Thứ Ba, ngày 24 tháng 5 năm 2016

Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Mỹ Obama tại Trung Tâm hội nghị Quốc gia, sáng 24 tháng 5 năm 2016 A




Xin chào, xin chào Việt Nam (tiếng Việt),


Xin cảm ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã dành cho chúng tôi sự chào đón nồng nhiệt trong chuyến thăm này. Xin cảm ơn các bạn có mặt ở đây ngày hôm nay.
Những người Việt Nam đến từ khắp đất nước, trong đó những người trẻ đại diện cho sự năng động, tài năng của người dân Việt Nam. Trong chuyến thăm này, sự thân thiện của những người Việt Nam đã chạm tới trái tim của chúng tôi. Nhiều người đã vẫy tay chào tôi bên đường, làm tôi cảm thấy được tình cảm dân tộc.

Hôm qua tôi đến thăm phố cổ Hà Nội và được ăn bún chả rất ngon, uống bia Hà Nội. Đường phố thật đông đúc, tôi chưa bao giờ thấy nhiều xe máy như vậy. Tôi chưa thử đi qua đường, nhưng sau này có dịp trở lại Việt Nam, các bạn sẽ chỉ cho tôi cách qua đường như thế nào.

Tôi không phải Tổng thống Mỹ đầu tiên đến Việt Nam trong những năm gần đây, nhưng tôi cũng là người như các bạn, đã trưởng thành sau cuộc chiến tranh Việt Nam.

Khi lực lượng quân sự Mỹ rời Việt Nam lúc đó tôi 13 tuổi, do vậy lần đầu tiên được tiếp xúc với người Việt Nam, khi mà tôi lớn lên ở Hawaii, tôi đã gặp một số người Mỹ gốc Việt ở đó, nhiều người còn trẻ hơn tôi. Nhiều người trẻ Việt Nam cũng như hai con gái của tôi khi sinh ra chỉ biết đến tình hòa bình và hữu nghị Việt Nam - Hoa Kỳ, do vậy khi đến đây tôi ý thức về quá khứ nhưng chúng ta nên hướng về tương lai, sự thịnh vượng, an ninh và sự ổn định để chúng ta có thể thúc đẩy lẫn nhau.

Tôi cũng trân trọng quá khứ lịch sử rất huy hoàng của Việt Nam. Hàng nghìn năm, Việt Nam đã trồng cấy ở những mảnh đất này. Chúng ta đã có lịch sử trống đồng Đông Sơn. Hà Nội đã đứng vững trên dòng sông Hồng hơn một nghìn năm. Thế giới đều biết đến lụa và những bức tranh của Việt Nam và Văn Miếu là bằng chứng kiến thức của Việt Nam. Sau nhiều thế kỷ, vận mệnh của Việt Nam đã bị nhiều nước can thiệp, nhưng cây tre cũng như tinh thần bất khuất của người Việt Nam như Lý Thường Kiệt đã ghi lại: Sông núi nước Nam vua Nam ở/Rành rành đã định tại sách trời.

Hôm nay chúng ta cũng nhớ tới lịch sử giữa người Việt và người Mỹ mà chúng ta có thể bỏ quên 200 năm trước, khi một trong những người Mỹ đi tìm kiếm giống lúa gạo và ông đã đến Việt Nam, tìm thấy giống gạo trắng, ngon, năng suất rất cao. Tiếp đó, những con thuyền đã đến Việt Nam buôn bán. Trong chuyến đi thứ hai, người Mỹ đã tới hỗ trợ cuộc kháng chiến của Việt Nam.

Khi những phi công Mỹ đến đây, người Việt Nam đã giúp đỡ họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích tuyên ngôn độc lập của Mỹ.

Vào một thời điểm khác, việc đánh đuổi thực dân đã đưa chúng ta xích lại gần nhau. Chiến tranh lạnh và nỗi lo sợ với chủ nghĩa cộng sản đã đưa chúng ta tới một cuộc chiến. Chúng ta đã nhận thức được sự thật đau đớn rằng chiến tranh dù cho thế nào đi nữa đều mang lại sự đau đớn và bi kịch cho người dân của chúng ta.

Trong các nghĩa trang liệt sĩ, trên bàn thờ của các gia đình Việt Nam chứa đựng đầy những nỗi đau. Trong nghĩa trang của đất nước chúng tôi, người ta có thể chạm vào hơn 58.000 liệt sĩ vĩnh viễn không trở về. “Khi chúng ta bất đồng một điều gì đó, chúng ta vẫn phải nhớ đến những người đã ngã xuống vì đất nước, cả người Việt và người Mỹ”. Chúng ta đã hàn gắn với nhau: tìm kiếm người mất tích, đưa họ về nước, gỡ bỏ những bãi mìn còn chưa nổ. Trẻ con không thể nào bị mất chân bởi những bãi mìn này.

Trẻ em khuyết tật và chất độc màu da cam sẽ được chúng tôi hỗ trợ nhiều hơn. Chúng tôi tự hào vì những công việc chúng ta đã phối hợp với nhau tại Đà Nẵng và chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ ở sân bay Biên Hòa. Quá trình hòa giải của hai nước chúng ta không chỉ là liên quan đến các cựu chiến binh. Thượng nghị sĩ John Mc là cựu binh trong chiến tranh đã đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nói rằng “Hai nước chúng ta không nên là kẻ thù trong chiến tranh, nên làm bạn”.

Nhiều người Mỹ, Việt đã nỗ lực hàn gắn những vết thương và cũng đã đem lại những lợi ích cho hai nước, như trung úy Hải quân giờ là ngoại trưởng John Kerry. Xin cảm ơn ngoại trưởng. Chính bởi những người cựu chiến binh đã cho chúng ta thấy con đường đi và người dân đã cảm thấy rất phấn khích để tiếp tục mưu cầu hòa bình. Chúng ta trở nên gần gũi nhau hơn, thương mại tự do ngày càng tăng lên, các sinh viên, học giả nghiên cứu với nhau.
Chúng tôi đã đón nhiều sinh viên Việt Nam hơn bất kỳ nước nào khác ở Châu Á. Rất nhiều khách du lịch đã đến thăm Việt Nam, 36 phố phường cổ Hà Nội, các cửa hàng ở Hội An, cố đô Huế. Như người Việt và người Mỹ đều có thể thuộc những bài hát của Văn Cao “Từ nay người biết quê người. Từ nay người biết thương người”. Với vai trò là tổng thống, tôi muốn tiếp tục những sự tiến bộ này của quan hệ hai nước và với quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta ngày càng gần gũi hơn, chúng ta đang ngày càng hợp tác.

Mục tiêu của tôi trong chuyến thăm này là chúng ta xây dựng nền tảng ngày càng vững chắc hơn cho quan hệ hai nước trong nhiều thập kỷ tới. Chúng ta đã mất rất nhiều năm để nỗ lực hàn gắn quan hệ. Chúng tôi muốn nói một điều mà chúng tôi không thể tưởng tượng được trước đây: ngày hôm nay, hai nước đã trở thành bạn bè, đối tác của nhau. Tôi tin tưởng rằng những bài học trong chiến tranh sẽ là những bài học cho cả thế giới. Có những cuộc xung đột tưởng như không thể kết thúc, không giải quyết được thì giờ đây quan hệ của chúng ta đã cho thấy có thể tạo ra sự thay đổi để có tương lai tốt đẹp hơn. Hòa bình bao giờ cũng tốt đẹp hơn chiến tranh. Với sự tiến bộ, những giá trị tốt đẹp của con người cần được thúc đẩy chứ không phải là chiến tranh hay xung đột. Đây là điều mà hai nước đã chỉ ra cho thế giới thấy. Việt Nam là một nước có chủ quyền độc lập và không có quốc gia nào khác có thể áp đặt lên ý chí của người dân Việt Nam. Độc lập, chủ quyền ấy do người dân Việt Nam quyết định. Mỹ rất quan tâm đến sự thành công của đất nước Việt Nam.

Chúng tôi muốn ưu tiên cho mối quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam. Tôi không còn nhiều thời gian nữa trong nhiệm kỳ của mình nhưng tôi mong muốn mình có thể đóng góp nhiều hơn cho quan hệ hai nước. Chúng ta cần hợp tác nhiều hơn để tạo ra và đem lại những cơ hội thịnh vượng thực sự cho người dân hai nước. Tôi hiểu những giá trị mới của nền kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21. Nền kinh tế sẽ phát triển, đặc biệt ở các nước có pháp quyền và có hành lang pháp lý đúng đắn. Nền kinh tế tri thức sẽ đổ vào các quốc gia ưu tiên cho giáo dục. Do vậy, bên cạnh phát triển kinh tế cần đầu tư vào nguồn lực con người. Đó là những kỹ năng đào tạo và đầu tư vào những con người có tài năng, thay vì khai thác tài nguyên thiên nhiên. Đây là những thế mạnh mà Mỹ có thể hợp tác với Việt Nam. Ngày hôm qua như tôi đã thông báo, đội hòa bình sẽ đến Việt Nam. Thế hệ trước của người Mỹ đến đây để chiến đấu, nhưng thế hệ sau của người Mỹ đã đến đây đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam và làm sâu sắc hơn tình hữu nghị hai nước. Các công ty hàng đầu, đại học danh tiếng Mỹ đã đến Việt Nam để hợp tác, đào tạo về khoa học công nghệ, toán học, y tế…vì khi chúng tôi muốn chào đón nhiều công dân, thanh niên Việt Nam sang Mỹ thì chúng tôi cũng muốn thế hệ trẻ Việt Nam được hưởng những giá trị giáo dục tốt hơn.

Do vậy, tôi rất vui mừng thông báo với các bạn, mùa thu năm nay đại học Fullbright sẽ đi vào hoạt động. Đại học này phi lợi nhuận, chất lượng cao sẽ cung cấp nhiều học bổng cho sinh viên Việt Nam và đóng góp cho hợp tác giáo dục giữa hai nước. Các sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu hai nước sẽ tập trung vào các lĩnh vực như chính sách công, quản trị doanh nghiệp, hợp tác trong các lĩnh vực máy tính, từ thơ của Nguyễn Du, triết học của Phan Chu Trinh tới lĩnh vực toán của GS Ngô Bảo Châu…

Chúng tôi mong muốn sẽ kết nối những doanh nghiệp trẻ Việt – Mỹ. Nếu có thể tiếp cận với công nghệ, kỹ năng mà người Việt cần thì sẽ không có gì là trở ngại với các bạn. Chúng tôi mong muốn khuyến khích cả phụ nữ Việt Nam, những người có tài năng để đảm bảo về bình đẳng giới ở Việt Nam. Từ thời đại Hai Bà Trưng đến nay, người phụ nữ Việt Nam luôn mạnh mẽ, tự cường và giúp cho đất nước Viêt Nam tiến lên phía trước. Khi chúng ta có một gia đình tốt, sự đóng góp của người phụ nữ, phụ nữ được đi học và có vị trí xứng đáng ở trường học, chính phủ, trong giới lãnh đạo thì chúng ta sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn. Điều này luôn đúng kể cả ở Mỹ cũng như Việt Nam.

Với tư cách là Tổng thống Mỹ, tôi ủng hộ mạnh mẽ TPP, bởi vì bản thân tôi sẽ giúp cho Việt Nam xuất khẩu nhiều sản phẩm hàng hóa đến Mỹ. Điều này sẽ giúp cho Việt Nam không phải phụ thuộc thương mại với quốc gia nào duy nhất mà mở rộng thị trường của mình như với Hoa Kỳ.

TPP cũng sẽ giúp thúc đẩy hợp tác vùng, giúp các bạn giải quyết các vấn đề bình đẳng kinh tế, thúc đẩy nhân quyền, giúp cho người lao động có điều kiện lao động an toàn hơn. Có thể người lao động tổ chức nghiệp đoàn, thúc đẩy bảo vệ môi trường. Đây là tương lai, hy vọng mà TPP mang lại cho chúng ta. Tất cả các quốc gia thành viên phải cam kết thực hiện các mục tiêu mà TPP đặt ra.

Tất cả chúng ta phải nỗ lực đảm bảo an ninh chung, điều này chúng ta có thể hợp tác với nhau trong chương trình đào tạo an ninh chung. Trong chuyến thăm này của tôi hai bên đã nhất trí xây dựng niềm tin, tiếp tục công tác đào tạo, cung cấp thiết bị cho cảnh sát biển, năng lực bảo vệ hàng hải cũng như cứu trợ nhân đạo trong thiên tai. Hôm qua, tôi đã tuyên bố Mỹ sẽ dỡ bỏ lệnh hoàn toàn cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, đảm bảo Việt Nam có thể có vũ khí cần thiết để đảm bảo an ninh. Chúng tôi mong muốn thể hiện rõ Hoa Kỳ bình thường hóa toàn bộ quan hệ với Việt Nam.

Thế kỷ 20 đã dạy cho tất cả chúng ta, không chỉ Việt Nam một trật tự quốc tế và an ninh chung phụ thuộc lẫn nhau. Chúng ta xây dựng thông lệ chung tất cả quốc gia đều là quốc gia có chủ quyền, dù lớn hay nhỏ phải được tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ. Các nước lớn không được hại nước nhỏ hơn.

Kể cả Mỹ thông qua các biện pháp hòa bình và liên kết vùng như ASEAN cần được tiếp tục củng cố như niềm tin của tôi, niềm tin của Hoa Kỳ. Đây là điều chúng tôi tuyên bố khi đến thăm Lào đầu năm nay.

Chúng tôi sát cánh cùng đối tác tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do thương mại. Khi chúng ta sát cánh bên nhau, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hợp tác chiều sâu từ hàng không đến các vùng biển mà quốc tế cho phép.

Quan hệ của chúng ta là giải quyết sự khác biệt giữa hai chính quyền về nhân quyền. Tôi nói điều này, không biết quốc gia nào hoàn hảo. Sau 2 thế kỷ lập quốc, chúng tôi vẫn đang phải cố gắng đạt được những ý tưởng chúng tôi đã đề ra khi chúng tôi lập quốc như kinh tế ngày càng gia tăng, định tiến tư pháp, hình sự. Tất nhiên chúng tôi vẫn nhận được sự phê bình. Ngày nào chúng tôi cũng nhận được phê bình, tôi và Chính phủ, nhưng những lời chỉ trích, tranh luận cởi mở giúp chúng ta nhìn nhận sự chưa hoàn hảo. Việc mọi người có quyền đưa ra lời phê phán thì chính là điều giúp xã hội tiến bộ hơn. Hoa Kỳ không muốn áp đặt cho Việt Nam, chúng tôi tin rằng giá trị Hoa Kỳ mà chúng tôi nói là giá trị tổng quát được nêu trong Hiến pháp Việt Nam như người dân có quyền tự do ngôn luận, lập hội. Đây là những điều đã được nêu trong hiến pháp Việt Nam.

Tôi xin chia sẻ một số điểm theo quan điểm của mình, chúng ta tiếp cận internet vì thúc đẩy sáng tạo mà nền kinh tế cần có để phát triển, như facebook. Các công ty lớn đã có ý tưởng đưa ra và chia sẻ.

Người Việt Nam quyết định tương lai của người Việt. Tôi xin chia sẻ một số điểm của bản thân. Trong đất nước tự do, người dân sẽ lựa chọn lãnh đạo tốt nhất cho họ, mọi người có quyền bày tỏ sự nhân ái và chúng ta cần tăng cường hơn nữa tiếp cận hỗ trợ cho người nghèo để đời sống của họ được cải thiện. Các quyền bình đẳng người dân Việt Nam sẽ mang đến nền tẳng cho sự thịnh vượng và lợi ích cho tất cả người dân Việt Nam. Suốt 8 năm qua tôi suy nghĩ nhiều về việc cải tiến hệ thống chính quyền Mỹ.

Về thách thức toàn cầu, Việt Nam cần bảo vệ các nơi như Vịnh Hạ Long, Sơn Đòng vì tương lai con cháu chúng ta. Nước biển tăng sẽ làm ảnh hưởng đến các vùng ven biển và Việt Nam cần thực hiện cam kết chống lại ảnh hưởng của biến đổi khí hậu., chống lại ảnh hưởng vùng ngập mặn như đồng bằng sông Cửu Long - nơi cung cấp thực phẩm lớn cho thế giới. Chúng ta cũng phải giúp đỡ cho các nước để xây dựng năng lực về nhiều vấn đề như cải thiện y tế. Mỹ vui mừng khi đã giúp đỡ Việt Nam tham gia hơn nữa về gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Đặc biệt hai nước trước đây tham gia trận chiến, nhưng giờ cùng hợp tác bảo vệ hòa bình. Việt Nam và Mỹ vần nỗ lực hơn nữa trong việc tăng cường đối thoại hai bên. Nhìn vào lịch sử, thách thức mà chúng ta vượt qua, tôi lạc quan vào tương lai của quan hệ hai nước chúng ta. Niềm tin tôi là nhờ nền tảng dựa trên tình hữu nghị. Hay như Trịnh Công Sơn viết bài “nối vòng tay lớn” để mở tấm lòng của mình ra để thấy bản chất và trái tim của mình. Tương lai nằm trong tay các bạn. Mỹ luôn là đối tác và người bạn của các bạn. Sau này khi người Mỹ Việt Nam học cùng nhau, cùng phối hợp sáng tạo với nhau thì các bạn hãy nhớ khoảnh khắc tôi đứng ở đây trước các bạn như Nguyễn Du đã nói: Rằng trăm năm cũng từ đây. Của tin gọi một chút này làm ghi”.

“Cảm ơn các bạn. Thank you very much. Thank you Vietnam”

Facebooker Phan Minh Thu


Thứ Năm, ngày 19 tháng 5 năm 2016

Việt Nam qua góc nhìn của người Mỹ

Tác giả: David BrownDịch giả: Song Phan

18-5-2016


Trong nhiều năm qua, tôi đã bình luận về các sự kiện ở Việt Nam và xung quanh, nhằm cung cấp cho người Mỹ và người nước khác một cái nhìn đầy đủ hơn và có thể chính xác hơn về một quốc gia mà, nói một cách tương đối, tôi biết khá rõ. Hầu hết các bài viết của tôi đều có bản dịch đăng trên trang Ba Sàm.


Tôi đã chỉ trích chế độ Hà Nội về những thiếu sót khác nhau. Đôi khi, độc giả lại chỉ ra rằng nền kinh tế Mỹ và hệ thống dân chủ của Mỹ cũng chẳng hoạt động tốt lắm trong thời gian gần đây. Họ cho rằng những người sống trong nhà kính thì đừng nên ném đá (đừng phê phán kẻ khác khi mình cũng chẳng hơn gì). Cho tôi xin được thanh minh rằng, tôi phê phán đủ mọi phía. Tôi cũng thường có vấn đề với chế độ ở Washington.


Nhiều người Việt Nam nhìn sang Hoa Kỳ để tìm kiếm sự ủng hộ trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc của Việt Nam. Việt Nam có thể yêu cầu điều gì từ Mỹ? Và xác suất Mỹ sẽ đáp ứng là bao nhiêu? Với chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama chỉ còn khoảng một tuần nữa, bây giờ có vẻ là thời điểm tốt để nhìn kỹ nước Mỹ trong bối cảnh cụ thể của mối quan hệ đang phát triển với Việt Nam.


Các ý kiến dưới đây là của riêng tôi. Tôi không phát biểu cho chủ cũ của tôi, chính phủ Mỹ, theo bất kỳ cách nào.


Biến động chính trị trong nước


Đất nước tôi cố gắng sống đúng theo những giá trị quốc gia đầy khát vọng và được nhiều người ngưỡng mộ. Trong lịch sử, Hoa Kỳ luôn là một quốc gia ‘đầy tham vọng’. Trong 240 năm, người Mỹ chúng tôi đã dám nghĩ về quốc gia chúng tôi như một mô hình mới cho một thế giới cũ. Từ khi các cường quốc phát xít bị đánh bại bảy mươi năm trước đây, chúng tôi cũng đã đi đến việc xem mình là người bảo đảm cho một trật tự quốc tế không dựa trên sức mạnh, mà dựa trên các quy tắc hành xử đã thoả thuận.


Tuy nhiên, trong năm bầu cử nay, đặc biệt chúng tôi bị làm rối trí bởi các tranh luận nội bộ. Những người biết suy nghĩ lo rằng, chính trị Mỹ đã bị hỏng một cách vô vọng, rằng trung tâm chính trị đã rỗng đi và việc thỏa hiệp mang tính xây dựng đã trở thành chuyện gần như không thể có. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo đã tăng lên trong ba thập niên qua. Bây giờ là sự phản ứng trở lại. Như một bước ngoặt về kinh tế-xã hội, chưa từng thấy có điều gì giống như thế, kể từ kỷ nguyên tiến bộ (Progressive Era) của chúng tôi 100 năm trước đây.


Tổng thống Obama là một nhân vật bi kịch, một người đáng kính và đầy lý tưởng, đã phải tiếp nhận cuộc khủng hoảng kinh tế và cuộc chiến tranh viển vông ở Trung Đông do tiền nhiệm George W. Bush để lại. Với thái độ phe phái một cách hẹp hòi, đảng Cộng Hòa (với đa số ghế trong cả hai cánh Quốc Hội) không đồng ý hợp tác với Obama để giải quyết những vấn đề chủ yếu.


Bây giờ, điều nghịch lý là chính Obama lại bị đổ lỗi vì những vấn đề này vẫn chưa dứt đuợc. Và, mặc dù lời lẽ phân biệt chủng tộc không còn chấp nhận được về mặt chính trị, sự tức giận nhắm vào Obama là, một phần, vì ông nâng đỡ người da màu và thách thức sự cố chấp.


Một số lớn đến kinh ngạc cử tri đang tức giận rằng nền kinh tế Mỹ không còn mang lại sự thịnh vượng cho người dân bình thường. Bốn mươi năm trước đây, hầu như bất cứ đàn ông da trắng nào có trình độ trung học là có thể có một cuộc sống tươm tất. Bây giờ điều dó không còn nữa. Cho đến năm 2007, một gia đình công nhân vẫn có thể có dư ít tiền khi có hai đầu lương. Sau đó, trong cuộc Đại suy thoái, một số lớn người dân bị mất việc làm và vì không thể trả nợ, cũng bị mất nhà. Việc làm thay thế sau khi nền kinh tế được phục hồi thường được trả lương ít hơn nhiều. Chín mươi phần trăm người lao động Hoa Kỳ có thu nhập không hơn thu nhập thực tế của họ năm 1980.


Năm nay, Đảng Cộng hòa đã tự huỷ hoại về vấn đề giàu nghèo. Trong nhiều thập niên, Đảng Cộng hòa vẫn có tính cạnh tranh trong cuộc bầu cử quốc gia qua việc thuyết phục cử tri đừng chú ý lập trường kinh tế giật lùi của đảng mà ủng hộ lập trường của đảng về các vấn đề xã hội (phản đối phá thai, phản đối kiểm soát quyền có vũ khí và mang súng v.v…) và một chính sách đối ngoại quân sự / mạo hiểm hơn. Về chính sách kinh tế, cánh đảng Cộng hòa trung dung thường tìm thấy nền tảng chung với cánh đảng Dân chủ trung dung. Tuy nhiên, trong tám năm dưới thời ông Obama, cánh giáo điều của đảng Cộng hòa đã đẩy đảng này tiến đều về phía cực đoan và làm cho việc thắng lợi của chiến dịch tranh cử của ứng viên tổng thống Donald Trump thành điều khả dĩ.


Mộ phần lớn đảng Dân chủ cũng đã trở nên phe phái hẹp hòi hơn. Mặc dù chính quyền Obama đã cố thông qua chương trình bảo hiểm y tế mang tính bước ngoặt và ổn định được nền kinh tế đang trên bờ vực khủng hoảng, nhiều thành viên cốt lõi của đảng thấy các lãnh đạo đảng đang thường xuyên quá nồng ấm với Wall Street, các nhà tài trợ lớn và các nhà môi giới ảnh hưởng ở Washington.


Bây giờ, với lập luận rằng người dân phải lấy lại quyền kiểm soát chính phủ, cả Donald Trump (tự cho mình là Cộng hòa) và Bernie Sanders (Dân chủ cấp tiến) đang huy động một đội quân của những người rất, rất tức giận.


Những cử tri đổ lỗi cho chính sách của chính phủ liên bang đã làm mất địa vị xã hội và thu nhập của họ, đã xếp hàng chạy theo Trump. Còn những ai than phiền hệ thống chỉ để phục vụ người giàu chứ không phải người nghèo thì lại hy vọng Sanders có thể chỉnh đốn mọi thứ đâu vào đó.


Trong cuộc bầu cử tháng 11 năm nay, ứng cử viên Dân chủ trung dung Hillary Clinton vẫn có khả năng chiến thắng. Rất có thể, đảng Dân chủ cũng sẽ giành lại được quyền kiểm soát ở Thượng viện. Một khi tuyên thệ nhậm chức, lẽ thường về chính trị, đòi hỏi Tổng thống H. Clinton phải đưa việc cải cách các hoạt động của Wall Street, cải cách hệ thống ngân hàng và cải cách luật tài trợ cho chiến dịch tranh cử lên ưu tiên hàng đầu.


Mỹ sẽ tồn tại. Chúng tôi đã qua được nhiều biến động chính trị-xã hội trước đây, và cuối cùng các tổ chức nhà nước của chúng tôi đã thích nghi với thực tế mới. Thực tế mới hiện nay là: nước Mỹ là một nước đa chủng tộc với một nền kinh tế công nghệ cao. Đó là một đất nước mà phụ nữ không còn bị giao cho các ‘công việc của đàn bà’ và ở đó không một ai do màu da, do không theo đạo Kitô hoặc do yêu người cùng giới mà bị hạn chế trong việc tham gia đầy đủ vào cuộc sống dân sự. Bất cứ ai đã từng cố gắng học được các kỹ năng có giá trị trao đổi và mang tới thị trường đạo đức nghề nghiệp tốt, đều có khả năng sẽ được yên ổn sống.


Điều đó luôn luôn là như vậy ở Mỹ vì nhiều lý do. Điều khác biệt bây giờ là có quá nhiều công dân đủ loại chưa được trang bị đủ để có thể vươn lên mạnh mẽ trong nền kinh tế thế kỷ 21 của chúng ta. Họ phải đánh vật để tránh rơi khỏi tầng lớp trung lưu. Giải quyết nhu cầu của họ cũng phải nằm trên cao trong chương trình làm việc của tổng thống kế tiếp.


Nhìn ra nước ngoài, tâm trạng khó khăn


Trong khi giới chính trị Mỹ đang bận tâm bởi sự rối rắm bên trong, ở ngoài Washington không còn nhiều năng lượng, thậm chí ít sự quan tâm dành cho với các vấn đề ở ngoài biên giới của chúng tôi.


Trong năm mươi mốt năm kể từ khi Thủy quân Lục chiến Mỹ lội vào bờ biển Đà Nẵng, niềm tin của những người Mỹ sống ở Mỹ là một quốc gia với một vai trò đặc biệt, như một lực lượng vì quyền lợi quốc tế, đã bị xói mòn nghiêm trọng.


Chiến tranh Việt Nam đã làm sự tự tin của người Mỹ bị suy sụp và thúc giục việc tố cáo lẫn nhau. Cuộc chiến ở Iraq ‘thắng lợi’ vào năm 1991 và những can thiệp ở vùng Balkans sau đó làm cho chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi lại là một lực lượng vì điều thiện lần nữa. Tuy nhiên, chúng tôi đã không nhớ được những bài học trong quá khứ và kết quả là sự sa lầy ở Afghanistan, Iraq và ở nhiều nước Trung Đông khác, sự bất ổn được Mỹ đốc thúc. Các ứng phó thiếu phối hợp của Mỹ được lặp đi lặp lại trong khu vực đó đã gieo thêm sự hỗn loạn và gây khó khăn cho bạn bè. Bây giờ, niềm tin ngây thơ ở Mỹ rằng chúng tôi có thể vun bồi các cải cách dân chủ ở đó, đã nhường bước cho sự tỉnh ngộ nhưng không sao thoát ra được.


Obama đã đúng khi chống lại việc can dự sâu hơn nữa. Trung Đông và dầu ở đó không còn là một mệnh lệnh chiến lược của Mỹ. Khu vực này có những vấn đề nội bộ riêng phải giải quyết. Chúng ta chẳng thể làm được gì nhiều để giúp. Về mặt đạo đức và chính trị, chúng tôi buộc phải ủng hộ sự tiếp tục của Nhà nước Israel chứ không phải những nỗ lực của Israel đe doạ và kiểm soát nước láng giềng.


Nền chính trị bị hỏng hóc, nền kinh tế đáng thất vọng của chúng tôi và sự tan vỡ các mối quan hệ giữa các nước Trung Đông đã chuyển hướng sự chú ý của Mỹ khỏi châu Á – Thái Bình Dương – khu vực của thế giới vốn thật sự có tầm quan trọng chiến lược sống còn đối với an ninh và hạnh phúc của chính chúng tôi. Mặc dù các nhà chiến lược Mỹ đã thực hiện nỗ lực sáng suốt để ‘chuyển trục’ và Obama đã chấp nhận điều đó, việc thực hiện đang gặp khó khăn. Phần lớn lực lượng không quân và hải quân của chúng tôi vẫn còn đóng ở vùng Trung Đông, không có sẵn để triển khai sức mạnh của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Nói vắn tắt, hiện nay có các giới hạn thực sự đối với việc Mỹ tạo ảnh hưởng với sức mạnh hậu thuẫn mà chúng tôi có thể hy vọng sẽ tác động lên các mối quan hệ ổn định và sự tăng trưởng chung ở đông và đông nam châu Á.


Tuy nhiên, năm này sang năm khác, hòa bình ở châu Á càng ngày càng có vấn đề hơn. Một làn sóng đòi trả thù đã lan tỏa khắp Trung Quốc. Người Mỹ không còn có thể vui thú với ý nghĩ dễ chịu rằng ‘Trung Quốc đang trỗi dậy’ để có thể chia sẻ những khát vọng của Mỹ trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề toàn cầu. Thay vào đó, nhiều nhà nghiên cứu về Trung Quốc, và các cơ quan đối ngoại của chúng tôi nói chung, bây giờ lại lo rằng, có rất ít điểm chung giữa các giá trị Mỹ và nguyện vọng trả thù ‘thế kỷ quốc sỉ’ của Trung Quốc.


Các giới hạn của quyền lực Mỹ


Việt Nam đang đối mặt với một thách thức lớn từ người láng giềng phương Bắc. Nếu ghi nhớ trong đầu về nền chính trị hiện bị hỏng hóc của Mỹ và việc can dự đầy hao tốn tại Trung Đông, thì Washington có thể sẽ đến giúp Việt Nam trong điều kiện nào? Về mặt này, trường hợp của Ukraine đáng để xem xét nghiêm túc.


Hai năm trước, Ukraine đã cố gắng tách mình ra khỏi quỹ đạo của Nga, ngây thơ tin rằng NATO, liên minh Mỹ – châu Âu, sẽ ôm lấy và bảo vệ như một đối tác mới. Moscow đã phản ứng bằng cách cắt lấy vài phần thuộc miền đông Ukraine nơi có người thuộc chủng tộc Nga chiếm đa số – đặc biệt là khu vực Crimea. Theo cái nhìn địa chiến lược, Moscow không thể làm khác và vẫn là một đấu thủ trong nền chính trị quốc tế của các khu vực biển Đen, biển Aegea và đông Địa Trung Hải. Và, mặc dù Washington tham gia với Đức và các đồng minh khác trong việc lên án Nga viện tới vũ lực và trong việc tuyên bố ủng hộ nền độc lập của Ukraine, dường như Washington đã không nghĩ tới việc can thiệp.


Không giống như Nga, Trung Quốc rõ ràng không phải là một cường quốc hiện trạng. Bắc Kinh nhắm tới việc khống chế một trật tự chiến lược mới tại Đông Á và Đông Nam Á. Họ khẳng định ‘quyền lịch sử’ về chủ quyền đối với ‘Nam Hải’ (biển Đông) và dọa chiếm lấy nhiều khu vực giàu dầu và khí đốt trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Ngay cả thế, trong trường hợp có một cuộc xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc, dễ có thể tưởng tượng rằng, có cố vấn chính trị cho một tổng thống Mỹ tương lai sẽ đưa ra cùng kiểu lập luận vốn chiếm ưu thế ở Washington khi Ukraine kêu gọi giúp đỡ.


Trong một cuộc khủng hoảng tương lai, sẽ luôn có một số người ở Washington lập luận rằng, biển Đông không thực sự quá quan trọng, rằng có những tuyến đường biển thay thế để tới Arabia qua Eo biển Lombok của Indonesia. Một số người sẽ cho rằng Mỹ và các đồng minh không nên làm cho mình trở thành kẻ thù của Trung Quốc khi việc hợp tác với họ là cần thiết trên rất nhiều vấn đề toàn cầu. Một số người sẽ lập luận rằng, nếu hải quân Mỹ và hải quân Trung Quốc dứt khoát phải đụng độ, thì đó không phải là nơi có nhiều khó khăn để điều động một hạm đội Mỹ vốn được thiết kế cho các trận chiến ở vùng biển cả, mà lại gần các căn cứ không quân và các vị trí bố trí tên lửa của Trung Quốc.


Phải thừa nhận rằng, đây là một kịch bản ảm đạm, đặc biệt là đối với Việt Nam. Tuy nhiên, kịch bản đó có khả năng xảy ra. Công chúng Mỹ đang trong tâm trạng than phiền. ‘Sự khôn khéo về chính sách ngoại giao’ thường lệ, phần lớn bị mất tin cậy. Như chúng ta đã thấy, quân đội Mỹ đã bị kéo dãn mỏng ra để đối phó với cuộc xung đột ở Trung Đông. Nền chính trị Mỹ đã trở nên hỏng hóc. Những điều tiêu cực này có xu hướng buộc người kế nhiệm của Obama phải đáp ứng một cách thận trọng với các hành vi xâm lấn nhỏ của Trung Quốc ở Biển Đông.


Đến bây giờ hai chính phủ Việt Nam và Philippines đã có thể kết luận rằng việc Trung Quốc mở rộng dần dần sức mạnh quân sự của họ trên biển Đông, đặt ra một mối đe dọa hiển hiện cho nền độc lập của họ. Hãy giả định rằng cả Hà Nội lẫn Manila đều nhận ra rằng vị trí chiến lược của họ tương đương với vị trí của Kiev về mặt quan trọng này. Vậy thì họ phải làm gì để bảo đảm rằng Hoa Kỳ cùng đồng minh Nhật Bản vẫn sẽ tham dự một cách tích cực và xây dựng vào việc cân bằng sức mạnh Trung Quốc?


Khi Trung Quốc trở nên tệ hại (đối với Philippines, đó là khi Bắc Kinh chiếm bãi cạn Scarborough, phía tây của đảo Luzon, bốn năm trước đây), Manila không có thực lực hải quân đáng kể. Hải quân và Tuần duyên Philippines bây giờ có khả năng tốt hơn để tuần tra các vùng biển của đất nuớc, nhưng họ vẫn còn phụ thuộc nhiều vào sự trợ giúp của Mỹ và Nhật Bản. Về mặt ngoại giao, chính quyền Aquino đã làm tốt. Philippines đã buộc ASEAN phải thừa nhận rằng, hành vi của Trung Quốc là có vấn đề và họ đã thách thức các yêu sách phi lý của Trung Quốc tại Tòa án UNCLOS. Đảo ngược chính trị như lệ thường, Manila đã hoan nghênh việc Mỹ và Nhật Bản sử dụng các căn cứ ở quần đảo Philippines.
Việt Nam đã có thể đối phó tốt hơn với với sự xâm phạm của Trung Quốc trong vài biện pháp. Việt Nam có truyền thống đáng tự hào trong việc chống lại sự bắt nạt của Trung Quốc. Một thập niên trước, Hà Nội đã bắt đầu đầu tư vào việc hiện đại hóa hệ thống phòng không và phòng thủ biển của mình. Việt Nam hiện triển khai một lực lượng ngăn chặn có thể gây ra những thiệt hại đáng kể, nếu quân Trung Quốc tấn công.


Chỗ Việt Nam thiếu là: cuộc chiến giành lấy lòng người. Vì những lý do phức tạp bắt nguồn từ lịch sử chung của chúng ta, người Mỹ đã tự động đưa Việt Nam lên một chuẩn cao hơn chuẩn cho các quốc gia đang phát triển khác. Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam mong được sự ủng hộ từ Hoa Kỳ, họ phải nỗ lực nhiều hơn để cho người dân Mỹ thấy họ xứng đáng để ủng hộ.


Bởi vì chừng nào mà đa số các ủy viên Bộ Chính trị còn tin rằng, những việc xâm phạm của Trung Quốc được xử lý tốt nhất qua đối thoại giữa đồng chí với nhau, thì chế độ Hà Nội còn đưa ra một thông điệp không rõ ràng cho người dân nước này, cho các nước ASEAN và cho bạn bè trên toàn thế giới. Sau cuộc đối đầu HD-981 vào mùa hè năm 2014, lập trường của chế độ có rõ ràng hơn: Trung Quốc là một kẻ xâm lược và sự trợ giúp của bạn bè được hoanh nghênh. Tuy nhiên, các hành động sau đó lại thiếu vững chắc một cách kỳ lạ. Hà Nội đã không tham gia cùng Philippines khiếu kiện tại tòa trọng tài mà chỉ tham dự với tư cách một quan sát viên. Như công chúng Việt Nam có thể thấy được, hợp tác quân sự với Hoa Kỳ chủ yếu chỉ là trò chuyện, đánh dấu bởi các chuyến thăm cảng hàng năm.


Ban lãnh đạo Hà Nội muốn có sự ủng hộ từ bên ngoài không? Theo quan điểm của Mỹ, rất khó để hiểu vì sao Hà Nội lại tiếp tục cằn nhằn về việc kéo dài các hạn chế đối với chuyện bán vũ khí cho Việt Nam hay, có vẻ họ lo ngại rằng Mỹ có thể “bán đứng Việt Nam cho Trung Quốc như đã làm hồi năm 1972 và năm 1988”. Cũng có thể do nhận được sự bảo đảm của Tổng thống Barack Obama, rằng Hoa Kỳ không có ý định phá hoại các tổ chức của đảng và nhà nước, và qua việc đặt Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương làm trung tâm trong chiến lược toàn cầu hóa kinh tế – xã hội của mình, Hà Nội chủ yếu có ý định muốn gửi một thông điệp cho Trung Quốc: chúng tôi có lựa chọn khác.


Như đã giải thích bên trên, không chắc rằng các lựa chọn hiện nay bao gồm việc có thể trông cậy vào sự giúp đỡ quân sự và bán quân sự của Mỹ và có thể của Nhật Bản khi căng thẳng tăng vọt ở biển Đông. Đối với các nhà tư tưởng chiến lược chủ chốt của Mỹ, cung cấp trợ giúp nhanh chóng và hiệu quả cho Việt Nam có thể là điều phải làm. Người dân Mỹ bình thường và hầu hết các chính trị gia sẽ khó để thuyết phục hơn.


Một chuẩn mực cao hơn


Mặc dù sự thật biến đổi đáng kể, khá nhiều người Mỹ đều nhận thấy Việt Nam hiện nay là một nước cảnh sát trị, tham nhũng chính trị và toàn trị cứng nhắc, thuộc Thế giới thứ ba.
Tôi tin rằng Việt Nam là đặc biệt trong mắt người Mỹ theo hai cách chính yếu. Thứ nhất, như là một cách để đưa những hồn ma bóng quế của chính chúng tôi vào yên nghỉ, chúng tôi những người Mỹ, gồm cả người Mỹ gốc Việt, hy vọng sẽ nhận thấy rằng, từ thử thách nghiệt ngã của cuộc chiến tranh làm chúng tôi bị hạ thấp, một nước Việt Nam giàu mạnh hơn xuất hiện.


Thứ hai, vẫn còn một số người Mỹ quan tâm tới những gì đang xảy ra ở Việt Nam. Những công chúng tinh mắt này bao gồm nhiều cựu chiến binh hoặc chuyên gia dân sự từng đến VNCH với thiện ý khoảng hơn 50 năm trước. Tập thể này cũng bao gồm con cháu của những người tị nạn đã xây dựng cuộc sống mới ở Mỹ nhưng không bao giờ đánh mất tình yêu đối với mảnh đất nơi họ sinh ra. Tập thể này còn gồm cả những người đàn ông và phụ nữ mà việc họ tham gia vào đời sống chính trị Mỹ bắt đầu với những cuộc biểu tình dũng cảm chống lại sự can thiệp của Mỹ trong cuộc nội chiến của Việt Nam. Những nhóm này có ảnh hưởng chính trị lên các dân biểu và nghị sĩ đại diện cho họ. Họ gây ảnh hưởng tinh thần đến các đồng bào của mình.


Tôi đã lập luận trong một bài viết khác chống lại nhận thức về Việt Nam như một chế độ toàn trị cứng nhắc, qua việc chỉ rõ sự mở rộng rất đáng kể các quyền tự do dân sự trong những năm gần đây, được thúc đẩy không phải do sáng kiến của nhà nước, mà nhờ toàn cầu hóa và việc truy cập vào mạng toàn cầu (world wide web). Tuy nhiên, tư thế chính thức của Hà Nội về quyền và nghĩa vụ của công dân vẫn chưa tiến triển, và chỉ riêng việc này thôi lại đặt ra những giới hạn rất thực tế về khả năng phát triển các mối quan hệ song phương. Mỗi khi Hà Nội bắt giữ hoặc truy tố những người có vẻ như chỉ đơn giản đang thực hiện các quyền hiến định, thì việc đó lại củng cố niềm tin của công chúng Mỹ rằng, Hoa Kỳ chớ nên dính dáng vào một cuộc xung đột ở xa xôi vì một chế độ không rõ ràng.
Đàn áp bất đồng chính kiến ôn hòa là tiếp thêm đạn cho các nhà lập pháp Mỹ đang nhắm bắn hạ thỏa thuận TPP. Trái lại, bằng chứng cho thấy Bộ Chính trị mới có ý định mở rộng quyền tự do chính trị sẽ làm tăng sức hấp dẫn của Việt Nam với tư cách là một đối tác trong Hiệp định xuyên Thái Bình Dương.


Tôi hy vọng có rất ít các lãnh đạo Hà Nội thật sự còn tin rằng, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tự thân có ý đồ lật đổ chính quyền. Tôi tin rằng các lãnh đạo chóp bu trong chính phủ mới của Việt Namthật lòng muốn cắt đi các quan hệ tham ô giữa giám đốc các doanh nghiệp nhà nước với các quan chức cao cấp của chính phủ. Nếu cả hai điều này là đúng thì tại sao lãnh đạo mới của Việt Nam lại ngần ngại thực hiện hành động đột phá nhân danh các công dân của đất nước? Không giống các vị tiền nhiệm lúc đương chức, Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, Trương Hòa Bình, Trần Đại Quang và các đồng liêu của họ ít nhiều an toàn trước các cáo buộc lệch lạc về ý thức hệ. Vì thế điều nghịch lý là họ đang ở trong một vị thế mạnh hơn để thực hiện cải cách chính trị.


Cách thức và việc định thời gian cho cải cách chính trị là chuyện của Việt Nam. Không nước nào cho mình có quyền áp đặt lựa chọn của Việt Nam. Như Tổng thống Obama đã nói với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 7 năm ngoái, Mỹ tôn trọng hệ thống chính trị của Việt Nam. Tuy nhiên, người Mỹ chắc chắn sẽ hoan nghênh nếu Quốc hội bãi bỏ Điều 258 và các quy định khác của bộ luật hình sự, vốn xâm hại các quyền tự do dân sự được hiến pháp nêu lên. Chúng tôi sẽ rất ấn tượng nếu chính phủ Việt Nam tập trung nỗ lực nhiều hơn trong quản lý kinh tế và ít hơn trong việc can dự trực tiếp vào đó. Chúng tôi sẽ rất vui mừng khi thấy có những nỗ lực mạnh mẽ và bền vững để xây dựng sự minh bạch thật sự và có sự tham gia rộng rãi hơn vào quá trình ra quyết định chính trị của Việt Nam.


Theo cái nhìn của tôi, để đặt nền tảng cho một mối quan hệ mạnh mẽ và lâu bền với Hoa Kỳ, ban lãnh đạo mới chỉ cần tin tưởng vào sự thành tâm và thiện ý của chính công dân Việt Nam, và từ đó có hành động phù hợp. Đó là một bước đi hoàn toàn hợp lý, bởi vì hy vọng lớn nhất của Đảng Cộng sản muốn nắm quyền mãi mãi thì phải trở thành cái gì khác – một tổ chức chính trị ít tham nhũng hơn, nhiều minh bạch hơn và dốc sức vào việc đưa tới ngày càng nhiều tự do hơn cho các công dân của mình.


Nguồn ABS

Thứ Ba, ngày 17 tháng 5 năm 2016

Phỏng vấn Ngô Thế Vinh - người đi dọc 4.800km sông Mekong

LTS. Gần 20 năm tâm huyết với các vấn đề trên dòng Mekong cũng như đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bác sĩ Ngô Thế Vinh không chỉ là một nhà văn với hai tác phẩm Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng và Mekong - dòng sông nghẽn mạch, ông còn là một nhà hoạt động môi trường bền bỉ. Ông đã có những chuyến đi dọc dòng Mekong dài 4.800km, từ Tây Tạng đổ xuống Biển Đông. Người Đô Thị có cuộc phỏng vấn ông Ngô Thế Vinh về các vấn đề nóng bỏng hiện nay trên dòng Mekong và ĐBSCL.
Thưa, dù đã 17 năm trôi qua, từ những chuyến đi dọc dòng sông Mekong dài 4.800km, bức tranh sống động mà ông “phác họa” về những tác hại khủng khiếp do các con đập thủy điện gây ra cho đời sống người dân lưu vực sông Mekong đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự. Từ những dự cảm rất sớm về những hậu quả do các đập thủy điện gây ra trên dòng Mekong và cho ĐBSCL nói riêng, ông nhận định gì về thực trạng hiện nay?

Năm 2000, khi nói “Cửu Long cạn dòng”, nhiều người xem đó là phát biểu “nghịch lý” bởi đó là năm có lụt lớn ở miền Tây. Một vị tu sĩ đang tất bật lo việc cứu trợ, mới nghe tên cuốn sách đã phát biểu: “Đang lũ lụt ngập trời với nhà trôi người chết mà lại nói “Cửu Long cạn dòng” là thế nào?” Nhưng cần hiểu rằng lũ và hạn tương ứng với mùa mưa và mùa khô là chu kỳ tự nhiên đã có hàng ngàn năm trên dòng Mekong và các vùng châu thổ, và đến nay thì mức độ càng trầm trọng và gay gắt. Chúng ta không thể đổ lỗi hết cho “thiên tai”, mà cần can đảm gọi cho đúng tên những yếu tố “nhân tai” bởi do chính con người gây ra qua suốt quá trình phát triển không bền vững và có tính tự hủy từ nhiều thập niên qua, đã làm gãy đổ sự cân bằng của cả một hệ sinh thái vốn phức tạp nhưng cũng hết sức mong manh của dòng Mekong.

Băng qua Biển Hồ đến khu Bảo tồn sinh thái Tonle Sap (nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh)

Một chuỗi những tai ương do chính con người gây ra đó là: (1) Phá hủy tự sát những khu rừng mưa trong toàn lưu vực. Những khu rừng mưa này có tác dụng như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước trong mùa mưa, xả nước trong mùa khô với chức năng điều hoà lưu lượng nước của dòng sông trong suốt hai mùa khô lũ, thì nay không còn nữa. (2) Xây các con đập thủy điện không chỉ trên dòng chính mà ngay trên khắp các phụ lưu sông Mekong từ thượng nguồn xuống tới hạ lưu, và đáng kể nhất là chuỗi những con đập bậc thềm (Mekong Cascades) Vân Nam của Trung Quốc. Hồ chứa các con đập ấy không những chỉ giữ nước mà còn ngăn chặn phù sa như một dưỡng chất xuống vùng châu thổ ĐBSCL. Nguồn thủy điện cũng đưa tới kỹ nghệ hóa, đô thị hóa với trút đổ các chất phế thải xuống sông gây ô nhiễm nguồn nước sông Mekong. (3) Còn phải kể tới kế hoạch Trung Quốc cho nổ mìn phá các ghềnh thác khai thông lòng sông Mekong để mở thủy lộ từ Vân Nam xuống xa tới Vạn Tượng, Trung Quốc đã làm biến dạng toàn dòng chảy, gây xói lở trầm trọng các khu ven sông. (4) Cộng thêm những sai lầm về các kế hoạch thủy lợi tự phát ngay nơi ĐBSCL như be bờ ngăn đập rồi tới nạn “cát tặc” ngày đêm nạo vét lòng sông...

Tình trạng này gây thảm họa nhãn tiền: nếu lụt thì sẽ rất lớn ngay mùa mưa, hạn hán sẽ gay gắt hơn trong mùa khô và nạn ngập mặn ngày càng lấn sâu vào trong đất liền. Như vậy chủ yếu là do các nguyên nhân nhân tai, nay cộng thêm với biến đổi khí hậu, El Nino... là phần thiên tai cộng thêm vào. Không gọi đúng tên, đổ hết cho thiên tai là một thái độ chối bỏ nguy hiểm của giới chức Việt Nam hiện nay.

Trên dòng chính Mekong, Trung Quốc đã và vẫn tiếp tục xây đập thủy điện trên thượng nguồn, Lào xây đập dưới hạ nguồn, còn Thái Lan dẫn nước từ dòng Mekong vào ngay cả mùa khô... Trong tình hình ấy, điều ông lo ngại nhất là gì?

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, sau khi Trung Quốc hoàn tất hai con đập lớn nhất: Nọa Trác Độ (Nuozhadu) 5.850MW và Tiểu Loan (Xiaowan) 4.200MW, về tổng thể Bắc Kinh hầu như đã hoàn thành kế hoạch thủy điện của họ trên suốt nửa chiều dài con sông Lan Thương (Lancang - tên Trung Quốc của sông Mekong). Theo Fred Pearce, Đại học Yale, con sông Mekong nay đã trở thành tháp nước và là nhà máy điện của Trung Quốc. Philip Hirsch, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sông Mekong thuộc Đại học Sydney nhận định: “Hai con đập khổng lồ Nọa Trác Độ và Tiểu Loan sẽ ảnh hưởng trên suốt dòng chảy của con sông Mekong xuống tới tận ĐBSCL của Việt Nam”. Chỉ với sáu con đập dòng chính hoàn tất, Trung Quốc đã đạt được công suất 15.150MW - nghĩa là hơn một nửa toàn công suất tiềm năng thủy điện của con sông Lan Thương. Với 8 dự án đập còn lại, và có thể sẽ còn thêm nhiều dự án mới nữa, Trung Quốc sẽ dễ dàng dứt điểm sớm trong vòng mấy thập niên đầu thế kỷ XXI.

Chúng ta không thể chỉ dựa vào một con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam là không đáng kể. Xây chuỗi đập Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong. Dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ hơn 30 tỉ mét khối nước còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa không cho xuống tới ĐBSCL. Thiếu nước, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng đất phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa.

Biển Hồ: mùa khô 2.500km2 (trái), mùa mưa 12.000km2 (phải). Biển Hồ nay thoi thóp, không còn co giãn với hai mùa mưa nắng và đang cạn dần
(nguồn: Tom Fawthrop)

Điều gì đáng lo ngại nhất hiện nay? Rõ ràng Việt Nam đã mất cảnh giác và thiếu chuẩn bị trong cuộc chiến môi sinh “không tuyên chiến” của Trung Quốc. Lời kêu gọi Trung Quốc xả nước từ hồ chứa Vân Nam để cứu hạn cho ĐBSCL đã nói lên tình thế bị động của Việt Nam. Lẽ ra giới lãnh đạo phải tiên liệu nguy cơ này từ nhiều năm trước. Nay lại thêm 9 dự án đập dòng chính hạ lưu của Lào và 2 của Campuchia sẽ khiến bài toán cứu nguy ĐBSCL khó khăn và phức tạp hơn nhiều, mà Việt Nam thì chưa có một chiến lược đối phó.

Hiệp định Mekong 1995 được xem là một cơ sở kiểm soát bảo vệ dòng Mekong, tuy nhiên Trung Quốc từ chối tham gia. Tương tự, Công ước Liên Hiệp Quốc 1997 về sử dụng các nguồn nước liên quốc gia, Việt Nam thuận ký năm 2014, được biên soạn đặc biệt nhằm bổ sung và hạn chế những bất cập trong các hiệp định lưu vực hiện có như Hiệp định Mekong 1995, cũng thiếu tên Trung Quốc. Trong diễn tiến đó, Trung Quốc nay lại khởi xướng một diễn đàn mới: Hợp tác Lancang - Mekong ra mắt tháng 11.2015. Ông nhận định như thế nào về cơ chế này? Cơ hội của Việt Nam cũng như các nước trên lưu vực tham gia có thể là gì? Theo ông, liệu Trung Quốc có động cơ gì đằng sau đó không?
Uỷ ban Sông Mekong (MR Committee) được Liên Hiệp Quốc thành lập từ 1957, nhưng mọi dự án phát triển hầu như bị tê liệt do cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau 1975, bước vào thời bình, con sông Mekong trở lại là mục tiêu khai thác của các quốc gia trong lưu vực. Nhu cầu phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự Ủy ban Sông Mekong trước đây là cần thiết. Ngày 5.4.1995, bốn nước hội viên gốc thuộc lưu vực hạ lưu Mekong đã họp tại Chiang Rai - Bắc Thái, để cùng ký kết Hiệp ước Hợp tác phát triển bền vững hạ lưu sông Mekong và đổi sang một tên mới là Ủy hội Sông Mekong (MR Commission).

Đại diện Việt Nam đặt bút ký vào Hiệp định Mekong 1995 là Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm với chấp nhận một thay đổi cơ bản trong hiệp ước mới: thay vì như trước, mỗi hội viên trong Ủy ban sông Mekong (1957) có quyền phủ quyết bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong, nay theo nội quy mới (1995), không một quốc gia nào có quyền phủ quyết. Phát biểu trong Hội nghị Mekong 1999 tại Nam California (Mỹ), chúng tôi nhận định đây là khởi điểm một bước sai lầm chiến lược của Việt Nam, vì là quốc gia ở cuối nguồn.

Sáu nước lưu vực sông Mekong đang đứng trước nhiều vấn đề bức thiết liên quan đến kinh tế, xã hội cũng như bảo tồn môi trường sinh thái. Tuy nhiên, những khác biệt về yếu tố địa chính trị lại là rào cản không nhỏ trong tiến trình hợp tác, và đặt ra bài toán phải giải quyết hài hòa lợi ích của mỗi quốc gia. Theo ông, diễn biến chính trị ảnh hưởng như thế nào trong vấn đề hợp tác vùng và phát triển vùng trên dòng Mekong? Viễn cảnh phát triển Mekong sẽ là như thế nào trong bối cảnh biến đổi khí hậu?

Nhắc tới sự kiện Trung Quốc mới đây cho thành lập khối Hợp tác Lancang - Mekong, một cơ chế bao gồm 6 nước cùng sử dụng sông Mekong, nhiều người vội lạc quan cho rằng đó có thể là một phương tiện tốt để buộc Trung Quốc quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của các nước hạ nguồn. Mối lạc quan đó có thể đúng có thể không. Nhưng cần nhận thức rõ một điều: từ 1995, Trung Quốc chọn đứng ngoài Ủy hội Sông Mekong chỉ gồm 4 nước hạ lưu: Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam. Tới nay với 6 con đập dòng chính, về tổng thể, Trung Quốc đã hoàn tất kế hoạch thủy điện trên khúc sông Mekong 2.200km của họ.

Nay nếu có mở ra thêm khối Hợp tác Lancang - Mekong thì đó cũng chỉ là một bước chiến lược của Trung Quốc, tạo cho mình một hình ảnh hữu nghị nhưng thực tế là nhằm tăng cường ảnh hưởng đưa tới khống chế toàn bộ lưu vực sông Mekong. Trung Quốc sẵn có khả năng kỹ thuật, có nguồn tài chính hầu như vô hạn, Bắc Kinh thừa sức để gạt ảnh hưởng của Hoa Kỳ và Nhật Bản ra khỏi lưu vực sông Mekong, cũng như họ đã đánh sập thế thượng phong của Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ trên Biển Đông bằng các đảo chiếm của Việt Nam rồi mở rộng xây dựng căn cứ quân sự trên đó.

Tương lai khối Hợp tác Lancang - Mekong ra sao, vẫn tùy thuộc thiện chí rất đáng ngờ của Trung Quốc. Những ai từng theo dõi cách hành xử của Trung Quốc trong bao năm nay, cũng nhận thấy là Bắc Kinh chưa hề có Hồ sơ theo dõi tốt (Good track records).

BS. Ngô Thế Vinh trước khu Bảo tồn sinh thái Tonle Sap - Campuchia. Ảnh CTV

Nhưng rồi cũng phải kể tới tiềm năng “chất xám” mỗi quốc gia thành viên khi tham dự khối Hợp tác Lancang – Mekong, và quan trọng hơn hết là liệu có được một mẫu số chung đoàn kết của các nước nhỏ hay không. Thiếu một “tinh thần sông Mekong” nơi các quốc gia hạ lưu như hiện nay (vẫn cái cảnh “đồng sàng dị mộng”), lại thêm ác ý như từ bao giờ (Trung Quốc luôn luôn chia để trị), thì khối Hợp tác Lancang - Mekong chỉ là chiếc dù tạo thêm ảnh hưởng quyền lực của Trung Quốc trên mỗi quốc gia hạ nguồn.

Nếu Trung Quốc có thực tâm, phải đòi hỏi Bắc Kinh đi đến một Hiệp ước Lancang - Mekong theo đó mỗi quốc gia thành viên phải được tôn trọng và đối xử bình đẳng, có thể xem đây như một Ủy hội Sông Mekong mở rộng bao gồm thêm Trung Quốc và Myanmar.

Điểm qua tình hình hiện nay: Thủ tướng Campuchia Hunsen gần như hậu thuẫn vô điều kiện chính sách của Trung Quốc; Lào thì bất chấp mọi khuyến cáo vẫn từng bước thực hiện xây 9 con đập dòng chính Mekong (đang xây hai đập Xayaburi và Don Sahong); Thái Lan không ngừng lấy nước từ sông Mekong cung cấp cho các vùng khô hạn của họ; Myanmar thì không phải là yếu tố quan trọng khi chỉ tiếp cận một khúc sông Mekong vùng Tam giác vàng; riêng Việt Nam gần như bị động và chưa có “một chiến lược trên bàn cờ Mekong” khi quyết định tham dự khối Hợp tác Lancang - Mekong.

Điều cần làm ngay, là cấp thiết di chuyển Ủy ban Mekong Việt Nam từ Hà Nội về ĐBSCL để cùng bắt tay hình thành một phân khoa Mekong nơi Đại học Cần Thơ, giúp phái đoàn Việt Nam có một hồ sơ Mekong mang tính chiến lược, có cơ sở pháp lý khi họ tới dự những hội nghị thượng đỉnh Mekong. Mekong Delta SOS phải là ưu tiên số một trong nghị trình của Hội đồng Chính phủ, của Quốc hội và cả của Bộ Chính trị. Thảm hoạ đại hạn nơi ĐBSCL nếu cần phải đưa ra trước Diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

Ông đánh giá thế nào về vai trò của tiếng nói cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong bối cảnh các quốc gia lưu vực sông Mekong còn nhiều quan điểm khác biệt? Ở Việt Nam, theo ông, vai trò tiếng nói này hiện nay thế nào, và cần như thế nào?

Khi nhìn chung vào lưu vực 5 nước sông Mekong hạ nguồn (thêm Myanmar), một ký giả ngoại quốc nhận xét: tiếng nói của các cộng đồng dân sự, các mạng xã hội Việt Nam về vấn đề sông Mekong được kể là “khá hiếm” so với những tiếng nói của cư dân Bắc Thái Lan, người dân Lào và ngay cả dân Campuchia. Điều này hầu như lại càng rất hiếm thấy nơi cộng đồng 20 triệu cư dân ĐBSCL. Cũng dễ hiểu, đa số nông dân bị thiếu học với một nền giáo dục thấp hơn cả Tây nguyên, lại thêm bị bưng bít thông tin thì làm sao bảo họ có tiếng nói ngoài thái độ cam chịu. Tiếng nói của những “tổ chức được gọi là NGO” thì luôn luôn luôn bị kiểm soát và định hướng bởi Nhà nước, và những định hướng thiển cận như hiện nay đã triệt tiêu mọi sáng kiến từ các nguồn trí tuệ. Nhưng dẫu sao, quan sát từ bên ngoài, đã thấy ánh sáng cuối đường hầm, đang có những nỗ lực tích cực từ trong nước để hình thành những cộng đồng dân sự xã hội thực sự có tiếng nói, nhưng dĩ nhiên có một cái giá phải trả cho những bước tiên phong ấy. Đó là một tiến trình không thể đảo nghịch và cũng đã đến lúc Nhà nước ý thức được rằng họ không thể tạo nút chặn cho cả một xu thế thời đại.

Cảm nhận của ông như thế nào về vai trò của các nhà khoa học Việt Nam hiện nay trong “bài toán” sông Mekong nói chung và ĐBSCL nói riêng? Họ cần có “cơ chế” gì để tiếng nói thực sự đạt hiệu quả?

Tuy chưa có dịp được gặp hết, chúng tôi vẫn theo dõi sinh hoạt của các nhà khoa học Việt Nam từ những năm qua. Họ đã và đang phải làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhưng nỗ lực của các anh chị ấy để cất tiếng nói bảo vệ một hệ sinh thái lành mạnh cho Việt Nam, tuy thầm lặng, đã được nhiều người biết đến. Từ bên ngoài, chúng tôi luôn quan niệm “bài toán” sông Mekong và cứu nguy ĐBSCL phải từ các nhà khoa học và giới trẻ trong nước. Việt Nam không hề thiếu chất xám nhưng giới khoa học ấy không có phương tiện, không có tự do hoạt động ngay cả trong môi trường đại học. Có thể đi tới một kết luận: “dân chủ và môi sinh” phải là bộ đôi không thể tách rời.

Tôi cũng cho rằng, cứu vãn được nhịp đập của “trái tim Biển Hồ” là giải pháp khả thi cứu nguy cho các vùng châu thổ Tonle Sap của Campuchia và ĐBSCL của Việt Nam, dĩ nhiên với cái giá rất cao mà Việt Nam không thể không hợp tác với Campuchia đầu tư vào.

Ông có một kho dữ liệu quý về văn hóa, lịch sử, môi trường... liên quan đến 4.800km dòng Mekong, từ Tây Tạng đổ xuống Biển Đông, nơi hơn 65 triệu cư dân sinh sống. Đó là những tư liệu chuyên ngành chẳng liên quan gì đến nghề bác sĩ của ông cả. Nên nếu được tự nói về mình, ông nhận mình là một bác sĩ, nhà văn, nhà báo, hay là một nhà khoa học?

Tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn năm 1968, hành nghề y khoa trong nước rồi ra hải ngoại hơn 40 năm, y khoa đã như một phần đời sống không dễ tách rời của tôi. Khi còn là sinh viên, tôi viết văn, làm báo, hoạt động xã hội cùng với những người trẻ đồng trang lứa. Thế hệ chúng tôi không chỉ có học tập mà còn rất quan tâm tới các vấn đề đất nước, riêng tôi về sau này còn có mối quan tâm đặc biệt tới các vấn đề môi sinh, trong đó có con sông Mekong và ĐBSCL. Cùng với nhóm Bạn Cửu Long, chúng tôi đã thực sự khởi đầu hoạt động từ 1995, đến nay cũng đã 21 năm rồi. Tôi đã được gán cho nhiều căn cước khác nhau, nhưng một cách khái quát, nói như ký giả Long Ân, có lẽ đúng nhất tôi chỉ là con người xanh của môi sinh.

BS. Ngô Thế Vinh: Tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn, làm báo sinh viên Tình thương, y sĩ liên đoàn 81 Biệt cách dù, bác sĩ nội trú các trường đại học New York, hiện là bác sĩ điều trị tại một bệnh viện Nam California, Mỹ. Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng là một dữ kiện tiểu thuyết liên quan tới môi sinh và phát triển lưu vực sông Mekong và ĐBSCL. Nối tiếp sau đó là ký sự Mekong dòng sông nghẽn mạch ra đời; bên cạnh bản tiếng Việt, ký sự này được dịch sang tiếng Anh, thu hút khá nhiều quan tâm của giới khoa học, nhà báo, nhà hoạt động môi trường thế giới...

Lê Quỳnh thực hiện