Thứ Bảy, ngày 28 tháng 2 năm 2015

Còn một lần nữa không?

Nguyễn Tường Bách
Bức Tường Ô Nhục
Bức Tường Ô Nhục
Cách đây một năm, Tết Giáp Ngọ, bài này đã được đăng trong một tạp chí trong nước. Vì lý do dễ hiểu, bài bị cắt bỏ nhiều đoạn. Sau một năm, tình hình đất nước có thay đổi, nội dung của bài phù hợp hơn bao giờ hết. Sau đây là nguyên văn bài viết
Năm 1986 là một năm đáng nhớ trong đời tôi.
Một ngày nọ trong mùa thu 1986 bọn chúng tôi sáu người được Hội người Việt Nam tại Đức cử về nước để “điều trần” về tình hình thế giới, góp ý với Đại hội Đảng lần thứ sáu.
Đó là thời điểm mà các nước theo chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi. Tại Ba Lan tháng 9.1980 công đoàn Đoàn kết thành hình và ngày càng phát huy ảnh hưởng. 1984 khắp nơi tại Ba Lan biểu tình lan rộng. Tại Hungary năm 1980 kinh tế thị trường bắt đầu được áp dụng, năm 1982 họ gia nhập Quỹ tiền tệ quốc tế IWF và ngân hàng thế giới.
Tại CHDC Đức từ giữa những năm 80, đảng cầm quyền đã phải nhượng bộ thành phần đối lập. Cũng giữa những năm 80 Gorbachev thực hiện đổi mới Glasnost và Perestroika. Tháng 3.1985 Gorbachev tuyên bố mỗi nước trong khối Warsaw được quyền theo đường lối riêng. Từ đó học thuyết được mệnh danh Sinatra thay thế học thuyết Brezhnev, vốn được dựng lên từ 1968, sau khi Liên Xô đập tan mùa xuân Praha của Tiệp Khắc.
Những ai theo dõi thời cuộc đều hiểu là một khi Liên Xô tuyên bố đường ai nấy đi thì đó là dấu hiệu tan rã của khối Đông Âu. Điều đó cho thấy chủ nghĩa xã hội kiểu Đông Âu đã chứng tỏ sự phá sản của mình.
Tôi chuẩn bị về Hà Nội và nhớ đến CHDC Đức của những năm qua. Đây là quốc gia hùng mạnh nhất của khối Đông Âu, có tiềm lực khá nhất về kỹ thuật và kinh tế so với các nước khác, kể cả với Liên Xô hồi đó. CHDC Đức tiếp giáp với Tây Đức, về mặt địa lý lại chứa cả Tây Berlin nằm lọt thỏm trong lòng nó, nên CHDC Đức chính là “tiền đồn” số một của phe xã hội chủ nghĩa. Chính vì lẽ đó mà Đông Đức càng cẩn mật hơn đối với mọi ảnh hưởng của phe Tây phương.
Tôi càng nhớ hơn những ấn tượng của mình tại Đông Đức trong năm 1970. Đó là năm mà bọn sinh viên trẻ chúng tôi, mà chỉ là người nước ngoài, người Đức không được tham dự, được đặc cách cho đi thăm CHDC Đức một ngày, buổi tối không được ở lại, phải trở về Tây Berlin. Chuyến xe bus chạy trên những hành lang đã định sẵn từ Tây Đức đến Tây Berlin, xuyên qua địa phận Đông Đức, trên những xa lộ cách ly với phố xá làng mạc. Thỉnh thoảng xe dừng lại để sinh viên Tây Đức, với chút ngoại tệ “mạnh” ít ỏi trong túi, được mua cà-phê thuốc lá trong các cửa hàng Intershop. Họ cần ngoại tệ mạnh và đó là lý do mà chúng tôi được đi thăm. Qua biên giới ngồi trên xe tôi thấy rõ công an Đông Đức dùng những chiếc gương lớn có bánh xe, đẩy vào gầm xe xem có công dân nào của họ trốn dưới đó không.
Từ Tây Berlin chúng tôi đến Checkpoint Charlie, đó là cửa biên giới giữa hai phần của thành phố Đông Tây Berlin. Khách hồi hộp đi qua những hành lang hẹp, quanh co dưới cặp mắt dò xét của công an mật vụ Đông Đức. Mỗi khách phải đổi 20 Mark, tiền Đông Đức, một ăn một, nghe là để mua sắm, nhưng thực tế là trả tiền vào cửa với ngoại tệ mạnh.
Sau vài góc đường kể từ trạm kiểm soát, lạ thay có một thanh niên tìm tôi hỏi chuyện. Anh hỏi tôi có dư chiếc quần jean nào muốn bán lại cho anh. Tôi trố mắt lắc đầu. Anh lại đề nghị tôi cùng đi đến Intershop mua hàng với ngoại tệ mạnh, tiền anh đưa, công dân như anh không được mua hàng Intershop. Tôi cũng lắc đầu nốt. Vô cùng ngạc nhiên tôi tự hỏi, con người mới xã hội chủ nghĩa mà như thế này ư, nhất là trong một xứ ưu việt nhất của khối Đông Âu.
Trong ngày hôm đó của năm 1970 tôi lại nhớ lại một kỷ niệm xưa. Trước đó chục năm, khoảng 1960, tôi chỉ là một đứa trẻ 12 tuổi sống trong thành thị miền nam thời còn hòa bình. Ngày nọ tôi được theo người lớn ra bến sông Bến Hải, đến cầu Hiền Lương nhìn qua bờ bắc. Vĩ tuyến 17 là đây, sông Hiền Lương nước chảy chầm chậm. Tôi bâng khuâng nhìn qua, bên kia là đồng bào của tôi hay sao. Xa xa ta thấy rõ trẻ con người lớn đi lại, có người đi xe đạp. Nhưng đập vào mắt tôi là một hàng chữ thật to, dành cho người nhìn từ bờ nam. “Hai miền, hai chế độ”. Dù là đứa trẻ, tôi biết ngạc nhiên thấy câu khẩu hiệu có vẻ “hiền”, không khiêu khích, không tuyên truyền như tôi tưởng.
Trên cao ở hai bờ là hai lá cờ, một vàng một đỏ. Lạ thay chiếc cờ vàng rủ xuống như khăn tang. Còn lá cờ đỏ bên kia, không rõ được làm bằng thứ vải gì mà trời ít gió vẫn bay phất phới. Điềm lành điềm dữ gì đây?
Chiếc cầu Hiền Lương khung sắt mặt gỗ chỉ là một chiếc cầu nhỏ như trăm vạn chiếc cầu trên quốc lộ 1, tôi nhìn và nghĩ đời mình sẽ không bao giờ đi trên cầu đó. Thế nhưng hồi đó vẫn có người qua lại, vì khi tôi vào văn phòng quân đội miền nam đã có một người đội nón cối, miệng hút thuốc ngồi đó. Ông mang “bưu thiếp” từ bên kia qua, khuôn mặt bất động nhìn chúng tôi. Trong bọn chúng tôi có một đứa mũi hơi cao, da hơi sáng. Ông thốt lên “cháu này lai Mỹ”. Câu nói đầu tiên và duy nhất của ông đã trật lất.
Chục năm sau tại Đức tôi đang nếm mùi của “hai miền hai chế độ”. Nhưng hôm nay tôi được băng qua biên giới, đi thăm miền đất của con người mới xã hội chủ nghĩa. Ở đây chưa ai nhìn tôi với cặp mặt khinh thị, ngược lại có kẻ chạy theo xin hỏi mua chiếc quần jean.
Suốt chục năm sau tôi không trở lại Đông Đức, nhưng vẫn nghe người dân ở đó vẫn tìm mọi cách vượt biên qua Tây Đức, bất kể hiểm nguy cho bản thân và hệ lụy cho người ở lại. Thế nhưng với lực lượng công an cảnh sát mà tôi từng tận mắt trông thấy, tôi nghĩ Đông Đức sẽ trường tồn thiên thu bất diệt. Tấm gương mùa xuân Praha 1968 vẫn còn nóng hổi. Thậm chí tôi còn lo ngại một ngày xấu trời nào đó, bộ đội Đông Đức sẽ tràn ngập Tây Berlin vì thành phố này nằm như một hòn đảo phồn vinh giữa một vũng lầy nghẹt thở.
Thế mà chỉ hơn 15 năm sau kể từ lần viếng Đông Đức, tôi cùng phái đoàn ngồi máy bay về Hà Nội, sẽ gặp lãnh đạo Đảng và Nhà Nước để “báo cáo về tình hình thế giới và phong trào”. ”Báo cáo” ở đây phải gọi là “báo động” thì đúng hơn vì thông điệp của chúng tôi cho các vị lãnh đạo là hãy thay đổi, trên thế giới đang rục rịch thay đổi.
Trong một buổi sáng nắng hoe vàng như màu nắng thường thấy ở miền bắc trong mùa thu, chúng tôi đến văn phòng Trung Ương Đảng, vào trong một gian phòng nghiêm trang, ngồi vào một chiếc bàn rất rộng. Người “làm việc” với chúng tôi không ai khác hơn là ông Nguyễn Văn Linh, về sau là Tổng Bí thư. Các nhân vật khác cùng có mặt là các ông Đào Duy Tùng và Hoàng Bích Sơn. Các vị lắng nghe chúng tôi một cách nghiêm túc. Tôi bất ngờ cảm nhận lòng cởi mở thân tình của các vị quan chức cấp cao nhất. Họ không có vẻ gì ngạc nhiên khi nghe tình hình các nước Đông Âu đang chao đảo. Họ để cho chúng tôi nói hết, không tỏ chút gì khó chịu khi nói nghe nói đến khuyết tật cố hữu của một nền kinh tế kế hoạch.
Ngồi đây tại Hà Nội tôi không khỏi nhớ lại đời mình. Từ một đứa trẻ đứng ngẩn ngơ bên cầu Hiền Lương và nghĩ đời mình sẽ không bao giờ qua bờ bắc, tôi đã đi một vòng lớn của cuộc đời. Số phận cho tôi đến học tập ở Đức, cũng một nơi được gọi là “hai miền hai chế độ” như nước mình. Rồi tôi cũng từng băng hàng rào sắt qua bên đó và chứng kiến chớp nhoáng cách làm ăn cò con của thời bao cấp. Nay tôi lại ngồi đây, trong một quê hương thống nhất, tại trung tâm quyền lực của cả nước và “làm việc” với Tổng Bí thư.
Thế nhưng nói thật lòng, ngay hồi đó tôi đã không có chút ảo tưởng nào. Làm sao mà các vị đó tin nghe mình, chấp nhận kiến nghị của dăm ba Việt kiều non nớt và đáng ngờ được. Những người mà họ tin nghe phải là những người khác mà chúng tôi không bao giờ gặp. Tiếng nói của chúng tôi chỉ điểm trang cho vui trong một hoàn cảnh cần chút màu sắc khác lạ. Vòng đời từ cầu Hiền Lương, gặp ông cán bộ đưa thư, đến Tây Đức, rồi lạc một ngày qua bên Đông để rồi hôm nay về lại tổ quốc, ngồi đối diện với Tổng Bí thư chỉ là một trò đùa hóm hỉnh của số phận hay đi lang thang của tôi.
Sau đó Đại hội VI diễn ra trong tháng 12.1986 với nhiều thay đổi thực. Lãnh đạo Việt Nam từ bỏ con đường bao cấp, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế và mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Tôi hoàn toàn không nghĩ đó là nhờ “công” góp ý của chúng tôi mà chủ trương này đã định hình một cách bắt buộc trong bối cảnh ảm đạm của nước Đông Âu. Thế nhưng so với cũ, đây là một công cuộc đổi mới vô cùng quyết liệt và mang lại thành quả to lớn.
Tháng 11 năm 1989 một biến cố long trời xảy ra tại Đức. Bức tường Berlin sụp đổ. Tôi ngồi xem hàng đoàn người hân hoan đi qua Checkpoint Charlie, nơi mà gần 20 năm trước chúng tôi phải chầm chậm đi về trong ngày, giữa những con mắt xoi mói. Tôi sởn da gà khi nhớ rằng, lịch sử ngàn năm sẽ nhớ lại cảnh này, cảnh một dân tộc thống nhất không cần tốn một viên đạn. Cầu Hiền Lương của họ đã mở cửa và người ta đi chiều ngược lại.
Ngày Giải Phóng
Ngày Giải Phóng
Hè năm 2012 chúng tôi trở về Checkpoint Charlie. Đường Friedrich không còn chập chùng đồn bót, nay rộng rãi thông suốt. Gần đó là một quán ăn Việt Nam đông khách, phục vụ trẻ măng. Đồng bào tôi đây, không hề ít tại nước Đức kỳ lạ này. Xung quanh trạm biên giới cũ, ta còn thấy hình ảnh xưa, nền móng cũ, ngày đó nơi đây một thuở… Quanh tôi là khách du lịch còn trẻ, người nước ngoài khá nhiều. Họ có biết chăng có người cảm khái nhớ đời mình và vận nước non của 40 năm qua.
Sau lần gặp Tổng Bí thư tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ gặp quan chức cấp cao nữa. Thế nhưng cũng có một ngày đặc biệt trong đầu những năm 90. Tại sân bay Bangkok, trên xe bus từ máy bay vào nhà ga, tôi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông lên xe trước tôi, lúc đó còn rất khỏe mạnh. Tôi đến gần ông, trân trọng hỏi thăm “Thưa Cụ, có phải Cụ là Cụ Võ Nguyên Giáp?”. Ông không trả lời, cũng không nhìn tôi, làm như không nghe thấy. Khuôn mặt ông bất động còn hơn ông cán bộ đưa thư ngày nọ. Tôi ngẩn ngơ, tự hỏi phải chăng mình nhìn lầm. Xuống xe tôi đi nhanh vào sảnh. Ở đó đã có vài ba người đứng đón, có chị mặc áo dài, với vòng hoa và bảng đề “Nhiệt liệt chào mừng…”.
Tôi thưa không thấy trả lời. Trong nước ông là vị tướng từng oanh liệt đánh thắng giặc Pháp. Ra ngoài ông đề phòng những ai nói tiếng Việt.
Kể từ đó tôi không còn gặp quan chức cấp cao, thật lòng tôi cũng không muốn. Nhưng cấp thấp thì nhiều. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp gỡ chuyện trò với họ, thậm chí chơi chung thể thao. Thỉnh thoảng khơi chuyện “bao cấp” ngày xưa thì y như rằng, ai cũng có chuyện để kể, từ anh lái xe đến ông thủ trưởng. Sức sống dân tộc to lớn thay. Thực vậy, chỉ bỏ ngăn sống cấm chợ và cho nước ngoài đầu tư mà nước ta đã tiến triển một cách ngoạn mục từ 1986 đến nay.
Nhưng rủi thay tiến trình của xã hội luôn luôn thay đổi và đòi hỏi phải có sự đổi mới. Qua năm thứ 14của thế kỷ mới, Việt Nam đã bộc lộ tất cả khuyết tật của hệ thống. Kinh tế suy thoái, tham nhũng lan tràn, các giá trị văn hóa xã hội bị sa sút trầm trọng, điều đó đã quá nhiều sách báo nói đến. Tình hình ngày nay bức xúc hơn 1986, đó là điều tôi nhận xét. Nếu không thay đổi một cách tầm cỡ như 1986 đất nước sẽ đi về đâu?
Xét lại lịch sử, Việt Nam chỉ thay đổi khi quốc tế thay đổi. Sự chấm dứt thế chiến thứ hai là cơ hội cho Đảng lãnh đạo nắm chính quyền. Sự đổi xác năm 1986 là kết quả cuộc phá sản của các nước Đông Âu. Thế thì phải chăng Việt Nam phải đợi một biến cố tầm cỡ trên quốc tế? Tôi không biết.
Tại Đức thì sau 24 năm thống nhất, nước Đức đã đưa Đông Đức lên ngang tầm phát triển của phía Tây, đó là tin vui của họ trong mùa thu 2013. Hiện tượng người bỏ sang Tây để kiếm việc đã chấm dứt. Người Đức cũng không phải thánh thiện gì, chính trị gia của họ cũng đầy khuyết tật, cũng ôm ấp những ý đồ riêng tư và ích kỷ. Nhưng điểm ưu việt của Đức là họ quyết lòng theo một xã hội pháp quyền, tất cả phải được điều hành bằng luật pháp. Việc cựu Tổng thống của họ hiện nay phải hầu tòa vì tội lạm dụng quyền thế về một số tiền chưa đầy 1000 USD, một số tiền nực cười, đối với quan chức Việt Nam hiện nay hoàn toàn không lớn, cho thấy luật pháp của Đức triệt để như thế nào.
Tôi không nghĩ mình sẽ còn có cơ hội “điều trần” gì với ai tại Việt Nam nữa. Nhưng dân tộc Việt Nam phải được một lần hỏi ý kiến. Đã đến lúc rồi, người Việt Nam phải ngồi với nhau xem thử nên điều hành đất nước theo phương cách nào. Năm 1986 đã từng có một cuộc đổi thay quyết liệt.
Có còn một lần nữa không?

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2 năm 2015

TÌM HIỂU CÂU " ĐÓI GIỖ CHA, NO BA NGÀY TẾT"

Viên Như
Đây là câu tục ngữ được nhiều người giải thích. Câu tục ngữ này được các nhà sưu tầm đi điền dã ghi lại, rồi căn cứ vào câu này để đưa ra nhiều giải thích khác nhau. Trước hết phải ghi nhận rằng họ đã làm một công việc chuyên nghiệp. Tuy nhiên vì căn cứ vào chữ nghĩa của câu tục ngữ ấy mà giải thích nên chi mỗi người giải thích mỗi cách, ai cũng có cái lý của mình cả.
Do câu này truyền miệng lâu ngày nên trong quá trình sử dụng nó đã rơi rụng mất một số từ trước khi các nhà nghiên cứu ghi lại, vì vậy ta thấy câu “Đói giỗ cha, no ba ngày tết” là một câu không đầy đủ, ngoài chủ ngữ được hiểu ngầm thì câu trên chỉ có hai vị ngữ, có nghĩa là hai câu độc lập, như thế nó có phải một câu đâu mà căn cứ vào đó để bình. Theo tôi ai cũng hiểu đây là câu so sánh, vế trước so sánh với vế sau, nhưng lâu ngày rơi mất từ so sánh, như thế ta cần viết lại cho đúng từ so sánh. Vậy từ ấy là gì? Ta có 3 từ:
1-      Hơn “Đói giỗ cha hơn no ba ngày tết”.  
2-      Thua hay không bằng “Đói giỗ cha thua no ba ngày tết”.
3-      Bằng “Đói giỗ cha bằng no ba ngày tết” và câu đầy đủ của nó phải là. “Đói ngày giỗ cha bằng no ba ngày tết”.
Theo tôi câu 3 là hợp lý hơn cả. Trong tục ngữ cũng có câu so sánh tương tự. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”.
Phân tích câu “Đói ngày giỗ cha bằng no ba ngày tết”.
Ta có: ‘Đói’ so sánh với “No” –“Giỗ cha” so sánh với ‘ba ngày tết”
Với từ ‘bằng” ta hiểu rằng “đói” bằng với “no”, “giỗ cha bằng ngày tết”.
Nhưng giỗ cha mỗi năm chỉ có một ngày, trong khi đó tết đến ba ngày. Một bằng ba thì rõ rằng giỗ cha quan trọng hơn ba ngày tết.
Còn từ “đói” ở đây có nghĩa là tối thiểu, có nghĩa là ăn ít nhất trong ngày giỗ cha cũng bằng no ba ngày tết. Ở đây người ta dùng biện pháp so sánh dùng cái tối đa để nâng cao cái tối thiểu. Ta có thể hiểu như sau: Ngày giỗ cha là ngày quan trọng, phải tổ chức long trọng, đầy đủ, nó đầy đủ đến mức chỉ cần ăn uống tối thiểu thôi cũng bằng no ba ngày tết. Bởi vì người Việt trọng hiếu đạo, hiếu đến mức Cha chết cư tang ba năm, chưa cưới vợ thì phải chờ mãn tang đủ biết hiếu đạo quan trọng đến chừng nào.
Ở những câu tục ngữ so sánh như thế này thì nếu từ so sánh là ‘bằng” thì vế trước bao giờ cũng quan trọng hơn vế sau. Tuy ý nghĩa của các từ ở vế trước luôn ít hơn về số lượng so với vế sau nhưng lại cho rằng ‘bằng”. Ít mà bằng nhiều, nhỏ mà bằng lớn thì rõ ràng đây chỉ là một cách so sánh nhằm nâng tính quan trọng của vế trước, câu “Một miếng khi đói bằng một gói khi no” cũng là một minh chứng cho điều này. Có như thế mới thành tục ngữ chứ nếu nói sao hiểu vậy thì người xưa sáng tác ra để làm gì.
Ngược lại, nếu câu tục ngữ mà từ so sánh là “không bằng” thì vế sau quan trọng hơn vế trước, như câu „ Cha chết không lo bằng gái to trong nhà”. Cha chết là chuyện đã rồi, còn chuyện gái to, gái lớn trong nhà là một mối lo thường trực, chưa biết chuyện gì xảy ra.
Cuối năm thấy thiên hạ bình câu này cũng góp một phần bình phẩm cho vui./.

Thứ Hai, ngày 16 tháng 2 năm 2015

New York Times: Sự bạo tàn của Trung Quốc trong chiến tranh biên giới 1979

Hàng trăm người đã bị giết ở đó. Tôi nhìn thấy một chị bị chặt hết hai đùi, nằm trên khoảnh đất. Nhìn mắt chị, biết chị còn sống và xin cứu, nhưng chúng tôi chẳng thể làm gì. Tôi sẽ không bao giờ quên được...
Chiến tranh biên giới 1979 bạo tàn làm tối đi cái nhìn của Việt Nam về quan hệ với Trung Quốc (Shadow of Brutal '79 War Darkens Vietnam's View of China Relations) là một bài phóng sự của báo Mỹ New York Times, viết từ Lạng Sơn.
Ảnh: Bà Hiền chưa bao giờ có thể quên hết nỗi kinh hoàng của cuộc chiến tranh biên giới 1979
Bà Hiền chưa bao giờ có thể quên hết nỗi kinh hoàng của cuộc chiến tranh biên giới 1979
Quân xâm lược được lệnh tiêu diệt không thương tiếc
Hà Thị Hiền chỉ mới 14 tuổi, khi pháo Trung Quốc nã rền vượt các ngọn đồi xuống quanh nhà em ở miền bắc Việt Nam và hàng trăm quân Trung Quốc tràn qua biên giới.
Hiền còn nhớ em cùng cha mẹ chạy nhanh qua những cây mận, mái tóc dài đến eo của em tung bay trong gió khi họ chạy trốn bọn xâm lược. Nhưng họ chạy đúng vào hướng quân thù tiến đến.
Vài phút sau, người mẹ bị bắn chết ngay trước mặt Hiền, cha em bị thương nặng. Bà Hiền nay 49 tuổi, kể: "Tôi rất sợ, lúc ấy không thể nghĩ mình sẽ sống sót. Đạn vãi quanh tôi, tôi nghe được tiếng đạn bay và ngửi thấy mùi thuốc súng".
Bà Hiền đưa tay sát đầu để mô tả đạn bay sát, vào ngày đầu tiên của cuộc chiến ngắn ngủi nhưng tàn khốc.
Bà Hiền thăm mộ người mẹ đã bị quân Trung Quốc bắn chết ngày 17.2.1979
Bà Hiền thăm mộ người mẹ đã bị quân Trung Quốc bắn chết ngày 17.2.1979 
Chiến tranh biên giới 1979, do lãnh tụ Đặng Tiểu Bình ra lệnh "dạy cho Việt Nam một bài học", để trả đũa việc Việt Nam đưa quân tình nguyện qua
Campuchia ngăn chặn những hành vi diệt chủng của đồng minh Khơme Đỏ của Trung Quốc.
Hai bên đều tuyên bố chiến thắng nhưng đều chịu tổn thất nặng nề. Những hoài niệm về cuộc chiến ấy hằn mãi dọc vùng biên giới, không chỉ về số binh sĩ hai bên tử trận, mà còn vì quân Trung Quốc đốt phá xóm làng khi rút quân, phá hủy bệnh viện và trường học. Sau này, quân đội Trung Quốc gọi đó là "nụ hôn tạm biệt".
Lạng Sơn nay đã được tái thiết, những tòa nhà cao tầng sáng đèn tạo cảm giác về một điểm thương mại thịnh vượng. Nhưng người ở đây vẫn còn nhớ một dòng sông toàn xác chết, vẫn nhớ phải mất bao lâu mới bay tan hết mùi tử khí.
Ước tính tổng số lính hai bên bị giết là 50.000 quân, cộng thêm 10.000 dân thường Việt Nam bị giết. Lính Trung Quốc được chỉ đạo phải tàn nhẫn "thể hiện những cảm xúc cực đoan", theo một cựu sĩ quan tình báo Trung Quốc:
Xu Meihong đã qua Mỹ định cư và là người góp phần kể nhiều chuyện trong cuốn sách sử về cuộc chiến tranh biên giới mang tựa "Chiến lược quân sự Trung Quốc trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ ba" của tác giả Edward C. O’Dowd.
Dũng sĩ diệt quân xâm lược
Việc Trung Quốc quyết định san bằng Lạng Sơn để lại ấn tượng sâu sắc nơi một học sinh trung học, anh Lương Văn Lang nay là một bảo vệ. Anh kể: "Tim tôi tràn hận thù, toàn thành phố bị phá hủy, mọi thứ đều là đống đổ nát".
Hai năm sau khi lính Trung Quốc rút, Lang được tuyển làm tay súng bắn tỉa ở đơn vị dân phòng, nhằm chống Trung Quốc thực hiện các cuộc đánh lén suốt những năm 1980. Lang kể: "Tôi thường thức giấc lúc 2 giờ sáng, từ một cao điểm trông thấy lính Trung Quốc đào hầm. Đồi của chúng thấp hơn đồi của chúng tôi, đôi lúc chúng chuyển lên cao hơn. Chúng tôi chờ khi chúng chuyển đi thì bắn chúng".
Lang đã tiêu diệt 6 tên lính Trung Quốc trong 10 ngày, anh tự hào kể và vì lòng can đảm cùng việc bắn hạ địch chính xác, Lang được trao tặng 3 huy chương mà nay anh trân trọng cất giữ trong một chiếc hộp lót vải satin.
Sau khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ năm 1991, quan hệ hữu nghị anh em ấm lại, thương mại vùng biên nở hoa, những hoài niệm về chiến tranh tàn phai.
Nhưng các hoài niệm ấy ồ ạt trở lại hồi cách đây 2 tháng, khi Trung Quốc đưa giàn khoan Haiyang Shiyou 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Ngày nào cũng có chuyện tàu Trung Quốc đâm va, rượt đuổi tàu Việt Nam.
Bà Hiền nay mở một khách sạn ở Lạng Sơn đón khách du lịch Trung Quốc, nói bà vẫn nhớ nỗi kinh hoàng thời niên thiếu. Sau khi mẹ bà bị lính Trung Quốc giết, bộ đội biên phòng Việt Nam nhờ một người phụ nữ lớn tuổi trông nom người thiếu nữ. Họ khuyên hai người mất gia đình cùng những người đồng cảnh ngộ đến trú ẩn trong một cái hang.
Bà Hiền kể: "Hàng trăm người đã bị giết ở đó. Tôi nhìn thấy một chị bị chặt hết hai đùi, nằm trên khoảnh đất. Nhìn mắt chị, biết chị còn sống và xin cứu, nhưng chúng tôi chẳng thể làm gì. Tôi sẽ không bao giờ quên được...".

Thứ Hai, ngày 19 tháng 1 năm 2015

NHÌN LẠI SỰ KIỆN TRUNG QUỐC ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA NĂM 1974



Xuân Thành
17-01-2015
Tháng 1 năm 1974, hải quân Trung Quốc đánh chiếm nốt các đảo thuộc phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Thấm thoắt 36 năm đã trôi qua, lớp bụi thời gian đã phần nào che phủ lên một sự kiện này, làm nảy sinh một số nhìn nhận và đánh giá sai lầm về một sự thật lịch sử, gây phức tạp thêm cho quá trình tìm kiếm giải pháp lâu dài cho những tranh chấp ở biển Đông. Do bị tuyên truyền xuyên tạc và thiếu thông tin, không ít người Trung Quốc cho rằng quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về chủ quyền của Trung Quốc. Thậm chí, một nhóm người hiếu chiến ở quốc gia to lớn này còn cho rằng: cuộc đánh chiếm Hoàng Sa chứng minh rằng dùng vũ lực có thể giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh thổ và có ảo tưởng rằng có thể tiếp tục sử dụng vũ lực để đánh chiếm nốt biển Đông. Chính vì vậy, việc nhìn nhận và đánh giá sự kiện Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm quần đảo Hoàng Sa một cách thật khách quan vẫn là hết sức cần thiết để làm sáng tỏ sự thật lịch sử này.
Bối cảnh lịch sử của trận chiến Hoàng Sa
Trong quá trình rút khỏi Đông Dương, chính phủ bảo hộ Pháp trao trả chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền Sài Gòn từ tháng 10 năm 1950. Quân đội của chính quyền Sài Gòn cho quân đóng giữ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và thực thi quản lý nhà nước đối với hai quần đảo này.  
Năm 1973, sau khi ký Hiệp định Paris, Hoa Kỳ rút quân và thiết bị của mình ra khỏi quần đảo Hoàng Sa. Như vậy, Hoa Kỳ đã coi việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của Việt Nam Cộng hòa.
Thời gian này đã là giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đứng trước nguy cơ thảm bại rõ ràng. Do nhu cầu của chiến cuộc, việc phòng thủ Hoàng Sa bị suy yếu. Việt Nam Cộng hoà phải rút tiểu đoàn thủy quân lục chiến tại Hoàng Sa đưa vào đất liền, chỉ còn một trung đội địa phương quân trấn giữ nhóm đảo Nguyệt Thiềm. Bên cạnh đó, việc Hoa Kỳ thoả thuận ngầm với Trung Quốc rằng họ sẽ đứng ngoài cuộc chiến nếu xảy ra đã đẩy Việt Nam Cộng hoà vào thế hoàn toàn đơn độc. Tình hình đó tạo ra nguy cơ cực lớn cho công cuộc bảo vệ quần đảo Hoàng Sa; đồng thời cũng tạo thời cơ hết sức thuận lợi cho Trung Quốc hoàn thành việc xâm chiếm toàn bộ quần đảo này.
Diễn biến của trận chiến Hoàng Sa
Ngày 11 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lúc đó đang được chính quyền Sài Gòn quản lý, là một phần lãnh thổ của mình. Ngay sau đó, hải quân Trung Quốc đưa nhiều chiến hạm và tàu đánh cá có vũ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa.
Ngày 12 tháng 1 năm 1974, ngoại trưởng Vương Văn Bắc của chính quyền Sài Gòn đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động gây hấn của Trung Quốc; đồng thời, Bộ tư lệnh Hải quân của Việt Nam Cộng hoà đã đưa bốn chiến hạm ra vùng biển Hoàng Sa để bảo vệ lãnh thổ.
Cả ngày 17 và 18 tháng 1, Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình khiêu khích, các chiến hạm của họ tiến sâu vào hải phận phía tây quần đảo Hoàng Sa. Đến nửa đêm 18 tháng 1, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 đã ra đến nơi chi viện. Trận hải chiến lớn nhất và dữ dội nhất giữa hải quân Việt Nam Cộng hoà và hải quân Trung Quốc nổ ra vào sáng ngày 19 tháng 1.
Ngày 20 tháng 1, bốn phi cơ MiG-21 và MiG-23 của Trung Quốc oanh tạc các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc, và Hoàng Sa … Tiếp đó, binh lính Trung Quốc đổ bộ tấn công các đơn vị đồn trú của Việt Nam Cộng hoà trên các đảo này, chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. 58 binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hoà đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa.
Sau khi chiếm được toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã cho đập phá các bia chủ quyền tại quần đảo, đào các mộ của người Việt đã chôn ở đây, xóa các di tích lịch sử của người Việt.
Phản ứng của phía Việt Nam
Ngày 20 tháng 1 năm 1974, ngoại trưởng chính quyền Việt Nam Cộng hoà cũng đã gọi điện và gửi thư cho Chủ tịch Hội đồng Bảo an và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị có những biện pháp cần thiết trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng sa.
Ngày 26 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và công bố lập trường “về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của Việt Nam. Phản ứng trước vụ việc này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng ra tuyên bố “các nước liên quan nên giải quyết mâu thuẫn bằng đàm phán trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, và quan hệ láng giềng”. Họ đã không thể làm gì hơn, do Hoàng Sa thời gian đó không nằm trong quyền quản lý của  của mình và họ vẫn cần đến viện trợ quân sự và kinh tế của Trung Quốc.
Sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Ngày 5 tháng 6 năm 1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã lên tiếng bác bỏ những thông tin xuyên tạc về Hoàng Sa – Trường Sa và khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền Việt Nam, từ trước đến nay đều do người Việt Nam quản lý.
Ngay sau đất nước thống nhất, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tuyên bố chủ quyền đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn luôn luôn khẳng định chủ quyền hợp pháp đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trên biển Đông.
Sự kiện năm 1974 và vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa
Trong bối cảnh chính quyền Việt Nam Cộng hoà đang gần đến ngày thảm bại hoàn toàn, Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm nốt phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Nhìn nhận sự kiện này dưới bình diện của luật pháp quốc tế, người ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
Một là, những hành động đánh chiếm các đảo và quần đảo ở Biển Đông bằng vũ lực là một sự vi phạm nghiêm trọng điều 2 khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó cấm các quốc gia sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là cấm sử dụng vũ lực để xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác. Nội dung điều khoản này trong Hiến chương Liên hợp quốc là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đòi hỏi tất cả các nước thành viên của Tổ chức Liên hợp quốc, trong đó có Trung Quốc, đều phải tuân thủ.
Nguyên tắc này được phát triển và cụ thể hoá trong Nghị quyết 2625 ngày 24 tháng 10 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc trong đó quy định : “Các quốc gia có nghĩa vụ không đe doạ hay sử dụng vũ lực để vi phạm các biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hay (coi đe doạ hay sử dụng vũ lực)  như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả những tranh chấp về đất đai và những vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia”.
Hai là, hành động Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa năm 1956 và chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo này năm 1974 thực chất là một hành động xâm lược lãnh thổ của Việt Nam.
Trước khi Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm (năm 1956 và năm 1974) quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì quần đảo này đã có chủ. Trước đó vài thế kỷ, Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền của mình  một cách thật sự, liên tục và hoà bình đối với quần đảo Hoàng Sa (và cả Trường Sa). Những tài liệu lịch sử để lại đã chứng minh rõ ràng rằng Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình trên các quần đảo này ít ra là từ thời Chúa Nguyễn vào đầu thế kỷ thứ XVII. Vào thời kỳ này,  Chúa Nguyễn cử các Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải  ra hai quần đảo, mỗi năm khoảng 8 tháng, để khai thác các nguồn lợi, tài nguyên của đảo và những hoá vật từ những tàu bị đắm. Năm 1816, Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Năm 1835, Vua Minh Mạng đã cho xây đền, đặt bia đá trên hai quần đảo.  Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được giao thêm cả nhiệm vụ tuần tiễu, thu thuế trên đảo, bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi Pháp vào thống trị Đông Dương.
Cho đến ngày bị Pháp đô hộ, triều đại phong kiến Việt Nam đã liên tục thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này một cách hòa bình, không có nước láng giềng nào cạnh tranh hoặc phản đối.
Năm 1932, Pháp khẳng định An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa và sáp nhập quần đảo này vào tỉnh Thừa Thiên. Năm 1933, Pháp sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco về ký hoà ước với Nhật Bản khi đại biểu một nước lớn đề nghị thảo luận việc bổ sung Dự thảo Hòa ước nhằm mục đích giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc thì Hội nghị đã bác bỏ đề nghị đó với tuyệt đại đa số phiếu 46/51. Tại Hội nghị, khi Nhật Bản tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Đại diện Chính phủ Bảo Đại là Thủ tướng Trần Văn Hữu đã chính thức tuyên bố và khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo mà không có nước nào lên tiếng phản đối. Sau đó, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã triển khai đóng quân trên hai quần đảo, quản lý hai quần đảo theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954; đồng thời luôn khẳng định và thực thi chủ quyền một cách hoà bình và liên tục đối với hai quần đảo. Năm 1961, Việt Nam Cộng hoà sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam, và năm 1973, sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy.
Trong khi đó, Trung Quốc không có bằng chứng lịch sử và pháp lý xác thực nào để yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa (và quần đảo Trường Sa). Thực tế là, vào đầu thế kỷ 20, “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” xuất bản năm 1905, tái bản năm 1910, đã thể hiện rất rõ ràng điểm cực Nam của Trung Quốc chỉ là đảo Hải Nam và “Trung Quốc địa lý học giáo khoa thử” xuất bản năm 1906 ghi rõ điểm mút ở phía nam Trung Quốc là Châu Nhai, Quỳnh Châu, vĩ tuyến 18013′ bắc. Các công trình nghiên cứu chính sử và các sử liệu chính thức của các triều đại phong kiến Trung Quốc từ đời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh cho đến nhà Thanh cũng cho thấy một kết luận tương tự: điểm cực Nam của cương vực Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam.
Theo nhiều tư liệu của Trung Quốc và của các học giả nước ngoài thì phải đến đầu thế kỷ 20, trước sự đe doạ của chủ nghĩa nghĩa bành trướng Nhật Bản, Trung Quốc mới quan tâm đến quần đảo Hoàng Sa và đến những thập kỷ 20 và 30 thì mới thể hiện ý đồ tranh giành chủ quyền với chính quyền bảo hộ Pháp. Cho đến lúc đó thì người Trung Quốc chưa có hành động thể hiện sự chiếm hữu thực sự nào đối với các đảo ở quần đảo Hoàng Sa. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vào tháng 11 năm 1946, với lý do giải giáp quân Nhật, quân đội Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Phú Lâm (thuộc Nhóm Đông của quần đảo Hoàng Sa và đảo Itu Aba (thuộc quần đảo Trường Sa) và đến tháng 4 năm 1950 thì rút khỏi đảo Phú Lâm. Sau khi đuổi được quân đội Tưởng Giới Thạch ra khỏi lục địa, năm 1956 chính quyền Bắc Kinh cho quân đánh chiếm toàn bộ phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa.
Ba là, theo luật pháp quốc tế việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa không tạo ra được chứng cứ để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo, đá mà họ đã dùng vũ lực để chiếm đoạt. Nghị quyết 2625 ngày 24 tháng 10 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc được trích dẫn ở trên đã nêu rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe doạ hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”.
Hành động xâm lược nói trên không bổ sung vào bộ hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Những hành động như vậy đã bị cộng đồng quốc tế lên án mạnh mẽ và chắc chắn sẽ bị các toà án quốc tế bác bỏ một khi chúng được đưa ra tòa án quốc tế nhằm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.
Tóm lại, chiếu theo các quy định của luật pháp quốc tế, có thể nói rằng hành động của Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào các năm 1956 và năm 1974 là sự vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc “cấm việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” và bị coi là “hành động xâm lược”. Dù  có chiếm đóng thêm một trăm năm nữa thì Trung Quốc cũng không có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Những gì thuộc về Cesar sẽ phải trả về cho Cesar. Quần đảo Hoàng Sa  thuộc về Việt Nam phải trả về cho Việt Nam. Đó là một sự thật lịch sử, không thể nào thay đổi./.

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

Thế giới không phẳng - “Siêu thị ngàn sao” và phép thử lòng trung thực

VÕ VĂN DŨNG (CHLB ĐỨC)
 
Một điểm bán bí bên vệ đường tại thành phố Passau (Đức). Vì không có bất cứ nhân viên bán hàng nào nên khách hàng tự chọn bí, tự tính tiền rồi cho đúng số tiền ấy vào hộp đựng tiền - Ảnh: Võ Văn Dũng
Ngày cuối tuần, người bạn ở ngoại ô thành phố Passau (phía đông nam nước Đức) rủ tôi đi mua bí đỏ ở “siêu thị ngàn sao”.
Tên gọi thế nào thì “siêu thị” thế ấy: bí chất thành nhiều đống ngay bên vệ đường, không hề được che chắn, một bên là cánh đồng cỏ xanh mướt, một bên là con đường nhựa vi vu xe cộ lại qua. “Nhân viên thu ngân” là hai hộp sắt có khe để cho tiền vào. Tuyệt nhiên không còn ai khác!
Giá bí tính theo trái, tùy loại và kích cỡ mà có giá từ 70 cent đến 5 euro (19.000-135.000 đồng/trái). Khách hàng chọn bí, tự cộng tiền rồi cho đúng số tiền đó vào khe của hộp sắt (hộp này không có chức năng thối tiền). 
Có lẽ nhiều bạn đọc đang có cùng câu hỏi: chủ nhân mớ bí đó không sợ bị khiêng mất cái hộp tiền hay bị chôm chỉa bí sao?
Thật ra ngay bên dưới hộp đựng tiền có dòng chữ cảnh báo: “Chú ý, có camera giám sát. Những hành vi trộm cắp sẽ bị phát hiện”. Song, có người vui tính đã cố ý đi tìm xung quanh xem camera đặt ở đâu giữa đồng cỏ mà tìm mãi chẳng ra. 
Kiểu bán hàng này còn được áp dụng cho cả hoa, chỉ khác đôi chút là hoa vẫn đang bén rễ trong lòng đất, người mua tự nhổ cả cành rồi tự tính, tự trả tiền. 

2. Khi mua hàng kiểu này, khách hàng không chỉ cảm thấy cực kỳ thoải mái mà còn ngầm hiểu rằng người bán hàng đang đặt niềm tin vào lòng trung thực của mỗi người. Tất nhiên, những rủi ro như khách hàng trả không đúng số tiền, hay thậm chí chẳng trả đồng nào là điều khó tránh khỏi triệt để.
Song, không vì số ít “xấu xí” mà những nông dân chăm chỉ lại “kết liễu” cách bán hàng độc đáo mang đậm dấu ấn ruộng đồng ấy. 
Về phần siêu thị, hầu hết siêu thị tại Đức không giữ túi xách của khách, cũng không có đội ngũ bảo vệ túc trực. Có những sản phẩm được bày ngay trước cửa - nơi tấp nập người qua lại. Sẽ thật hời hợt nếu chỉ nghĩ rằng làm như thế khác nào tạo điều kiện cho kẻ gian, mà quên màng đến ẩn ý của niềm tin vào đa số đàng hoàng. 
Cũng lại chuyện liên quan tính trung thực, tại Đức (và có lẽ cũng ở rất nhiều nơi khác) khi ai đó chẳng may va quẹt xe người khác mà không có chủ xe ở đó, họ sẽ tự động kẹp lên xe tấm danh thiếp hay mẩu giấy chứa thông tin liên lạc để thực hiện đền bù. 

3. Khi sống ở môi trường xã hội phải chứng kiến quá nhiều hành động không trung thực trong cuộc sống, rất có thể chúng ta trở nên lãnh cảm, hay tệ hơn là hòa vào dòng chảy ấy nếu “hệ miễn dịch” không đủ mạnh.
Nhiều người hoặc công khai hay lén lút tè bậy, đổ rác, hút thuốc nơi có bảng cấm; lăm le vượt đèn đỏ khi không thấy công an; hôi của người bị nạn; dùng khổ nhục kế lợi dụng lòng trắc ẩn; sở hữu bằng cấp giả - năng lực giả lại tha thiết chức vụ thật... 
Dường như chỉ số cảnh giác tỉ lệ nghịch với chỉ số bình an và niềm tin vào sự tử tế của con người. 

4. Khi một người thầy người Đức của tôi sắp có chuyến công tác đầu tiên ở TP.HCM, ông đã hỏi các sinh viên Việt Nam về những món ăn nên thưởng thức, những nơi nên đến trong dịp cuối tuần...
Sau khi tư vấn, các bạn trẻ Việt Nam không quên cung cấp một loạt bí quyết cảnh giác kẻ gian: đi trên đường nhớ đeo chéo túi xách, hạn chế nghe điện thoại di động - nếu có nghe thì nhớ không đứng sát vỉa hè, vừa nghe vừa quan sát xung quanh; đến nơi đông người coi chừng bị móc túi - rạch giỏ...
Thật đáng buồn. Điều đó có thể làm hạ nhiệt niềm mến thương với nơi ta đang sống, thất thoát niềm tin ở những điều tốt đẹp, trì hoãn ta nồng ấm với người dưng.
Cảnh giác với sự gian trá vốn dĩ là điều cần thiết. Song, sẽ thật đáng lo ngại khi cảnh giác lấn át cả niềm tin. Bên cạnh việc có những biện pháp giám sát, trừng phạt thích đáng những hành vi thiếu trung thực làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác, có lẽ cũng cần lắm sự mạnh dạn để tạo ra những phép thử lòng trung thực như “siêu thị ngàn sao” đã nhắc đến ở trên?
Cần thử để khẳng định ta vững lòng tin cái xấu là thiểu số, để tạo ra những trải nghiệm giao dịch thú vị và ấm áp, để lòng trung thực và cái tốt được thực hành thường xuyên bằng những việc giản dị.
Những thùng trà đá miễn phí bên vỉa hè, những bảng chỉ đường nguệch ngoạc viết tay ở một góc phố, những quán cơm 2.000 đồng... phải chăng là những đốm lửa xuất phát?

Theo TTCT

Hai mươi năm giá trị Fulbright

Ngày 17.1.2015, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) sẽ chính thức đánh dấu mốc 20 năm hoạt động tại VN. FETP đã và sẽ tiếp tục mang lại cho giáo dục VN những giá trị nào? Báo Thanh Niên đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chương trình này.
Tiên phong cho những bước đổi mới
Thưa ông, đã có rất nhiều thông tin về quá trình thành lập của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright. Theo ông, giá trị quan trọng nhất cho sự ra đời này là gì?
Sau 20 năm nhìn lại, giá trị cốt lõi của FETP nằm ở sự đồng hành với các nỗ lực cải cách kinh tế ở nước ta. FETP ra đời đúng vào thời điểm VN chuẩn bị bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ và sắp gia nhập ASEAN. Nền kinh tế đang trong quá trinh chuyển đổi  từ kế hoạch hóa, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường (KTTT), đòi hỏi một hệ thống tri thức và công cụ quản lý kinh tế hoàn toàn mới. Nói cách khác, các nhà quản lý khi ấy vẫn còn rất bỡ ngỡ với KTTT.
Chính trong bối cảnh đó, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright được thành lập như một trung tâm đào tạo về kinh tế học ứng dụng, cung cấp kiến thức kinh tế thị trường cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách, nhằm hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang KTTT. FETP là một trong những trường đầu tiên đưa kiến thức KTTT vào VN một cách có hệ thống, tạo được sự gắn bó mật thiết giữa kinh tế VN và tri thức toàn cầu.
Trong 20 năm hoạt động của mình, theo ông đâu là những giá trị quan trọng mà FETP mang lại cho giáo dục VN, cho người học?
FETP luôn nỗ lực một cách có ý thức đi tiên phong trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế VN, đặc biệt là trước những bước tiến quan trọng. Ra đời từ năm 1995 nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo kiến thức KTTT, sau 13 năm, đến năm 2008, FETP quyết định mở ra chương trình thạc sỹ chính sách công.
Vì sao lại có sự chuyển đổi này? Vào năm 1995, khi nền kinh tế thị trường của nước ta còn manh nha, giá trị quan trọng nhất đến từ việc hiểu đúng cơ chế vận hành của KTTT. Được trang bị những tri thức này, các nhà quản lý kinh tế có thể sửa chữa những khiếm khuyết của hệ thống kinh tế cũ – giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, tôn trọng quyền tự do kinh doanh của người dân, mở cửa hội nhập với kinh tế toàn cầu – nhờ đó nền kinh tế khởi sắc.
Nhưng đến nửa cuối thập niên 2000, nền kinh tế của chúng ta đã trở nên phức tạp, năng động, và hội nhập hơn rất nhiều. Sự thiếu hụt kiến thức về thiết kế và phân tích chính sách trong các cơ quan quản lý kinh tế ngày càng bộc lộ rõ. Nói khác đi, năng lực điều hành và xây dựng chính sách phát triển bất cập so với sự phức tạp của nền kinh tế, và đây là một nguyên nhân quan trọng gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2007 – 2008 mà hệ quả còn kéo dài cho đến ngày hôm nay.
Trong bối cảnh này, FETP mong muốn đào tạo một lớp lãnh đạo, nhà kinh tế có đủ tri thức về chính sách công, nhờ đó ra chính sách hiệu quả hơn. FETP một lần nữa đi tiên phong trong ngành chính sách công. Khi đăng ký chuyên ngành đào tạo này, chính Bộ GD-ĐT cũng cho biết do chưa có mã ngành chính sách công nên phải đưa ra mã ngành mới. Việc có mã ngành mới này mở ra cơ hội cho một số trường khác xây dựng chương trình đào tạo chính sách công.
Hiện nay, FETP lại đang đứng trước một cơ hội, đồng thời là một thử thách lớn, đó là phát triển thành Trường ĐH Fulbright Việt Nam (FUV). Sự bất cập của nền giáo dục đại học Việt Nam là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế và xã hội VN. Lần này, FETP hy vọng đóng góp vào nỗ lực cải cách đại học ở Việt Nam bằng cách thử nghiệm một mô hình đại học truyền thống trên thế giới nhưng hoàn toàn mới ở VN, đó là ĐH tư thục không vì lợi nhuận.
Chúng tôi tin rằng dù thành công hay thất bại thì Trường ĐH Fulbright Việt Nam cũng sẽ cung cấp những kinh nghiệm và bài học quý báu cho các trường khác muốn đi theo con đường này. Kinh nghiệm của FUV cũng sẽ giúp Bộ GD-ĐT hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý cho loại hình đại học tư thục không vì lợi nhuận.
ĐH Fulbright Việt Nam và những phép thử
Ông vừa đề cập đến Trường ĐH Fulbright VN, một kỳ vọng mới của hệ thống giáo dục ngoài công lập tại VN. Trường này thành lập dựa trên nguyên tắc nào?
Một nguyên tắc xuyên suốt từ khi thành lập Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cho đến sắp tới khi Trường ĐH Fulbright VN ra đời vẫn luôn là đề cao giá trị tri thức, đó là tôn trọng tự do học thuật và giá trị nghiên cứu. Ở các trường ĐH hàng đầu thế giới, giảng dạy và nghiên cứu luôn song hành, vì để giảng dạy tốt thì phải có nghiên cứu tốt. Đáng tiếc là ở đa số các trường ĐH tại VN hiện nay, nghiên cứu vẫn được đặt ở vị trí thứ yếu. Gần đây nhiều trường đã cố gắng sửa chữa khiếm khuyết này, nhưng năng lực và điều kiện nghiên cứu của các trường lại chưa đủ.
Muốn có nhà nghiên cứu xuất sắc, phải xây dựng được môi trường thích hợp. Môi trường đó phải trọng dụng nhân tài, không tuyển dụng dựa trên các tiêu chí phi học thuật. Môi trường đó phải tạo ra không gian rộng rãi để nhân tài thể hiện tài năng và tối đa hóa giá trị của mình. Đồng thời, để tạo ra giá trị cho xã hội, bên cạnh tri thức toàn cầu, các nhà nghiên cứu cũng cần có những hiểu biết sâu sắc về địa phương, và chỉ nhờ sự kết hợp này thì mới có thể “tiếp biến” tri thức toàn cầu để kiến tạo tri thức mới, có lợi cho nhà trường và cho đất nước.
Từ 20 năm qua, FETP vẫn luôn theo đuổi những giá trị này và trên thực tế, FETP là một “ốc đảo” với những điều kiện thuận lợi này. Những hiểu biết về xã hội, kinh tế và giáo dục VN cũng được chúng tôi tích lũy qua quá trình nghiên cứu, phân tích chính sách, thảo luận với Chính phủ. Vì vậy, đây là những thuận lợi để Trường ĐH Fulbright Việt Nam ra đời và phát triển theo con đường của những trường tiên tiến trên thế giới.
Như ông đã đề cập, một điểm rất mới của Trường ĐH Fulbright VN là hoạt động theo hình thức tư thục phi lợi nhuận. Mặc dù rất muốn, nhiều trường ĐH tại VN từ trước tới nay không thể thực hiện được điều này. Điểm khác biệt là ở đâu, thưa ông?
Trường ĐH Fulbright VN tuy là mô hình mới ở VN nhưng lại là mô hình tư thục không vì lợi nhuận quen thuộc ở các nước có nền giáo dục tiên tiến. Có 3 điểm chính, cũng là khác biệt với các trường VN mà FUV xác định trong cơ chế hoạt động của mình, bao gồm quản trị, tài chính và nhân sự.
Về quản trị, trường không có chủ sở hữu, không có cổ đông như các trường tư thục khác ở VN. Điều hành trường sẽ là Hội đồng trường (Board of Trustee). Hội đồng này sẽ thuê hiệu trưởng và ban giám hiệu để quản lý trường. Về nguyên tắc, trường là của xã hội, của cộng đồng. Mọi giá trị thặng dư (nếu có) sẽ được đầu tư trở lại cho trường chứ không chia cho bất kỳ đối tượng nào khác.
Tài chính của trường sẽ được tự chủ, do Quỹ tín thác sáng kiến ĐH VN (TUIV) quản lý. Tài chính được huy động chủ yếu từ ba nguồn: tài trợ ổn định hàng năm của Chính phủ Mỹ; tiền thiện nguyện, tài trợ của các tổ chức, cá nhân tại nước ngoài; và tài trợ, của tổ chức, cá nhân tại VN.
Về nhân sự, trọng dụng nhân tài là nguyên lý cốt lõi; quy trình tuyển dụng, đề bạt dựa trên tài năng chứ không dựa trên những tiêu chuẩn phi học thuật.
Theo tôi, đây là những phép thử cho giáo dục VN. Như hiểu biết của chúng tôi, hiện nay chưa có một trường ĐH nào tại VN thành lập và phát triển dựa vào nguồn vốn thiện nguyện, hiến tặng như vậy. Nó sẽ là phép thử chứng tỏ sự quan tâm của doanh nghiệp, cá nhân ở VN đối với giáo dục như thế nào? Sẽ có nhiều người ủng hộ, hiến tặng kinh phí cho Trường ĐH Fulbright hoạt động hay không?
Cách quản trị mới, tuyển dụng nhân sự trong trường đại học mới cũng sẽ là phép thử xem cách làm này có thể thành công tại VN hay không. Từ đó, các trường khác có thể học hỏi áp dụng mô hình quản trị này.
Mọi người kỳ vọng vào sự ra đời của Trường ĐH Fulbright VN. Còn bản thân trường thì kỳ vọng vào điều gì, thưa ông?
Như đã nói ở trên, FUV kỳ vọng sẽ đóng góp một cách thiết thực cho nỗ lực cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam bằng cách thử nghiệm mô hình mới và tạo ra giá trị giáo dục đích thực. Để làm điều này, chúng tôi dự kiến sẽ phát triển trường theo từng bước một cách thận trọng. Ban đầu, trường sẽ chỉ đào tạo thạc sĩ và phát triển với quy mô vừa phải. Sau đó, trường mới đào tạo cử nhân và tiến sĩ.
Chúng tôi kỳ vọng nhất là về chất lượng. Trường sẽ là nơi đáp ứng nhân lực từ chất lượng cao cho xã hội. Ban đầu, các chuyên ngành đào tạo sẽ là chính sách công, luật, kinh tế học, tài chính, quản trị… Sau đó, chúng tôi sẽ từng bước chuyển sang đào tạo các ngành khoa học, kỹ thuật, môi trường và biến đổi khí hậu… Ngoài một số ngành là thế mạnh sẵn có, trường sẽ chú trọng phát triển những ngành học giúp tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững tại VN. Chúng tôi muốn góp một phần giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động trình độ cao, vốn là một trong những nút thắt tăng trưởng quan trọng ở VN.
Một mô hình mới như vậy, chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn trong quá trình thành lập. Ông có thể chia sẻ về điều này hay không?
Dự án Trường ĐH Fulbright VN được bắt đầu từ năm 2011, khi còn chưa có khuôn khổ pháp lý cho loại hình ĐH tư thục không vì lợi nhuận. Ngay cả nghị định hướng dẫn cũng như Điều lệ trường ĐH ra đời thời gian vừa qua vẫn còn chung chung và vướng mắc một số điểm. Chẳng hạn, chưa quy định việc miễn thuế thu nhập cho các tổ chức, cá nhân hiến tặng tài sản cho các trường ĐH không vì lợi nhuận.
Một khó khăn rõ ràng khác trong khi các trường tư thục tại VN có cổ đông đầu tư, còn các trường công lập thì có thể dựa vào nguồn ngân sách, đất đai … của Nhà nước, còn Trường ĐH Fulbright VN chủ yếu chỉ dựa vào nguồn tiền thiện nguyện để phát triển.
Việt Nam và “lựa chọn thành công”
Nghe ông chia sẻ về Trường ĐH Fulbright VN, có vẻ như tâm tư về giáo dục VN ở ông có rất nhiều?
Không chỉ có tôi mà tất cả những người làm ở Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đều luôn có ý thức nghiên cứu để phân tích, góp ý cho giáo dục VN. Những bước đi của FETP đồng thời cũng là những bước tiên phong trong giáo dục đại học.
Đầu năm 2008, chúng tôi có xuất bản một phân tích có tựa đề “Lựa chọn thành công”. Lập luận quan trọng nhất trong nghiên cứu này là VN nằm ở giao diện giữa hai khu vực Đông Bắc Á (rất thành công) và Đông Nam Á (thành công vừa phải), vậy nước ta  sẽ đi theo quỹ đạo nào? Các nước Đông Bắc Á đã thành công trong việc kiến tạo môi trường cho tài năng phát triển, từ đó đưa đất nước gia nhập hàng ngũ các nước phát triển. Trong khi đó, đa số các nước Đông Nam Á chưa làm được điều này. Việc VN có thể đi theo mô hình của các nước Đông Bắc Á hay không về cơ bản phụ thuộc vào sự lựa chọn của chính chúng ta. Trong sự lựa chọn này, lựa chọn về giáo dục là một trong những điểm quan trọng nhất.
Vậy để giáo dục VN thành công, theo ông điểm nào cần làm trong giai đoạn này?
Các trường ĐH của VN chủ yếu có tính địa phương, ít có sự giao lưu và tiếp biến toàn cầu. Để thành công cần đưa được những giá trị toàn cầu vào điều kiện cụ thể của VN. Nếu chỉ nô lệ vào các điều kiện bên ngoài hoặc luôn coi VN là ngoại lệ cá biệt thì tôi e rằng sẽ không thể thành công được.
Giá trị cốt lõi và là “xương sống” của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cũng như Trường ĐH Fulbright Việt Nam sắp tới là góp phần đạo tạo những con người có năng lực tư duy, nhận thức, và tinh thần hội nhập toàn cầu, đồng thời áp dụng được những giá này vào xã hội VN. Giá trị cốt lõi này vẫn sẽ luôn được giữ vững trong con đường phát triển của FETP và sắp tới là FUV.
Xin cám ơn ông về buổi trò chuyên thú vị này.
Đăng Nguyên (Thực hiện)