần bị rắn cắn nhưng may thay chúng không phải là rắn độc. Tuy Việt Nam là nơi có nhiều rắn hổ mang nhưng họ lại chưa gặp phải bất kỳ con rắn hổ nào. Bản thân tôi trong 5 ngày ở rừng cũng không nhìn thấy bất kỳ con rắn hổ mang nào.
11. Thời gian biểu
Không có khái niệm về thời gian
Vì những lý do hiển nhiên mà thời gian biểu của họ được đồng bộ với thời gian trong ngày, được chia làm 4 khoảng thời gian: mặt trời mọc, buổi trưa, mặt trời lặn, đêm.
Có thể người cha biết được thời điểm qua năm mới vì tháng tư hàng năm cả rừng đều tràn ngập bướm nhưng do ông bị điếc và tinh thần không ổn định nên tôi không thể xác nhận được điều này. Mặt khác Lang hoàn toàn không có bất cứ khái niệm gì về năm hay tuần.
12. Ngôn ngữ
Hai cha con nói chuyện bằng ngôn ngữ địa phương
Việc trao đổi giữa hai cha con Lang luôn bị giới hạn vì anh chỉ sử dụng một số từ địa phương thuộc về một dân tộc thiểu số trong vùng được gọi là Cor. Hiện nay anh đang nỗ lực tăng thêm vốn từ vựng của mình và có thể trao đổi được nhiều hơn; mặc dù cho đến giờ anh vẫn chưa hiểu hết được tiếng Việt.
13. Suy luận
Lang chỉ có thể đếm từ 0 đến 10
Toán học đối với Lang chỉ giới hạn trong các con số từ 0 đến 10. Lang có thể làm tính cộng nhưng chỉ khi kết quả của phép tính không vượt quá 10 và luôn dùng ngón tay để tính.
Tuy điều này có thể khiến đa phần mọi người trên thế giới cảm thấy ngạc nhiên nhưng Lang chưa bao giờ thấy cần phải biết nhiều hơn số 10 bởi số lượng không giúp ích gì cho việc sinh tồn của anh. Tôi hỏi Lang rằng làm cách nào anh có thể giải thích với cha mình rằng anh đã bắt được 15 con dơi và câu trả lời của anh là “rất nhiều” hoặc “hơn 10 con”. Cách thức này cũng được áp dụng cho việc viết số: Lang không biết cách thể hiện các biểu tượng số học. Cần phải nhớ rằng thực phẩm và nước uống chưa bao giờ là vấn đề với họ nên việc nắm rõ số lượng không phải là điều quan trọng.
Cha con anh Lang cũng không bao giờ phải dùng đến xe. Thậm chí Lang còn cho rằng mặt trăng là do con người ở xã hội văn minh dùng dây treo lên mỗi ngày.
Lang nói rằng anh tin vào ông Trời và rằng Ngài có thể xuất hiện trong mọi yếu tố thiên nhiên – mặc dù, rất kỳ lạ là anh lại cho rằng mặt trăng là sản phẩm của con người. Họ tin vào ma quỷ và niềm tin này là nguyên nhân chính khiến họ không bao giờ đi lên khu vực đỉnh núi khi bị đe dọa bởi sự xuất hiện của con người hiện đại. Cha của Lang luôn tin rằng các vị thần linh sống trên đỉnh núi cao.
Chủ đề duy nhất mà Lang từ chối đề cập tới là về cái chết và anh liên tục né tránh các câu hỏi của tôi. Tôi chắc rằng cha anh đã từng nói với anh về điều này và tôi cho rằng không ai lại tin rằng cuộc sống là bất tận, điều này có thể thấy rõ khi quan sát cuộc sống của các loài động vật.
14. Giới tính
Một người vô tính
Cho đến năm 42 tuổi, Lang chưa bao giờ biết đến sự tồn tại của giới tính nữ vì cha anh chưa bao giờ nói cho anh về điều này. Ngạc nhiên hơn là cho tới tận bây giờ, khi đã có thể phân biệt được nam và nữ thì anh vẫn không biết sự khác biệt cơ bản giữa hai giới này.
Khi tôi nhận ra điều này tôi đã tự hỏi bản thân rằng liệu anh có tự mình nhận thấy điều đó trong tự nhiên, chẳng hạn như khi quan sát các loài động vật giao phối với nhau. Tuy nhiên điều đó là không thể vì cùng với nhiều nguyên nhân khác thì nếu một người không để tâm đến việc cũng trở thành một con vật thì sẽ không thể áp dụng các quy tắc cần thiết. Lang nói với tôi rằng trái ngược với những gì xảy ra trong cuộc sống văn minh, các động vật trong rừng luôn tránh xa anh ấy.
Có khả năng anh ấy có lẽ từng nhìn thấy một người phụ nữ từ xa và vội bỏ trốn nhưng vì một vài lý do mà bản thân anh đã không nhận ra điều này. Hơn nữa, ngay ngày đầu tiên trở về làng anh đã gặp một vài phụ nữ, những người đối xử với anh rất tốt nhưng anh lại không thấy có bất kỳ sự khác biệt nào, từ khuôn mặt, giọng nói hay cơ thể. Tôi chắc rằng do anh ấy đã quá mải mê nhìn ngắm thế giới mới ngay trước mắt nên những chi tiết nhỏ hơn đã bị bỏ qua...
Đến tuần thứ 4 kể từ khi trở về với cuộc sống văn minh, một chuyện đã xảy ra với Lang: anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy một bé gái 3 tuổi không mặc quần áo đang thơ thẩn gần nhà cô bé. Anh vội chạy về nhà để hỏi em trai xem điều gì đã xảy ra với bộ phận sinh dục của cô bé. Anh Tri chỉ giải thích rằng bộ phận đó của con trai và con gái khác nhau và không giải thích gì thêm.
Em trai Lang nghĩ rằng có lẽ có một số vấn đề trong cuộc sống không nên anh mình biết vì rất khó để Lang có thể tìm được một cô gái nào trong làng nguyện ý xây dựng gia đình với anh. Theo nhiều mặt thì tâm trí của Lang chỉ như của đứa trẻ 1 tuổi, và điều này đã được các chuyên gia thần kinh xác nhận.
Vì tâm trí của anh không bị tác động bởi bất cứ định kiến nào nên Lang luôn nói về những vấn đề này mà không hề cảm thấy xấu hổ. Và sau những ngày nói chuyện với anh tôi có thể khẳng định rằng Lang chưa bao giờ có ham muốn tình dục tối thiểu và bản năng sinh sản của anh chưa bao giờ trỗi dậy trong bất cứ tình huống nào.
Điều gây ngạc nhiên nhất đó là kể từ khi Lang rời rừng, có cái gì đó trên người anh bắt đầu thay đổi: một hôm anh thú nhận rằng từ khi về với cuộc sống văn minh bộ phận sinh dục của anh thường có những thay đổi kỳ lạ vào ban đêm và anh không rõ lý do tại sao. Điều này gợi cho chúng ta nghĩ đến một số phỏng đoán thú vị về bản năng của con người.
Tôi không rõ liệu em trai anh có thể giấu những vấn đề thực tế của cuộc sống được bao lâu khi mà hiện giờ Lang đang sống giữa mọi người và điều tệ hại nhất chính là được tiếp xúc với ti vi. Nhưng tôi tin rằng với cách làm đó Lang có thể được sống hạnh phúc vì tôi sợ rằng "kiến thức" sẽ không làm anh tự do hơn mà chỉ làm dấy lên một cơn bão dài đối với anh ấy.
15. Bản chất con người của Lang
Đứa trẻ bên trong cơ thể một người đàn ông
Hoàn cảnh sống đặc biệt mà Lang phải đối mặt trong suốt cuộc đời mình đã tạo cho anh tính cách hoàn toàn khác biệt với con người.
Tính kỷ luật
Cha anh - người duy nhất mang lại cho anh những thông tin về thế giới bên ngoài - khiến anh luôn ở trong tình trạng bán nô lệ bởi những nỗi sợ hãi và hội chứng Stockholm sâu sắc. Việc này khiến anh luôn là một cậu con trai ngoan ngoãn và cho tới lúc này anh vẫn không thể hoàn toàn tận dụng lợi thế tự do của mình.
Quy tắc xã hội
Lang hoàn toàn không nắm được các quy tắc xã hội của chúng ta và anh cảm thấy khó phân biệt giữa cái tốt và xấu. Tuy anh là người vô hại và ôn hoà, luôn nghe lời người thân trong nhà, nhưng anh lại thường làm mọi việc theo cách tự nhiên nên đôi khi gây ra những tình huống kỳ quái, chẳng hạn như sự kiện xảy ra trong làng 1 năm trước: Hôm đó, trong khi Lang và cả nhà đang xem ti vi, thì có một nhóm trẻ chơi đùa và la hét ngoài đường. Do bọn trẻ làm ồn nên em trai anh nói đùa, bảo Lang ra ngoài cho mỗi đứa một roi. Chỉ it phút sau cả làng bỗng náo loạn khi bọn trẻ vừa khóc vừa chạy về nhà mách cha mẹ chúng. Nguyên nhân là vì Lang đã thực sự chạy ra ngoài và dùng gậy tre đánh bọn trẻ trong khi vẫn luôn nở nụ cười trên môi.
Lang là một cậu bé sống trong cơ thể của một người đàn ông. Anh Tri, em trai của Lang, cho rằng nếu anh có bảo anh trai mình đi giết người thì chắc chắn anh sẽ lập tức làm ngay mà không cần hỏi han.
Cử chỉ
Thực tế là ngoài cha mình, Lang chưa bao giờ gặp được một người nào khác để học hỏi nên điều này đã hình thành ở Lang rất nhiều biểu hiện đặc biệt khiến tôi không thể ngừng chú ý ngay từ khoảnh khắc đầu tiên.
Theo những gì tôi quan sát, khi Lang suy nghĩ, anh ấy thường có vẻ rất nghiêm túc, và tập trung khiến anh ấy trông rất lôi cuốn.
Mặt khác, khi anh ấy ngừng im lặng, vẻ bề ngoài cũng thay đổi hoàn toàn và nụ cười tỏa sáng trên khuôn mặt của anh khiến anh trông như một đứa trẻ. Anh không bao giờ quên kèm theo nụ cười rất đặc trưng này của mình mỗi khi nói bất kỳ điều gì.
Chính sự "non nớt" này cũng tác động tới những cử chỉ của anh và có thể nói rằng nó gần như là nhu nhược. Điều này không có nghĩa rằng anh là người đồng tính vì tôi đã trình bày bên trên về việc anh là người vô tính.
Đi lại
Lang luôn đi chậm rãi và khéo léo bởi hai cha con anh không phải chịu bất kỳ mối đe dọa nào trong rừng. Thực tế họ không bao giờ bị thiếu nước uống hay thức ăn, và thậm chí họ có thể dùng bẫy để bắt những con vật chạy nhanh một cách dễ dàng, nên kết quả là họ hoàn toàn không cần phải chạy hoặc cảnh giác, trừ thời điểm trong thấy con người.
Khiếu hài hước
Anh ấy có khiếu hài hước như của một em bé 1 tuổi, bắt chước nét mặt, hoặc thích trò trốn tìm, và điều này khiến Lang là một người rất dễ thương.
Những chuyện nhạy cảm
Khi chúng tôi trao đổi về nhiều vấn đề khác nhau tôi nhận thấy Lang rất thoải mái nói về những chuyện nhạy cảm, ngoại trừ nói về cái chết. Vì anh chưa chịu sự tác động của con người nên anh rất thoải mái nói về sex hoặc những vấn đề thân mật khác. Và tôi cũng không thấy anh tỏ ra bất tiện với tình trạng khỏa thân của mình.
16. Bị "bắt"
Anh không hề phản kháng
Cha anh không có bất kỳ sự phản ứng nào do tình trạng sức khỏe yếu đi, nên sáng ngày 7/8/2013 hai cha con đã bị "bắt" tại nhà của họ. Hôm đó có 20 người tới bao vây ngôi nhà trên cây mà họ đang sống.
Ông Tôn, một trong những người đã trèo lên nhà anh Lang, cho biết anh đã không hề kháng cự. Nguyên nhân chính có lẽ vì anh không có gì để mất, đồng thời lúc đó cha anh đang ốm nặng.
Sự thật là Lang bắt đầu lo ngại về những triệu chứng rối loạn hoang tưởng của cha mình khi anh ý thức được trạng thái tinh thần của ông ngày càng tệ hơn và căn bệnh càng nặng hơn do cha anh đã lớn tuổi. Vì vậy anh chú tâm đến những gì mà anh Tri, người em trai mỗi năm tới thăm một lần và luôn thuyết phục cha con anh quay về làng, nói với anh.
17. Cảm giác đầu tiên về cuộc sống văn minh
Như bước vào một hành tinh khác
Điều mà Lang cảm nhận được trong buổi chiều hôm đó khi về làng đó là hoàn toàn choáng váng và nó cũng giống với cảm giác của bất kỳ ai trong chúng ta khi đến một hành tinh mới.
Một trong những người đi cùng anh buổi chiều hôm đó nói với chúng tôi rằng trong khi đi vào làng Lang liên tục nhìn hết bên này đến bên kia. Người này cho biết Lang vừa đi vừa lặng lẽ nhìn ngắm các ngôi nhà, những con đường, xe cộ, trẻ nhỏ - những điều anh mới nhìn thấy lần đầu tiên. Nhưng điều khiến anh ngạc nhiên nhất khi về làng là chuyện động vật được coi như bạn của con người.
Lang cũng thấy hoang mang khi mọi người đều ra đứng trước cửa nhà để nhìn anh. Anh được đưa lên ô tô để tới bệnh viện và Lang nói rằng một trong những trải nghiệm lớn nhất của anh ngày đó là được ngồi trong một thứ đồ kim loại kỳ lạ mà cha anh từng kể cho anh nghe hồi bé. Ngồi trong xe anh không ngừng nhìn qua cửa sổ xem mọi vật vụt qua nhanh chóng khi xe di chuyển. Anh chưa bao giờ có cảm giác về tốc độ trước đây.
Khi soi gương anh có thể biết được trông mình như thế nào. Sau đó đến đêm anh lại vô cùng ngạc nhiên khi thấy ánh sáng phát ra từ những chiếc bóng đèn. Lang nói rằng được nhìn thấy ánh sáng vào ban đêm là điều kỳ lạ nhất với anh.
Và đó cũng là lần đầu tiên anh được nhìn thấy tivi, một trong những điều cha từng kể anh nghe hồi nhỏ. Vì vậy anh biết rằng những người xuất hiện trên tivi không hề "ở bên trong" chiếc hộp. Đêm đó cũng là lần đầu tiên trong đời anh nhìn thấy phụ nữ, nhưng mãi sau này anh mới biết được sự khác biệt giữa nam và nữ như tôi đã giải thích ở trên.
18. Cuộc sống của anh trong xã hội văn minh
Từng bước hoà nhập
Đã 3 năm trôi qua kể từ ngày anh Lang trở về với thế giới hiện đại. Năm đầu tiên cũng là quãng thời gian khó khăn nhất đối với anh do vấn đề sức khoẻ vì bị nhiễm các loại vi rút và vi khuẩn mới. Tuy nhiên chúng tôi có thể khẳng định rằng Lang rất hạnh phúc với cuộc sống mới, chủ yếu là sự tự do mà đến giờ anh mới được tận hưởng. Tuy nhiên cha anh lại không như vậy: ông vẫn không thừa nhận anh Tri là con trai mình, do nghĩ rằng Tri đã chết trong trận bom năm xưa.
Ông cũng tin rằng chiến tranh chưa kết thúc và đa phần thời gian luôn ngồi im trong góc nhà. Khi người cha lần đầu gặp tôi, hiển nhiên là ông cảm thấy rất căng thẳng và sợ hãi: có lẽ ông nghĩ rằng tôi là một lính Mỹ. Tuy ông tỏ ra rất dễ chịu mỗi khi tôi lại gần nhưng luôn để lộ nụ cười lo ngại. Tri cho biết nỗi ám ảnh lớn nhất của cha anh là một ngày nào đó được trở về rừng.
Lang hiện đang sống cùng gia đình mình trong một căn nhà mới được xây dựng bằng tiền hỗ trợ của chính phủ Việt Nam vì cha anh được xét là thương binh. (trước khi hai cha con anh về làng thì anh Tri vẫn sống trong một căn nhà tranh tồi tàn).
Hàng ngày anh Lang đều ra đồng làm việc với Tri và em trai anh nói rằng những khả năng mà anh học được trong thời gian sống ở rừng rất có ích với công việc nhà nông. Trong khi đó người cha luôn ngồi trong nhà vì ông bị điếc và tinh thần cũng không được tỉnh táo.
Dần dần, Lang đã học được các quy tắc xã hội. Hiện anh đã có thể phân biệt giữa điều tốt và xấu, đồng thời cũng biết đến những hình phạt có thể có, trong đó có việc ngồi tù.
Anh cũng hiểu được tầm quan trọng của tiền bạc và thậm chí đã bắt đầu sử dụng tiền mặc dù anh chỉ có thể nhận diện những tờ tiền thông qua màu sắc của chúng vì anh không thể tính quá số 10.
Lang chưa học được cách đi xe 2 bánh và tôi cũng nghi ngờ anh sẽ làm được việc này trong tương lai. Anh rất sợ ngồi sau xe máy. Khi phải làm vậy anh thường giữ cơ thể cứng đơ trong suốt hành trình và ngay khi tài xế phanh lại, anh sẽ lập tức nhảy xuống và tự đi bộ nốt phần đường còn lại.
Điều này cũng hợp lý vì Lang không hiểu được lý do khiến chiếc xe có thể đứng vững.
Mặt khác Lang lại hoàn toàn tận hưởng cảm giác ngồi trong xe 4 bánh dù anh cũng không biết tại sao chiếc xe có thể di chuyển. Khi tôi hỏi anh về điều này thì anh nói rằng chiếc xe tăng tốc khi lái xe quay tay lái về bên phải và chậm lại khi tay lái được bẻ sang trái.
Một điều khác ở Lang cũng khiến tôi ngạc nhiên là cách anh chơi đùa với trẻ nhỏ. Một hôm tôi nói anh bế một em bé lên để thử xem phản ứng của anh nhưng ngay khi bị anh bế lên thì đứa bé bỗng oà khóc. Để dỗ dành bé, Lang đã thổi nhẹ vào mặt bé. Thậm chí đến giờ tôi vẫn tự hỏi liệu đây có phải là cách bắt chước nụ hôn của mẹ, hay một cử chỉ mà anh từng nhìn thấy từ những động vật trong rừng.
Lang hiện vẫn không biết nói hay nghe hiểu tiếng Việt và điều này gây trở ngại cho anh trong việc theo dõi các nội dung trên tivi. Nhưng bất chấp việc này, Lang vẫn dành nhiều giờ mỗi ngày để xem tivi.
Về việc ăn uống, khám phá lớn nhất của anh là biết được cá đến từ đại dương và anh nói rằng đó là món ăn yêu thích của mình.
Lang chưa bao giờ được nhìn thấy biển nhưng cũng không tò mò muốn thấy nó. Anh thậm chí không hiểu được khái niệm về quốc gia và cũng không biết rằng trái đất hình tròn.
Như đã nói ở trên, Lang hiện có vẻ rất hạnh phúc với cuộc sống mới của mình và tận hưởng tình yêu thương mà anh Tri và hàng xóm láng giềng dành cho anh."

CafeBiz