Thứ Bảy, ngày 22 tháng 11 năm 2014

Kết luận Kiểm tra tài sản nguyên Tổng thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền

Ngày 21.11, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã có thông cáo báo chí về Kết luận kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm về thực hiện chính sách nhà, đất đối với ông Trần Văn Truyền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ.


Ảnh TL
Toàn văn Thông cáo như sau: Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm về thực hiện chính sách nhà đất đối với đồng chí Trần Văn Truyền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ. Sau khi báo cáo xin ý kiến Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thông báo:
Tại kỳ họp lần thứ 26, ngày 02-03/10/2014 và kỳ 27, ngày 29-30/10/2014 qua xem xét, thảo luận báo cáo kết quả kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy:
Đồng chí Trần Văn Truyền là cán bộ xuất thân từ gia đình có công với cách mạng, có quá trình cống hiến lâu dài, đảm nhiệm nhiều chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở địa phương và cơ quan Trung ương, có những đóng góp thiết thực trong công tác xây dựng Đảng và chính quyền trên các cương vị và chức trách, nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, trong thời gian còn đương chức và khi về nghỉ hưu, đồng chí đã có một số khuyết điểm, vi phạm trong thực hiện chính sách nhà, đất như sau:
1. Về thửa đất tại số 598B5 Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Tháng 12-1992, đồng chí Trần Văn Truyền được Quân khu 9 cấp thửa đất tại lô số 61 thuộc Khu C, địa chỉ 598B5 Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thị xã Bến Tre do đơn vị Quân y thuộc Tỉnh đội Bến Tre quản lý với diện tích 210 m2 (diện tích trên thực tế là 351 m2). Việc đồng chí Trần Văn Truyền tuy không phải là cán bộ quân đội nhưng được cấp mảnh đất trên là do Tỉnh đội Bến Tre đề nghị với Quân khu 9, trong khi đồng chí không có đơn đề nghị, không có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi công tác.
Sau khi được cấp đất, gia đình có san lấp mặt bằng, làm tường rào nhưng không làm nhà ở mà cho người khác mượn để mở quán bán cơm. Đến năm 2002, khi được chính quyền địa phương thông báo nộp 16 triệu đồng tiền sử dụng đất để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng chí Trần Văn Truyền làm đơn đề nghị miễn giảm tiền sử dụng đất theo chính sách với gia đình người có công và được Cục Thuế tỉnh Bến Tre quyết định miễn giảm theo Nghị định số 38/CP, ngày 23-8-2000 của Chính phủ đúng với số tiền là 16 triệu đồng.
Năm 2007, Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiến hành kiểm tra Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre về nhà ở, đất ở. Qua kiểm tra cho thấy, năm 1992, đồng chí Trần Văn Truyền đã nhận đất của Quân khu 9, đến năm 2003 đồng chí lại được tỉnh bán cho căn nhà số 06 Lê Quý Đôn, Phường 1, thành phố Bến Tre theo Nghị định 61/CP của Chính phủ; do vậy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã yêu cầu đồng chí Truyền trả lại mảnh đất trên cho Tỉnh đội Bến Tre quản lý; đồng chí Trần Văn Truyền cũng đã có đơn trả lại. Nhưng từ năm 2007 đến nay, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh chưa thu hồi được thửa đất trên, do giữa gia đình đồng chí Trần Văn Truyền và các cơ quan chức năng của tỉnh chưa thống nhất được mức giá đền bù phần chi phí gia đình bỏ ra để san lấp mặt bằng và làm tường rào. Trong khi chưa giải quyết dứt điểm, thì đến năm 2013, đồng chí lại có đơn xin làm nhà tạm trên lô đất này cho con dâu làm kho chứa bia và đã được Sở Xây dựng cấp giấy phép.
Như vậy, đồng chí Trần Văn Truyền biết mình không đúng đối tượng được cấp đất, nhưng vẫn nhận. Sau khi đã được mua nhà theo Nghị định số 61/CP và sau khi được Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu trả lại, đồng chí đã không kiên quyết, dứt khoát thực hiện, sau đó lại có đơn xin làm nhà tạm để con dâu sử dụng. Việc làm trên của đồng chí Trần Văn Truyền thể hiện sự thiếu gương mẫu của người cán bộ lãnh đạo, gây dư luận không tốt đối với bản thân đồng chí.
Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bến Tre và các cơ quan chức năng thực hiện không nghiêm chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thu hồi đất, để kéo dài, gây dư luận không tốt đối với lãnh đạo ở địa phương.

2. Về căn nhà tại số 06 Lê Quý Đôn, Phường 1, thành phố Bến Tre
Năm 2002, UBND tỉnh đồng ý cho gia đình đồng chí Trần Văn Truyền, được thuê căn nhà số 06 Lê Quý Đôn, Phường 1, thành phố Bến Tre với diện tích: nhà chính 118,22 m2, nhà phụ 24,48 m2, khuôn viên đất 117,69 m2. Trước khi đồng chí nhận nhà, Công ty Xây dựng và Phát triển nhà Bến Tre đã tiến hành sửa chữa, cải tạo mới căn nhà trên với tổng chi phí là 413,385 triệu đồng.
Năm 2003, khi đã chuyển công tác ra Hà Nội, đồng chí Trần Văn Truyền có đơn xin mua căn nhà số 06 Lê Quý Đôn và đã được UBND tỉnh Bến Tre ra Quyết định chuyển quyền sử dụng đất và bán cho đồng chí căn nhà trên theo Nghị định 61/CP. Trong đơn xin mua nhà, đồng chí Truyền cam kết chưa được cấp đất theo chính sách nhà, đất của Nhà nước. UBND tỉnh Bến Tre đã quyết định bán cho đồng chí Trần Văn Truyền căn nhà trên theo Nghị định 61/CP, với số tiền miễn giảm là 76,291 triệu đồng; số tiền còn phải nộp cho Nhà nước là 277,969 triệu đồng.
Như vậy, thời điểm mua căn nhà trên, đồng chí Trần Văn Truyền đã được hưởng chính sách miễn giảm tiền sử dụng đất tại số 598B5 Nguyễn Thị Định trước đó vào năm 2002. Bản thân đồng chí Trần Văn Truyền đã thiếu tự giác, thiếu gương mẫu khi đồng thời trong hai năm 2002 và 2003 được hưởng 2 lần chính sách về nhà, đất của Nhà nước, không đúng với quy định tại khoản 4, Điều 2, Nghị định 61/CP của Chính phủ "Việc hỗ trợ tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng chỉ xét một lần cho một hộ gia đình...”.
Việc UBND tỉnh chỉ đạo cho sửa chữa, bán cho đồng chí Trần Văn Truyền căn nhà số 06 Lê Quý Đôn cũng có một số khuyết điểm, vi phạm.
3. Về căn nhà số 105 Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 15, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2003, khi đã chuyển ra Hà Nội công tác, đồng chí Trần Văn Truyền có đơn gửi UBND Thành phố Hồ Chí Minh trình bày hoàn cảnh khó khăn do công tác xa ở Hà Nội và có nhu cầu nhà ở tại Thành phố Hồ Chí Minh trong khi gia đình không có khả năng mua đất để xin thuê nhà tại Thành phố và đã được UBND Thành phố giải quyết cho đồng chí thuê căn nhà số 105 Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 15, quận Phú Nhuận.
Năm 2008, do thời hạn hợp đồng gần hết, đồng chí có làm đơn và được Công ty Quản lý - Kinh doanh nhà Thành phố Hồ Chí Minh đồng ý chuyển tên trong hợp đồng cho con gái là Trần Thị Ngọc Huệ làm việc tại Công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Sài Gòn, tiếp tục được thuê căn nhà trên.
Đến tháng 3-2011, đồng chí làm đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, bức xúc về nhà ở và đề nghị UBND Thành phố Hồ Chí Minh bán căn nhà này cho đồng chí và để con gái là Trần Thị Ngọc Huệ đứng tên. Sau đó các cơ quan chức năng của Thành phố Hồ Chí Minh đã đồng ý bán căn nhà trên cho bà Trần Thị Ngọc Huệ theo hình thức thu 100% tiền sử dụng đất theo đơn giá do Thành phố quy định hàng năm và thực hiện quy trình bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước theo Nghị định 61/CP của Chính phủ, nhưng không tính miễn, giảm các khoản được hỗ trợ theo chính sách. Vào thời điểm tháng 7/2014, qua kiểm tra và báo cáo của công an quận Phú Nhuận, đồng chí Trần Văn Truyền và gia đình không sử dụng căn nhà này mà cho người khác ở và bán hàng.
Tại thời điểm làm đơn xin mua căn nhà này, vợ đồng chí là bà Phạm Thị Thủy đang đứng tên sở hữu căn nhà số 465/48C khu phố Phước Hậu, phường Phú Khương, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh là nhà được tặng; con gái đồng chí là Trần Thị Ngọc Huệ đang đứng tên sở hữu căn hộ 28.04A, Khu căn hộ cao cấp Hùng Vương tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, đồng chí Trần Văn Truyền đã thiếu trung thực, không báo cáo thông tin đầy đủ, đúng sự thật về nhà, đất; đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến quyết định bán nhà của UBND Thành phố Hồ Chí Minh không đúng đối tượng và chính sách của Nhà nước. Sau khi được mua thì không sử dụng ngay mà lại để cho người khác ở và bán hàng. Việc làm trên của đồng chí là có vi phạm, làm cho uy tín cá nhân bị giảm sút, gây dư luận xấu trong xã hội.
4. Về nhà công vụ tại số 61, đường Trần Quang Diệu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Năm 2004, đồng chí Trần Văn Truyền được Cục Quản trị A, Ban Tài chính quản trị Trung ương hợp đồng với Văn phòng Chính phủ cho thuê nhà công vụ phòng số 607, B1, Khu nhà A, 61 Trần Quang Diệu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội với diện tích 95m2...
Tháng 10-2011, đồng chí Trần Văn Truyền nghỉ hưu theo chế độ. Đầu năm 2014, khi có thông tin, dư luận về thực hiện chế độ nhà công vụ và Ủy ban Kiểm tra Trung ương nắm tình hình thì đồng chí mới đề nghị trả lại nhà. Đến tháng 5-2014, Bộ Xây dựng đã tiếp nhận lại căn hộ trên.
Như vậy, sau khi đã nghỉ hưu gần 3 năm ở tỉnh Bến Tre, đồng chí Trần Văn Truyền mới trả lại nhà công vụ ở Hà Nội cho Nhà nước. Với cương vị nguyên là cán bộ cấp cao, đồng chí có khuyết điểm khi chưa thực sự gương mẫu trong sử dụng nhà công vụ.
5. Về căn nhà biệt thự tại xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre

Ảnh TL
Từ năm 2009 - 2010, con trai đồng chí Trần Văn Truyền là Trần Hoàng Anh, cán bộ cảnh sát giao thông Công an tỉnh mua gom đất của 4 hộ dân (với 08 thửa liền kề), diện tích 16.567,4m2, tổng số tiền theo hợp đồng là 1,43 tỷ đồng (ngoài ra còn 01 lô đất gần 8.000 m2 của con gái đồng chí là Trần Thị Ngọc Huệ mua, nhưng chưa sử dụng).
Tháng 12-2012, căn cứ đơn đề nghị của ông Trần Hoàng Anh, UBND thành phố Bến Tre cấp phép xây dựng nhà cho ông Trần Hoàng Anh với diện tích xây dựng tầng trệt 441,71 m2; tổng diện tích sàn 1.226,61 m2; công trình có 03 tầng với chiều cao là 19,96m. Tháng 5/2014, UBND Thành phố Bến Tre đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất cho ông Trần Hoàng Anh. Đồng chí Trần Văn Truyền có báo cáo giải trình về nguồn kinh phí đầu tư xây dựng công trình trên là từ 07 tỷ đồng tiền của vợ chồng đồng chí dành dụm và 04 tỷ đồng mượn của bà Phạm Thị Kim Anh, trú tại khu phố Phước Hậu, phường Long Phước, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh và hiện đồng chí đang ở trong căn nhà này..
Như vậy, việc mua đất và xây dựng nhà của các con đồng chí Truyền được thực hiện theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với cương vị nguyên là cán bộ lãnh đạo cấp cao, đồng chí Trần Văn Truyền đã thiếu cân nhắc và chủ quan khi xây dựng công trình biệt thự lớn trong khuôn viên đất rộng, trong khi nhà ở và đời sống nhân dân địa phương trong vùng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; gây phản cảm và tạo dư luận xấu, lan rộng trong xã hội. Việc làm trên của đồng chí thể hiện sự thiếu cân nhắc thận trọng và thiếu gương mẫu trong thực hiện Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ảnh hưởng đến uy tín của cá nhân đồng chí và tổ chức đảng; vi phạm mục C, khoản 1, Điều 1, Hướng dẫn số 03, ngày 15-3-2012 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01-01-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm: “Làm những việc pháp luật không cấm, nhưng ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên”.
6. Về căn nhà số 465/48C, khu phố Phước Hậu, phường Long Phước, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh Nghĩa Phạm
Nguồn gốc căn nhà số 465/48C, khu phố Phước Hậu, phường Long Phước, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh là từ việc đồng chí Trần Văn Truyền có quen biết gia đình bà Trần Thị Lý, sinh năm 1930, trú tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lý có nhận đồng chí Trần Văn Truyền làm con nuôi . Tháng 7-2000, bà Lý có lập di chúc để lại cho con gái là Phạm Thị Kim Anh, sinh năm 1967. Trong di chúc của bà Lý có nội dung để lại toàn bộ tài sản cho con gái là bà Kim Anh, do bà Kim Anh toàn quyền quyết định khi bà mất, trong đó đồng ý việc chia tài sản cho các con đỡ đầu và các cháu.
Sau khi bà Lý mất, bà Kim Anh đã mở di chúc để chia số tài sản thừa kế cho một số người, trong đó có đồng chí Truyền. Năm 2008, bà Kim Anh tặng cho vợ đồng chí Trần Văn Truyền là bà Phạm Thị Thủy 01 căn nhà 3 tầng, diện tích xây dựng 211,8m2, tổng diện tích sàn là 505,1m2 .tại số 465/48C khu phố Phước Hậu. Từ khi được tặng căn nhà, đồng chí Truyền chưa sử dụng, nay theo báo cáo đã giao lại cho bà Kim Anh quản lý, đồng chí nhận của bà Kim Anh 4 tỷ đồng để làm nhà biệt thự ở Bến Tre.
Tóm lại, từ 6 trường hợp cụ thể về nhà, đất nói trên, qua kiểm tra cho thấy:
Trong thời gian giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt ở địa phương, cơ quan Trung ương và khi đã về nghỉ hưu, đồng chí Trần Văn Truyền đã có khuyết điểm, vi phạm: thiếu cân nhắc, thiếu gương mẫu trong việc tự mình thực hiện hoặc tác động, đề nghị với các cơ quan chức năng để xử lý một số trường hợp về nhà, đất có liên quan đến lợi ích của bản thân và gia đình; trong đó có việc thiếu trung thực, có việc vi phạm hoặc chưa gương mẫu thực hiện tốt quy định về những điều đảng viên không được làm và thực hiện Cuộc vận động học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Những việc làm của đồng chí gây phản cảm, tạo dư luận xấu ở địa phương và lan rộng trong xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của bản thân đồng chí và tổ chức đảng;
Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy, Ban cán sự đảng UBND tỉnh và các cơ quan chức năng tỉnh Bến Tre có khuyết điểm, vi phạm trong việc còn nể nang, không chỉ đạo thu hồi dứt điểm lô đất tại số 598B5 Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre; trong việc sửa chữa, cải tạo mới và bán cho đồng chí Trần Văn Truyền nhà số 06 Lê Quý Đôn, thành phố Bến Tre theo Nghị định 61/CP.
UBND Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan chức năng của thành phố đồng ý bán cho con gái đồng chí Trần Văn Truyền căn nhà tại số 105 Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 15, quận Phú Nhuận là không đúng đối tượng, thiếu căn cứ pháp lý, có sự nể nang, vi phạm Quyết định số 118/TTg, ngày 27-11-1992 của Thủ tướng Chính phủ; Công văn số 2527/BXD-VP, ngày 18-12-2008 của Bộ Xây dựng và Công văn số 76/UBND-ĐTMT, ngày 20-02-2009 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy, những khuyết điểm, vi phạm của đồng chí Trần Văn Truyền đến mức phải thực hiện quy trình xem xét, xử lý trách nhiệm theo quy định.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã báo cáo và được Ban Bí thư đồng ý (như nêu tại Công văn số 9161-CV/VPTW, ngày 20-11-2014 của Văn phòng Trung ương Đảng), theo đó Ban Bí thư yêu cầu:
- Đối với đồng chí Trần Văn Truyền
+ Kiểm điểm trách nhiệm theo quy trình về các khuyết điểm, vi phạm nêu trên trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre và Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
+ Yêu cầu các thành viên trong gia đình thực hiện nghiêm các quyết định xử lý về nhà, đất của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre
+ Thực hiện quy trình kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với đồng chí Trần Văn Truyền về những khuyết điểm, vi phạm nêu trên.
+ Chỉ đạo các cơ quan chức năng thu hồi dứt điểm thửa đất tại số 598 B5 Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre theo quy định của pháp luật.
+ Chỉ đạo kiểm điểm trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc chậm thực hiện kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thu hồi thửa đất nói trên và việc cải tạo, sửa chữa, bán nhà số 06 Lê Quý Đôn, thành phố Bến Tre.
- Đối với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
+ Chỉ đạo các cơ quan chức năng thu hồi căn nhà số 105 Nguyễn Trọng Tuyển, phường 15, quận Phú Nhuận theo hướng đề xuất của UBND Thành phố Hồ Chí Minh tại Công văn số 685/UBND-ĐTMT-M, ngày 30-9-2014.
+ Chỉ đạo kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan khi không thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật trong việc bán nhà thuộc sở hữu nhà nước tại số 105-Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận.

Thứ Tư, ngày 19 tháng 11 năm 2014

Chống tiêu cực trong cơ quan báo chí

Hầu hết nhà báo chống tiêu cực là phanh phui tiêu cực ngoài xã hội, thuộc các cơ quan nhà nước cũng như một số tổ chức khác.  Còn quá hiếm nhà báo chống tiêu cực ngay trong nội bộ cơ quan báo chí. Phải chăng trong cơ quan báo chí không có tiêu cực? 

Bá Tân

Chống tiêu cực đang là công việc của toàn xã hội, của mọi công dân.

Sự tồn vong của chế độ đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi tiêu cực diễn ra tràn lan trên mọi lĩnh vực, mọi địa bàn.

Tiêu cực nói chung và tham nhũng nói riêng không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng.

Không thể nhắm mắt làm ngơ, nhiều công dân đã dũng cảm đứng ra chống tiêu cực. Phần lớn vụ việc tiêu cực bị đưa ra ánh sáng do quần chúng phát giác, tố cáo.

Báo chí là một trong những công cụ đắc lực tham gia chống tiêu cực. Nhiều nhà báo và không ít tòa soạn đã phanh phui nhiều vụ tiêu cực, kể cả những vụ án nghiêm trọng.

Báo chí thời nay, nếu không tham gia chống tiêu cực, khác nào tự cô lập và chỉ có thể tồn tại ở bên kia thế giới.

Nhiều nhà báo đã chấp nhận dấn thân chống tiêu cực, cho dù biết trước sẽ phải gánh chịu thương tổn.

Hầu hết nhà báo chống tiêu cực là phanh phui tiêu cực ngoài xã hội, thuộc các cơ quan nhà nước cũng như một số tổ chức khác.  Còn quá hiếm nhà báo chống tiêu cực ngay trong nội bộ cơ quan báo chí. 

Phải chăng trong cơ quan báo chí không có tiêu cực? Thực ra với nhà báo, chống tiêu cực là công việc khó khăn và nguy hiểm, chống tiêu cực trong nội bộ cơ quan báo chí càng khó khăn hơn.

Xét về tiêu chí nhà báo chống tiêu cực trong nội bộ cơ quan báo chí, từ trước đến nay, không có tờ báo nào sánh được với báo Đại Đoàn Kết.

Tại báo Đại Đoàn Kết, liên tục nhiều năm, có 3 nhà báo đứng ra chống tiêu cực phát sinh trong nội bộ cơ quan, trước hết thuộc về người đứng đầu.

Báo Đại Đoàn Kết cũng là cơ quan báo chí đầu tiên ở Việt Nam có 3 nhà báo khởi kiện tổng biên tập.

Dám đứng lên chống tiêu cực của người đứng đầu cơ quan như 3 nhà báo ở báo Đại Đoàn Kết quả là hiếm có, vô cùng hiếm từ trước đến nay.

Khi viết lịch sử báo chí đương đại của Việt Nam, không nên bỏ qua sự kiên này. Sự kiện lịch sử, theo đúng nghĩa của nó, phải là vấn đề thật sự nổi bật, kể cả tích cực cũng như tiêu cực.

Trong nhiều trường hợp, chống tiêu cực trong nội bộ gần như đồng nghĩa với cấp dưới chống cấp trên.Tại báo Đại Đoàn Kết hoàn toàn đúng như vậy. Không phải chống lại quyền hạn của người đứng đầu. Ba nhà báo ở báo Đại Đoàn Kết đã kiên trì chống lại những việc làm sai trái của  ông Đinh Đức Lập, nguyên tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết.

Chống tiêu cực trong nội bộ cơ quan, nhất là chống lại những việc làm sai trái của người đứng đầu, khó tránh khỏi tai họa. Biết trước như vậy, 3 nhà báo ở báo Đại Đoàn Kết không hề nao núng. Nguyên tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết, Đinh Đức Lập,  dùng hết các chiêu trù dập nhưng 3 nhà báo vẫn theo đuổi đến cùng cuộc chiến chống tiêu cực. Quả thật hiếm có, thậm chí chưa có nhà báo nào quyết liệt chống tiêu cực trong nội bộ cơ quan báo chí như 3 nhà báo ở báo Đại Đoàn

Trước khi thôi giữ chức tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết, ông Đinh Đức Lập  bị xử lí kỉ luật cả về Đảng và chính quyền. Sai phạm của ông Đinh Đức Lập được phanh phui từ đơn tổ cáo của 3 nhà báo, tuy nhiên mức độ xử lí chưa tương xứng với sai phạm của Đinh Đức Lập. Sự dung túng của cơ quan chủ quản trở thành một trong những nguồn mạch làm gia tăng sai phạm của Đinh Đức Lập.

Chắc rằng chưa có và sẽ không có người đứng đầu một tờ báo để lại những sai phạm nghiêm trọng từ lúc đầu cho đến những ngày cuối như Đinh Đức Lập. Ngay từ đầu, khi đưa Đinh Đức Lập về làm lãnh đạo báo Đại Đoàn Kết đã vi phạm nghiêm trọng quyết đinh 75 của ban bí thư.

Hơn 1 tháng trước khi thôi giữ chức tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết, ông Đinh Đức Lập cố ý khai gian nhận giải thưởng báo chí quốc gia, hội nhà báo Việt Nam phải ra quyết định thu hồi giải thưởng.

Chỉ nhắc lại 2 sự kiện “ để đời” của Đinh Đức Lập, càng chứng tỏ 3 nhà báo ở báo Đại Đoàn Kết kiên trì và quyết liệt chống tiêu cực đối với Đinh Đức Lập là hoàn toàn đúng.

Quá ít nhà báo dũng cảm chống cảm chống tiêu cực trong nội bộ cơ quan báo chí như ở báo Đại Đoàn Kết. Tại sao như vậy.

Phải chăng hầu hết cơ quan báo chí đều trong sáng, không có tiêu cực. Nếu vậy thì tuyệt vời. Đó là hiện thực hay chỉ là mơ ước.

Phải chăng số đông nhà báo chỉ dũng cảm chống tiêu cực ngoài xã hội, nhưng lại trở nên nhút nhát khi đối diện với tiêu cực phát sinh trong nội bộ cơ quan. Điều này là giả định, hay là thực tế đang tồn tại trong cuộc sống.

Hùng hổ nơi khác nhưng đứng trước người nắm quyền lực của cơ quan lại trở thành con sứa, thấy sai không dám lên án, thấy đúng không dám bảo vệ. Với những ai như thế, kể cả người làm báo, sẽ không dám chống tiêu cực trong nội bộ cơ quan.

Các cơ qun báo chí phải thật sự trong sạch để từ đó tham gia tạo ra lành mạnh của xã hội.  Nếu cơ quan báo chí phát sinh tiêu cực liên quan người đứng đầu, nội bộ cần phải có những người dũng cảm đấu tranh quyết liệt như ở báo Đại Đoàn Kết.

Nhặt rác nơi công cộng là việc nên làm, góp phần làm cho môi trường trong sạch.   Biết trong nhà có rác mà không chịu quét, để rác thêm chồng chất bốc mùi tanh hôi, việc đó là không thể chấp nhận.

Hóa ra hành vi nhặt rác nơi công cộng trong khi bỏ bê đầy rác thối trong nhà cũng chỉ là để biễu diễn mang tính hình thức mà thôi hay sao?


Tác giả gởi bài tới blog Hữu Nguyên

Chủ Nhật, ngày 16 tháng 11 năm 2014

ĐẾN MỘT LÚC...

Thiện Trí

Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

Đến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu mạn đứng chen chân trong một ngôi nhà bản ngã.

Đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để được ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.



Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

Đến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.





Đến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.

Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi.

Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại đơn giản.





Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại..

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc...

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình không nên mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển nhưng trong lòng đại dương sâu thẳm vẫn còn đó sự lặng lẽ bình yên.


Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày chứ không phải là sự bắt buộc hay là một quán tính khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng bản ngã ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, sự xấu xa của người khác hơn là chính bản thân mình.

Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân mình.





Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cần thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bắt bên ngoài mà đó là yếu tố tâm linh bất diệt bên trong.

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.



Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần phải thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì dòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta đến bến bờ rạng rỡ của ngày mai..

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 11 năm 2014

Phục hồi cho người bị oan là tôn trọng pháp luật và đạo lí

Nhìn vào cách giải quyết oan sai là nhận ra được đẳng cấp của người lãnh đạo

Bá Tân

Tình trạng oan sai đang xảy ra ở nhiều nơi, kể cả tại cơ quan trung ương cũng như ở địa phương.

Không ít vụ oan sai đã được minh oan và hồi phục các quyền lợi chính đáng.

Phục hồi cho người oan sai là việc không thể không làm, cả về pháp lí cũng như đạo lí.

Được minh oan và phục hồi thông qua phán quyết của cơ quan bảo vệ pháp luật, cụ thể là ngành tòa án.

Cơ quan gây ra oan sai tự giải quyết bằng cách xóa oan sai và phục hồi quyền lợi hợp pháp cho người lao động.

Trong hai cách xử sự nói trên, rất nên chọn theo cách thứ hai.

Chẳng hay ho gì mà lôi nhau ra tòa. Chuyện trong nhà mà để người ngoài đứng ra phân xử, chứng tỏ nội bộ rối ren và cạn kiệt niềm tin. Đã lôi nhau ra tòa là có bên thắng, bên thua.

Giải quyết oan sai bằng cách nội bộ tự tìm lối ra. Đây là cách làm khôn ngoan nhất, vừa thấu tình, vừa đạt lí. Tự giải quyết là chẳng có bên thắng, chẳng có bên thua.

Gây ra oan sai và cách giải quyết oan sai là một trong những “chứng chỉ” xác định người lãnh đạo.

Lạm quyền. Bất chấp nguyên tắc. Khinh thường đạo lí. Người làm lãnh đạo mà để cho những thứ đó trở thành “ tính trội” thì rất dễ gây ra oan sai cho cấp dưới. Gặp phải lãnh đạo như thế, nội bộ luôn ở trong tình trạng bất ổn, tạo môi trường cho  bọn cơ hội, nịnh bợ… hoành hành.

Nhìn vào cách giải quyết oan sai là nhận ra được đẳng cấp của người lãnh đạo, kể cả tầm hiểu biết cũng như phẩm cấp nhân cách.

Kẻ nào cố ý gây ra oan sai cho người khác, đừng hi vọng kẻ đó tự giải quyết oan sai, thậm chí còn tìm cách chống chế khi cơ quan chức năng thực thi xử lí oan sai theo pháp luật.

Tôn trọng pháp luật. Biết nghe những điều hay lẽ phải. Dám phạt nhưng cũng biết tha thứ. Người lãnh đạo có những đức tính ấy chắc không gây ra oan sai, hoặc nếu phải “ thừa kế” oan sai cũng sẽ giải quyết một cách êm thấm.

Báo chí đã và sẽ còn phản ánh nhiều vụ oan sai, cũng như cách giải quyết oan sai.

Thật đáng buồn, thậm chí là xấu hổ, tình trạng gây ra oan sai đã phát sinh tại báo Đại Đoàn Kết.

Có 3 nhà báo, đều là phó ban chuyên môn, đã bị thải hồi một cách vô cùng oan ức. Không chỉ chống tiêu cực ngoài xã hội, 3 nhà báo này đã hiên ngang vạch ra những sai trái của người đứng đầu báo Đại Đoàn Kết.

Thay vì tiếp thu để khắc phục, ông Đinh Đức Lập, nguyên tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết đã quyết định thải hồi 3 nhà báo dũng cảm đấu tranh chống tiêu cực.

Ông Đinh Đức Lập, trước khi thôi giữ chức tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết, đã bị xử lí kỉ luật cả về đảng và chính quyền.

Ba nhà báo bị xử lí oan sai đã khởi kiện tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết ra tòa án.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam, có một tổng biên tập bị 3 nhà báo ( trong cùng tòa soạn) khởi kiện ra tòa án.

Ba nhà báo bị xử lí oan sai sẽ được giải quyết như thế nào.

Hoặc là cùng nhau ra tòa, trông chờ vào sự phán quyết của tòa án.

Hoặc là báo Đại Đoàn Kết tự giải quyết. Tự giải quyết là sự lựa chọn khôn ngoan nhất, sẽ trọn vẹn cho cả lí và tình.

Tân tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết, ông Hồng Thanh Quang, có lẽ rất chua chát khi phải kế thừa vụ xử lí oan sai 3 nhà báo. Với cương vị tổng biên tập, ông Hồng Thanh Quang có đủ quyền hạn và trách nhiệm giải quyết 3 người bị xử lí oan sai tại báo Đại Đoàn Kết.

Nhiều tín hiệu ban đầu rất đáng trân trọng, ban biên tập hiện thời của báo Đại Đoàn Kết đồng tình với giải pháp nội bộ tự giải quyết oan sai cho 3 nhà báo.

Kết quả như thế nào còn phải chờ, quá trình giải quyết phải theo quy trình, nhưng thái độ ( nói đúng hơn là tấm lòng ) của ban biên tập báo Đại Đoàn Kết rất đáng trân trọng.


Mong cơ quan chủ quản tạo điều kiện để ban biên tập báo Đại Đoàn Kết có thêm điểm tựa khi thực hiện công việc cần thiết này.

Tác giả gởi bài tới blog Hữu Nguyên

Chủ Nhật, ngày 09 tháng 11 năm 2014

La Dalat: Chiếc xe hơi Made in Vietnam vang danh một thời


Từ năm 1970 cho đến 1975, Công ty Xe hơi Sài Gòn đã sản xuất hơn năm ngàn chiếc xe dân dụng La Dalat tại Việt Nam với mức độ nội địa hóa lên đến 40%.

Vào năm 1936, hãng chế tạo xe của Pháp Citroën đã thiết lập xưởng sản xuất đầu tiên ở Đông Dương với trụ sở ban đầu tại góc đường Lê Lợi - Nguyễn Huệ, ngày nay đã trở thành Caféteria Rex ở Sài Gòn. Sang đến thời Việt Nam Cộng hòa xưởng sản xuất được dời đi và đổi tên thành Công ty Xe hơi Citroën, tiếp đến là Công ty Xe hơi Saigon. 

Sau Thế chiến thứ 2, để đáp ứng nhu cầu về phương tiện di chuyển của dân Pháp đương thời, hãng chế tạo xe Citroën đã tung ra thị trường chiếc xe 2CV. Sau đó hãng này tiếp tục cho ra đời loại xe Citroën Dyane 6 và Méhari lần lượt vào cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60. Xe Citroën La Dalat sản xuất ở Việt Nam là loại xe dựa trên kiểu Citroën Méhari. 

Vào giữa thập niên 60, trước sức ép cạnh tranh từ các loại xe gắn máy 2 bánh: Honda, Suzuki, Yamaha, Kawasaki, Bridgestone.... cũng như các loại ô tô Toyota, Mazda, Mitsubishi, Nissan, Daihatsu… nhập khẩu từ Nhật Bản, hãng Citroën quyết định tung ra thị trường một loại xe thực dụng và rẻ tiền, loại xe mà các công ty sản xuất xe Nhật Bản không thể cạnh tranh được. Chiếc xe được đặt tên là La Dalat.

Năm 1969, công ty Citroën mua bản quyền thiết kế của chiếc Baby Brousse từ công ty Ateliers et Forges de l’Ebrié.

Tiếp đó, các kỹ sư của chi nhánh Société Automobile d’Extrême-Orient tại Sài Gòn bắt tay vào sản xuất và lắp ráp ngay tại Việt Nam một chiếc xe tuy không sang trọng và mạnh như xe Mỹ, nhưng giá thành và chất lượng ăn đứt tất cả các loại xe của Nhật.

Và chiếc La Dalat ra đời với 4 kiểu dáng khác nhau có phần máy và hệ thống tay lái, bộ nhún, bộ thắng... nhập cảng từ Pháp, trong khi, các bộ phận như đèn, kén báo hiệu, ghế nệm, dàn đồng đóng bằng tôn, mui xe bằng lá thép uốn hoặc vải,... được thiết kế và sản xuất ngay tại Sài Gòn.

Tuy dựa theo thiết kế của chiếc Baby Brousse, nhưng La Dalat được cải tiến để có thể sản xuất hàng loạt mà không đến cần máy ép thép công nghiệp hạng nặng như Baby Brousse.

Lúc tung ra thị trường vào năm 1970, tỷ lệ bộ phận nhập cảng so với bộ phận nội địa là 75/25 và đến năm 1975 khi hãng Citroën ngừng hoạt động, tỷ lệ này là 60/40. Có tất cả là 4 kiểu La Dalat: loại 4 chỗ ngồi hoặc 2 chỗ ngồi với thùng chở hàng.

Ước tính từ năm 1970 cho đến 1975, Công ty Xe hơi Sài Gòn sản xuất hơn năm ngàn chiếc La Dalat, tức là hơn một ngàn chiếc mỗi năm! 

La Dalat được đánh giá là chiếc xe ít tốn xăng, dễ sửa chữa, dễ thay thế các bộ phận hỏng hóc, đặc biệt các bộ phận như cánh cửa, kính xe đều có thể "tự chế", dễ làm hơn các loại xe Nhật và rẻ tiền. Các bộ phận rời được bán với giá phải chăng vì hoàn toàn được chế tạo tại Việt Nam.

Theo thiết kế, chiếc xe này sở hữu động cơ 4 thì, 602 phân khối, 2 xi-lanh đối ở 2 đầu nằm dẹp (flat twin), hộp số gồm 4 số tay, chuyền động ở trục bánh trước. Chiếc xe có chiều dài 3,5m; rộng 1,53m; cao 1,54m; nặng khoảng từ 480-590 kg tùy theo kiểu. 

Tiền thân là gốc Pháp nhưng La Dalat đã để lại dấu ấn không hề nhỏ mang tên Việt Nam. Năm 1973, ngạc nhiên và hài lòng với thành công đáng ngờ của Công ty Xe hơi Sài Gòn, Citroën đã sang Việt Nam lấy 3 chiếc La Dalat về Pháp để mổ xẻ phân tích thiết kế, từ đó họ cho ra đời kiểu khung xe dễ sản xuất mà không đòi hỏi đầu tư nhiều công nghệ như chiếc Baby Brousse mui trần thế hệ thứ hai hay chiếc FAF.


Một quảng cáo của công ty Xe hơi Citroën tại Sài Gòn.
Một quảng cáo của công ty Xe hơi Citroën tại Sài Gòn.

La Dalat: Chiếc xe hơi Made in Vietnam vang danh một thời
Một chiếc La Dalat trên đường phố Sài Gòn trước 1975. 

La Dalat: Chiếc xe hơi Made in Vietnam vang danh một thời
Một số mẫu xe La Dalat vào những năm 1970.
Một số mẫu xe La Dalat vào những năm 1970.

 Động cơ của La Dalat.
Động cơ của La Dalat.


Một xe La Dalat được tân trang tại Sài Gòn hiện nay.
Một xe La Dalat được tân trang tại Sài Gòn hiện nay.

La Dalat: Chiếc xe hơi Made in Vietnam vang danh một thời
Một chiếc La Dalat cổ bên những chiếc xe hơi hiện đại.