Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Khám phá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch Khám phá. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 11, 2021

Những Địa Danh Mang Tên "Cái" Ở Miền Nam


Chợ nổi Cái Răng

Cái có nghĩa là “sông con” (đây là tiếng cổ của dân tộc Phù Nam). Ai đã từng sống ở miền Nam, đều nhận thấy rằng: Những địa danh bắt đầu bằng chữ Cái ở đây đều nằm trên một con sông nhỏ, chảy ra một con sông lớn.

Trước tiên là Tỉnh Tây Ninh, có một Vàm là Cái Răng nằm khoảng giữa từ Tây Ninh đến Bến Kéo thuộc Quốc Lộ 22 đi qua Kampuchia. Ngoài ra còn có con Rạch tên là Cái Bác, nằm trong Xã Phước Vinh, Huyện Châu Thành. Con rạch nầy nối liền sông Vàm Cỏ Ðông chảy qua Kampuchia.
Tiếp giáp Tỉnh Tây Ninh là Tỉnh Long An, tại đây có Huyện Mộc Hóa với 2 địa danh Cái Nứa, Cái Ðôi. Cũng tại đây có con sông Vàm Cỏ Tây nhận nước từ con rạch Cái Rô chảy qua Kampuchia. Long An còn có một Huyện nữa tên là Tân Hưng, có các địa danh mang tên Cái: Cái Bát, Cái Môn, Cái Sách. Ðịa danh Cái Bát có con kinh Cái Bát chảy qua gặp con Rạch Cái Cỏ rồi chảy vào Tỉnh Xvay Riêng Kampuchia.
Nằm kế bên Tỉnh Long An là Tỉnh Tiền Giang, tại Tiền Giang có một Huyện tên là Cái Bè.
Ðịa danh Cái Bè nằm trên Quốc Lộ IV (Sài Gòn về Cà Mau) nổi danh qua những vườn cây ăn trái như: Cam Mật, ổi Xá Lị, mận Hồng Ðào, vú sữa Hột Gà. Ðặc biệt có loại chuối Cái Bè ăn rất ngon (mọc từ thân cây ra). Cái Bè có 2 địa danh mang tên Cái Thia và Cái Nưa. Tại đây cũng có con Rạch Cái Thia chảy qua Ðồng Tháp Mười.
Cái Bè đã đi hết, bước sang Tỉnh Bến Tre chúng ta lại có Quận Ðôn Nhơn (bây giờ gọi là huyện Chợ Lách). Nằm trên Cù Lao Minh với 2 địa danh mang tên Cái Mơn và Cái Nhum. Hai địa danh nầy nổi tiếng có nhiều vườn trái cây, ở đây có vườn sầu Riêng của Ông Chín Hóa trồng, rất nổi tiếng (hạt lép nhiều cơm, thơm ngon ngọt). Cư dân sống ở đây đều theo đạo Công Giáo, tại đây có một ngôi giáo đường rất cổ, trước sân nhà thờ Cái Mơn, có một cây cổ thụ to gọi là cây Thiên Tuế. Cái Mơn cũng là nơi sinh ra nhà bác học Trương Vĩnh Ký, Ông biết trên 20 thứ tiếng. Ông cũng là thông dịch viên cho phái đoàn Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp (1863). Cái Nhum là quê hương của Thánh Tử Ðạo (Á Thánh Lựu) và cũng là nơi chôn thi hài của Á Thánh Phillipe Phan Văn Minh, người đã bị Vua Tự Ðức ra lệnh xử trãm tại Cái Sơn Bé (bến đò Ðình Khao) vào ngày 03-07-1853. Dưới bến đò Ðình Khao, có con Rạch tên là Cái Kè, khoảng từ Vĩnh Long đi chợ Lách. Cái Kè đi xuống một chút là tới Cái Muối, rồi qua gặp Cái Gà. Chợ Lách còn có một địa danh nữa tên là Cái Tắc thuộc Xã Hưng Khánh Trung, ngoài ra còn có cù lao tên là Cái Cát.
Ðó là Cái Nhum ở chợ Lách., còn có một địa danh mang tên Cái Nhum nữa, là Cái Nhum Huyện Mân Thít thuộc Tỉnh Vĩnh Long. Nơi đây đã xảy ra những trận đánh giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn Ánh cùng quân Xiêm La. Cuối cùng trận đánh kết thúc tại Rạch Gầm – Xoài Múc mà phần thắng là quân Tây Sơn.
Tại Huyện Giồng Trôm thuộc Xã Hưng Lễ có một địa danh mang tên Cái Ða Trại. Nơi đây đánh dấu bước chân của Nguyễn Ánh trốn chạy quân Tây Sơn, gần đó là Cái Mít Nguyễn Ánh cũng tá túc thời gian ngắn. Huyện Thạnh Phú có địa danh Cái Cá thuộc Xã Mỹ Hưng. Ði qua Mỏ Cày có con Rạch tên là Cái Gấm, nhận nước từ con sông Hàm Luông. Tạïi Quận Ba Tri có điạ danh mang tên là Cái Bông, đây cũng là nơi sinh ra Cụ Phan Thanh Giản. Tại Huyện Châu Thành có một Xã tên là Cái Nứa. Riêng tại Bến Tre ngay trung tâm thành phố có 2 cây cầu tên là Cái Cối và Cái Cá.
Sau đây đến Vĩnh Long: Vào ngày 25-08-1960 cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã khánh thành Khu Trù Mật Cái Sơn thuộc Tỉnh Vĩnh Long. Tại Huyện Bình Minh, tên địa phương gọi là Cái Vồn. Thời Ðệ I Cộng Hòa có Tướng Trần Văn Soái (Phật Giáo Hòa Hảo) đặt bản doanh tại đây. Ðây cũng là cửa ngỏ để đi Cần Thơ qua Bắc Bình Minh.
Ðến Huyện Tam Bình có địa danh tên là Cái Cui, thuộc Xã Hòa Lộc. Ðây cũng là quê hương của giáo sư Phạm Hoàng Hộ (Cựu Viện Trưởng Viện Ðại Học Cần Thơ).
Huyện Vũng Liêm có Cù Lao Cái Dứa, thuộc Xã Thanh Bình.
Nằm sát bên Vĩnh Long có Tỉnh Trà Vinh, đây là tỉnh có nhiều người Khmer ở, có tất cả 129 ngôi chùa Miên lớn nhỏ khắp nơi ở trong tỉnh. Tại huyện Duyên Hải có điạ danh Cái Cối thuộc Xã Long Vĩnh và Cái Ðôi thuộc Xã Long Khánh.
Ði về hướng Sa Ðéc có một địa danh tên là Cái Tàu Hạ tức Quận Ðức Tôn (trước năm 1975) nay đổi thành Huyện Châu Thành. Nơi đây có nhiều lò nung gạch, cung cấp gạch cho các tỉnh miền Tây. Chữ Cái Tàu được hiểu là “con sông nước lạt”.
Huyện Lai Vung Sa Ðéc có con Rạch tên là Cái Mít thuộc Xã Vĩnh Thới. Con rạch nầy chảy qua sông Hậu. Huyện Hồng Ngự có địa danh Cái Cái, là nơi tập trung dân chúng sống nhờ vào nguồn thủy sản cá tôm tép, từ biển hồ của Kampuchia chảy qua. Gần Cái Cái còn có Cái Tiêu, Cái Sơ nữa cũng trong Huyện Hồng Ngự. Chúng ta thấy thiên nhiên rất ưu đãi cho đồng bào sống trong vùng sông Tiền, sông Hậu. Vì chính 2 con sông nầy là nguồn lợi kinh tế cho đồng bào ở đây, ngoài nhiệm vụ cung cấp cá, tôm, nước ngọt dùng để làm ruộng, tưới nương rẫy. Mỗi năm sau mùa nước nổi, chúng ta được một lớp đất phù sa mầu mỡ, dùng để trồng trọt hay cày cấy. Bản chất đất không có làm biếng, chỉ có con người mới làm biếng.
“Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”
Qua phần đất của sông Hậu có Tỉnh An Giang. Chúng ta thấy có địa danh Cái Tàu Thượng ở Xã Mỹ An Hưng nằm trên đường từ bắc Cao Lãnh đi Chợ Mới. Từ Bắc Vàm Cống về Long Xuyên có địa danh mang tên Cái Sơn. Trên đường Long Xuyên đi Châu Ðốc gặp một địa danh tên là Cái Dầu, đây cũng là Huyện Châu Phú thuộc Tỉnh An Giang. Ða số người dân sống ở đây (An Giang, Châu Ðốc) đều theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo , người sáng lập là Ðức Huỳnh Phú Sổ.
Giáp ranh Tỉnh An Giang có Tỉnh Kiên Giang, tại đây có 2 con sông mang tên Cái Lớn và Cái Bé. Hai con sông nầy xuất phát từ Tỉnh Chương Thiện chảy ra cửa biển Rạch Giá. Ðảo Phú Quốc có quần đảo An Thới, trong đó có hòn đảo Cái Bàn thuộc Vịnh Thái Lan.
Quay về Hậu Giang chúng ta thấy có địa danh mang tên Cái Sắn, thuộc Xã Vĩnh Trinh Huyện Thốt Nốt.
Rời Cái Sắn chúng ta đến Cần Thơ sẽ gặp ngay chợ Cái Khế. Chợ nầy nằm khoảng giữa từ bến xe đến cầu Bắc Cần Thơ, có thể nói chợ Cái Khế là ngôi chợ lớn thứ nhì sau chợ Bến Ninh Kiều của thành phố Cần Thơ. Hướng về Bến Ninh Kiều qua đường Hai Bà Trưng có cây cầu Cái Khế bắc qua đường Nguyễn Trãi. Tại Cần Thơ còn có trung tâm kỹ nghệ Cái Sơn Hàng Bàng. Là nơi sản xuất hàng thủ công nghệ và vật dụng gia đình.



Dọc theo bờ sông Hậu đi hướng về Ðại Ngãi lần lượt chúng ta thấy có những địa danh như: Cảng Cái Cui (đang xây cất) Cái Sâu, Cái Gia, Cái Ðôi rồi đến Cái Côn.
Tại đây có một con Kinh gọi là Cái Côn để đi vô Phụng Hiệp, trước khi tới Phụng Hiệp gặp nhau tại ngã bảy (7 con Kinh đi 7 hướng khác nhau). Cái Côn trước năm 1975 là quận Phong Thuận. Sau 1975 là Xã An Lạc Tây thuộc Huyện Kế Sách, từ Cái Côn đi xuống sẽ gặp Cái Cao, Cái Trâm, Cái Trưng, những địa danh nầy đều thuộc Quận Kế Sách. Tại Xã Nhơn
Mỹ có một con rạch để vô Huyện Kế Sách, được gọi là Vàm Cái Sách (theo lời ông Lê Công Tiệp là người dân cố cựu ở Mương Khai - Trà Ếch, hiện Ông định cư ở Bass Hill Sydney).
Từ Cần Thơ đi xe xuống Sóc Trăng, sẽ gặp ngay một Huyện cách Cần Thơ 5 cây số. Ðó là Cái Răng, tên Cái Răng nguyên là gốc chữ Miên đọc “carăng” nghĩa thật tên Cà Ràng. Cà Ràng là tên cái lò làm bằng đất sét, được đặt ở bếp dùng để nấu ăn. Cái Răng là một Huyện của Cần Thơ đứng hàng thứ nhứt về mọi mặt, có câu ca dao nói về Cái Răng:
“Cái răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền,
Anh có thương em cho bạc cho tiền.
Ðừng cho lúa gạo xóm giềng họ hay”
Qua 3 câu ca dao trên chúng ta thấy cuộc sống của người dân Cái Răng và những vùng phụ cận rất là sung túc của một thời trước 1975. Sau 1975 Cái Răng tách làm 2 Huyện: Châu Thành A và Châu Thành. Huyện Châu Thành có con Kinh mang tên là Cái Dầu đổ ra sông Hậu.
Ngoài ngôi chợ cố định, Cái Răng còn có một chợ nổi nữa. Ðó là chợ nổi nhóm trên sông, đây là nét sinh hoạt đặc thù của người dân miền Tây. Chợ nổi nầy chủ yếu là bán trái cây, rau, củ không giới hạn thời gian, ngày cũng như đêm đều có nhóm chợ. Trong vùng Cái Răng còn có những ngôi chợ: Cái Chanh, Cái Muồng, Cái Da.
Từ Rạch Ðầu Sấu đi vô sẽ gặp Rạch Cái Sơn, rồi đổ qua Rạch Bình Thủy.
Rời Cái Răng đi xuống khoảng 15 cây số, sẽ gặp một địa danh mang tên là Cái Tắc.
Vùng Hỏa Lựu (Vị Thanh) có 2 địa danh mang tên Cái Sình, Cái Su; ở đây trồng rất nhiều khóm.
Huyện Long Mỹ (Chương Thiện) còn có địa danh mang tên Cái Nhào, Cái Dứa.
Từ Cái Tắc đi xuống sẽ gặp Tỉnh Sóc Trăng, nếu đi Long Phú sẽ gặp địa danh Cái Oanh nằm ở gần cầu sắt Tân Thạnh (quê hương của Ðại Tướng Cao văn Viên). Ðối diện với Cái Oanh là Cái Xe và Cái Ðường thuộc phần đất của quận Mỹ Xuyên.
Tại huyện Thạnh Trị (Phú Lộc) có Khu Trù Mật Cái Trầu thuộc Xã Tuân Tuất, ở đây cũng có một con Kinh Cái Trầu chảy qua gặp Kinh Xáng Phụng Hiệp.
Trước khi tới Bạc Liêu khoảng chừng 5 cây số là Cái Dầy. Cư dân ở đây hay người dân ở Bạc Liêu, đều biết đại điền chủ Trần Trinh Trạch. Ông là một trong những người giàu có ở miền Nam, Ông có người con trai tên là Trần Trinh Huy ( Ba-Huy). Ông Trần Trinh Trạch là người giỏi kiếm tiền, thì con trai ông lại giỏi ăn chơi. Ðúng với danh gọi là Công Tử Bạc Liêu, không có chỗ nào mà thiếu vắng công tử, nếu chỗ đó là chốn ăn chơi nổi tiếng. Công Tử Bạc Liêu thể hiện đúng cá tính con người miền Nam. Tại Cái Dầy có nghĩa trang Trần Gia, Cậu Ba Huy cũng chôn cất tại đây (chết vào đầu tháng Giêng 1973).
Từ Bạc Liêu đi xuống Cà Mau, chúng ta có Cái Tràm (Xã Long Thạnh, Huyện Vĩnh Lợi). Tại Xóm Lung có con Kinh Cái Cùng, nhận nước từ Kinh Xáng Bạc Liêu rồi đổ ra biển Ðông. Tại đây đồng bào sinh sống bằng nghề làm ruộng muối, trồng nhãn. Ðịa danh Cái Cùng nằm trong Xã Long Ðiền Ðông A, Huyện Giá Rai.
Lần qua Huyện Hồng Vân có các địa danh: Cái Chanh, Cái Nhum. Ðây cũng có con Rạch Cái Chanh Lớn đổ về Huyện Phước Long.
Ðoạn đường từ Tắc Vân đến Cà Mau, có Cái Ngang ở gần đầu lộ Tân Thành. Cuối cùng chúng ta đến Cà Mau là nơi tận cùng của đất nước. Tại Huyện U Minh có con Rạch Cái Tàu, chảy ra biển Rạch Giá, cư dân ở đây trồng rẫy: Như khoai, đậu cùng vườn cây ăn trái. Bước qua Huyện Cái Nước, đây là huyện xung quanh toàn là những rừng đước. Cây đước giúp ích cho người dân rất nhiều như: Dùng làm cột nhà, cột để đóng đáy ngoài sông, biển. Còn dùng làm chất đốt như: Than, củi. Ngoài địa danh Cái Nước ra, còn có Cái Nhum thuộc Xã Hưng Mỹ, Cái Rô thuộc Xã Lương Thế Trân. Cái Ðôi Xã Phú Tâm còn có Cái Ðôi Vàm, đây là con sông đổ ra biển.
Huyện Ngọc Hiển (trước 1975 là Quận Năm Căn) ngoài ra còn có địa danh tên Cái Nải, chung quanh ở đây toàn là rừng đước.
Huyện Ðầm Dơi có Cái Keo thuộc Xã Quách Phẩm, đồng bào ở đây làm ruộng, trồng khoai lang, khoai mì và đào ao nuôi cá. Cái Ngay ở Xã Thanh Tùng, có một sân chim rất lớn có đủ loại chim: Như cò Quắm, Gương Sen, Chàng Bè. Tại Xã Tân Duyệt nổi danh qua nghề dệt chiếu, đã được cố nghệ sĩ Út Trà Ôn ca bài “Tình Anh Bán Chiếu” của soạn giả Viễn Châu. Ngoài ra còn có con Rạch Cái Bé, chảy ra biển Ðông.


Thứ Năm, 23 tháng 5, 2019

“Tiên tích đức, hậu tầm long” – Câu chuyện anh em nhà họ Quách

Trần Hưng

Tổ tiên người Việt từ ngàn xưa luôn dạy con cháu rằng muốn thành công thì phải có đức. Ngay cả trong giới phong thủy chân chính, vốn có thể dựa vào địa lý hay long mạch mà cải mệnh, vẫn luôn lưu truyền câu nói: “tiên tích đức, hậu tầm long”. Văn hóa cổ truyền đó ngày nay ít người thật sự tin tưởng, nhưng có không ít câu chuyện có thật được ghi chép lại là minh chứng cho điều này, trong đó phải kể đến chuyện hai anh em nhà họ Quách thời Lê sơ.

“Tiên tích đức, hậu tầm long”

Trong thời Lê Sơ ở xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình có một người họ Quách tính tình thật thà chất phác, không tranh cãi với ai. Một lần khi cuốc đất, anh ta tìm thấy một đĩnh vàng. Vốn tin vào đạo lý của trời đất, nghĩ rằng số vàng này không phải của mình nên không thể lấy được, nhưng không biết của ai, người họ Quách liền đem cất riêng ở một chỗ.
Mấy tháng sau có một người từ phương Bắc đến chỗ khu đất ấy kêu khóc, người họ Quách đến hỏi thì người khách đáp rằng tổ tiên có của để lại ở chỗ này. Người họ Quách bèn trả lại số vàng đã đào được.
Người khách cảm tạ nói: “Tôi biết qua địa lý, ở đây có hai ngôi huyệt tốt: một ngôi đời đời kế tiếp làm công khanh; một ngôi đỗ Tiến sĩ một đời. Ông thích ngôi nào, tôi sẽ để giúp để báo ơn đức.”
Người họ Quách thật thà nói rằng: “Nhà tôi nhiều đời nghèo túng, có đâu dám mong quá phận định, chỉ muốn con cháu một đời đỗ Tiến sĩ, công danh hiển hách, thế là đủ rồi.” Vị khách liền để đất giúp.
Người họ Quách đó chính là ông nội của Quách Đình Bảo. Quách Đình Bảo một vị danh thần tài đức của nhà Lê Sơ, thông minh nức tiếng sánh ngang Lương Thế Vinh thời bấy giờ. Em Quách Đình Bảo là Quách Hữu Nghiêm cũng là một vị quan tài hoa. Hai anh em ông thật sự ứng với câu nói: “…chỉ muốn con cháu một đời đỗ Tiến sĩ, công danh hiển hách, thế là đủ rồi.”

Quách Đình Bảo và Lương Thế Vinh

Vua Lê Thánh Tông xem trọng hiền sĩ, chú trọng khoa bảng. Khoa thi năm Quý Mùi 1463, sĩ tử các nơi nô nức dự thi.
Trước kỳ thi Hội khoảng 3 tháng, Lương Thế Vinh nghe tiếng Quách Đình Bảo từ lâu nên có ý định ghé thăm, đến hàng nước trước cổng làng dò hỏi thì biết rằng Đình Bảo đang đọc sách. Lương Thế Vinh nghĩ: “Kỳ thi gần đến nơi, hãy còn cố sức học, chỉ có tiếng hão thôi, chắc là anh này trong bụng chẳng có uẩn súc gì cả”, liền quay trở về, không gặp Đình Bảo.
Họ Quách
Lương Thế Vinh tìm gặp Quách Đình Bảo. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)
Lúc Đình Bảo ra hàng nước thì được nghe nói lại chuyện này, đoán biết người đó là Thế Vinh liền quyết định đến thăm. Thế nhưng khi đến nơi thì Lương Thế Vinh không có nhà, khi hỏi thì được biết Thế Vinh đang thả diều ngoài đồng cùng đám trẻ con. Đình Bảo nghĩ: “Tài học người này, ta không thể theo kịp được”. Trở về nhà, ông cũng không dùi mài khổ sở nữa.
Kỳ thi Hội năm đó Quách Đình Bảo vượt qua Lương Thế Vinh và tất cả các sĩ tử khác, đứng đầu thi Hội tức Hội nguyên.
Đến kỳ thi Đình thì Lương Thế Vinh lại đỗ đầu tức Trạng nguyên, Quách Đình Bảo đỗ Thám hoa, người đỗ Bảng nhãn là Nguyễn Đức Trinh. Đây đều là những người hay chữ từ nhỏ, vua Lê Thánh Tông trực tiếp ra bài thi văn sách rất vui mừng vì tìm được những nhân tài xuất chúng, bèn sai làm 3 lá cờ, mỗi người một lá, trong cờ thêu 4 câu sau:
Trạng nguyên Lương Thế Vinh,
Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh,
Thám hoa Quách Đình Bảo,
Thiên hạ cộng tri danh.
Truyền kỳ về khí phách của vị Trạng nguyên Tam nguyên đầu tiên trong sử Việt
(Tranh minh họa: Bìa sách về Trạng nguyên, NXB Kim Đồng)
Ba năm sau đến khoa thi năm 1466, em trai của Đình Bảo là Quách Hữu Nghiêm dự thi và đỗ Hoàng Giáp.
Điều thú vị là hai anh em họ Quách đảm nhận những chức vụ tương tự nhau. Quách Đình Bảo làm đến Lễ, Hình bộ, Thượng thư kiêm Đô ngự sử, thì sau đấy người em là Hữu Nghiêm cũng nối gót đảm nhận chức vị ấy.
Quách Hữu Nghiêm giữ chức Tả thị lang bộ lễ, năm 1484 được phong phó Đô ngự sử Ngự sử đài, năm 1500 được thăng Thái thường tự khanh. Năm 1502, ông được cử làm Chánh sứ đi sứ nhà Minh, rồi thăng làm Đô ngự sử.

Vua sáng, tôi hiền, Giang Sơn cực thịnh

Vua Lê Thánh Tông là vị Vua sáng suốt, anh minh, rời xa nịnh thần, quý trọng hiền tài giúp cho Đại Việt lên đến thời kỳ cực thịnh. Được làm quan trong môi trường ấy, hai anh em họ Quách cũng thi thố hết được tài năng của mình. (Xem bài: Chống tham nhũng từng giúp Đại Việt có được thời kỳ “ngủ đêm mọi nhà không phải đóng cửa”)
Năm 1484, Lễ bộ Thượng thư Quách Đình Bảo tâu với Vua nên dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám nhằm khuyến học tìm được hiền tài trong nước. Vua chuẩn tấu cho dựng bia tiến sĩ ghi lại họ tên, thứ bậc những người thi đậu cả những khoa thi các đời Vua trước.
Năm 1494, vua Lê Thánh Tông lập ra hội Tao Đàn tập hợp 28 vì sao sáng về thơ văn trong bầu trời Đại Việt (gọi là nhị thập bát tú) trong đó có cả Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm, Lương Thế Vinh.
Họ Quách
(Tranh minh họa từ baophapluat.vn)
Sự tài năng của hai anh em họ Quách khiến nhà Vua tin tưởng, luôn đem các ông theo bên mình trong các trận chiến lớn. Trong cuộc tiến quân đánh Chiêm Thành, quân Đại Việt thắng lớn, Quách Hữu Nghiêm làm bài vịnh hào khí ba quân. Lúc đó ông tình cờ gặp người con gái tên Hồ Thị Thành, vốn là dòng dõi Hoàng tộc, quốc sắc thi hương thì đem lòng yêu mến. Được Vua và anh của mình vun vén, hai người đã nên duyên vợ chồng.
Năm 1471 quân Đại Việt đánh vào kinh thành Chà Bàn bắt được vua Chiêm, khiến nạn Chiêm Thành quấy nhiễu Đại Việt không còn nữa. Quách Hữu Nghiêm được cho về quê vợ, không bao lâu sau thì có được con trai đặt tên là Quách Quý Công, sau trở thành Anh Kiệt tướng quân và thành tổ chi họ Quách Hữu ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Anh Kiệt tướng quân sau này được cử làm thượng tướng, coi quân cẩm y vệ, luôn hầu giá bên vua.
Lê Quý Đôn đánh giá Quách Hữu Nghiêm “là người phóng khoáng, có tài bàn luận”.
Cuốn “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” ghi chép lại rằng khi Quách Hữu Nghiêm đi sứ sang nhà Minh. Một lần thấy trên sân rồng có ánh nắng chiếu qua do cái lọng bị thủng một lỗ, Vua Minh ra câu đối rằng:
Ốc lậu nhật xuyên hình như kê noãn tam tam tứ tứ.
Nghĩa là:
Nhà thủng mặt trời xuyên qua, hình như trứng gà ba ba bốn bốn.
Quách Hữu Nghiêm đối rằng:
Giang trường phong lộng thế tự long lân điệp điệp trùng trùng.
Nghĩa là:
Sông lớn gió thổi giống như vẩy rồng trùng trùng điệp điệp.
Vua Minh thấy ông đối rất chỉnh lại hùng khí lẫm liệt thì hết lời khen ngợi.
Quách Hữu Nghiêm cũng đã thể hiện tài thông minh, ứng đối mau lẹ qua các bài biểu, bài tâu đối trí, những lần được mời lên trên điện. Vì thế vua Minh ban cho ông áo đại hồng có thêu con dê thần và đám mây bằng kim tuyến xen chỉ tơ sống, chỉ gai. Đồng thời khi trở về, vua Minh cũng sai cấp cho đoàn sứ bộ một thuyền lớn.
Vua Minh còn ban cho Hữu Nghiêm 4 chữ: “Tam Đại Di Tài”. Tam Đại là ý chỉ 3 triều đại lớn là Hạ, Thương, Chu. Ý vua Minh ví ông như những nhân tài tuấn tù thời 3 Triều đại này.
Vua Minh tiễn đoàn sứ thần Đại Việt trở về nước rất trọng thể, kết quả chuyến đi rất tốt đẹp
Họ Quách
Đền Thái Phúc thờ hai anh em họ Quách. (Ảnh từ Wikipedia)
Thời kỳ vua Lê Thánh Tông là thời kỳ thịnh trị, nhà Vua trọng người hiền tài, tránh xa kẻ xấu. Trong Triều đình chỉ có “Vua sáng, tôi hiền”, quả là môi trường tốt để những bậc hiền thần như anh em họ Quách dốc lòng phục vụ cho Giang Sơn Xã Tắc. Đại Việt lên đến thời kỳ toàn thịnh.
Trần Hưng
Tham khảo tư liệu từ “Kiến văn tiểu lục”, “Tam khôi bị lục”

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2018

Giới khảo cổ và quần thể di tích Ngọa Vân trên dãy Yên Tử*

Ngoài các điểm như chùa, am, xung quanh Ngọa Vân còn một số điểm di tích có quy mô nhỏ nằm ở phần phía đông của núi Bảo Đài, cách Am Ngọa Vân khoảng 300m về phía Đông.


     Dấu vết kiến trúc ở Ngọa Vân 1. Ảnh: Nguyễn Văn Anh

Do chưa xác định được chức năng cũng như tên gọi của các điểm di tích này nên nó được tạm gọi là Ngọa Vân 1, Ngọa Vân 2 và Ngọa Vân 613.

- Ngoạ Vân 1: Ngọa Vân 1 nằm ở mỏm phía đông của núi Vây Rồng. Đây chính là điểm đầu của tay ngai phía Đông (đầu của tả thanh long). Tại khu vực này hiện  còn dấu vết kè xếp nền bằng đá cát kết (đá gạo) và cuội cùng một số di vật. Nền kiến trúc nằm ở mé tây của một khe suối nhỏ được kè xếp thành hai cấp: (1) Cấp nền dưới được kè xếp nương theo địa hình để tạo mặt phẳng. Cấp nền này hiện đã bị con đường dẫn vào chùa cắt ngang qua; (2) Cấp nền trên cao hơn cấp nền dưới trung bình 0,40m, nền có mặt bằng hình chữ nhật diện tích khoảng 70,5m2 (dài theo hướng Đông - Tây 18,1m; rộng Bắc  - Nam 3,9m), mặt trước nhìn về Nam ghé Tây, mặt sau tựa vào sườn núi.

Bên cạnh dấu vết kè xếp nền bằng đá, tại Ngọa Vân 1 cũng còn tìm thấy một số hiện vật có niên đại thời Trần và thời Lê Trung hưng. Các hiện vật tìm thấy ở đây chủ yếu là vật liệu kiến trúc và các loại hình đồ gốm sứ.

Dấu tích nền móng kè đá và các di vật gạch ngói còn lại tại Ngọa Vân 1 cho thấy, ngay từ thời Trần, Ngọa Vân 1 đã có những kiến trúc kiên cố, nền được kè xếp bằng đá, khung cột bằng gỗ, mái lợp ngói mũi sen. Đến thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVIII) Ngọa Vân 1 tiếp tục được xây dựng và sử dụng, điều đó cho thấy Ngọa Vân 1 là một điểm chùa/am quan trọng trong quần thể di tích Ngọa Vân.

- Ngọa Vân 2: Ngoạ Vân 2 nằm cách khu vực Ngoạ Vân 1 khoảng 20m về phía Tây Bắc. Tại đây hiện còn các dấu vết kè xếp nền móng kiến trúc và rất  nhiều di vật, trong đó chủ yếu là các loại hình vật liệu kiến trúc như tảng kê chân cột, gạch, ngói các loại.

Dấu vết kiến trúc còn lại ở đây bao gồm bó nền và nền móng của một công trình kiến trúc có mặt bằng hình chữ nhật, mặt nhìn về hướng Tây Nam, phía sau tựa vào sườn núi. Nền được kè xếp thành ba cấp: Cấp nền dưới có diện tích lớn nhất, dài Đông - Tây 26m, rộng Bắc - Nam 9,5m; Cấp nền 2 cao hơn cấp nền thứ nhất trung bình 0,80m và giật lại 2m, nền rộng 3,8m; Cấp nền thứ 3 ở trên cùng cao hơn cấp nền hai 0,40m, nền rộng và giật lại so với cấp nền hai khoảng 3,8m.

Nửa phía Đông của khu Ngọa Vân 2 đã bị sạt lở do hiện tượng xói mòn của mưa lũ và tại vị trí sạt lở đã để lộ các lớp đất cho thấy quá trình hình thành của Ngọa Vân 2. Bao phủ lên bề mặt của cấp nền hai và cấp nền thứ ba là lớp ngói dày 20-30cm, trong đó đáng lưu ý là có một lớp ngói của thời Trần.

Bên cạnh các dấu vết nền móng được kè xếp bằng đá thì tại Ngọa Vân 2 cũng còn thấy nhiều loại hình di vật gồm: các loại vật liệu kiến trúc như gạch, ngói; các đồ gia dụng như gốm sứ, đồ sành, trong đó các loại gạch ngói có số lượng lớn tạo thành một lớp dày phủ lên trên mặt nền và các chân tảng kê cột bằng đá, kích thước 45cmx45cm, đường kính u tròn 36cm.

Với cấu trúc ba cấp nền và các di vật hiện còn trên bề mặt di tích có thể xác định, cấp nền thứ nhất chính là khuôn viên chung nằm ở phía trước, cấp nền thứ hai và cấp nền thứ 3 là phần nền kiến trúc, trên đó dựng các kiến trúc gỗ, mái lợp ngói giống như ở Ngọa Vân 1; phần giật lại giữa cấp nền thứ hai với cấp nền thứ nhất có thể là khoảng sân phía trước của các kiến trúc ở cấp nền 2 và 3. So với các điểm di tích khác, Ngọa Vân 2 là điểm di tích có quy mô lớn, dấu vết còn lại cho thấy nó được xây dựng từ thời Trần, thời Lê Trung hưng tiếp tục được trùng tu tôn tạo, điều này cho thấy Ngọa Vân 2 giữ một vai trò quan trọng trong khu vực Ngọa Vân, nó là những chùa/am liền kề với khu trung tâm Ngọa Vân.

- Ngọa Vân 6: Ngọa Vân 6 nằm cách khu vực Ngọa Vân 1 khoảng 500m về phía Đông, trên đường từ khu Đá Chồng vào chùa và cao hơn đường khoảng 20m về phía Bắc. Tại đây đã phát hiện thêm một dấu tích nền móng kiến trúc và hệ thống đá xếp bậc dẫn lên từ chân núi.

Ngọa Vân 6 là một khu vực bằng phẳng hình chữ nhật chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có diện tích khoảng hơn 42m2 (6x7m), mặt trước và hai bên được kè xếp bằng đá, mặt sau tựa vào sườn núi. Trên mặt bằng chung có hai nền kiến trúc có độ cao khác nhau, nền thứ nhất giật lại so với mặt bằng chung 1,2m ở mặt trước, chiều dài chồng khít lên chiều dài của mặt bằng chung, nền cao hơn mặt bằng chung 1m, nền thứ hai đè phủ nên nền thứ nhất ở phía Tây Bắc và cao hơn nền 1 khoảng 40cm. Trên mặt cả hai cấp nền còn lại một số tảng kê chân cột bằng đá, các tảng này là loại tảng có bệ vuông, u tròn nổi cao, kích thước 35x35cm; đường kính u tròn 30cm.

Ngoài các dấu vết kiến trúc ở đây cũng tìm thấy một số đồ gốm men, đồ sành nhưng không tìm thấy ngói, các di vật tìm thấy ở đây đều có niên đại thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVII-XVIII.

Với các di tích, di vật hiện biết có thể suy đoán, khu vực Ngọa Vân 6 có thể được xây dựng lần đầu tiên vào thời Lê Trung hưng, tức là thời kỳ Ngọa Vân được trùng tu và mở rộng vào đầu thế kỷ XVIII.

 Đ/c Ngô Quang Thiệu Phó Chủ tịch UBND huyện Đông Triều và Nhà giáo Ưu tú Lưu Xuân Giới khảo sát và chỉ đạo việc chỉnh trang tại di tích Ngọa Vân. Ảnh: Nguyễn Văn Anh
 

Khu vực Đá Chồng

 Toàn cảnh khu Đá Chồng Ảnh: Nguyễn Văn Anh


Khu Đá Chồng là một cụm công trình trong quần thể di tích nằm trên núi Bảo Đài vì vậy nó được cho là nằm trong quần thể di tích Ngọa Vân. Khu Đá Chồng nằm phía Đông Nam của khu Ngoạ Vân, cách chùa Ngọa Vân 4 khoảng 3km đi theo con đường mòn và nằm ở sườn đông nam của khu vực Đèo Voi.

Sở dĩ khu vực này được gọi là Đá Chồng là vì, tại đây, trên một đỉnh núi có các tảng đá nằm chồng lên nhau, cảm giác rất chênh vênh. Tại Đá Chồng, năm 2007 các nhà khảo cổ học đã phát hiện hàng loạt các dấu vết nền móng kiến trúc và khu sản xuất nguyên vật liệu phục vụ việc xây dựng các công trình kiến trúc trong quần thể Ngọa Vân. Các dấu vết hiện còn phân bố thành hai khu và được gọi là Khu Đá Chồng 1 và Khu Đá Chồng 2.

- Khu Đá Chồng 1:

Khu Đá Chồng 1 được bao bọc bởi các ngọn núi thuộc khu vực Đèo Voi ở phía Đông Bắc và phía Tây Nam; phía Tây Bắc là dãy núi đá cao; ngọn Đá Chồng ở phía Đông Nam và xa xa là hồ Bến Châu.

 Trên ngọn Đá Chồng Ảnh: Trương Văn Luân

Các di tích còn lại tại đây gồm hệ thống kiến trúc phân bố dọc ở sườn Đông - Nam của ngọn núi ở phía Tây Bắc núi Đá Chồng (nay gọi là khu Chuồng Bò). Các dấu vết kiến trúc được bố cục thành một trục gồm nhiều lớp kiến trúc phân bố từ chân núi lên tới đỉnh núi (từ độ cao 474m so với mặt nước biển đến độ cao 621m). Trục kiến trúc này bao gồm: hồ nước, khu vườn tháp, khu trung tâm và tịnh thất. Hướng của kiến trúc là hướng Đông Nam.

+ Hồ nước: Nằm phía trước của trục kiến trúc có diện tích khoảng 2hécta. Hồ được bổ sung nước từ nhiều dòng suối chảy từ các triền núi cao đổ xuống trong đó dòng suối chảy qua khu vườn phía Tây Bắc là dòng chủ yếu. Cùng với dãy núi bao bọc ở ba mặt, hồ nước là nơi tụ thuỷ phía trước để hoàn thiện bức tranh phong thuỷ tuyệt đẹp tạo nên thế đắc địa của Khu Đá Chồng 1. Ngày nay hồ đang bị cạn dần do bị bồi lấp.

+ Khu vườn tháp: Nằm tiếp giáp bên bờ Tây Bắc của hồ nước, trên ngọn của một quả đồi thấp có độ cao trung bình 490m so với mặt nước biển, ngọn quả đồi được san gạt tạo mặt phẳng, bốn xung quanh được kè xếp đá tạo thành nhiều cấp theo kiểu hình tháp. Ở giữa khu vực này còn lại các cấu kiện tháp bằng đá bao gồm các cấu kiện bệ, thân, mái và chóp tháp. Các cấu kiện này cho thấy đây là khu vực có ngôi tháp đá quy mô khá lớn, và có cấu trúc hoàn toàn giống với tháp Phật Hoàng và tháp Đoan Nghiêm ở khu vực Am Ngọa Vân và tháp thờ Phật (Phụng Phật tháp) ở khu vực Thông Đàn 1.
 
Phía Đông Bắc của Tháp có một số chân tảng bằng đá cát và rất nhiều ngói mũi sen không trang trí thời Lê Trung hưng và khá nhiều đồ gốm men, đồ sành. Như vậy, khu vườn tháp có thể có một tổ hợp công trình kiến trúc gồm tháp ở giữa và các kiến trúc khác ở phía Đông Bắc.

 Cấu kiện tháp đá thời Lê Trung hưng ở khu vườn tháp thuộc khu Đá Chồng 1. Ảnh: Nguyễn Văn Anh

+ Khu trung tâm: Nằm kế sau khu vườn tháp, cách khu vườn tháp một con suối nhỏ, suối rộng khoảng 5m, bờ suối được kè xếp thành tường kè nền của khu vực vườn tháp và sân của khu trung tâm. Khu trung tâm có mặt bằng tổng thể hình chữ nhật chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với bố cục chi tiết gồm: sân trước, kiến trúc thứ nhất, sân giữa và cụm kiến trúc thứ hai.

Sân trước thấp hơn kiến trúc thứ nhất 4m, từ sân lên nền kiến trúc thứ nhất có các bậc lên xuống xếp bằng đá; Kiến trúc thứ nhất có mặt bằng hình chữ nhật, qua các tảng kê chân cột còn lại chúng ta thấy kiến trúc này có kết cấu 3 gian 4 hàng cột, mỗi hàng 4 cột; Khoảng sân giữa kiến trúc thứ nhất và cụm kiến trúc thứ hai thấp hơn nền thứ nhất 1m; Cụm kiến trúc thứ hai chưa xác định rõ gồm bao nhiêu kiến trúc, tuy nhiên bước đầu ở đây có thể nhận diện được hai mặt bằng. Mặt bằng thứ nhất hình chữ nhật hiện còn một số tảng kê chân cột. Tiến hành nghiên cứu khảo cổ học cẩn thận chúng ta có thể làm rõ được cấu trúc của kiến trúc này. Mặt bằng kiến trúc thứ hai cũng có hình chữ nhật nhưng nhỏ hơn so với mặt bằng thứ nhất và cách mặt bằng thứ nhất 4m về phía Đông Bắc, khoảng cách này có thể là phần sân nằm giữa hai kiến trúc, phía sau mặt bằng này còn lại một không gian rộng hiện chưa rõ chức năng.
 
Như vậy, về tổng thể có thể xác định được mặt bằng khu vực trung tâm bao gồm cấu trúc các lớp nền, khoảng sân. Tuy nhiên, cấu trúc chi tiết của các kiến trúc này như thế nào còn đang chờ đợi kết quả khai quật, nghiên cứu của khảo cổ học trong tương lai.

+ Khu tịnh thất: Gồm 2 mặt bằng kiến trúc hình gần vuông có diện tích 25m2, một nằm ở lưng chừng sườn núi và một ở trên đỉnh núi. So sánh với các di tích ở Hồ Thiên và khu vực trung tâm của Ngọa Vân có thể thấy rất rõ đặc trưng của một cụm chùa ở Ngọa Vân luôn có một hoặc một khu tịnh thất ở phía sau, trên vị trí cao hơn chùa chính.

+ Khu vườn chùa: Nằm ở phía Đông Bắc của khu vực trung tâm. Khu vực này nay đã bị các cây rừng mọc kín song vẫn có thể nhận thấy dấu vết đường đi xếp cuội và một số cây cối được trồng ở đây.

- Khu Đá Chồng 2

Khu vực Đá Chồng 2 là khu đất tương đối bằng phẳng nằm ở sườn Tây Nam của núi Đá Chồng. Tại đây, đã tìm thấy 2 mặt bằng kiến trúc và dấu vết lò nung ngói thời Lê Trung hưng.

+ Mặt bằng kiến trúc:

Dấu vết kiến trúc thứ nhất: Nằm cách ngọn Đá Chồng 102m theo đường thẳng về phía Tây lệch Bắc. Dấu vết kiến trúc này đã bị đào phá nên không xác định rõ được mặt bằng của kiến trúc, tuy nhiên ở đây đã tìm thấy rất nhiều ngói mũi sen không trang trí thời Lê Trung hưng và các tảng kê chân cột bằng đá laterit. Bên cạnh đó có khá nhiều loại hình đồ sành và đồ gốm men thời Lê Trung hưng cũng được tìm thấy ở đây.

Dấu vết kiến trúc thứ hai: Nằm cách dấu vết kiến trúc thứ nhất 100m theo đường thẳng về phía Đông Nam. Mặt bằng nền móng của dấu vết kiến trúc có hình chữ nhật, diện tích 46m2  (dài Tây Bắc - Đông Nam 10m, rộng Tây Nam – Đông Bắc 4,6m), xung quanh nền được kè xếp bằng đá, mặt nhìn về phía Đèo Voi (Tây Nam).

+ Dấu vết lò nung ngói: Nằm tại khu vực đất bằng ở phía Tây Nam của hồ nước, dưới chân của dấu vết kiến trúc thứ nhất. Tại đây đã tìm thấy 1 lò nung ngói, lò có mặt bằng hình chữ nhật, kích thước 3,4x2,6m. Trong lòng lò còn sót lại một số mảnh ngói mũi sen thời Lê Trung hưng giống như các loại ngói đã được tìm thấy tại khu Ngọa Vân, Đá Chồng và chùa Ba Bậc.
 Dấu vết lò nung ngói thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVIII. Ảnh: Lê Đình Ngọc

Ngọa Vân là một quần thể kiến trúc lớn với nhiều công trình kiến trúc có quy mô khác nhau được xây dựng trên khu vực núi cao, đi lại hết sức khó khăn. Xây dựng các công trình này cần có nguồn lực rất lớn về con người cũng như vật chất. Vậy việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây được tổ chức như thế nào? Nguyên vật liệu được sản xuất tại chỗ hay được vận chuyển từ nơi khác đến? Trong điều kiện địa hình phức tạp và khó khăn như vậy, nếu vận chuyển lên thì vận chuyển bằng cách nào?, vv...

Để giải đáp những câu hỏi trên, các nhà khảo cổ học đã rất chú ý đến chất liệu của các loại vật liệu được sử dụng trong các công trình kiến trúc ở Ngọa Vân, đồng thời nghiên cứu điều kiện của từng khu vực, bằng việc nghiên cứu đó các nhà khảo cổ học đã cho rằng, Đèo Voi và Đá Chồng là khu vực có nhiều yếu tố thuận lợi cho việc sản xuất nguyên vật liệu, đặc biệt là gạch ngói. Bởi lẽ, (1) đây là khu vực duy nhất có đất và đất sét, các khu vực khác đều là núi đá; (2) đây là nơi có mặt bằng tự nhiên rộng rãi thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất và (3) đây là nơi rất thuận tiện về nguồn nước lại khuất gió, tốt cho việc xây dựng và hoạt động của các lò nung. Ba điều kiện thuận lợi trên đây là điều kiện lý tưởng cho việc sản xuất các loại gạch ngói phục vụ cho việc xây dựng các kiến trúc của Ngọa Vân và dấu tích lò nung ngói nêu trên đã chứng minh cho điều đó.

Như vậy, khu vực Đá Chồng là một cụm các công trình chùa tháp nằm trong quần thể của khu di tích Ngọa Vân được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XVIII. Trong đó, Đá Chồng 1 là khu vực trung tâm, được xây dựng trên một khu vực có địa thế đẹp về cả tự nhiên lẫn tâm linh (phong thuỷ) với dãy núi đá cao ở mặt Đông Nam, minh đường tụ thuỷ, hậu chẩm có núi cao. Đá Chồng 2 là nơi có các công trình kiến trúc nhỏ, đây cũng là nơi sản xuất các loại vật liệu kiến trúc như gạch, ngói phục vụ việc xây dựng quần thể chùa tháp Ngọa Vân nửa đầu thế kỷ XVIII.
 Đ/c Nguyễn Thị Huân, Bí thư huyện ủy và Đ/c Vũ Văn Học khảo sát tại di tích Đá Chồng. Ảnh: Lê Đình Ngọc

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đá Chồng còn là căn cứ của cách mạng, là nơi che chở cho Thành uỷ Hải Phòng trong những năm bị giặc Pháp càn quét, đó cũng là phần hậu cứ của Chiến khu Đông Triều. Vì lý do này, có thể gọi Đá Chồng là khu di tích lịch sử,
văn hoá và cách mạng.

KẾT LUẬN

rần Nhân Tông, vị vua văn võ song toàn, một nhà vua, một nhà quân sự đã lãnh đạo nhân dân hai lần đánh thắng đội quân xâm lược hung hãn nhất thời đại của mình, một nhà ngoại giao mềm mỏng nhưng cương quyết, một triết gia, một nhà thơ mà ngòi bút của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do của một nghệ sĩ. Ông là một trong những anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc.

Đang ở đỉnh cao quyền lực, ông nhường ngôi cho con lui về làm Thái Thượng hoàng. Lui về làm Thái Thượng hoàng không phải để nghỉ ngơi mà là để “tập dượt” cho vua con gánh vác giang sơn xã tắc, khi yên việc nước, việc nhà, vua con tự mình đảm đương, gánh vác việc nước, ông rời lầu son, gác tía xuất gia tu hành khổ hạnh tại đỉnh Tử Tiêu trên núi Yên Tử. Sau thời gian tự mình tu hành, đắc đạo ông xuống núi đi khắp xóm làng, dạy dân chúng phá bỏ dâm từ và thực hành thập thiện, ban thuốc chữa bệnh cho dân nghèo.

Trần Nhân Tông đi tu là để giữ nước và để lại đạo đức cho đời. Hành trình tu hành khổ hạnh, đắc đạo, thuyết pháp, độ tăng giáo hóa chúng sinh rồi an nhiên hóa Phật của Trần Nhân Tông là một chuỗi các sự kiện mô phỏng hành trình tu luyện, thành phật của Đức Phật Thích-Ca-mâu-ni, trong hành trình đó Yên Tử là nơi Phật hoàng tu hành, thuyết pháp, độ tăng và Ngọa Vân chính là điểm kết thúc trọn vẹn quá trình tu hành, thành Phật của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm. Nói cách khác Ngọa Vân chính là Thánh địa của Thiền phái Trúc Lâm nói riêng, Phật giáo Việt Nam nói chung.

Với vai trò là Thánh địa của Phật giáo Việt Nam, Ngọa Vân gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sau khi Phật hoàng mất, Ngọa Vân đã được xây dựng, mở rộng thành một quần thể chùa tháp với nhiều cụm chùa tháp khác nhau. Sau thời gian Phật giáo suy vong, cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII cùng với sự phục hưng của Phật giáo, Ngọa Vân đã được trùng tu, mở rộng thành một quần thể rộng lớn với nhiều công trình chùa tháp được xây mới. Các công trình hiện còn tại Ngọa Vân có nhiều công trình được xây dựng trong thời gian này.

Sau một thời gian bị quên lãng trong rừng sâu, Ngọa Vân đang được đánh thức. Với những giá trị to lớn của di tích, với cảnh quan tươi đẹp ở nơi đây. Việc trùng tu, tôn tạo lại Ngọa Vân không chỉ là việc bảo tồn các giá trị lịch sử văn hóa của di tích mà đó thực sự là nơi giáo dục cho thế hệ trẻ và đông đảo khách thập phương về tư tưởng và tầm vóc của Phật hoàng Trần Nhân Tông, vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng thời có thể truyền bá
tinh thần “Cư trần lạc đạo” - vui đạo giữa đời của Ngài.

PHỤ LỤC PHIÊN ÂM, DỊCH NGHĨA VĂN BIA HIỆN CÒN TẠI CHÙA NGỌA VÂN

1. Phiên âm, dịch nghĩa bia Trùng tu chùa Ngoạ Vân

1.1. Phiên âm

- Mặt trước: Trùng tu Ngọa Vân tự bi ký
 
Thường văn: Tịnh độ tịch trần khí kim do sắc tướng. Thử phạn vương… chi danh khu dã. Thị cố tào khê (- -) bảo lâm chi thắng tích, triệu sinh tích trượng phi không, chung  lĩnh  chu  u  thê  độc  chiếm… bạn đàn lâm tinh vũ đẳng, hạo sở trường tồn…Tư cư… phúc địa chi  chung  linh,…hữu  dĩ  bất  hủ kỳ truyền giả dư? Cố chiêm Hải Dương đạo, Kinh Môn phủ, Đông Triều huyện, An Sinh xã chi, Ngọa Vân tự, thực cổ tích danh lam dã… thiên tầm ta nga, vạn nhẫn ban ban, u nhã chủng chủng, thanh kỳ la nhi quần tụ… thị giám cửu thiên chi tinh thần khả trích, đệ nhất chi thế giới… kinh thiêu tạo địa chi thiết ngang…thủy phi nhân gian hữu giả động khởi.

Hoàng đế lý thắng vạn thặng chi tôn, tháp tằng ban chi hiểm di, nhi cấu tri lư, đỉnh hổ trường lưu tiên cảnh thần thượng vĩnh kết tịnh duyên.

Thời thiếu thượng chi, vĩnh hảo an bài… cố chung bát di thử dị. Bí khởi bất ký giá, tứ bách dư niên vu tư hĩ. Nhĩ chiêm viễn vọng, quốc thọ dân cầu… chung cổ thường tuyên, đăng hương cảm nhiếp.

Bảo Đài sơn Ngọa Vân thiền tự tỳ khưu tăng tự Đức Hưng hiệu Viên Minh, trùng tu các chung, tăng phòng, các cộng nhị thập ngũ gian, bảo điện nhị tòa, bi nhất điện, cập khai sáng Kim am, Hương Vân Am, Giải Thoát Am đẳng, kiên tháo giới hằng thâm nghệ uyên vi liễu… thâm sắc chi huyền ngộ, tâm phật phật tâm chi diệu… cổ chi trần duyên, tính thị giác thấu, tâm thị từ bi… giá bảo quyết đắc chi cửu, nhi tâm ích tín đạo ký cao nhi nhân tự tôn. Do thị quý tiện vô bất khâm kính, quy y, đỉnh lễ… nhất khai khẩn nhi tắc dục chi, lộ cốc vi thông cù, bách câu chi trọng, hốt nhược bất vũ bất lao nhi tự chí giả hĩ.

Thời hữu Từ Sơn phủ, Tiên Du huyện, Khắc Niệm xã Thị Nội ty quan. Giáo phường ty Dương Thị Phương hiệu Diệu Tín, Thị nội đệ nhất Cung tần Chiêu nghi Dương quý thị Vương húy Trinh, nãi tôn từ chức tước tôn thuộc dã. Lạc văn thiện đạo, khái mộ nhân phong, dĩ thần kỳ lũ hoạch hiển ứng, toại dĩ tu tạo chỉnh lý, tự nhậm cưu công, giản tài giả, lũy tế… cúng dường chi dư nhi bảo tướng hồng chung dữ kim đồng pháp khí, dĩ chiêu cửu viễn.

Ô hô! Khởi đồ nhiên tai!

Cái tư tự chi tinh binh, chước chư ứng nghiệm. Cố nhân niệm chi tôn tín, bất hạn tài lực, diệc duyên trụ trì chi thâm tinh, đạo giáo hữu dĩ khiết pháp vương chi tâm ấm sư tổ chi túc duyên, nhi năng chí thị da? Thời thị tâm dã, thông chi tam giới, thấu chi cửu tiêu, tư thế tư dân, đồng tê nhân thọ, cái hữu bất nan giả hĩ. Cộng ký vân, hoàn thả dục thọ kỳ truyền dã. Nãi chưng văn lặc chi trinh mân, yết vu vân hà chi biểu.

Thời, Hoàng Triều Vĩnh Thịnh vạn vạn niên, chi tam tuế, tại Đinh Hợi Qúy Đông cốc nhật.

- Mặt sau: Công đức chi bi ký

Đại Nguyên soái Thống quốc chánh thượng thánh phụ sư thịnh công nhân minh uy đức định vương lệnh cáo, Đông Triều huyện, tư lệ An Sinh xã, Nguyễn Diễn, Nguyễn Duy Cao, Nguyễn Gia Tương, Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Quang Cơ, Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Đức Độ, Nguyễn Công Trình, Nguyễn Đức Học, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Đức Nhật, Nguyễn Công Hán, Nguyễn Minh Đội, Nguyễn Huy Đỉnh, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Đức Tài, Nguyễn Trí, Nguyễn Đức Lượng, Nguyễn Duy Lại, Nguyễn Đức Hào, Nguyễn Dật, Nguyễn Đức Chiếm, Nguyễn Như Mi, Nguyễn Đức Thịnh toàn xã đẳng. Tư chuyên ủy Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm chưởng chánh quyền Thái úy Tấn Quốc công tài quốc gia sự vụ nhậm binh dân trọng ký hậu sở.

Khải vị nguyên bản xã cung phụng các chỉ thị, chuẩn cấp vi tạo lệ phụng sự An Sinh điện Trần triều ngũ vị hoàng đế cập Ngọa Vân, Tư Phúc đẳng đệ. Kỳ đệ… cập hộ phân bài biểu tế khoán, sưu sai các dịch tịnh nhiêu trừ. Ư Nhâm Tuất niên… sự do dĩ kinh tra thực đẳng nhân ứng nhưng hứa vi tạo nhiêu trừ bị… Tiên hữu dĩ tiện phụng sự Thọ Quốc Mạch… cập các nha bất đắc nhiễu tróc vi giả hữu quốc pháp tại tư lệnh.

Chính Hòa thập niên, thập nguyệt, nhị thập tứ nhật.

Công đức Trung Cần quân doanh Trung… phủ Tả đô đốc phó… Thái Bảo Đông Quận công Trịnh… tự Viên Minh, quận phu nhân Lê Trang Ân hiệu Diệu Đoan.

Công đức Hậu Quốc doanh quân Đông…

Công đức An Sinh xã Nguyễn Như… tự Phúc Tín, Nguyễn Công, Nguyễn Phúc Cung, Nguyễn Đức Lượng thê Bùi Thị Ngôn, Nguyễn Phượng thê Nguyễn Thị Uyên, Nguyễn Đức Hà thê Đoàn Thị Tụ, Nguyễn Đức Vinh, Nguyễn… tự Phúc Hợp thê hiệu Từ Huệ.

Phúc Đa xã sở lại Phạm Trung Gián thê Nguyễn Thị... hiệu Diệu Tường. Đạm Thủy xã, Đinh Văn Quận tự Phúc Trường thê Phạm Thị Do. An Sinh xã Phạm Văn Cao tự Phúc Tín thê Nguyễn Thị… hiệu Diệu Thành. Phú Ninh xã Nguyễn… Viên Hương thê Nguyễn Thị hiệu Diệu… tự Viên Thực thê Nguyễn Thị Du hiệu Diệu Huệ, Chí Linh huyện, Lạc Sơn xã Nguyễn Thị Huệ hiệu Diệu Lộc nam tử Lê Quang Đăng tự Viên Thiệu, Nguyễn Thị Xướng, hiệu Diệu Năng. Gia Lâm huyện, Cổ…xã Nguyễn Thị Phóng hiệu Diệu Thành. Triều Dương xã Đoàn Thị… hiệu Diệu Quý Nguyễn Thị Xuyến hiệu Diệu Đắc.

1.2. Dịch nghĩa

- Mặt trước: Bia ghi việc trùng tu chùa Ngọa Vân

Thường nghe: Nhà chùa từ bỏ bụi trần, nhưng đồ thờ cúng vẫn luôn tồn tại. Nhà chùa là nơi danh tiếng, là di tích thắng cảnh, là chỗ ban bố ân đức, là nơi vắng vẻ thanh tịnh, có muôn loài cây cối xanh tốt, khí thiêng chung đúc, nhà chùa há chẳng là nơi làm nhiều việc tốt để lưu truyền lâu dài hay sao? Nay thấy chùa Ngọa Vân xã An Sinh, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, đạo Hải Dương, thực là nơi cổ tích danh lam núi cao sừng sững, ngàn dặm dăng dăng, thăm thẳm điệp trùng… đúng là nơi tinh túy của bầu trời, là chỗ đẹp nhất của thế giới… do trời đất chung đúc mà thành, có lẽ khởi đầu cũng do con người tác động thêm vào đó chăng?

Chùa này cũng là nơi Hoàng đế từ xa tới thăm viếng, vượt qua nguy hiểm của núi rừng… dựng nên nhà ở, kéo dài cơ nghiệp… cảnh Phật cõi tiên, kết duyên tu luyện. Nay có người mến cảnh Phật đã dựng ngôi chùa này, như đã sắp đặt từ trước… mãi mãi không thay đổi. Trải hơn 400 năm, chẳng lẽ chẳng còn ai ghi nhớ nữa chăng? … xa nhìn thấy nước vững dân yên… thường thường nghe tiếng chuông tiếng trống vang vọng, thấy đèn hương mà cảm động.

Nay nhà sư tự Đức Hưng hiệu Viên Minh trụ trì tại chùa Ngọa Vân trên núi Bảo Đài đã trùng tu gác chuông và tăng phòng, cộng là 25 gian, làm hai tòa bảo điện, dựng một tấm bia đá, làm thêm Kim am, Hương Vân am, Giải Thoát am tất thảy đều kiên cố thâm nghiêm, tâm Phật Phật tâm huyền diệu, duyên phận trần gian, tính giác ngộ, tâm từ bi… Việc làm quý giá đó được tồn tại lâu dài, lòng người càng tin tưởng, đạo Phật càng cao quý, người người càng tôn sùng. Do vậy, người sang kẻ hèn không ai là không tôn kính, không ai là không tin theo, đem dâng lễ vật… hễ nói là toàn những lời chăm lo cho mọi người, biến hang sâu thành đường đi thông thoáng, truy tìm điều quý trọng… bỗng như thấy một chiếc lông vũ nhẹ nhàng tự nhiên bay tới.

Bấy giờ có bà Dương Thị Phương, hiệu Diệu Tín làm nghề dạy hát thuộc ty Thị Nội, người xã Đoài Niệm, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn; và bà Dương Thị Trinh là đệ nhất Cung tần Chiêu nghi ty Thị Nộ, là con cháu dòng dõi quyền quý , thích nghe điều hay, ngưỡng mộ lòng nhân hậu, thấy chùa này hiển ứng linh thiêng, đã tu sửa chùa, tự thuê thợ, mua vật liệu, qua vài năm… sắm sửa nhiều đồ thờ cúng, làm tượng đúc chuông, mua trống mua mõ, để lại lâu dài.

Hỡi ôi! Việc làm đó há lại dư thừa sao?

Có lẽ sự linh thiêng của ngôi chùa đã thể nghiệm rõ ràng. Do vậy người người tôn kính tin theo, không tiếc tiền của. Cũng vì nắm vững cái sâu kín của đạo Phật, giữ được cái tâm của Phật, lại thêm duyên may của thiền sư, nên mới làm được như vậy chăng? Tấm lòng tốt đến như vậy, đã cảm thông đến mọi người, thấu suốt đến trời cao, muôn dân trên trần thế, đều bước lên cõi thọ, có lẽ chẳng khó khăn chi? Cùng nhau viết bài ký, để lưu truyền lâu dài. Lại soạn bài văn, khắc vào bia đá, để phô bày cùng trời đất.

Thời. Ngày tốt tháng 12 năm Đinh Hợi niên hiệu Vĩnh Thịnh 3 (1707) triều Lê.

- Mặt sau: Ghi chép về việc công đức

Thượng Thánh phụ sư Thịnh Công Nhân Minh Uy Đức Đinh Vương Thống Suất Chánh Đại Nguyên soái, lệnh cho dân tư lệ xã An Sinh thuộc huyện Đông Triều gồm các ông có tên như sau: Nguyễn Diễn, Nguyễn Duy Cao, Nguyễn Gia Tương, Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Quang Cơ, Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Đức Độ, Nguyễn Công Trình, Nguyễn Đức Học, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Đức Nhật, Nguyễn Công Hán, Nguyễn Minh Đội, Nguyễn Duy Đỉnh, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Đức Tài, Nguyễn Trí, Nguyễn Đức Lượng, Nguyễn Duy Lại, Nguyễn Đức Hào, Nguyễn Dật, Nguyễn Đức Chiếm, Nguyễn Như Mi, Nguyễn Đức Thịnh cùng toàn dân xã biết rõ:

Nay ủy nhậm cho Tấn Quốc công chuyên trách trông coi các doanh thủy bộ ở các xứ, kiêm Chưởng Chánh quyền Thái úy Khâm sai Tiết chế, nắm giữ công việc quốc gia, đảm nhiệm việc binh dân quan trọng ở các đồn sở.

Thường biết: Nguyên bản xã vâng chỉ chuẩn cho sai người thờ phụng năm vị hoàng đế triều Trần tại điện An Sinh, và chùa Ngọa Vân, chùa Tư Phúc. Hàng năm… các hộ phân chia thời gian chăm lo việc thờ cúng, được miễn trừ sưu sai tạp dịch. Vào năm Nhâm Tuất… đã kiểm tra xem xét việc thờ cúng, thấy đúng thực, vì vậy vẫn cho người chăm lo việc thờ cúng được tiếp tục miễn trừ sưu sai tạp dịch… Trước đây đã thờ phụng Thọ Quốc Mạch… nay các nha không được nhũng nhiễu bắt bớ. Ai vi phạm lệnh này, sẽ bị trừng phạt theo phép nước. Nay ban lệnh.

Ngày 24 tháng 10 năm Chính Hòa thứ 10 (1689) triều Lê.

Công đức: Tả Đô Đốc... Trung Cần quân doanh, Thái Bảo Quận công, ông họ  Trịnh… tự Viên Minh, phu nhân là Lê Trang Ân hiệu Diệu Đoan.

Công đức: Hậu Quốc doanh…

Công đức: xã An Sinh gồm các ông bà Nguyễn Như tự Phúc Tín, Nguyễn Công, Nguyễn Phúc Cung, Nguyễn Đức Lượng vợ là Bùi Thị Ngôn, Nguyễn Phượng vợ là Nguyễn Thị Uyên, Nguyễn Đức Hà vợ là Đoàn Thị Tụ, Nguyễn Đức Vinh, Nguyễn… tự Phúc Hợp vợ hiệu Từ Huệ.

Công đức: xã Phúc Đa gồm các ông bà Sở lại Phạm Trung Gián vợ Nguyễn Thị… hiệu Diệu Tường. Ông Đinh Văn Quận tự Phúc Trường vợ là Phạm Thị Do người xã Đạm Thủy. Ông Phạm Văn Cao tự Phúc Tín vợ là Nguyễn Thị… hiệu Diệu Thành người xã An Vinh. Ông Nguyễn… Viên Hương vợ là Nguyễn Thị hiệu Diệu… ông họ … tự Viên Thực vợ là Nguyễn Thị Du hiệu Diệu Huệ người xã Phú Ninh. Xã Lạc Sơn, huyện Chí Linh gồm các bà Nguyễn Thị Huệ hiệu Diệu Lộc, con trai là Lê Quang Đăng tự Viên Thiệu, bà Nguyễn Thị Xướng, hiệu Diệu Năng, Xã Cổ … huyện Gia Lâm có bà Nguyễn Thị Phóng hiệu Diệu Thành. Xã Triều Dương có bà Đoàn Thị… hiệu Diệu Qúy và bà Nguyễn Thị Xuyến hiệu Diệu Đắc.

2. Bài vị đặt trong tháp Đoan Nghiêm
 Bài vị đặt trong tháp Đoan Nghiêm

2.1 Phiên âm: Nam mô Thiền Lâm thích tử ma ha tỳ khưu Đức Hưng thiền sư an tọa hạ.

2.2. Dịch nghĩa:

Na mô A di đà Phật bài vị thờ ma ha tỳ khưu đệ tử phái Thiền Trúc Lâm, Thiền sư Đức Hưng.

3. Bài vị đặt trong tháp Phật Hoàng

 Bài vị đặt trong tháp Phật Hoàng

3.1. Phiên âm:

Nam mô đệ nhất tổ Trúc Lâm đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng Trần triều đệ tam Nhân Tông Hoàng đế Điều ngự vương Phật.

3.2. Dịch nghĩa:

Na mô A di đà Phật, bài vị thờ Điều ngự vương Phật Đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng, tổ thứ nhất phái Trúc Lâm, vị vua thứ ba triều Trần, Nhân Tông Hoàng đế.

 Bia đá dựng trước tháp Phật Hoàng
4. Bia đá dựng trước tháp Phật Hoàng

4.1. Phiên âm: Minh Mệnh nhị  thập nhất  niên,  cửu  nguyệt,  sơ  lục  nhật phụng Trần triều Nhân Tông Hoàng đế lăng sắc kiến.

4.2. Dịch nghĩa: Ngày mồng 6 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) phụng mệnh dựng (bia)  tại  lăng Hoàng đế Trần Nhân Tông triều Trần.

(Phiên âm, dịch nghĩa: Hoàng Giáp – Viện Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

Tác giả: Thạc sĩ Nguyễn Văn Anh Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Trích trong cuốn Am Ngọa Vân, tác giả Nguyễn Văn Anh, NXB Văn hóa Thông tin năm 2013
Chú thích: * Tiêu đề kỳ cuối do BBT phatgiao.org.vn đặt

-

13: Trong quá trình điều tra, nghiên cứu quần thể di tích Ngọa Vân năm 2007-2008, các nhà khảo cổ học nhận thấy các di tích ở Ngọa Vân phân bố thành 4 cụm gồm Thông Đàn, Ngọa Vân, Đá Chồng và Ba Bậc, trong mỗi cụm có nhiều điểm di tích khác nhau. Cụm Ngọa Vân có 06 điểm di tích và được gọi tên là Ngọa Vận 1, Ngọa Vân 2, Ngọa Vân 3, Ngọa Vân 4, Ngọa Vân 5 và Ngọa Vân 6. Năm 2009, kết quả khai quật khảo cổ học đã 60 cho phép xác định Ngọa Vân 3, Ngọa Vân 4 và Ngọa Vân 5 là các bộ phận cấu thành chùa Ngọa Vân, trong đó Ngọa Vân 3 là vị trí của chùa chính, Ngọa Vân 4 là vị trí của Tịnh thất và Ngọa Vân 5 là khu vườn tháp và Nhà Tổ. Các vị trí còn lại như Ngọa Vân 1, Ngọa Vân 2 và Ngọa Vân 6 hiện chưa biết rõ công năng.