Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Ngô Đình Nhu: Lễ Lập Xuân ở Hà Nội về thời Hậu Lê

HTN: Bài khảo cứu về lễ Lập Xuân của Ngô Đình Nhu, đăng trên tờ Thanh Nghị, số 14, ngày 1er Juin 1942. Ngô Đình Nhu tốt nghiệp École Nationale des Chartes (Paris) năm 1938 với luận văn “Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle” (Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII). Về nước, Ngô Đình Nhu làm nhân viên Nha văn khố trung ương Hà Nội từ năm 1938 đến 1943. Bài khảo cứu khá thú vị và đặc sắc dù tiếng Việt của tác giả hơi vụng về,  đôi chỗ diễn đạt tối nghĩa, lại dùng nhiều từ cũ nay không còn thông dụng. Học Thế Nào  giới thiệu bài khảo cứu đặc sắc này đến bạn đọc thay cho lời chúc mừng xuân mới.

Lễ Lập Xuân chắc là một trong những tế tự nước Nam mượn trước nhất của Tàu. Vì lễ này thuộc về loại lễ có định kỳ và theo như sách Lễ Ký, có thể gieo nhiều tai họa thảm khốc cho nhân gian nến vị quốc chủ cử hành không hợp lệ. Nhưng ta không biết lễ ấy vào xứ này từ hồi nào và tiên tổ ta theo những nghi thức nào để cử hành lễ này là một lễ có dính dáng đến khoa chiêm tinh và nghề nông phố.
Ngoài tập Việt Điện U Linh (ở đầu thế kỷ XIII) nhân khi nói đến một vị thần ở thành Thăng Long (thần Quảng Lợi Vương) có bàn một vài câu; ngoài bộ An Nam Chí Lược (đầu thế kỷ XIV) của Lê Tắc có ghi qua (xem bản dịch của Sainson xuất bản năm 1896, trang 93-94) ta phải công nhận với Phan Huy Chú rằng giở lên trước nhà Hậu Lê (1428-1788), ta không có tài liệu đích xác về lễ này tuy là một trong những quốc lễ và có tính cách bắt buộc ở nước Nam.
Tài liệu chính để làm bài khảo cứu này là tập thủ-thảo bằng chữ la tinh số 11.114 của Quốc Gia Thư Viện Paris, nhan đề là: Opusculum de Sectis apud Simenses et Tunkinenses (Petit traité des sectes religieuses chez les Chinois et les Tonkinois) (1750) của cố Adriano di Santa Tecla (Adriende Sainte Thècle), người thuộc về dòng Augrestins (chỉ đi dép không, không dùng tất). Truyền Giáo Thánh Hội (Propagande de la foi), sai sang Bắc Kỳ năm 1738, mất năm 1765 tháng một.
Tôi có tra cứu thêm chương Lễ Nghi chí, quyển XXII bộ Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú (1821), với thiên Quảng Lợi Vương ở tập Việt điện U linh như đã nói trên.
Tập Petit traité des sectes religieuses chez les Chinois et les Tonkinois đã được phác tả ra trong tạp chí Journal Asiatique, năm 1823-1824 (có đem đại lược bàn qua và trích đăng nhiều đoạn) và trong bộ Bibiotheca Indosinica của H. Cordier, quyển III, cột 1887.
Bản sách của Quốc Gia Thư Viện (Ban lưu giữ những thủ-thảo) – Thư viện Pierre Pasquier có một bản sách này bằng ảnh chụp – có chứng cớ rõ ràng là đã được giám mục Louis Néez (1680-1764), coi địa phận Bắc kỳ Tây từ năm 1738, tự tay đối chiếu cẩn thận với bản chính vì cố Adrien de Sainte Thècle đã ở cạnh ngài ba năm (1762-1764).
Cố Adrien de Sainte Thècle, tên ta là Cụ Tri, về dòng O.R.S.A., đến xứ Bắc năm 1738. Được bổ làm quản sự (procureur) địa phận Bắc kỳ Đông năm 1761; người cùng các bạn đồng tông, vì lời xúi giục của các cố Dominicains, bị trục xuất ra khỏi xứ Bắc; đến trú ẩn nhờ giám mục Nèez năm 1762 và mất tại địa phận này vào quãng tháng một năm 1765.

*
Muốn hiểu rõ những lễ thuộc về « nông nghiệp tuần hoàn » (cycle agraire) của người Nam, ta cũng nên ôn lại những điều chính của thiên văn học và vũ trụ quan của Trung Quốc.
Người Trung Quốc chia bầu trời ra làm năm cung: Cung giữa (trung cung) là vòm trời bao bọc « bắc cực » lúc nào ta cũng nom thấy và bốn cung đặt theo xích đạo tuyến (quatre palais équatoriaux) lần lượt lặn xuống dưới chân trời và so đúng với bốn mùa. Bởi vì xích đạo tuyến (équateur céleste) đem ghép đúng với tứ phương, nên « bắc cực » không phải ở miền bắc như của người Tây phương đâu nhưng ở vùng giữa (Trung cung) và bốn cung kia bao bọc lấy trung cung đều đúng với tứ phương xếp theo chân trời.
Cho nên cung mùa đông gọi là Bắc cung vì về mùa đông, mặt trời thuộc về một vùng mà tí ngọ tuyến (méridien céleste) gặp chân trời ở phương Bắc; cung mùa hè gọi là Nam Cung vì lúc bấy giờ mặt trời thuộc về một vùng ở về đầu kia mà gặp tí ngọ tuyến gặp chân trời ở phương Nam của chúng ta. Về hai cung kia cũng vậy: ta thấy tuần trăng tròn về mùa xuân và mùa thu, một cung ở về phương đông, một cung về phương tây nếu ta cứ theo lối tìm phương hướng kể trên.
Muốn giảng cách chuyển vận của năm cung và bốn tiết, người Tàu dẫn ra hai lẽ âm dương thuộc về vật lý và ngũ hành thuộc về thổ hóa chất là : mộc (xuân); kim (hạ); hỏa (thu); thủy (đông) và thổ (trung cung). Năm hành ấy lần lượt thắng nhau: kim chặt gỗ thắng mộc, hỏa làm chảy sắt thắng kim, thủy làm tắt lửa thắng hỏa, thổ hút nước thắng thủy ; mộc tiêu hóa được đất thắng thổ và cứ lần lượt như vậy làm bốn mùa đều chuyển vận.
Và chẳng bao lâu người ta đem ghép vào chủ nghĩa có tính cách hoàn toàn lý hóa ấy sự tin tưởng rằng có một đấng Thượng đế ngự vị tại Trung Cung và sai khiến được hai lẽ âm dương và ngũ hành.
Cái óc cân đối của người Tàu đã làm cho họ sớm tìm thấy một hình thể tương đương với Thượng đế là Trung Hoa Hoàng Đế thống trị ở Trung Quốc. Trung Quốc, cũng như trung cung, ở giữa, chung quanh là man di ở rải rác bốn phương; đế đô, cũng như sao bắc cực, ở vào giữa bốn vùng Bắc, đông, nam, tây đối với tứ thời; so với Thượng đế thì Trung Hoa Hoàng Đế là con (thiên tử) ; nhờ có tiên tổ là ngũ đế sánh được với ngũ hành và được năm vị thần phò tá, Trung Hoa hoàng đế có thể và cần phải lập trên địa cầu một trật tự tương đương với trật tự của Thượng đế. Vì giữa trời và đất, giữa vũ trụ và nhân sinh có một dây liên lạc mật thiết, nên chỉ cần rằng Thiên tử, là vị giúp việc Thượng đế trên nhân gian, đúng vào những thời kỳ đã định trong lịch, truyền lệnh cho các phương hướng ở trong không gian chuyển vận theo thứ tự, là tự nhiên tứ thời đều đều kế tiếp.
Đó là tóm tắt quan niệm Tàu về thiên văn sinh lý học, trái hẳn với luật tam thế (loi des trois ages) của Auguste Comte. Khởi thủy từ sự nhận xét và những thuyết tuyệt nhiên không pha mảy may thuần lý học và thần nhân đồng hình thuyết, để sau cùng thành một giáo lý chủ trương thuyết định mệnh, quan niệm này về vũ trụ nhân sinh đã làm khung cảnh cho văn minh Đông Á hơn bốn mươi thế kỷ và đã tìm được hình thức hoàn toàn trong những nguyệt lệnh sách Lễ Ký.
Để theo cho đúng nghi lễ đã ghi trong Lễ Ký, muốn cho tiết điệu của thế gian khỏi bị đình trệ và những hiện tượng của vũ trụ được luân lưu và tránh được sự hỗn tạp, vua Lê, mỗi năm lúc đổi mùa lại dâng lễ cho bốn vị hoàng đế thuộc về thời thần thoại của Trung hoa và bốn vị thần bộ hạ. Tế ở đâu ? Tại « Giao đàn » (loco Giao) theo như lời Adrien de Sainte Thècle :có lẽ là đàn Nam Giao ở miền Nam ngoại ô Thăng Long. (Đàn Nam Giao, rìa đường Chợ Hôm Bạch Mai, lối ngày xưa vào Huế) Route de Huê, gần làng Phong Vân, bây giờ chỉ còn một tấm bia làm từ đời Vĩnh Trị tứ niên, 1680 và giữ ở Bảo tàng Louis Finot).
Đàn Nam Giao hình chữ nhật, cửa chính mở về phía nam, cũng chia ra làm năm phần hợp với vũ trụ quan của Trung Quốc.
Ở giữa một phần là chiêu sư điện để riêng tế trời và do vua ra hành lễ ; và bốn phần bên đúng với tứ phương : đến kỳ có quan đại thần thay vua ra tế các mùa.
Cuối mùa đông, tế vua Phục Hy và thần Câu Mang tại đàn đông để lập xuân vì mùa xuân đúng với phương đông;
Cuối mùa xuân, tế vua Thần Nông và thần Chúc Dung tại đàn nam để lập hạ vì mùa hạ đúng với phương nam;
Cuối mùa hạ, tế vua Thiếu Hiệu và thần Nhục Thu tại đàn tây để lập thu;
Cuối mùa thu, tế vua Chuyên Húc và thần Huyền Minh để đàn bắc để lập đông.
Nhưng ngoài lẽ chính này, một nghi tiết đặc biệt đã được đem ra cử hành một cách long trọng hơn trong dịp lễ Lập xuân để mở đầu năm mới cho nông gia và dân chúng.
Để tả tế này, cố Adrien de Sainte-Thècle  dựa vào hai bức thư của cố Francisco Gile De Federich, người Tây ban nha, thuộc dòng Dominicains (tên ta là cụ Tê); đến Bắc kỳ năm 1737, cố Gil de Federich, bị giam từ 1737 tại Ngục Đông ở Thăng Long cho đến ngày 22 tháng giêng 1745 là ngày cố bị hành hình. Cố biết chữ nho và tiếng Nam, trong lúc bị giam cầm nhờ có tiền cho ngục tốt nên cố được thảnh thơi, tự do ra phố và thư tín với cố Adrien de Sainte Thècle. Vì một phần lễ đã cử hành tại nơi cố phải miễn cưỡng ở, nên cố được dịp quan sát cẩn thận.
« Mỗi một năm, theo Phan Huy Chú, vào dạo tháng một, đúng vào ngày đông chí (mà người Tàu lấy làm chừng để đặt âm lịch), quan Chánh tòa Khâm thiên giám kính tâu để Chúa Trịnh biết hôm nào lập xuân và thể dâng trình Ngài kiểu mẫu nhỏ một đoàn người vật nặn phác ra, trong có tượng một mục đồng dắt trâu tức là thần Câu Mang. Mẫu nặn mỗi năm nhuộm một màu để cho đúng với năm và hợp với ngày lập xuân. Theo mẫu ấy, bộ Công sai thường ban đắp một con trâu to và tượng Mang thần. (Ở Huế bây giờ cũng làm từa tựa như vậy[1]). Nhưng theo cố Gil de Federich, ngoài trâu to và tượng Mang Thần, người ta đắp luôn 1300 con nghé cao chừng 5,6 ngón tay và 1300 mục đồng. Tất cả những tượng lớn nhỏ ấy đem chứa tại Nha môn ngưu. Người ta còn dựng một cái quán « tứ bề gió lọt được » ở ngõ Hàng Chiếu (gần cửa phố Jean Dupuis bây giờ), tại phường Đông Hà, nghĩa là ở phía đông kinh thanh, đúng với hướng cổ của mùa xuân.
Trước hôm lễ, lúc chập tối, nhân viên thường ban rước tượng trâu và Mang Thần đến đàn thờ ở quán lợp ngõ Hàng Chiếu và bày ở đấy đến nửa đêm. (Dân gian đi xem có câu hát :
Bây giờ Mang hiện đến ngày
Cày bừa cho chín mạ này đem gieo.)
Còn 1300 nghé và 1300 mục đồng thì đã có lính canh Ngục Đông (chừng 50 người, cứ 15 ngày lại đổi phiên cho nhau) đem từ Nha môn Ngưu về đặt trong sân Ngục Đông. Ngục Đông Môn ở tại cửa đông kinh thành.
Đến nửa đêm thì quan Phủ doãn là quan đầu tỉnh Thăng Long, có hai quan huyện Thọ Xương và Quảng Đức đi hầu và có dân các phường buôn bán đi theo, đến rước tượng trâu to và Mang Thần lại đền Bạch Mã, ở Đông Hà Phường, thờ thần Long Đỗ Vương, vừa là thành hoàng Thăng Long lại là vị thần vẫn chứng giám lễ này từ đời Lý Thái Tôn (1028-1054). Đến đền thì trâu để ngoài, người ta rước tượng Mang Thần vào giữa tiền đường rồi quan Phủ doãn dâng lễ. Lễ xong, nha môn quấn Mang Thần vào một chiếc chiếu rồi đem chôn.
Sáng sớm hôm sau, rước xuân ngưu đến trình vua: ấy là lễ tiến xuân ngưu. Theo Phan Huy Chú: « quan Phủ Doãn và hai quan huyện, mỗi người cầm một cành dâu, giả làm roi mây, dẫn trâu vào điện đình. Theo lệnh chúa Trịnh, các công, hầu, bá, văn võ triều thần, bận phẩm phục vào triều giúp vua hành lễ. Xong rồi thì ngục tốt rước trâu thần về Ngục đông, còn cái ngai đã dùng để rước trâu đến trình vua thì được quan tham chi bộ Lễ đem rinh vào trong cung ». Đoạn, người ta đem phân phát trâu và nghé cho các quan chức để tống tiễn mùa đông : ngục tốt ở Ngục Đông chặt một miếng thủ, một khúc chân, và một khấu đuôi con trâu to, chọn 300 con nghé, lấy 55 con đặt vào một chiếc mâm, mỗi mâm 5 con, trên có phủ lụa, đem dâng vua. Vua đem ban cho các đền thờ (trong kinh thành), còn bao nhiêu thưởng cho các quan đã đứng tế, 1000 nghé còn lại cũng vẫn những ngục tốt ấy, rước bằng ngai đến phủ đường chúa Trịnh. Chúa truyền lệnh gọi nha môn sáu hiệu, và hiệu nào phần nấy lấy trâu về cho tướng mình. Lễ Lập Xuân thế là xong.
Ta nên nhận rằng lễ Lập Xuân này thật ra có hai phần khác nhau : một là lễ tống tiễn mùa đông, hai là lễ lập xuân. Khởi thủy, tế trâu đất rồi lấy roi mây quất đuổi đi có nghĩa là người ta tiễn đuổi mùa đông. Theo sách Lễ Ký, thiên nguyệt lệnh, đến tháng cuối mùa đông vua ra lệnh cho người ta dẫn ra đồng một con bò bằng đất sét, cốt để áp giải và tống tiễn tiết lạnh đi ; tháng chạp thuộc về chi sửu hợp với con bò (ở ta là trâu), hành thổ (đông) lại khắc hành thủy (đất hút nước) đúng với thuyết ngũ hành tương khắc. Về sau, trâu được đem sáp nhập vào lễ Lập Xuân và dùng roi quất trâu dần dần có nghĩa là khuyến khích nông nghiệp.
Ngô Đình Nhu


[1] Vua Nguyễn hành lễ ở kinh đô Huế.

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

Nobel Vật Lý 2017: Đang mở ra những thế giới chưa từng thấy!

Năm 1916 nhà bác học Albert Einstein nói ông tin vào sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Năm nay, 101 năm sau phát biểu của Einstein, giải Nobel Vật Lý được trao cho  Rainer Weiss, Barry C. Barish và Kip S. Thorne vì đã phát hiện ra được sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Trong thông báo về giải thưởng, Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy điển nói về giải Nobel Vật lý 2017 năm nay: “Đây là một thứ hoàn toàn mới và khác biệt, đang mở ra những thế giới chưa từng thấy.”
(Bài trích từ sách Bầu trời chiều ẩn giấu, bài trích này cũng đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số tuần này, tức tuần công bố giải Nobel 2017). Link download sách, bản ebook định dạng pdf ở đây, và bản để in ở đây).
*
Năm 1916, một nhà vật lý người đức, lúc này đang sĩ quan pháo binh trên mặt trận Nga, tên là Karl Schwarzschild, đã giải các phương trình tensor của Einstein và tìm ra một nghiệm kỳ lạ. Theo nghiệm này, xung các ngôi sao có khối lượng cực lớn có một không quyển kỳ ảo (magical sphere). Tất cả mọi thứ, kể cả ánh sáng, khi đi vào không quyển này sẽ bị hút vào ngôi sao khổng lồ và không có cách nào thoát ra được. Schwarzschild còn tính toán được bán kính của không quyển kỳ ảo này. Bán kính này được gọi là bán kính Schwarzschild  hoặc bán kính hấp dẫn (gravitational radius).
main-qimg-16937fefd7824b98e56b9a657bbb311b-c
Schwarzschild qua đời trên mặt trận Nga và không biết rằng mình đã tìm ra một thứ, về sau được John Wheeler đặt tên: Hố Đen (Black Hole). Không quyển ma quái mà Schwarzschild tìm ra, ngày nay được gọi là Chân trời sự kiện (event hoziron), hàm ý đấy là nơi xa nhất mà  tầm mắt của người quan sát có thể với tới (sau chân trời là hố đen, nơi mà ánh sáng nếu vươn tới sẽ bị nuốt vào và không bao giờ trở lại).
main-qimg-a1f5c6d5455ada34815c84f510aa5877
Cũng năm 1916, Einstein đề xuất sự tồn tại của một sóng gọi là sóng hẫp dẫn, một loại sóng mang lực hấp dẫn lan truyền trong không gian với vận tốc bằng vận tốc ánh sáng. Einstein đã tìm thấy sóng trên lý thuyết bằng cách giải các phương trình của mình, cũng như dự báo các ngôi sao đôi quay quanh một trục chung sẽ dần sát lại với nhau để rồi lao vào nhau do năng lượng mất dần do bị bức xạ vào không gian dưới dạng sóng hấp dẫn.
Để biết chi tiết hơn, xem bài Tiếng vọng từ sáng thế.
Năm 1936, Einstein và học trò là Nathan Rosen đăng một bài báo khoa học trên tạp chí Physical Review. Bằng cách sử dụng nghiệm của một hố đen tiêu chuẩn hình bình cổ dài có cổ bình bị cắt ngang và sáp nhập (merge) với một hố đen giống như thế nhưng đã bị xoay ngược lại. Ý tưởng này của Einstein và Rosen ngày nay được các nhà vũ trụ học hình dung như một cổng để kết nối hai vũ trụ khác nhau. Ý tưởng này có tên gọi Cầu Einstein-Rosen. Hay còn được biết với tên lỗ sâu đục (wormhole). Tuy nhiên, theo Einstein, các lỗ sâu đục có thể tồn tại, nhưng các sinh vật lọt vào miệng hố đen sẽ chết ngay lập tức vì bị xé xác bởi lực hấp dẫn.
wormhole-main
Năm 1963, nhà toán học Roy Kerr tìm được nghiệm chính xác của phương trình Einstein: một ngôi sao chết, suy sụp vào bên trong do lực hấp dẫn của chính nó, do định luật bảo toàn động lượng sẽ quay nhanh hơn, và tạo thành một lỗ đen quay. Nghiệm của Roy Kerr cho thấy việc đào thoát tới một không gian khác thông qua lỗ sâu đục là khả thi về lý thuyết: lực ly tâm (hướng ra ngoài) do sự quay của hố đen sẽ cân bằng và triệt tiêu lực hấp dẫn (hút vào), và các sinh vật rơi vào miệng hố đen sẽ không bị xé tan xác nữa.
Lỗ đen là vô hình bởi nó hút tất cả ánh sáng vượt qua không quyển kỳ ảo quanh nó (hay còn gọi là chân trời sự kiện). Các nhà thiên văn phải tìm hố đen bằng cách xác định các đĩa bồi tích (accretion disk) tạo thành do các khí bồi đắp dần xung quanh hố đen.
Trước năm 1990, hố đen chỉ tồn tại trên lý thuyết cho đến năm 1994 kính viễn vọng Hubble tìm thấy bằng chứng rõ ràng về các hố đen siêu nặng “ẩn nấp” giữa các thiên hà. Các nhà thiên văn tin rằng, hầu hết các thiên hà, kể cả Ngân Hà của chúng ta, đều có hố đen ở trung tâm. Các hố đen đã được phát hiện, ngày nay đã tới hàng trăm. Tất cả các hố đen đều tự quay rất nhanh quanh chính mình.
Năm 1988, một học trò của John Wheeler, nhà vũ trụ học và vật lý hấp dẫn Kip Thorne đề xuất một ý tưởng xây dựng máy du hành thời gian. Ý tưởng này được Thorne tư vấn để Christopher Nolan xây dựng bộ phim giả tưởng rất thành công Interstellar. Trong bộ phim này, người cha sau khi vượt qua chân trời sự kiện của hố đen vẫn tiếp tục sống và tìm được cách gửi thông điệp về cho con gái của mình bằng cách sử dụng sóng hấp dẫn.
Năm 1962, hai nhà khoa học là Gertsenshtein và Pustovoit xuất bản một bài báo đề xuất các nguyên tắc dò tìm sóng hấp dẫn bước sóng dài bằng giao thoa kế.
Năm 1973, Kip Thorne ở học viện Caltech bắt đầu hành trình săn lùng sóng hấp dẫn của mình.
Năm 1984, Kip Thorne, Ronald Drever và Rainer Weiss thành lập ủy ban lâm thời để xây dựng dự án LIGO. Năm 2002, LIGO bắt đầu dò tìm sóng hấp dẫn. Năm 2015, phiên bản hiện đại hơn với tên gọi Advanced LIGO, đi vào hoạt động.
LIGO (Laser Interferometer Gravitational Wave Observatory – Trạm quan trắc sóng hấp dẫn giao thoa kế laser) là một thiết bị khổng lồ gồm hai đường ống dài khoảng 4km, nối với nhau hình chữ L. Trong mỗi ống có một chùm tia laser được chiếu liên tục. Hai chùm tia gặp nhau ở góc chữ L. Các sóng laser được tính toán sao  cho chúng triệt tiêu nhau và tạo nên vân giao thoa. Do hiện tượng phân cực, hai ống vuông góc với nhau nên chỉ có một ống sẽ bị sóng hấp dẫn đập vào. Khi sóng hấp dẫn đập vào một trong hai ống , chiều dài ống này sẽ bị co giãn khác với ống kia, gây ra nhiễu loạn phá vỡ cân bằng của hai chùm laser, và làm mất các vân giao thoa
Theo tính toán, để phát hiện sự va chạm của hai hố đen cách trái đất 300 triệu năm ánh sáng, LIGO có thể phải chờ đợi từ 1 đến 1000 năm. Cuối cùng, Advance LIGO phát hiện được sự va chạm của hai hố đen cách trái đất 1.3 tỷ năm, chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi được sửa chữa nâng cấp.
Giống các loại sóng khác, như sóng hấp dẫn có biên độ, tần số, bước sóng và tốc độ. Tốc độ của sóng hấp dẫn bằng tốc độ ánh sáng. Tần số của sóng hấp dẫn rất thấp (thấp tần) nên bước sóng của chúng rất dài, truyền tải năng lượng rất bé. Đây là lý do rất khó bắt được sóng hấp dẫn.
1.3 tỷ năm trước, ở một thiên hà rất xa xôi, có hai hố đen bị dính vào một quỹ đạo xoắn ốc, rồi ở khoảnh khắc cuối cùng chúng đâm sập vào nhau với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng. Vụ va chạm đã tạo ra một hố đen mới nặng bằng 62 lần khối lượng mặt trời, đồng thời phát ra một nguồn năng lượng khổng lồ và tinh khiết. Toàn bộ năng lượng ấy bức xạ vào vũ trụ chỉ trong trong chỉ khoảng 1 phần 10 giây. Năng lượng ấy làm biến dạng không gian và thời gian xung quanh vụ va chạm trong chớp mắt. Bởi vụ va chạm là của hai lỗ đen, nên năng lượng phát ra không phải là sóng ánh sáng, mà là sóng hấp dẫn.
Sóng hấp dẫn này truyền đi và làm co giãn không gian khi nó đi qua. Đó chính là không gian – thời gian trong vũ của Einstein.
Ngày 11 tháng 2 năm 2016, các nhà khoa học của LIGO công bố họ đã dò tìm được sóng hấp dẫn của một vụ sáp nhập hố đen cách chúng ta 1.3 tỷ năm ánh sáng (và cũng có nghĩa là sóng từ một vụ sáp nhập cách ngày nay 1.3 tỷ năm).
Ngày 15 tháng 6 năm 2016, LIGO công bố lần thứ hai dò được sóng hấp dẫn từ một vụ sáp nhập hố đen cách trái đất 1.4 tỷ năm ánh sáng.
Một nửa giải Nobel Vật Lý năm nay được trao cho Rainer Weiss, giáo sư tại đại học MIT và là một trong ba nhà vật lý sáng lập LIGO.
Nửa giải còn lại được trao cho Kip Thorne và Barry C. Barish.
Kip Thorne là giáo sư tại đại học Caltech (California Institute of
Technology) và cũng là thành viên sáng lập LIGO.
Barry C. Barish, giáo sư đại học Caltech, là giám đốc thứ hai của LIGO và là người nỗ lực xây dựng thành công và đưa LIGO vào hoạt động.
Rainer Weiss sinh ở Đức năm 1932. Năm 1939, gia đình ông đào thoát khỏi ách Phát Xít và đến nước Mỹ. Vài phút sau khi giải Nobel Vật lý được  công bố, ông trả lời các phóng viên qua điện thoại: “Thật là tuyệt. Tôi thấy rất ổn. Thậm chí tôi còn mặc quần áo sẵn sàng rồi đây.” Ông nói giải thưởng này là kết quả lao động của 1000 con người tham gia vào dự án LIGO, là dự án đã quan sát được sóng hấp dẫn, qua đó chứng minh được lý thuyết có tuổi đời một thế kỷ của Einstein.
Ronald Drever, giáo sư đại học Caltech, một trong ba sáng lập viên của LIGO mới qua đời tháng ba năm nay. Nếu giải Nobel được trao sớm thêm một năm có lẽ ông cũng là người được nhận giải.
Trong khoa học hiện đại, đóng góp của nhóm các nhà nghiên cứu cho thành tựu khoa học có tác động lớn hơn các đóng góp cá nhân. Gần đây có nhiều ý kiến chỉ trích cách giải Nobel được trao. Các nhà khoa học cho rằng giải Nobel Vật lý chỉ trao tối đa cho ba nhà khoa học như hiện nay không còn hợp lý nữa. Tất nhiên những người được giải vẫn xứng đáng, nhưng trên thực tế họ không làm việc đơn độc.
Phát biểu sau khi biết mình được trao giải Nobel, Kip Thorne nói: “Tôi đã hy vọng giải được trao cho cả nhóm LIGO, nhưng thay vì thế giải được trao cho ba chúng tôi.”
Phát hiện sóng hấp dẫn của LIGO còn chứng minh Einstein tiếp tục đúng ở một khía cạnh khác, khía cạnh lực hấp dẫn trong Thuyết tương đối rộng của ông. Lần đầu tiên sóng hấp dẫn được chứng minh với bằng chứng thực nghiệm của một hiện tượng xảy ra bên ngoài hệ mặt trời.
Phát hiện sóng hấp dẫn của LIGO lần đầu tiên giúp khoa học chứng minh trực tiếp bằng thực nghiệm được sự tồn tại của một cặp hố đen, vốn chỉ tồn tại trên lý thuyết.  Dữ liệu đo được còn giúp các nhà khoa học biết về hai hố đen đã tạo ra sóng: khối lượng của hố đen, vận tốc quỹ đạo, và thời điểm chúng đâm vào nhau. Có thể, dữ liệu ấy còn giúp giải thích các hố đen siêu nặng đã hình thành như thế nào ở tâm các thiên hà.
Người Hy Lạp cổ và người Do Thái cổ cùng tin rằng vũ trụ trật tự (cosmos) được sinh ra từ hỗn mang không có hình dạng.
Thánh Augustine, một nhà thần học xuất sắc của Hội Thánh ở thế kỷ thứ 4, có những chiêm nghiệm rất độc đáo về thời gian và không gian. Theo chiêm nghiệm của Thánh Augustine, Thượng Đế tồn tại bên ngoài thời gian mà con người nhận thức được. Thượng đế ở bên ngoài vũ trụ do chính ngài tạo ra, và ở bên ngoài thời gian của cái vũ trụ ấy. Thời gian của Thượng Đế là một cái gì đó vừa hiện tại vừa vĩnh hằng.
Quan điểm của Thánh Augustine đã đặt không gian với thời gian của vũ trụ vào chung trong một khái niệm, rất gần với một vũ trụ được dệt lưới (fabric) bằng không-thời gian của Einstein. Và ý tưởng của Thánh Augustine về một thượng đế đứng hoàn toàn bên ngoài không gian và thời gian của vũ trụ do chính ngài tạo ra cũng là một ý tưởng độc đáo và cấp tiến. Sau khi Einstein đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành vũ trụ học hiện đại, ý tưởng ấy quay lại bằng sự màu nhiệm của khoa học.
*
Năm 1915, Einstein đưa ra lý thuyết mới về lực hấp dẫn, còn gọi là thuyết tương đối rộng: một vũ trụ “mới” hình thành. Trong vũ trụ ấy, khi con người quan sát ánh sáng của một ngôi sao cách trái đất một tỷ năm ánh sáng, thì đồng thời cũng là quan sát ánh sáng được phát đi từ một tỷ năm trước. Trong vũ trụ ấy, không gian và thời gian đã dệt vào nhau thành lưới không-thời gian (spacetime).
Năm 1921,nhà vật lý gốc Nga Alexander Friedmann khi giải các phương trình gốc của Einstein đã tìm ra nghiệm mà ngày nay được gọi là nghiệm Big Bang. Vũ trụ xuất hiện đột ngột và mạnh mẽ kinh khủng từ một trạng thái có độ nén vô hạn và năng lượng cực lớn. Tác động của vụ nổ Big Bang lan ra khắp vũ trụ theo không gian và thời gian, và tác động của nó còn tồn tại đến ngày nay.
Vũ trụ bao la được tuôn trào từ một điểm sau một vụ nổ là một ý tưởng rất khó hiểu với nhận thức thông thường. Hơn thế, khác với các vụ nổ bình thường, phải xảy ra ở đâu đó với thời gian và vị trí cụ thể trong không gian, vụ nổ Big Bang xảy ở một điểm hoàn toàn chưa có không gian và thời gian. Vị trí của vụ nổ ấy ở hiện tại chính là tất cả các điểm trong vũ trụ.
Toàn bộ vũ trụ rộng lớn ngày nay, ngày xưa đã ở cùng một chỗ.
Ở thời điểm Planck, 10-43 giây sau Big Bang, vũ trụ là là một mớ hỗn mang cực kỳ nóng, cỡ 1032 độ Kelvin. Đó là một khối plasma đồng chất, nóng bỏng, và có thể có nhiều hơn 3 chiều không gian. Chừng một phần trăm giây sau, vũ trụ mới nguội đi, còn khoảng 10 ngàn tỷ độ K, các hạt quark bắt đầu cụm lại để tạo ra proton và neutron. Một phần trăm giây sau nữa hạt nhân các nguyên tố nhẹ hình thành. Giai đoạn tổng hợp hạt nhân kéo dài vài trăm ngàn năm, rất dài với đời người nhưng chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi của vũ trụ. Vũ trụ đầy plasma của các hạt tích điện khiến các photon bị khuếch tán không thoát ra được. Khi nhiệt độ vũ trụ giảm xuống còn vài ngàn độ, các electron chuyển động chậm dần và lúc này nguyên tử mới bắt đầu hình thành.
Sau Big Bang khoảng 370 ngàn năm, nhiệt độ vũ trụ hạ xuống còn 3000 độ Kelvin, các electron và hạt nhân chuyển động đủ chậm để hình thành nguyên tử: electron bị trói vào quỹ đạo nguyên tử và hòa điện với các proton. Các photon nguyên thủy của Big Bang, không còn bị các hạt tích điện ngăn trở nữa, bắt đầu tràn ra và lấp đầy vũ trụ. Do vũ trụ giãn nở, mọi thứ giảm mật độ và nguội dần. Do photon luôn chuyển động với tốc độ ánh sáng nên khi nguội đi, tần số của nó cũng giảm dần. Ánh sáng của của vũ trụ nguyên thủy chuyển dần màu sắc, từ tím chuyển dần sang xang, vàng, đỏ, hồng ngoại và cuối cùng trở thành sóng vô tuyến.
Nhờ vào vệ tinh COBE và vệ tinh WMAP đã chụp được bức xạ nền sóng vô tuyến của vũ trụ, con người đã có thể nhìn xa được vào không gian, tới tận quá khứ, khi vũ trụ sơ sinh mới 370 ngàn năm tuổi.
Để nhìn xa hơn về thời điểm gần Big Bang hơn nữa, các nhà khoa học kỳ vọng những thiết bị dò sóng hấp dẫn như LIGO, có thể dò được nhưng sóng hấp dẫn nguyên thủy có từ thời điểm Big Bang.
Và có vẻ như với LIGO, họ đang tiến tới thành công.

Nguồn Blog của 5xu 

The Vietnam War - TÂM LÝ PHẢN CHIẾN

Trần Trung Đạo

Tôi không coi phim The Vietnam War của PBS. Vài người bạn rủ đi dự buổi chiếu giới thiệu ở một đài PBS địa phương, tôi suy nghĩ và cuối cùng không đi.
Nhưng điều đó không có nghĩa tôi chống lại việc coi phim Vietnam War. Thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến, nhất là các em ở trong nước có cơ hội nhìn vài góc cạnh mà đảng CS từng che giấu.
Dù không gian rất hẹp, thời lượng rất ngắn, hình ảnh thiếu khách quan cũng giúp cho các em suy nghĩ, nghi ngờ các khẩu hiệu tuyên truyền của đảng và tự mình tìm hiểu thêm. Đường còn dài, một bộ phim 18 giờ không nhất thời có thể làm thay đổi một nhận thức đã bị nhiều năm nhào nặn trong nền giáo dục một chiều nhưng đâu đó trong ý thức của các em sẽ vang lên một vài câu hỏi mà trước đó các em chưa từng nghĩ đến.
Một trong những khẩu hiệu quen thuộc mà các em thường nghe, cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến “chống Thực dân mới Đế quốc Mỹ”. Suốt hơn nửa thế kỷ, “Thực dân mới Đế quốc Mỹ” đồng nghĩa với tất cả xấu xa, tội ác trên đời, nhưng bao nhiêu em sinh viên, học sinh Việt Nam thật sự hiểu khẩu hiệu đó có nghĩa gì?
Tinh thần của Hiến chương Đại Tây Dương do TT Franklin Roosevelt soạn thảo kêu gọi tôn trọng quyền tự quyết dân tộc, sau Thế chiến Thứ Hai được thay bằng chủ thuyết Truman với các biện pháp cứng rắn nhằm ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa CS.
Nam Hàn, Nhật Bản, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Đức và hàng loạt các nước Châu Âu khác nằm trong ảnh hưởng của chủ thuyết Truman sau Thế chiến Thứ Hai và ngày nay chẳng những không bị “thực dân mới hóa” mà đều trở thành cường quốc kinh tế.
Có gì sai trong chủ trương của TT Truman nhằm ngăn chận Trung Cộng chiếm đoạt và đồng hóa cả Việt Nam?
Một người có nhận thức chính trị căn bản và biết căm phẫn khi một phần lãnh thổ chiến lược về kinh tế và quân sự của Việt Nam đang bị Trung Cộng chiếm đoạt đều hiểu chính sách của TT Harry Truman là cần thiết.
Tuổi trẻ Việt Nam đến tuổi biết đọc đều chỉ đọc những câu trả lời có sẵn, đây là lúc để các em đặt câu hỏi cho mình và sau đó đặt ra cho đảng CSVN.
Tôi không xem vì tôi tin mình đã đọc, hiểu và tiếp xúc đủ với cách nhìn về cuộc chiến Việt Nam qua lăng kính của Mỹ.
Các bình luận từ phía truyền thông Mỹ cũng như các phản ứng từ cộng đồng Việt Nam sau đó cho tôi thấy quyết định không xem phim của mình là đúng.
Tôi không muốn ám chỉ trực tiếp đến những người làm phim nhưng rõ ràng phần đông những người Mỹ hoạt động tích cực sau chiến tranh Việt Nam là những người trước đây cũng tích cực trong các phong trào phản chiến. Tương tự, những người Mỹ đã và đang nỗ lực để “hòa giải” với kẻ thù, “hàn gắn” những vết thương do chiến tranh gây ra cũng là những người trước đây hoạt động tích cực trong các phong trào phản chiến Mỹ.
Nhớ lại vào hai mùa hè năm 1999 và năm 2000, tôi được Tổ Chức Cộng Đồng Việt Nam Massachusetts đề cử cùng một số nhà văn khác ở hải ngoại tham dự các buổi hội luận về chiến tranh và hậu quả xã hội tại University of Massachusetts at Boston. Qua những buổi thảo luận đó tôi có cơ hội lắng nghe quan điểm của nhiều nhà văn, nhà thơ Mỹ. Phần đông trong số họ là những người có quan điểm phản chiến và đã từng sinh hoạt trong các phong trào phản chiến tại Mỹ trước năm 1975. Tâm lý phản chiến, vì thế, cũng phản ảnh sâu đậm trong thơ văn của họ.
Một đặc điểm của tâm lý phản chiến là chọn đứng về phía kẻ thù thay vì phía bạn. Những người phản chiến luôn ca ngợi hòa bình, tình nhân ái, lòng bao dung, tinh thần hòa giải nhưng thường dành cảm tình cho những kẻ gây ra tội ác hơn là cho phía nạn nhân.
Khi nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam họ chỉ dựa trên hai quan điểm, quan điểm của người Mỹ và quan điểm của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, trong khi đó, gần như hoàn toàn bỏ quên quan điểm thứ ba, cũng không kém phần quan trọng, đó là quan điểm từ phía Việt Nam Cộng Hòa. Thái độ đó phản ảnh mặc cảm bại trận, thiếu khách quan về điều kiện chính trị xã hội tại Việt Nam và thiếu đạo đức đối với những người đã một thời cùng chiến đấu với họ.
Khi mời các nhà thơ, nhà văn mang được nhà cầm quyền Cộng Sản chỉ định hay cho phép sang tham dự hàng năm, họ không biết rằng, những ngưòi họ thật sự cần hòa giải là những thương phế binh đang vá xe nuôi một bầy con ở góc đường Hà Nội, là những "cô gái Trường Sơn" ngồi khóc tuổi thanh xuân không bao giờ trở lại trong căn nhà tập thể chật hẹp ở Thanh Hóa, Hải Phòng.
Khi chọn đứng về phía những người bên kia chiến tuyến, họ hoàn toàn không quan tâm đến những người đã từng nằm chung trong một căn hầm, dựa lưng nhau trên từng bao cát, cõng họ vượt qua vùng lửa đạn, sớt chia họ họ từng giọt nước. Có bao giờ họ hỏi những người đó bây giờ ở đâu, còn sống hay đã chết? Gác qua một bên các mục tiêu chính trị, ai đúng ai sai, nếu không có những người lính VNCH đó, liệu họ còn sống để lên máy bay về với gia đình chăng?
Buổi chiều mùa hè năm 1999 tại Boston, những người phản chiến Mỹ ngạc nhiêu khi tôi giới thiệu những người đang ngồi trước mặt họ trong căn phòng ở đại học UMASS-Boston là những người đã nhiều năm bị đày đọa trong những nhà tù CS, và cũng là những người từng sát cánh bên họ trong những đoạn đường sinh tử.
Khi nghiên cứu một cuộc chiến cũng giống như những bồi thẩm đoàn đang tìm hiểu một tội ác, tiếng nói quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định của bồi thẩm đoàn, ảnh hưởng đến phán xét của bồi thẩm đoàn, không phải là tiếng nói của bị can, cũng không phải do lời kết tội hùng hồn của biện lý mà là từ nỗi đau, sự thiệt hại và bằng chứng từ phía nạn nhân. Nạn nhân của chiến tranh Việt Nam là ai nếu không phải chính nhân dân Việt Nam, nhất là nhân dân miền Nam Việt Nam bởi vì nơi đó là trận địa.
Phong trào phản chiến ở Mỹ trước 1975 cũng lan rộng sang các nước Châu Âu. Lãnh tụ các phong trào phản chiến Châu Âu ca ngợi Cộng Sản Việt Nam bằng giọng điệu gần như rập khuôn theo bộ máy tuyên truyền CS. Một nhà thơ Châu Âu nào đó từng mơ ước sáng mai thức dậy trở thành người Việt Nam và câu nói đó đã được phát tới phát lui mỗi sáng trên loa đầu phố.
Hành động nhân đạo bao giờ cũng cần được khuyến khích nhưng hành động đó phải phát xuất từ tình người chân thật thay vì từ mặc cảm cá nhân hay ganh tỵ quốc gia như các phong trào phản chiến châu Âu đối với chính quyền Mỹ.
Thái độ của những người phản chiến Châu Âu đối với chiến tranh tại Việt Nam trước đây không khác gì đối với chiến tranh tại Iraq mới đây.
Chính những phong trào được mệnh danh hòa bình này đã vận động người sang Iraq làm thành những vòng chắn người (Human shields) để bảo vệ cho chế độ Saddam Hussein khi liên quân Anh Mỹ chuẩn bị dội bom Baghdad. Các lãnh tụ hòa bình, phản chiến đó ở đâu khi tên đồ tể Saddam Hussein và tập đoàn tàn sát hàng trăm ngàn người dân Kurds, kể cả trẻ em vừa mới ra đời, bằng những phương tiện vô cùng phi nhân như hơi ngạt và vũ khí vi khuẩn.
Chiến tranh tại Việt Nam là một cuộc chiến đầy ngộ nhận và được nhìn từ những lăng kính khác nhau. Bộ phim Vietnam War của PBS cũng thế. Bộ phim lần này có thể khác với bộ phim ba chục năm trước nhờ kỹ thuật và tiếp cận với các nguồn thông tin, nhưng về quan điểm, vẫn còn quá sớm để giới sử học Mỹ có cái nhìn sâu xa, khách quan và toàn diện về cuộc chiến. Ai cũng có thể viết, có thể nhìn về một cuộc chiến tranh nhưng lịch sử đích thực của một dân tộc, trong trường hợp này là Việt Nam, cuối cùng, vẫn phải do chính dân tộc Việt Nam viết.

Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

“Tiền đã lo xong đất cắm rồi”, thư của một Nhà nghiên cứu gửi lãnh đạo toàn cầu


Nguyễn Thị Lan Hương




(GDVN) - Sau hơn 20 năm cải cách giáo dục và tiêu hơn mười mấy tỷ đô la, chúng tôi không biết bức tranh về giáo dục của chúng tôi… bởi có lẽ nó thuộc tài liệu mật?

LTS: Luật sư, nghiên cứu sinh về giáo dục quốc tế tại Mỹ, Nguyễn Thị Lan Hương chia sẻ lá thư của mình về những nguyên nhân căn bản dẫn đến khủng hoảng giáo dục ở cấp độ toàn cầu.
Trong đó, nêu bật những vấn đề nổi cộm trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam.
Toà soạn trân trọng gửi đến độc giả.
Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lan Hương cho biết, thư của mình được gửi tới Ngài Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank); Ngài Giám đốc UNESCO; Ngài Tổng Giám đốc Diễn Đàn Kinh tế Thế giới; Quốc hội Hoa Kỳ; Quốc hội Việt Nam; Các Tổ chức Nhân quyền Quốc Tế và những bạn quan tâm đến giáo dục.
Nội dung bức thư như sau:
Tôi là Nguyễn Thị Lan Hương, một luật sư Việt Nam. Tên ở Mỹ của tôi là Ann.
Tôi hiện đang ở Mỹ để theo đuổi nghiên cứu chuyên sâu về quản trị giáo dục đại học và quốc tế hóa, và cũng là đi học cùng với con gái tôi, An Quỳnh Châu, để cháu có thể thực hiện được ước mơ học tập tại Mỹ.
Với hơn 25 năm kinh nghiệm làm tư vấn phát triển giáo dục tại Việt Nam và châu Á, trải qua 3 năm sống và học tại Mỹ (hệ thống công lập), và dựa trên trải nghiệm học tập của con gái tôi, ở Việt Nam, với các chương trình quốc tế của Anh - Singapore - Úc và chương trình Quốc tế IB ở cấp 3 của Mỹ, tôi xin mạn phép chia sẻ với các quý Ngài, các nhà lãnh đạo trên thế giới và các bạn, những ai quan tâm đến giáo dục về những nguyên do căn bản dẫn đến khủng hoảng giáo dục ở cấp độ toàn cầu, như Ngân hàng Thế giới đã tuyên bố (*).
Nguyên nhân 1:
Sự nhầm lẫn giữa việc dạy dỗ con trẻ là một người tử tế được chuyển sang giáo dục cạnh tranh về điểm số, trường giàu trường nghèo và vị trí xã hội đo lường thành đạt của con người
Tôi muốn gửi đến 2 ví dụ nhỏ cho nguyên nhân này.
Bà ngoại tôi – Đào Thị Lợi, sinh năm 1920 ở một làng nhỏ gần Hà Nội. Học hết cấp 1 thời Pháp, bố mất, bà tự phải lo cuộc đời của mình và các em phụ mẹ. 
Suốt hơn 70 năm cuộc đời, bà luôn dạy tôi, cháu bà, về cách sống làm người, chứ không dạy tôi học giỏi toán, mặc dù, bà là người phải đi buôn bán nhỏ để nuôi 7 người con ăn học đại học và sau đại học trong thời kỳ vô cùng khốn khó của Việt Nam. 
Một ví dụ bà dạy là tôi luôn không dám ăn nhiều, ăn bẩn, hay ăn vụng trộm, đó là chuyện những năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam… đói kém và mất mùa, không có gạo ăn, người người chết như rạ và thậm chí, không kịp chôn.
Gia đình bà tôi cũng khá đói, nhưng sáng nào bà cũng cố nấu cháo pha loãng, để mang ra tìm người nào còn chút sức sống cho họ húp tạm. 
Điều mà người ta chết vì đói quá là chuyện hiển nhiên, nhưng theo bà tôi kể lại, số người chết do húp cháo vội, hay ăn cơm vội quá sau khi quá đói, cũng làm chết một số người không ít. 
Bà có dặn tôi là, “Con người ta, nếu không biết kiềm chế, đều sẽ hư hỏng, mà kiềm chế ăn là một điều không dễ, vì miếng ăn là miếng nhục ở đời. 
Cũng như, con cố gắng học để có tri thức, để trở nên hữu dụng cho con và mọi người, nhưng con cũng phải luôn nhớ là, người có giáo dục chưa chắc đã là người tử tế, cho họ và cho xã hội hoặc ngược lại”.
Quay về với những tranh luận bầu cử Hoa Kỳ 2016 của ứng viên tổng thống (mà hiện giờ đã thắng cử), xét dưới góc độ của một người nghiên cứu về giáo dục, tôi thực sự thấy phản cảm với những cách tranh luận và hơn thế, không phải là tranh luận, mà là xỉ vả và thóa mạ đối phương, được trình diễn trên sân khấu chính trị cho toàn thế giới.   
Lời dạy của bà tôi, người phụ nữ ít học, sinh vào năm 1920 đã đúng. Chúng ta có thể có những nhà lãnh đạo có học, có giáo dục, nhưng họ không phải là những người tử tế.
Điều này dẫn đến nguy cơ cao cho những khủng hoảng xã hội trên toàn thế giới, khi chúng ta đang càng ngày được chứng kiến những thế hệ lãnh đạo, từ cấp toàn cầu đến quốc gia, đến địa phương và các tập đoàn, đã đi theo xu hướng không coi trọng đạo đức làm người, đạo đức tử tế của một xã hội mà phụng vụ con người là cơ bản. 
Chúng ta có quá nhiều người có học, nhưng lại quá thiếu những con người tử tế làm lãnh đạo và định hướng phát triển giáo dục!
Họ, những nhà lãnh đạo, trong vòng 20 năm qua, đã biến giáo dục con trẻ, từ xu hướng giáo dục làm người, trở thành một hệ thống giáo dục cạnh tranh để có được tri thức vượt trội, trong một bối cảnh bất bình đẳng về thu nhập/nguồn lực, về công việc, phân biệt đối xử giữa nam và nữ, trong khi khủng hoảng kinh tế ngày càng xảy ra mạnh mẽ hơn và cũng lại do thiếu đạo đức xã hội gây nên.
Nếu ở Hoa Kỳ, trường học được dùng như một chỉ dấu cho giá bất động sản (trường tốt ở gần khu giá nhà cao), thì làm sao chúng ta có thể xây dựng được một xã hội thực sự bình đẳng và tự do?
Làm sao tôi có thể giải thích với con tôi về việc bạn nó không thể đến khu nhà tôi chơi, chỉ vì zip code khu vực này được liệt kê vào khu vực thu nhập thấp và nguy hiểm về an ninh?
Còn ở Việt Nam, nghịch lý không chỉ trong 20 năm, mà nhiều hơn nữa, là việc chúng tôi luôn tự hào với thành tích đi thi quốc tế, thậm chí là kết quả thi PISA của học sinh phổ thông Việt Nam cao hơn cả Mỹ, trong khi thu nhập bình quân đầu người thì chỉ bằng 1/25 người dân Mỹ…
Việc chạy theo học và thi sau nhiều năm đã biến hầu hết người Việt trở nên “háo danh” đến độ không thể biết phân biệt được đâu là giá trị của học thật và giả.
Bệnh thành tích, bệnh gian dối, bệnh “làm thì láo báo cáo thì hay” đang giết dần tương lai của Việt Nam, bất chấp việc Ngân hàng Thế giới đã cấp vốn vay ODA cho giáo dục trong 20 năm qua có lẽ không hề ít. 
Để minh chứng rõ cho việc này, câu chuyện của VNEN [1] mà Ngân hàng Thế giới và Bộ Giáo dục thì thấy kết quả rất ổn, nhưng giáo viên, học sinh và phụ huynh ở các tỉnh thành có khó khăn (là đa phần ở Việt Nam) thì phản đối. 
Còn nếu ví dụ VNEN chưa đủ, có lẽ các dự án tài trợ phát triển giáo dục đại học cho Việt Nam trong gần 20 năm qua, nhưng hệ thống đại học Việt Nam; hay chương trình quốc gia về ngoại ngữ… rối như canh hẹ và chất lượng dạy và học sa sút với số người thất nghiệp có bằng đại học ngày càng tăng …sẽ bổ sung thêm vào bức tranh giáo dục của Việt Nam.
Vậy, đâu phải bây giờ mới có khủng hoảng giáo dục.   
Ở Mỹ, năm 1983, Quốc Hội Hoa Kỳ đã phải đọc một nghiên cứu với tiêu đề “Quốc gia lâm nguy – Những cải cách giáo dục đất nước chúng ta cần thực hiện” [2]. 
Chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục khủng hoảng, cả kinh tế, giáo dục và xã hội, vì sự sai lầm của giáo dục, sự nhầm lẫn giữa việc dạy dỗ con trẻ là một người tử tế được chuyển sang giáo dục cạnh tranh về điểm số, trường giàu trường nghèo và vị trí xã hội là thước đo thành đạt.
Nguyên nhân 2:
Con người nói chung và trẻ em nói riêng, đặc biệt là những tầng lớp thu nhập thấp, dân da màu (hoặc dân thiểu số), những người có hoàn cảnh đặc biệt hay những người yếu thế trong xã hội, có thực sự có quyền làm người của họ hay không?
Theo quan sát cá nhân của tôi, với hàng chục năm cuộc đời làm luật sư, tôi nghĩ là chúng ta đã không đảm bảo được quyền con người của những đối tượng kể trên, đặc biệt ở những khu vực đói nghèo hay những thị trường bị lũng đoạn bởi lợi ích nhóm, dù đấy là kinh tế-tài chính, khai thác khoáng sản, công nghệ thông tin, báo chí truyền thông, thương mại… và tiếc thay, cả trong giáo dục.
Hiến chương Liên Hợp Quốc, hiến pháp của các nước đều có quy định rõ về quyền con người, quyền của trẻ em, đặc biệt là những trẻ dưới 18 tuổi. 
Nhưng cơ chế nào để thực thi và đảm bảo điều đó? 
Ai sẽ giám sát và cam kết tất cả các quyền hợp pháp của trẻ em, quyền được học, quyền được sống trong điều kiện tốt nhất, quyền được bảo vệ thân thể và thông tin cá nhân, vân vân và vân vân?
Tôi mong được dẫn ra 2 ví dụ cho những nguy cơ mà con trẻ của chúng ta rất có thể đang bước vào một thời kỳ nguy hiểm hơn bao giờ hết, thời kỳ của các tập đoàn công nghệ kiểm soát toàn bộ cuộc sống của chúng ta.
Ví dụ 1: ở Austin
Tháng 8 năm 2017, gia đình tôi đi tìm thuê phòng cho con gái đến học đại học ở Austin, Texas, Hoa Kỳ. 
Trong số 5 campuses xung quanh trường UT Austin (không thuộc trường quản lý), ở tất cả các hợp đồng thuê nhà, điều khoản về Từ bỏ Quyền nhân thân, bao gồm cả quyền về hình ảnh và giọng nói và điều khoản về Chính sách về Thông tin cá nhân của người thuê (tôi và con gái tôi, dưới 17 tuổi) (chi tiết xem ở copy điều khoản gốc dưới đây) [3], đã yêu cầu việc bên cho thuê có quyền sử dụng hình ảnh, ghi âm và ghi hình và tên tuổi của người thuê (học sinh sinh viên) ở bất kỳ thời điểm nào, cho bất kỳ mục đích quảng bá nào và không bị giới hạn về thời gian, dẫu cho hợp đồng thuê phòng chỉ có hiệu lực trong 1 năm.
Không có bất kỳ cách nào để thương lượng lại về điều khoản này.
Và theo luật của Texas, một học sinh sinh viên ở trường công có thể được chụp hình mà không vi phạm vào quyền riêng tư của họ, vì họ đang ở trên đất công, và nếu ai đó ghi âm cuộc nói chuyện bất kỳ thì họ toàn quyền sử dụng nội dung ghi âm đó mà không cần thông báo cho bên kia [4].  
Như vậy, việc chúng tôi đến thăm quan những cơ sở cho thuê phòng của sinh viên, và ở Texas, Mỹ, nơi coi quyền tự do cá nhân là quyền tự nhiên và không ai có quyền xâm phạm, nay, tất cả các chủ cho thuê đó đều có thể sử dụng hình ảnh và các cuộc nói chuyện với con gái tôi, một đứa trẻ dưới 18 tuổi và hầu hết những bạn trẻ thuê phòng ở đó là sinh viên UT và trong độ tuổi 18-22.
Tôi muốn hỏi, ai đã cho phép có luật hợp pháp để buộc con người tự do phải trao quyền nhân thân của mình, tên tuổi, hình ảnh và âm thanh, quyền riêng tư cho bên thứ 3, ở Texas?
Và giả sử, những người chủ chỗ thuê phòng đó, giờ này, họ sử dụng những hình ảnh và tên tuổi của tôi và con tôi, không chỉ ở Mỹ, mà ở toàn cầu để quảng bá cho hệ thống cho thuê phòng trọ cho sinh viên của họ, như một hoạt động đầu tư và kinh doanh toàn cầu, ai sẽ bảo vệ quyền lợi cho tôi và con gái tôi?
Về việc này, tôi đã gửi thư chính thức đến:
- Trung tâm Vì sự tiến bộ của Người Mỹ
- Hillary Clinton
- Diễn Đàn Kinh tế Thế giới
- Các chủ sở hữu các campuses cho sinh viên thuê ở Austin
- NAFSA: Hiệp Hội các nhà giáo dục quốc tế
Nhưng trừ NAFSA thông báo về việc họ không có chức năng giúp cho sinh viên quốc tế trong vấn đề này, không có ai có phản hồi rằng họ nghĩ như thế nào về quyền con người, quyền của học sinh sinh viên sống tại campus đi thuê, quyền được sử dụng hình ảnh, ghi âm, tên tuổi của cá nhân người khác, trong các hoạt động kinh doanh bất động sản, kinh doanh campus quốc tế, và bao gồm cả trên các trang mạng xã hội quốc tế.
Ví dụ 2: Ở Texas A&M, Corpus Christi
Tôi theo học lớp quản trị giáo dục đại học (tiến sỹ) từ 2014-2016. 
Sau hơn 1 năm học, tôi phát hiện ra, tôi được trở thành đối tượng nghiên cứu và (có thể) quảng bá chương trình cho trường. 
Chi tiết về câu chuyện này, xin được đọc tiếp ở đường link dưới đây [5].
Tôi, một người trưởng thành, đã trở thành đối tượng  nghiên cứu, ngay trong lớp học của mình và do giáo sư của mình thực hiện ghi hình lớp học mà không có bất kỳ thông báo nào hết cho sinh viên. 
Khi tôi lên hỏi Trung tâm Sinh viên, tôi được chia sẻ rằng, đây là trường công. 
Sau khi chấm dứt học vào hè 2016, vì không thể chịu được áp lực về việc tôi bị theo dõi ở nhà và trường, bởi những ai đó, vì những mục đích quảng bá, vì những mục tiêu hợp tác, vì những nghiên cứu để phát triển giáo dục toàn cầu ở châu Á, vân vân và vân vân…
Tôi nhận ra là, với giáo sư dạy tôi, với trường tôi đang học, tôi hoàn toàn không phải là CON NGƯỜI. 
Tôi chỉ là một con vật được dùng để họ thí nghiệm trong lớp và trong trường, trong những hoàn cảnh sinh hoạt của một đại học Mỹ.  
Tôi, một con người, nhưng thấp kém hơn nhiều con động vật, mà theo luật về chống sử dụng động vật làm thí nghiệm, chúng ta không được sử dụng chúng để làm thí nghiệm, nhưng chúng ta có quyền dùng học sinh sinh viên của mình để thí nghiệm, nghiên cứu mà bất chấp quyền con người của họ, như trong trường hợp của tôi ở A&M Corpus Christi.
Điều gì đã thúc đẩy họ, trường học và giáo viên làm những điều như vậy?
Tôi không thể biết được… chỉ biết là, tôi đã thấy rất sợ, và tôi căm ghét những người đã đẩy tôi vào hoàn cảnh này.
Cuối cùng, câu hỏi chúng ta, học sinh sinh viên, con cái chúng ta có là con người không?
Vì nếu là con người, ai đã tước mất những quyền tự nhiên thuộc về bản thân họ?
Hay chúng ta đang xây dựng nên một nền “giáo dục cho nô lệ” mới, dựa trên những hạn chế về quyền con người, trong thời đại số hóa?
Tôi mong Quốc hội Mỹ, các Tổ Chức Nhân quyền Quốc tế, Liên Hợp Quốc và tất cả các tổ chức, các cá nhân quan tâm đến con người, đến giáo dục, hãy cân nhắc kỹ vấn nạn này.
Chúng ta cần có những quy định pháp lý buộc các chủ sở hữu bất động sản, chủ sở hữu các trang mạng xã hội, các nhà cung cấp công nghệ và thiết bị đường truyền, tất cả những ai cung cấp dịch vụ cho con người, không được quyền sở hữu, cũng như không được có những ràng buộc những người tham gia trong hệ thống đó, phải “tự nguyện từ bỏ các quyền nhân thân cá nhân, bao gồm tên tuổi, hình ảnh, ghi âm ghi hình và quyền riêng tư…” trong các giao dịch. 
Lý do đơn giản, chúng ta là CON NGƯỜI, và vì là con người, chúng ta phản đối bất kỳ quy định nào, rào cản nào buộc chúng ta phải “bán” từng phần quyền này cho các bên thứ ba cung cấp dịch vụ. 
Họ đã kiếm ăn đủ từ dữ liệu người sử dụng dịch vụ, các quảng cáo họ bán cho bên khách hàng, và điều còn lại duy nhất, họ không có quyền bán thông tin cá nhân của khách hàng, và hình ảnh, âm thanh hay bất kỳ điều gì tương tự.
Nguyên nhân thứ 3:
Từ nguyên nhân 1 và 2 trên đây, chúng ta có nhiều biểu hiện không thể tự trung thực với những mục tiêu, định hướng và cách làm để đạt đến mục tiêu.
Do chúng ta tập trung vào cạnh tranh, và cạnh tranh bị lũng đoạn bởi lợi ích nhóm, và chúng ta coi thị trường là chiến trường, và để giành phần thắng vượt trội, chúng ta đã không coi trọng con người, trong đó có giáo viên, học sinh, phụ huynh và các khách hàng khác của chúng ta.
Hãy lấy Việt Nam làm ví dụ về việc này.
Ngân hàng Thế giới là một trong những nhà tài trợ cho Việt Nam tái kiến thiết kinh tế, cụ thể được ghi trong Báo cáo Việt Nam 2035 [6]. 
Điều rất đáng ngạc nhiên, cho cá nhân tôi, với tư cách là người nghiên cứu về giáo dục, là việc thiết kế dự báo phát triển kinh tế cho Việt Nam đến 2035, nhưng hầu như không có bất kỳ kế hoạch nào cho giáo dục liên cấp cải thiện chất lượng để hội nhập với quốc tế.
Câu hỏi ở đây là: vậy giáo dục đóng vai trò như thế nào cho phát triển đất nước, mà kinh tế là một chỉ số?
Chúng tôi, người Việt Nam, sẽ phát triển kinh tế ra sao, khi hơn 80% học sinh phổ thông kém dưới trung bình tiếng Anh, các môn khoa học hầu như không ổn, phương pháp tư duy và sáng tạo gần như không có, chúng tôi thẹn thùng trong các tranh luận, chúng tôi không có ước mơ gì lớn ngoài trừ ước mơ có việc làm ở cơ quan nhà nước sau khi tốt nghiệp đại học hay cao đẳng…
Cho đến nay, sau hơn 20 năm cải cách giáo dục và tiêu hang tỷ USD, chúng tôi không biết bức tranh về giáo dục của chúng tôi nó ra làm sao cả… bởi có lẽ nó thuộc tài liệu mật?
Điều không ai có thể giải thích được, là tại sao Việt Nam vẫn đi vay được, Ngân hàng Thế giới vẫn cho vay, cho những dự án giáo dục, mà hiệu quả, nếu lấy ví dụ gần thì VNEN, mà ví dụ xa thì lấy chương trình cải cách đại học, đều không rõ hiệu quả với người học ở Việt Nam?
Chúng tôi biết lấy gì để hiểu là, tiền đi vay đấy, nó đã được sử dụng hợp lý cho các dự án giáo dục? Ai giám sát điều này?
Để khích lệ cho một tương lai xa hơn 2035, PWC còn ra một báo cáo rằng đến năm 2050, Việt Nam phát triển vượt qua các nước phát triển… tính theo sức mua tương đương [6]. 
Xin thật lòng nói rằng, trong số hơn 90 triệu dân Việt chúng tôi, có lẽ chưa đến một hay hai triệu người hiểu được chính xác sức mua tương đương là gì…
Nhưng với ước mơ vượt lên các nước phát triển được chia sẻ bởi những doanh nhân có uy tín trên truyền thông, nó đã đưa một liều thuốc ngủ thật dịu dàng cho dân chúng, trong khi thực tế về nợ công đang đạt đến đỉnh điểm gần 95 tỷ đô la thì không thấy quảng bá rầm rộ tương ứng.
Hiện tượng này nói lên điều gì? Chúng tôi đã mắc bệnh nặng quá, đến mức độ chỉ thích nghe điều hay, điều vĩ đại… và nó đã ngấm quá nặng vào hệ thống giáo dục, hệ thống con người, những người sẵn sàng “vẽ” tương lai như câu thơ:
“Anh cùng tôi bước trên đê nhỏ
Áo nâu bạc màu bay với gió
Anh giơ tay vẽ giữa đồng xanh
Vẽ cả ngày mai thành bức tranh
Kìa dòng mương chảy cầu đương bắc
Lò gạch xây cao, đường thẳng tắp
Nơi đây kho thóc nhà chăn nuôi
Tiền đã lo xong đất cắm rồi" [7]
Là người dân, là người mẹ có con đi học, tôi biết rõ một điều là, với số học sinh Việt ngày càng tăng đi du học, với đúng tình trạng “tiền đã lo xong đất cắm rồi”, giáo dục Việt thực sự đang đi đến điểm giới hạn mà cần phải xác định rõ chúng ta muốn “vẽ” [8] tiếp cái gì?
Tôi mong các tổ chức quốc tế, hãy giúp cho giáo dục Việt Nam phải trở thành một phần của Báo cáo Việt Nam 2035, bao gồm cả việc thiết kế và xây dựng một chương trình tổng thể cho K-12 và dạy nghề, đảm bảo chúng tôi có thể có được một tương lai tốt đẹp thật sự, với những giá trị của một xã hội tử tế cho tất cả mọi người.
Xin cảm ơn.
Tài liệu tham khảo:
(*)http://baochinhphu.vn/quocte/Ngân hàng Thế giới-canh-bao-cuoc-khung-hoang-giao-duc-toan-cau/317827.vgp
[2] https://en.wikipedia.org/wiki/A_Nation_at_Risk; http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Quoc-gia-lam-nguy--Yeu-cau-cap-bach-cai-cach-giao-duc-bai-hoc-My-nam-1983-post175442.gd
[3] 34. PHOTOGRAPH AND VIDEO RELEASE. I hereby grant permission to the rights of my image, likeness and sound of my voice as
recorded on audio or video tape without payment or any other consideration. I understand that my image may be edited, copied,
exhibited, published or distributed and waive the right to inspect or approve the finished product wherein my likeness appears.
Additionally, I waive any right to royalties or other compensation arising or related to the use of my image or recording. I also
understand that this material may be used in diverse educational settings within an unrestricted geographic area.
I understand this permission signifies that photographic or video recordings of me may be electronically displayed via the Internet or in
the public educational setting. I will be consulted about the use of the photographs or video recording for any purpose other than those
listed above. There is no time limit on the validity of this release nor is there any geographic limitation on where these materials may be
distributed. This release applies to photographic, audio or video recordings collected as part of the sessions listed on this document only.
I acknowledge that I have completely read and fully understand the above release and agree to be bound thereby. I hereby release any
and all claims against any person or organization utilizing this material for educational, training, and marketing purposes.
36. PRIVACY POLICY. The purpose of this policy is to outline some of our procedures relating to the confidentiality and security of
sensitive personal information, including social security numbers, disclosed to us by prospective and existing residents. For the
purposes of this policy, the term “sensitive personal information” shall mean an individual’s first name or first initial and last
name in combination with any one or more of the following items, if the name and the items are not encrypted: (i) social security
number; (ii) driver’s license number or government-issued identification number; or (iii) account number or credit or debit card number
in combination with any required security code, access code, or password that would permit access to an individual’s financial account.
This term does not include publicly available information that is lawfully made available to the general public from the federal
government or a state or local government.
• Collection and use of sensitive personal information. When you apply to rent a bed/bedroom in our community, we will ask you
to disclose certain sensitive personal information on your rental application and possibly other lease documentation. This sensitive
personal information will be used by us for business purposes including confirmation of your identity, determination of your
eligibility for rental and collection of amounts you owe.
• Protection and access to sensitive personal information. We will keep the sensitive personal information you provide to us in
our files. If you become a resident in our community, we will keep the sensitive personal information in a resident file. If you do not
become a resident, we will keep your sensitive personal information in a general file. Personnel with the owner and management
company, if applicable, will have access to our files. We also reserve the right to disclose sensitive personal information for
Version 13.12.11
business related reasons to others such as independent contractors, credit reporting agencies, collection agencies or prospective
purchasers or their agents in a manner allowed by law.
• Disposal of records containing sensitive personal information. It is our policy to dispose of records that contain sensitive
personal information by shredding, erasing, or by other means making the sensitive personal information unreadable or
undecipherable.
• Taking corrective action. In the event that you experience identity theft or we discover that there has been unauthorized
acquisition of computerized data that compromises the security, confidentiality, or integrity of sensitive personal
information, as defined above, we will comply with all applicable law with respect to taking appropriate corrective action.
This policy has been designed to meet the requirements of applicable law with respect to the adoption of a privacy policy. Nothing
contained in this policy shall constitute a representation or warranty of any type whatsoever that sensitive personal information
will not be misplaced, duplicated, or stolen. No liability is assumed with respect to any such occurrences.
[4] http://www.dmlp.org/legal-guide/texas-recording-law;  https://lifehacker.com/5912250/know-your-rights-photography-in-public