Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

TRUNG QUỐC: MỘT SỰ SỤP ĐỔ CÓ THỂ LÀ MỘT TAI HỌA TOÀN CẦU

Nguyễn Gia Kiểng
Trước hết là một cảnh giác. Phải rất thận trọng với những con số về kinh tế Trung Quốc. Chúng có thể rất khác nhau và khiến cuộc thảo luận bế tắc ngay từ đầu.
Thí dụ như tổng sản lượng nội địa (GDP) của Trung Quốc. Con số này có thể là 23.000 tỷ, hay 12.000 tỷ hay 7.000 tỷ USD tùy theo nguồn gốc của nó và cách nhìn của mỗi người. Một con số mơ hồ như vậy có giá trị gì trong một cuộc thảo luận ? Tuy vậy chúng ta vẫn cần đến nó để theo dõi tỷ lệ tăng trưởng, một chỉ số quan trọng để đánh giá tình trạng kinh tế của một quốc gia.
Phải loại con số 23.000 tỷ USD. Đây là "GDP tính theo mãi lực" của Trung Quốc do Ngân Hàng Thế Giới ước lượng. Nó có nghĩa là "nếu so với vật giá ở Mỹ thì phải coi như GDP của Trung Quốc là 23.000 tỷ USD" và chỉ có mục đích giúp ta có một ý niệm về mức sống tại Trung Quốc chứ hoàn toàn không có một giá trị nào trong quan hệ kinh tế quốc tế. Còn lại là GDP danh nghĩa (GDP nominal). Sau nhiều bàn cãi con số được phần lớn các định chế tài chính và cơ quan truyền thông ghi nhận là 12.000 tỷ USD. Các ước lượng về mức tăng trưởng của Trung Quốc dựa trên con số này.
Tuy nhiên đặc tính chung của các số liệu của Trung Quốc là rất không chính xác, nhiều chuyên gia nói rằng GDP của Trung Quốc nếu tính lại một cách nghiêm chỉnh chỉ vào khoảng 7.000 tỷ USD. Họ cũng có lý nếu loại khỏi GDP những "sản lượng" vô ích chỉ được làm ra để nâng GDP lên và sẽ hư hao với thời gian, thí dụ như những thành phố ma.
Số nợ của Trung Quốc được biết rõ hơn. Hầu như mọi định chế tài chính đều đồng ý rằng khối nợ của Trung Quốc cuối năm 2017 là trên 31.000 tỷ, nghĩa là 260% GDP nếu dùng con số GDP 12.000 tỷ USD, trong đó chính phủ nợ 5.500 tỷ, các công ty quốc doanh nợ 19.000 tỷ, các gia đình nợ 6.000 tỷ, phần còn lại là nợ của các ngân hàng. Như vậy khối nợ công của nhà nước Trung Quốc (nợ chính phủ và nợ của các công ty nhà nước) là khoảng 25.000 tỷ USD, nghĩa là hơn hai lần GDP. Ngoài ra, các chính quyền tỉnh còn nợ còn nợ khoảng 6.000 tỷ USD. Không hiểu vì sao khối nợ này ít khi được kể vào khối nợ công. Có thể chỉ vì nó chưa đầy đủ, nghĩa là chưa bao gồm tất cả các khoản nợ của tất cả các tỉnh ? Nếu như thế thì khối nợ công của Trung Quốc phải ít nhất là 31.000 tỷ USD, nghĩa là hơn hai lần rưỡi con số GDP 12.000 tỷ USD mà Trung Quốc chưa chắc đã có.
Nhưng chưa hết, các ngân hàng Trung Quốc còn một thủ thuật khác mà họ học được từ các ngân hàng Mỹ để giấu nợ. Họ lập những công ty tài chính ma để cho vay, rồi kể tài sản của các công ty này (trong đó có các khoản cho vay) như là đầu tư thay vì nợ. Đây không phải là một nghi ngờ của các quan sát viên mà là một phát hiện của Ủy Ban Kiểm Tra Ngân Hàng của Trung Quốc, do chính ông chủ tịch Shang Fu-lin công bố. Các khoản tín dụng trá hình này được ước lượng là ở mức ít nhất 2.000 tỷ USD.
Tóm lại, tuy các con số của Trung Quốc rất thiếu chính xác nhưng chúng ta có thể khẳng định là mức nợ công của Trung Quốc rất cao, cao hơn tất cả những gì được công bố, cao một cách nguy ngập. Chính vì nhận định khối nợ công của Trung Quốc thực sự đã quá nguy ngập mà ngày 23/05/2017 cơ quan thẩm định Moody's đã hạ điểm tín nhiệm của Trung Quốc khiến cho lãi suất công trái của Trung Quốc đã dần dần leo lên tới 3,2% cho các công trái hai năm và chắc chắn sẽ còn leo lên nữa. Với lãi suất này, Trung Quốc từ nay sẽ phải trả 1.000 tỷ USD mỗi năm cho tiền lãi của nợ công. Để so sánh, lãi suất công trái hai năm của Mỹ là 0,5%, chính phủ Mỹ phải trả khoảng 100 tỷ USD cho tiền lãi nợ công, nghĩa là bằng 1/10 số tiền lãi mà Trung Quốc phải trả.
Sở dĩ nhiều người vẫn còn tin là kinh tế Trung Quốc chưa thực sự lâm nguy là vì khối ngoại tệ dự trữ của Trung Quốc vẫn còn khá lớn, dù đã giảm từ 4.000 tỷ USD xuống còn 3.000 tỷ USD. Nhưng nếu nhìn sát hơn thì trong khối dự trữ này 1.000 tỷ USD không còn động viên nhanh chóng được nữa vì đã được sử dụng trong các quỹ đầu tư, 2.000 tỷ USD còn lại chủ yếu để cấp cứu các ngân hàng, thị trường chứng khoán và đồng Nhân Dân Tệ.
Thị trường chứng khoán Thượng Hải đã giảm hơn 20%, Thẩm Quyến sụt gần 30% mặc dù chính quyền Trung Quốc không ngừng cứu giúp - Ảnh minh họa (zonebourse.com)
Khi tôi viết các dòng này thì từ đầu năm 2018 đồng Nhân Dân Tệ đã mất giá 9% so với đồng Đôla Mỹ, thị trường chứng khoán Thượng Hải đã giảm hơn 20%, Thẩm Quyến sụt gần 30% mặc dù chính quyền Trung Quốc không ngừng cứu giúp, trong khi các thị trường chứng khoán Mỹ, Nhật và Châu Âu hoặc thăng bằng hoặc chỉ sụt từ 5% tới 10%. Dự trữ của Trung Quốc tuy lớn nhưng vẫn thiếu.
Bàn về tình hình kinh tế Trung Quốc cũng sẽ thiếu sót nếu bỏ qua những nét đặc thù có ảnh hưởng quan trọng, nhất là trong tình trạng khó khăn hiện nay. Ngoài hàng trăm tỷ USD đào thoát ra nước ngoài hàng năm còn có ít nhất hai hiện tượng cần được lưu ý.
Một là loại "tín dụng tay đôi" (crowd lending, hay peer to peer, viết tắt là P2P). Loại tín dụng này có ở hầu như mọi nước nhưng không đâu mạnh như ở Trung Quốc. Tầm vóc của nó tại Trung Quốc lớn hơn hẳn tất cả phần còn lại của thế giới. Một cách vắn tắt, đó là những công ty được thành lập chung quanh một trang Web và dùng trang Web này kêu gọi quần chúng trực tiếp cho các công ty vay. Các công ty P2P này đảm nhiệm vai trò cầu nối giữa tư nhân cho vay và các công ty cần vay tiền để kinh doanh, thường thường là những công ty không đủ tiêu chuẩn để vay tiền tại các ngân hàng. Sự hấp dẫn của công thức này là lãi suất rất cao, có thể đến 15% mỗi năm, cao gấp 4 hoặc 5 lần lãi suất tiết kiệm. Ngược lại rủi ro rất cao và lừa bịp cũng rất nhiều. Chính quyền Trung Quốc trong cố gắng kích thích tăng trưởng để thoát hiểm sau cuộc khủng hoảng 2008 đã để mặc cho các công ty P2P này phát triển, thậm chí còn khuyến khích. Đã có hàng chục ngàn công ty P2P ra đời, lôi kéo hơn 50 triệu người ghi danh cho vay, huy động trên 10.000 tỷ USD. Gần đây chúng ồ ạt phá sản, nhiều chủ công ty P2P ôm tiền của khách hàng trốn ra nước ngoài. Những người cho vay mất trắng. Theo tờ Hoa Nam Tảo Báo (South China Morning Post) thì tới nay đã có hơn 4.500 công ty P2P phá sản, với 225 vụ phá sản riêng trong tháng 7/2018 vừa qua. Vụ phá sản được nói tới nhiều trên báo chí Trung Quốc là công ty eZubao làm mất 6,7 tỷ USD. Sự phá sản của phong trào P2P này, sau khủng hoảng của thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến năm 2015 đã làm cạn kiệt khối tiền tiết kiệm tư nhân, khiến chính quyền Trung Quốc không còn nguồn vốn trong nước để động viên nữa.
Các công ty P2P này đảm nhiệm vai trò cầu nối giữa tư nhân cho vay và các công ty cần vay tiền để kinh doanh, thường thường là những công ty không đủ tiêu chuẩn để vay tiền tại các ngân hàng - Ảnh minh họa (P2P Construction-The Star)
Một hiện tượng khác mà báo chí Trung Quốc nói đến là các công ty quốc doanh sau khi vay được tiền ở các ngân hàng nhà nước với lãi suất thấp đem cho các công ty tư nhân vay lại với lãi suất cao hơn để lấy lời. Càng làm gia tăng nguy cơ sụp đổ dây chuyền.
Chúng ta sẽ không thể hiểu vì đâu Trung Quốc đến nông nỗi này nếu không ý thức được sự hốt hoảng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc sau cuộc khủng hoảng năm 2008, khi kinh tế thế giới sụp đổ vì hai bong bóng địa ốc và chứng khoán bể tại Mỹ. Cuộc khủng hoảng này sau hơn mười năm vẫn chưa chấm dứt vì đa số các chính quyền vẫn còn đang phải gánh những khối nợ công ngang với GDP.
Trước năm 2008 mô hình kinh tế Trung Quốc có thể gọi tắt một cách chính xác là "mô hình tăng trưởng dã man". Đó là mô hình tăng trưởng bất chấp cả con người lẫn môi trường, chỉ nhắm sản xuất thật nhiều với giá thành thật rẻ để xuất khẩu tối đa. Nói cách khác, chính quyền cộng sản Trung Quốc xuất khẩu sự nghèo khổ mà chính họ là nguyên nhân. Mô hình này đã khiến kinh tế Trung Quốc tăng trưởng liên tục trên 10% mỗi năm trong gần 30 năm, với cao điểm là 14% năm 2007 ngay trước cuộc khủng hoảng.
Người ta nói tới một phép mầu Trung Quốc mà không tìm hiểu tại sao các cấp lãnh đạo tuyệt đối không có một sự hiểu biết nào về kinh tế, hơn nữa còn suốt đời được đào tạo để phủ nhận kinh tế thị trường, lại có thể tạo ra một phép mầu như vậy. Trong cơn choáng váng người ta đã quên rằng mọi sự kiện đều có logic của chúng. Trung Quốc thật ra đã trả một giá kinh khủng cho sự tăng trưởng này. Môi trường đã bị tàn phá một cách triệt để và không thể phục hồi. Một phần lớn của miền Bắc Trung Quốc đã trở thành khô cằn ; hơn một nửa các dòng sông không còn nước, các con sông còn lại ô nhiễm tới mức mọi sự sống gần như biến mất.
Cuối năm 2007 tôi đã tham quan Trung Quốc và nhận xét rằng các thành tựu hoành tráng của Trung Quốc thực ra chỉ là những Vạn Lý Trường Thành mới tuy bề ngoài hào nhoáng nhưng chỉ làm Trung Quốc kiệt quệ về lâu về dài. Tôi vẫn giữ nguyên quan điểm đó.
Cũng không phải chỉ có thế, lý tưởng công bằng xã hội mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc đề cao để biện minh cho việc gây ra cái chết của hàng trăm triệu người Trung Quốc trong nội chiến cũng như trong các chiến dịch Bước Nhảy Vọt và Đại Cách Mạng Văn Hóa đã hoàn toàn biến mất nhường chỗ cho một chênh lệch giầu nghèo chưa từng có, không chỉ giữa những con người mà còn cả giữa các vùng.
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu tập trung ở khu vực Bắc Kinh và vùng bờ biển phía Đông, tổng cộng vào khoảng 1/5 lãnh thổ, nhưng ngay trong các vùng này bất công xã hội cũng cực kỳ thách đố. Hàng trăm triệu người đổ về Bắc Kinh, Thẩm Quyến, Thượng Hải và các thành phố duyên hải để bán sức lao động, họ sống chen chúc trong những khu nhà chật hẹp và dơ bẩn.
Vào cuối năm 2007 tôi đã thấy một đám đông mà tôi chưa bao giờ thấy. Tại quảng trường trước nhà ga Bắc Kinh hàng triệu người chen chúc nhau. Họ đứng, ngồi và nằm bên cạnh những bao hành lý lớn. Đó là các công nhân từ các tỉnh chờ xe lửa để về quê thăm gia đình. Họ chỉ là một thiểu số trong số những người tha hương cầu thực bởi vì những người này trung bình chỉ về quê thăm gia đình mỗi năm một lần.
Trên thực tế phải nói Trung Quốc không phải là một nước với 1.400 triệu dân như cách nhìn bình thường. Đó là một nước với khoảng 300 triệu dân và một khối nô lệ hơn một tỷ người bị bóc lột thẳng tay.
Ban lãnh đạo cộng sản Trung Quốc đã hốt hoảng khi cuộc khi cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 nổ ra vì ít nhất hai lý do. Một là kinh tế Trung Quốc lúc đó chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong khi xuất khẩu chắc chắn sẽ sút giảm rất nặng. Hai là, quan trọng hơn, chế độ Trung Quốc dựa trên một hợp đồng bất thành văn, theo đó chính quyền được quyền mặc sức hủy hoại môi trường và khai thác sức lao động của quần chúng cũng như của các tỉnh phía Tây, nhân danh một tỷ lệ tăng trưởng cao hứa hẹn một ngày mai tươi sáng ; hợp đồng này nếu không được tôn trọng sẽ đưa tới bạo loạn và ly khai.
Kết luận của Bộ chính trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà Ôn Gia Bảo đã là người đầu tiên nói ra là phải giữ tỷ lệ tăng trưởng ở mức 8%. Trong một bài trước tôi đã trình bày là họ đã tìm đủ mọi cách để giữ tỷ lệ tăng trưởng này, dù là một cách giả tạo. Họ đã cố phát triển thị trường nội địa, nhưng cố gắng này đã không thành công mà còn có kết quả ngược lại là khiến hoạt động xuất khẩu trở thành khó khăn hơn. Họ đã dồn tiền vào các thị trường chứng khoán với mơ ước biến Thượng Hải và Thẩm Quyến thành những trung tâm tài chính lớn như New York, Tokyo hay London để có thể huy động các nguồn tài chính thế giới ; dự án này không chỉ thất bại mà còn là một thảm họa đến nay vẫn còn tiếp tục tàn phá một nền tài chính vốn đã rất nguy ngập. Cố gắng chuyển hóa từ một nền kinh tế dựa trên khối lượng sang một nền kinh tế phẩm chất cao là đúng nhưng đòi hỏi thời gian và những yếu tố khác mà các chế độ độc tài không có : tự do, ý kiến và sáng kiến.
Giải pháp cứu nguy còn lại là xây dựng, xây dựng trong nước rồi xây dựng ngoài nước khi không còn xây dựng thả cửa ở trong nước được nữa.
Như tôi đã viết trong một bài trước (2), giải pháp này, được gọi là "Sáng kiến Vành đai và Con đường" (Belt and Road Initiative), thực ra chẳng có gì là độc đáo để đáng được gọi là một sáng kiến. Nó chỉ là một giải pháp dễ dãi. Ai cũng biết ngành xây dựng có tác dụng lôi kéo rất nhiều ngành khác. Người Pháp có câu "Khi xây dựng lên thì tất cả đêu lên" (Quand le bâtiment va, tout va).
Ngành xây dựng dễ tăng cường vì không đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp lại có hiệu ứng lôi kéo lớn nên nó luôn luôn là cám dỗ của các chính quyền hoặc muốn tăng trưởng nhanh hoặc muốn thoát hiểm trong một bối cảnh kinh tế khó khăn. Điều mà một số người không lưu ý đúng mức là ngược lại khi ngành xây dựng bế tắc nó cũng khiến rất nhiều ngành khác bế tắc theo và gây khủng hoảng lớn. Đó là điều đã xảy ra tại Mỹ năm 2008 khi chiếc bong bóng địa ốc xì hơi. Đó cũng là lý do khiến Espana và Hy Lạp khốn đốn từ mười năm nay. Xây dựng có hiệu quả tức khắc nhưng nguy hiểm về lâu về dài. Nó như một thứ thuốc kích thích phải được sử dụng một cách rất thận trọng. Ban lãnh đạo cộng sản Trung Quốc chắc chắn phải biết điều này vì nó quá sơ đẳng nhưng họ không còn chọn lựa nào khác.
Vấn đề của Bắc Kinh là họ không thể giảm bớt các hoạt động xây dựng vì ngành này và những ngành gắn bó chặt chẽ với nó đang nuôi sống hàng trăm triệu gia đình. Giảm xây dựng là dồn họ vào thế tuyệt vọng và chắc chắn sẽ có bạo loạn.
Khó khăn của Trung Quốc không dừng lại ở đó. Ngoài đe dọa kinh tế Trung Quốc còn phải đương đầu một cách tuyệt vọng với một tai họa còn to lớn hơn nhiều : môi trường. Một phần lớn của đất nước Trung Quốc gần như đã bị hy sinh trên bàn thờ thần Tăng Trưởng.
Năm 2007, khi bầu trời Bắc Kinh và Hà Bắc đã đen nghịt khói, tôi đọc được nhiều tài liệu cho biết là Trung Quốc dự định xây thêm mỗi năm hơn một ngàn nhà máy nhiệt điện than và nhiều ngàn nhà máy chạy bằng than khác như thép, phân bón, giấy v.v. Trong suốt một tháng đi đâu trên khắp Trung Quốc (xin nhấn mạnh là trên khắp Trung Quốc !), tôi cũng gặp những đoàn du lịch của Tổng Công Ty Than Khoáng Sản Việt Nam. Trung Quốc mua tất cả khối lượng than mà Việt Nam có thể bán. Đó là thời vàng son của than. Rồi đùng một cái các nhà lãnh đạo Trung Quốc khám phá ra là thời đại của than đã chấm dứt và thời đại của dầu khí cũng sắp chấm dứt nhường chỗ cho năng lượng tái tạo được, chủ yếu là năng lượng mặt trời. Họ không biết phải làm gì với những thiết bị đã chế tạo ra cho những nhà máy chạy bằng than được dự định thành lập nhưng sẽ không thành lập nữa. Chỉ còn một giải pháp là xuất khẩu chúng bằng mọi giá.
Để có thể xuất khẩu Trung Quốc đề nghị với tất cả các nước những hợp đồng xây dựng và lắp ráp các kết cấu hạ tầng cũng như các nhà máy với những điều kiện thật dễ dãi. Các ngân hàng của Trung Quốc, hoặc do Trung Quốc tài trợ như AIIB, cho các nước đối tác vay để trả tiền các công trình do các công ty quốc doanh Trung Quốc đấu thầu thực hiện. "Vành đai và Con đường" là một cụm từ mơ hồ bao gồm tất cả những công trình mà Trung Quốc thi công ở nước ngoài. Để thực hiện những công trình này, Trung Quốc cho vay để khách hàng thanh toán cho mình, và cho vay bất chấp cả khả năng hoàn trả của khách hàng. Những món nợ này dĩ nhiên là mất không trong đa số các trường hợp.
Nhưng Trung Quốc lấy tiền đâu để cho vay ? Câu trả lời giản dị là họ đi vay, chủ yếu của các quỹ đầu tư đủ loại trên thế giới. Từ vài năm nay tình hình kinh tế Trung Quốc có thể tóm tắt như sau : Trung Quốc nợ ngập đầu, phải vay nợ mới để trả nợ cũ, phải vay thêm để tiếp tục cho vay, và cho vay những con nợ ít khả năng hoàn trả. Tình trạng điên loạn này dĩ nhiên không thể kéo dài.
Bao giờ và phải như thế nào ?
Nhưng bao giờ nó phải chấm dứt ?
Cho tới nay nhiều chuyên gia đã dự đoán sự sụp đổ nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc. Các dự đoán này đều hợp lý nhưng đã không thành sự thực vì ít nhất ba lý do :
Một là, các chuyên gia này đã phạm sai lầm là lý luận về Trung Quốc như là một nước trong khi Trung Quốc là một đế quốc và một đế quốc -hiểu theo nghĩa nhiều nước phục tùng một trung tâm- sụp đổ một cách khác, phức tạp hơn và lâu hơn.
Hai là, trong tình trạng của Trung Quốc hiện nay sự sụp đổ kinh tế có mọi triển vọng sẽ kéo theo cả sự sụp đổ của chế độ cộng sản và sự tan vỡ của Trung Quốc, chính quyền Bắc Kinh vì vậy phải tìm mọi cách để trì hoãn nó bằng mọi giá. Họ kháng cự tới cùng vì không còn gì để mất và để sợ.
Ba là, các ngân hàng và các quỹ đầu tư đã cho Trung Quốc vay quá nhiều tiền cho nên mắc kẹt và dù muốn hay không cũng vẫn bắt buộc phải tiếp tục cho Trung Quốc vay vì sự sụp đổ của kinh tế Trung Quốc rất có thể sẽ kéo theo sự khủng hoảng, thậm chí sự sụp đổ, của chính họ và do đó một khủng hoảng lớn cho thế giới.
Tuy vậy, vào lúc này, ta có thể nói là khủng hoảng kinh tế của Trung Quốc không còn xa vì những dấu hiệu chắc chắn của khủng hoảng đã rõ ràng và ngày càng nhiều. Khối nợ kinh hoàng của Trung Quốc là điều mà cả thế giới đã biết và chỉ có thể tăng lên chứ không thể giảm đi, dự trữ của Trung Quốc rất mỏng manh, thị trường chứng khoán của Trung Quốc liên tục xuống nhanh chóng dù ngân hàng trung ương phải không ngừng cứu trợ, lãi suất của các trái phiếu Trung Quốc đã vượt quá 3% và còn đang tiếp tục lên. Các tin xấu đến hầu như hàng tuần.
Chúng ta không biết ngày nào nhưng chúng ta có thể biết khi nào Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng kinh tế. Đó là lúc Trung Quốc không còn vay nợ được nữa và lúc đó không còn xa bởi vì các cơ quan giám định, như Moody's, đã đánh giá các món nợ Trung Quốc là rủi ro. Lãi suất các trái phiếu Trung Quốc hiện nay đã ở mức 3,2%. Nó sẽ tiếp tục tăng lên ngày càng nhanh và khi nó đạt tới mức 6% hay 7% thì không còn quỹ đầu tư nào dám chối bỏ sự thực để tiếp tục cho Trung Quốc vay nữa ; lúc đó kinh tế Trung Quốc sẽ sụp đổ với những hậu quả rất nghiêm trọng cho Trung Quốc và cho cả thế giới nếu sự sụp đổ đến một cách đột ngột.
Tháng trước tôi có nói chuyện với hai người bạn chuyên gia cao cấp. Chúng tôi chia sẻ cùng một phân tích về tình hình Trung Quốc, kể cả nhận định rằng kinh tế Trung Quốc sẽ sụp đổ vì những sai lầm của chính nó chứ hoàn toàn không phải vì cuộc chiến tranh thương mại với Mỹ. Nhưng khi tôi nói rằng Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng trong vòng hai năm nữa thì họ dè dặt. Theo họ kinh tế Trung Quốc đáng lẽ đã phải khủng hoảng lâu rồi nhưng nó vẫn còn đứng được chừng nào vẫn còn nhiều định chế tín dụng, dù tự nguyện hay miễn cưỡng, tiếp tục cho Trung Quốc vay và những định chế này vẫn còn khá nhiều.
Năm 2013, khi chính thức lên làm tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc kiêm chủ tịch nước, Tập Cận Bình đã long trọng công bố "Sáng kiến Một vành đai Một con đường".
Tập Cận Bình được bầu làm phó chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa từ đầu năm 2008 để chuẩn bị thay thế Hồ Cẩm Đào. Như vậy ông đã có vai trò quyết định trong chính sách kinh tế ngay khi cuộc khủng hoảng 2008 nổ ra. Năm 2013 khi chính thức lên làm tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc kiêm chủ tịch nước ông đã long trọng công bố "Sáng kiến Một vành đai Một con đường". Năm 2017 cũng ông đặt cho nó một tên mới : "Vành đai và Con đường". Ông có thể được coi như là cha đẻ của chính sách kinh tế của Trung Quốc trong hơn mười năm qua, một chính sách nhắm trước hết cứu nguy đảng và chế độ cộng sản Trung Quốc. Chính vì thế mà ông đã được Đảng Cộng Sản Trung Quốc dành cho mọi vinh dự và quyền lực. Tuy vậy có mọi triển vọng chính sách này sẽ làm kinh tế Trung Quốc sụp đổ, làm chấn động thế giới, làm sụp đổ chế độ cộng sản và làm Trung Quốc sau đó tan vỡ làm nhiều khối. Có triển vọng cuộc khủng hoảng sẽ xảy ra ngay trong nhiệm kỳ thứ hai này của ông. Tại sao không ai tranh giành quyền lực với ông ? Có thể vì không ai muốn chịu trách nhiệm về một thảm bại chắc chắn sẽ đến.
Người ta có lý do chính đáng để ghét chế độ cộng sản Trung Quốc và mong nó sụp đổ nhưng không phải vì thế mà mong nó sụp đổ ngay tức khắc. Đừng quên là cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 đã nổ ra khi ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản. Lần này một sự phá sản đột ngột của kinh tế Trung Quốc sẽ kéo theo sự phá sản không chỉ của một mà nhiều ngân hàng và quỹ đầu tư lớn. Chấn động sẽ dữ dội gấp nhiều lần và không chỉ nhân dân Trung Quốc khốn khổ mà nhiều nước, kể cả Việt Nam, cũng sẽ phá sản theo với những bi kịch không lường được.
Khủng hoảng của kinh tế sắp tới của Trung Quốc vì thế phải được chuẩn bị và quản lý với tất cả thận trọng. Giải pháp đương nhiên là phải để các công ty quốc doanh Trung Quốc lần lượt phá sản theo một nhịp độ mà các định chế đầu tư có thể tiêu hóa được. Muốn như thế thì không thể đột ngột ngừng cho vay hàng loạt các công ty lớn của Trung Quốc. Chắc chắn thế giới đã rút được bài học Lehman Brothers.
Ảnh hưởng đến Việt Nam sẽ như thế nào ?
Nếu như thế thì ảnh hưởng đến Việt Nam sẽ không quá nghiêm trọng. Các đế quốc khác với các quốc gia ở chỗ chúng không hung hăng gây hấn với nước ngoài khi bị khủng hoảng nội bộ. Chúng ta sẽ không sợ những hành động liều lĩnh của Trung Quốc, kể cả trên Biển Đông. Tuy vậy cuộc khủng hoảng sắp tới tại Trung Quốc sẽ rất lớn và Việt Nam sẽ như sống bên cạnh một núi lửa đang phun trong một thời gian dài. Việt Nam cần những người lãnh đạo có kiến thức và tầm nhìn để tránh những tai họa đáng lẽ có thể tránh được. Cho đến nay những người kế tiếp nhau lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đều không chứng tỏ khả năng đó.
Một bằng chứng là họ rập khuôn theo Trung Quốc mà không nhìn thấy sự khác biệt căn bản giữa hai nước. Việt Nam có thể chuyển hóa về dân chủ mà vẫn nguyên vẹn với cùng một lãnh thổ và dân số trong khi đó không phải là trường hợp của Trung Quốc.
Nguyễn Gia Kiểng
(12/12/2018)

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2018

Cái chết bí ẩn của nhà khoa học Mỹ gốc Hoa có liên quan đến “Kế hoạch ngàn người” của Trung Quốc

Thu Thủy



VietTimes -- Đúng vào hôm “Công chúa Huawei” Mạnh Vãn Chu bị bắt giữ tại Canada cũng xảy ra vụ việc Trương Thủ Thịnh (Shou Cheng Zhang), nhà vật lý người Mỹ gốc Hoa nổi tiếng là “Người Hoa gần với giải Nobel vật lý nhất”, đồng thời là nhà đầu tư mạo hiểm bất ngờ nhảy lầu tự sát tại Mỹ ở tuổi 55. Việc ông Thịnh trước đây tham gia “Kế hoạch ngàn người” của Trung Quốc và tin đồn tiếp xúc với công ty Huawei. Thông tin ông chết lại được công bố cùng ngày với việc Mạnh Vãn Chu bị bắt đã phủ bóng mây nghi vấn lên cái chết bất thường này.
Ngày 6.12, trường Đại học Stanford và người thân của Trương Thủ Thịnh đều đã xác nhận tin ông qua đời. Người nhà ông nói trong một văn bản tuyên bố, Trương Thủ Thịnh đã bất ngờ qua đời hôm 1.12 sau một thời gian chống chọi với chứng trầm cảm.
Trương Thủ Thịnh sinh năm 1963 tại Thượng Hải, 15 tuổi đã vào học tại khoa Vật lý, Đại học Phục Đán; 17 tuổi được cử sang CHLB Đức học, cùng năm qua Mỹ học nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại phân hiệu Stony Brook University trực thuộc Đại học bang New York; người trực tiếp hướng dẫn là Giáo sư Dương Chấn Ninh, người đã đoạt giải Nobel về Vật lý. Năm 1987 ông lấy được bằng Tiến sĩ, năm 1993 ông được Đại học Stanford mời giảng dạy tại khoa Vật lý, hai năm sau thì trở thành Giáo sư suốt đời của khoa này ở tuổi 32.
Những thành tựu xuất sắc của Trương Thủ Thịnh về Vật lý Lượng tử đã đưa ông trở thành người nổi tiếng trên quốc tế, Năm 2007, Tạp chí “Science” của Mỹ coi thành quả nghiên cứu của ông và đồng nghiệp là một trong “10 thành tựu lớn mang tính đột phá quan trọng toàn cầu”. Đó là chứng minh được giả thiết về hạt fermion của nhà vật lý Ettore Majorana mà các nhà vật lý vất vả tìm kiếm trong suốt 80 năm trước đó. Trương Thủ Thịnh đã đặt tên cho loại hạt bí ẩn mà ông tìm thấy là “Hạt Thiên sứ”.
Trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình, Trương Thủ Thịnh đã được nhận tất cả các giải thưởng lớn về Vật lý, chỉ ngoại trừ giải Nobel. Trương Thủ Thịnh là Viện sỹ Viện Mỹ thuật và Khoa học Mỹ (American Academy of Arts and Sciences), Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ (United States National Academy of Sciences, NAS), Viện sỹ quốc tich nước ngoài Viện Khoa học Trung Quốc. Giáo sư Dương Chấn Ninh, người đã nhận giải Nobel Vật lý từng nhận xét về người học trò của ông: “Đối với cậu ấy, việc được nhận giải Nobel chỉ còn là vấn đề thời gian”.
Những thành tựu của ông Trương Thủ Thịnh được chính phủ Trung Quốc chú ý, năm 2009 ông được lựa chọn tham gia “Kế hoạch ngàn người” – tức kế hoạch du nhập nhân tài từ nước ngoài về của Trung Quốc. Ông được Đại học Thanh Hoa mời về làm đồng Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Khoa học và công nghệ Lượng tử, nhiều lần được các nhà lãnh đạo Trung Quốc tiếp và biểu dương. Tháng 1.2018, Trương Thủ Thịnh đã được trao Giải thưởng Khoa học kỹ thuật quốc gia năm 2017 với sự có mặt của các ông Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường...


Năm 2012, phát biểu tại Diễn đàn thế kỷ của Đại học Thanh Hoa, Trương Thủ Thịnh nhớ lại chặng đường phát triển của ông: “Năm 2008, Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy “Kế hoạch ngàn người”, cá nhân tôi rất vinh hạnh khi gặp được cơ hội như thế. Nhớ lại năm 1978, hồi đó bắt đầu khôi phục thi đại học, thực hiện Cải cách mở cửa; tôi chưa học Cao trung (tức Trung học Phổ thông) vẫn thử tham gia dự thi và đã đỗ ngay. Sau đó, Trung Quốc bắt đầu cử lưu học sinh đi du học, tôi chọn được đào tạo dài hạn tại Đại học Berlin. Sau đó tôi giảng dạy tại Đại học Stanford, vẫn luôn nhớ đến sự phát triển của đất nước. Khi mà Trung Quốc cần dùng khoa học kỹ thuật để thúc đẩy phát triển thì “Kế hoạch ngàn người” được triển khai, đã cho tôi một cơ hội mới; sự giao lưu học thuật của tôi với các đồng nghiệp trong nước ngày càng rộng mở và dày hơn”.
Gần đây, “Kế hoạch ngàn người” của Trung Quốc gây nên sự chú ý và lo ngại của các giới quốc phòng, tình báo và học thuật Mỹ. Họ chỉ trích đây là bộ phận quan trọng trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm chuyển nhượng, sao chép để   cuối cùng đuổi kịp và vượt Mỹ về quân sự, công nghệ...Mục tiêu của họ là thúc đẩy việc di chuyển công nghệ và bản quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ tới Trung Quốc một cách hợp pháp và cả phi pháp.



Năm 2013, Trương Thủ Thịnh và nhà Vật lý người Anh Stephen Hawking đã được trao Giải thưởng Vật lý cơ sở. Sau khi được nhận giải, ông đã phát biểu trên đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV): “Tôi cũng là người đặc biệt tán thành tư tưởng Giấc mộng Trung Hoa do Chủ tịch Tập Cận Bình đề ra”. Ông đã cho các phóng viên xem bức ảnh ông và một học giả trẻ người Trung Quốc chụp chung với Giáo sư Dương Chấn Ninh. Ông nói, 3 thế hệ học giả có bối cảnh và cuộc sống khác nhau, “nhưng chúng tôi đều có chung một giấc mộng”.
Trương Thủ Thịnh không nói rõ thêm “giấc mộng chung” đó là gì, nhưng mọi người đều hiểu đó chính là “Giấc mộng Trung Hoa”, thực hiện “phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại” mà ông Tập Cận Bình đã không ngần ngại nói ra. “Giấc mộng” đó bị các học giả phương Tây giải thích là “Chiến lược bí mật để Trung Quốc thay thế Mỹ bá chủ toàn cầu”.
Cũng năm 2013, Trương Thủ Thịnh và Cốc An Giai – một học trò của ông ở Đại học Stanford cùng nhau sáng lập ra quỹ đầu tư mang tên Danhua Capital. Công ty đầu tư mạo hiểm này đặt ở Silicon Valley, có số vốn ban đầu là 434,5 triệu USD, đầu tư cho hơn 100 công ty startup có tiềm năng nhất ở Mỹ, phần lớn trong các lĩnh vực nhạy cảm trí tuệ nhân tạo (AI), người máy, số liệu và blockchain.
Báo chí Trung Quốc công khai đưa tin, đứng sau quỹ Danhua Capital là Tập đoàn phát triển Trung Quan Thôn của Trung Quốc – một công ty quốc doanh được chính quyền thành phố Bắc Kinh tài trợ. Năm 2006, một Trung tâm sáng tạo Trung Quan Thôn - Silicon Valley diện tích 7 ngàn mét vuông đã được khánh thành tại thành phố Santa Clara, tiểu bang California.
Sự thâm nhập của Trung Quốc vào Silicon Valley đã khiến các giới ở Mỹ chú ý. Hồi tháng 6.2018, hãng Reuters đưa tin, hơn 20 công ty đầu tư mạo hiểm ở Silicon Valley đã có mối quan hệ mật thiết với các quỹ của chính phủ hoặc công ty quốc doanh của Trung Quốc. Hồi tháng 11, bản ‘Báo cáo điều tra Khoản 301 cập nhật” của Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ (USTR) nói, có chứng cứ cho thấy chính phủ Trung Quốc đã lợi dụng  một loạt công ty đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) ở Silicon Valley và một số trung tâm công nghệ để tạo thành một mạng lưới. Đầu tư và các hoạt động liên quan của họ nhằm thúc đẩy thêm mục tiêu chính sách của chính phủ Trung Quốc trong giới doanh nhân. Báo cáo đã nêu đích danh tên Danhua Capital là một trong số các công ty lợi dụng đầu tư mạo hiểm để giúp chính phủ Trung Quốc có được các công nghệ mũi nhọn và bản quyền sở hữu trí tuệ liên quan của Mỹ.
Tiến sĩ Điền Nguyên, một bình luận viên thời sự người Hoa cho rằng, “Kế hoạch ngàn người” của Trung Quốc gắn kết các nhà khoa học gốc Hoa với Bắc Kinh, đương nhiên bị người Mỹ chú ý. Một ví dụ điển hình là Trung tâm Y học Tây Nam của Đại học University of Texas: có ít nhất 4 giáo sư gốc Hoa tham gia “Kế hoạch ngàn người” đã bị điều tra, bị sa thải thoặc bị buộc từ chức.
Ông Điền Nguyên nói, Danhua Capital của Trương Thủ Thịnh bị chính phủ Mỹ điều tra, thậm chí “Báo cáo 301” còn trực tiếp điểm tên, nói quỹ đầu tư này là “lô cốt đầu cầu” của Trung Quốc ở Đại học Stanford và Silicon Valley, chuyên thu thập những công nghệ mà Trung Quốc đang cần. Ông nhấn mạnh, “Kế hoạch ngàn người” bị coi là sự xâm thực các nhà khoa học người Hoa ở nước ngoài; chỉ cần có tên trong “Kế hoạch ngàn người” là về cơ bản đã trở thành đối tượng điều tra hàng đầu của FBI.
Ông nói: “Chỉ cần người nào tham gia “Kế hoạch ngàn người” là về cơ bản đã đối mặt với áp lực từ hai phía:một là từ phía chính phủ Mỹ và một đến từ phía Trung Quốc. Họ biệt đãi anh và quyết không để anh không có sự báo đáp lại”.
Ngày 6.12, nhiều báo chí Trung Quốc khi đưa tin Trương Thủ Thịnh qua đời đều thống nhất nói là do “mắc chứng trầm cảm”; tuy nhiên trên các diễn đàn mạng xã hội ở bên trong Trung Quốc và hải ngoại lại lan truyền các thông tin khác hẳn.

Có tin nói ông Trương Thủ Thịnh do đầu tư thất bại, đã tự sát vì không chịu nổi trách nhiệm. Lại có tin nói do ông đang bị FBI điều tra. Nhiều người chú ý đến sự trùng hợp: hôm ông Trương Thủ Thịnh tự sát cũng chính là ngày bà Mạnh Vãn Chu – Phó chủ tịch, CFO của Huawei bị bắt giữ tại Canada. Có nguồn tin nói, 1 ngày trước đó hai người còn tham dự hoạt động bên lề Hội nghị cấp cao G20 tại Buenos Aires. Lại có tin nói, năm ngoái ông Trương Thủ Thịnh đã tiếp xúc với giới chức lãnh đạo Huawei tại Thâm Quyến để thương lượng chuyện hợp tác với nhau...Về vụ này, tin công khai trên báo chí cho biết, ngày 1.4.2017, trong thời gian tham dự Hội nghị cấp cao IT tại Thâm Quyến, Trương Thủ Thịnh đã gặp gỡ Dư Thừa Đông, Chủ tịch Công ty Trung Đoan trực thuộc Tập đoàn Huawei. Vụ này được coi là hai bên bàn chuyện hợp tác chế tạo chip bán dẫn.
Đủ mọi tin đồn xung quanh Trương Thủ Thịnh chưa được xác nhận; có lẽ chúng sẽ mãi mãi trở thành điều bí ẩn không thể được làm sáng tỏ đi theo cái chết đột ngột của ông.



Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

Bắt sếp Huawei - Mỹ vặt lông vịt Tàu

Trung Cộng giận dữ với Mỹ và Canada vụ bắt giám đốc tài chính của Huawei, bà Mạnh Vãn Chu. Bắt sếp Huawei, có vẻ Mỹ đang "đâm trúng tim" tham vọng dẫn đầu của họ.
Lần đầu tiên từ nhiều năm, báo Trung Quốc gọi Hoa Kỳ là quốc gia "bất hảo đáng kinh tởm" (despicable rogue) vì đang thách thức vị thế thượng phong của Trung Quốc trong thị trường 5G.
Huawei có vai trò chủ chốt trong sáng kiến hiện đại hóa công nghiệp Made in China 2025 được công bố vào năm 2015 với mục tiêu biến Trung Quốc thành siêu cường công nghệ trên thế giới.
Công ty này có vị trí trung tâm trong nỗ lực ứng dụng dịch vụ không dây thế hệ thứ 5 (5G). Hệ thống 5G có vai trò sống còn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ ô tô tự lái và Washington xem kế hoạch này của Bắc Kinh là một mối đe dọa.
Vụ bắt giữ xảy ra vào thời điểm đang có những động thái nhằm hạn chế công nghệ của Huawei ở các nước phương Tây. Mỹ, Australia và New Zealand đều chặn, không cho các thiết bị của Huawei sử dụng hạ tầng dành cho các mạng điện thoại 5G mới.
Tương tự như vụ việc của bà Mạnh, giám đốc tài chính của ZTE đã bị chặn tại sân bay Logan (Boston) trong cuộc điều tra của Mỹ. Giới chức Mỹ thu giữ một chiếc laptop có chứa một "kho" bằng chứng cho thấy ZTE làm ăn phi pháp với Iran.
Năm 2016, Bộ Thương mại Mỹ đã công khai thông tin về vụ ZTE và tiết lộ rằng một công ty khác, được gọi là F7, đã né cấm vận của Mỹ thành công. Trong đơn thư trình lên Bộ Thương mại Mỹ, 10 nghị sĩ Mỹ cho rằng F7 chính là Huawei. Tới tháng 4/2017, các nghị sĩ lại tiếp tục trình đơn và đề nghị công khai thông tin và điều tra F7 một cách toàn diện.
Trước đó, Reuters đã đưa tin, công ty công nghệ Skycom đặt trụ sở ở Hong Kong, từng tìm cách bán lô thiết bị máy tính HP bị cấm vận cho nhà mạng lớn nhất Iran, có quan hệ rất mật thiết với Huawei.
Bà Mạnh Vãn Chu, từng ở trong ban điều hành của Skycom từ 2/2008-4/2009. Một số giám đốc trước đây và hiện nay của Skycom cũng có mối liên quan tới Huawei.
Chuyên gia quan hệ Mỹ - Trung thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Liu Weidong cho rằng đây là một bước đi có tính toán của Washington nhằm giành ưu thế trong cuộc đàm phán thương mại với Bắc Kinh.
"Chúng ta sẽ thấy nhiều sự vụ như vậy nhiều hơn nữa trong 3 tháng tới, cấm vận các cá nhân và tập đoàn do Trung Quốc sở hữu, để tăng cường động lực cho phía Mỹ", ông Liu nói.

P/S:     

Bắt bà Mạnh Vãn Chu với cáo buộc vi phạm cấm vận công nghệ với Iran mà                Washington cho là Huawei gây ra có vẻ chỉ là cái cớ. Cùng lúc việc bắt giữ bà Mạnh, nhà vật lý học, giáo sư Trương Thủ Thịnh (sinh năm 1963), chết ở Mỹ cũng vào hôm 1/12 được cho vì trầm cảm.
Có quốc tịch Mỹ, ông Trương làm việc ở ĐH Stanford và cũng là người lập ra công ty Danhua Capital, nay có tên là Digital Horizon Capital.
Công ty này, có trụ sở ở California, đã nhận được vốn đầu tư 434 triệu USD. Nhà đầu tư chính của Danhua là Zhongguancun Development Group, tập đoàn nhà nước thuộc chính quyền Bắc Kinh .
Nhiều vụ bắt giữ gián điệp và những cái chết khá bất thường gần đây của các quan chức, doanh nhân Trung Quốc (Trịnh Hiểu Tùng, Vương Kiện, Mạnh Hoành Vỹ...) khiến dư luận không khỏi ngờ vực.
Không phải vô cớ mà Phó chủ tịch EU Andrus Ansip mới đây kêu gọi cảnh giác với Huawei và các tập đoàn công nghệ Trung Quốc do những mối liên hệ bí mật với tình báo nước này.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

Lãnh hải Trung Quốc trong khu vực Biển Đông !?


Thanh Niên

Đó là khái niệm mà Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch) trả lời về bối cảnh hạm đội Trung Quốc xuất hiện trong đoạn cuối của phim Điệp vụ Biển Đỏ. Thật bức xúc khi 'lãnh hải Trung Quốc' ấy chính là quần đảo Trường Sa của VN.

Liên quan việc dư luận bức xúc khi phim Điệp vụ Biển Đỏ có đoạn cuối tuyên truyền xuyên tạc “Biển Đông là của Trung Quốc” nhưng vẫn được chiếu ở VN (Thanh Niên đã phản ánh), Bộ VH-TT-DL chiều 26.3 đã có thông cáo tới các cơ quan báo chí.

Cục Điện ảnh không hiểu Luật Biển

Thông cáo trên được đưa ra sau khi Bộ VH-TT-DL yêu cầu Cục Điện ảnh kiểm tra quy trình phát hành bộ phim. Theo thông tin từ bản thông cáo báo chí, vào ngày 2.3, Hội đồng T.Ư thẩm định phim truyện với 7/11 thành viên đã xem và thẩm định phim Điệp vụ Biển Đỏ (4 thành viên vắng có lý do). Theo đó, Cục Điện ảnh khẳng định: Hội đồng đã thẩm định và phân loại bộ phim theo đúng trình tự và quy định hiện hành. Sau khi thẩm định và phân loại, bộ phim được 100% thành viên hội đồng đề nghị cho phép phổ biến với điều kiện cấm khán giả dưới 18 tuổi (C18). Ngày 15.3, bộ phim được cấp giấy phép phổ biến. Cục Điện ảnh chịu trách nhiệm cấp phép sau khi Hội đồng duyệt phim quốc gia đã thông qua.

Về đoạn cuối phim bị chỉ trích, Cục Điện ảnh giải thích như sau: “36 giây cuối, phim thể hiện tàu của Trung Quốc về tới lãnh hải Trung Quốc trong khu vực Biển Đông và thấy một vài chiếc tàu từ xa, hình dáng những chiếc tàu này không rõ nét; loa từ tàu Trung Quốc phát ra: “Chú ý, đây là hải quân Trung Quốc. Quý vị sắp tiến vào lãnh hải Trung Quốc, xin hãy đi ngay”. Những hình ảnh, âm thanh và lời thoại của đoạn cuối phim hoàn toàn không có căn cứ để kết luận rằng bộ phim có liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo”.

Tuy nhiên, trả lời Thanh Niên, thiếu tướng - Giáo sư Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược (Bộ Công an), cho rằng: “Văn bản của Cục Điện ảnh nói rằng: “Tàu của Trung Quốc về tới lãnh hải Trung Quốc trong khu vực Biển Đông” là hoàn toàn không chính xác. Trong trường hợp này, tôi cho rằng, Cục Điện ảnh đã không hiểu về luật Biển quốc tế. Bởi vì nếu có kiến thức về luật Biển quốc tế, không ai nói là “lãnh hải Trung Quốc trong khu vực Biển Đông”.

Ông Cương giải thích thêm: “Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 đã quy định các quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không quá 12 hải lý (khoảng 22,2 km) tính từ đường cơ sở. Luật Biển VN của chúng ta cũng lấy mốc 12 hải lý để tính lãnh hải. Từ lãnh hải ra ngoài phía biển 12 hải lý nữa gọi là đường tiếp giáp lãnh hải. Vì vậy, khi nói tới lãnh hải, bao giờ người ta cũng phải gắn với một vùng lục địa nào đó chứ không thể nói lãnh hải trên một vùng biển. Chẳng hạn, chúng ta có thể nói, lãnh hải VN xung quanh đảo Lý Sơn, hay đảo Phú Quốc...”.

Không những vậy, ông Cương còn chỉ ra sự ngang ngược của đoạn phim trên: “Luật Biển quốc tế cũng quy định rõ các tàu thuyền nước ngoài được quyền “qua lại không gây hại” trong lãnh hải, và thường lưu thông theo tuyến phân luồng giao thông hàng hải do nước ven biển quy định. Do đó, nếu như tàu hải quân Trung Quốc mà xua đuổi “tàu lạ” tiến vào lãnh hải Trung Quốc thì sẽ vi phạm luật Biển quốc tế nếu như những tàu này chỉ là tàu qua lại bình thường không gây hại”.

Đây cũng là điều mà chính nhật báo của quân đội Trung Quốc cũng đã thừa nhận phim Điệp vụ Biển Đỏ ngang ngược với chi tiết trên. Tờ báo này ngày 27.2 có bài cho rằng chiến hạm Trung Quốc chẳng có quyền gì xua đuổi tàu chiến nước khác đi lại bình thường không gây hại.

Trung Quốc thách thức, truyền thông quốc tế lo ngại

Trong khi Cục Điện ảnh cố ngụy biện cho việc không hoàn thành trách nhiệm, thì Bộ Quốc phòng Trung Quốc lại nói rõ ý đồ của đoạn phim trên. Ngày 28.2, chuyên mục Giáo dục trên website chính thức của Bộ Quốc phòng Trung Quốc có một bài viết với tựa: “Bạn cần phải hiểu rõ ẩn ý sâu sắc trong phim Hành động Biển Đỏ” (tên gốc của phim Điệp vụ Biển Đỏ - NV).

Bài viết có đoạn giải thích “ẩn ý” như sau: “Ở cuối phim còn xuất hiện tàu nước ngoài chưa được sự cho phép của chính phủ Trung Quốc đã xâm phạm khu vực đảo san hô thuộc quần đảo Nam Sa Trung Quốc, đã bị tàu tuần tiễu hải quân Trung Quốc lập tức mời đi khỏi”.

Suốt nhiều năm qua, Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi bò” bao trùm gần hết Biển Đông. Trong đó, Bắc Kinh đặt ra cái gọi là quần đảo Nam Sa đối với khu vực quần đảo Trường Sa của VN. Năm 2016, Tòa trọng tài thường trực quốc tế (PCA) đã phán quyết bác bỏ tuyên bố chủ quyền “đường lười bò”. Như vậy, khi gọi bối cảnh cuối phim là “lãnh hải Trung Quốc trong khu vực Biển Đông”, Cục Điện ảnh không chỉ sai mà phải chăng đang tiếp tay cho tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi bò”!?

Thực tế, cả trước và sau khi Điệp vụ Biển Đỏ ra mắt, báo chí Trung Quốc không ngừng ca ngợi bộ phim như một thành quả về tuyên truyền để khẳng định sức mạnh của Trung Quốc giữa những vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển, trong đó có Biển Đông. Ngày 24.1, Hoàn Cầu thời báo có bài minh họa cho sức mạnh tuyên truyền bằng dẫn chứng phần cuối bộ phim, hải quân Trung Quốc đã “đuổi” tàu chiến nước ngoài ra khỏi Biển Đông.

Trước sự hung hăng trong thông điệp của bộ phim, sau khi được chiếu ở Hồng Kông, tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng ngày 1.3 nhận xét phim đã có những chi tiết “thể hiện chủ nghĩa sô vanh” một cách không cần thiết, trong đó có đoạn xua đuổi tàu nước ngoài trên Biển Đông.

Viện Nghiên cứu hải quân Mỹ ngày 1.3 cũng có bài phân tích về phim là một cuộc khoe khoang sức mạnh của Trung Quốc khi tung ra hình cảnh các loại tàu đổ bộ lớp 071, tàu hộ vệ lớp 054A… vốn là những chiến hạm mà Bắc Kinh rất tự hào. Gần đây, số chiến hạm này thường xuyên xuất hiện trong các cuộc tập trận trên Biển Đông. Cụ thể hơn, tàu đổ bộ Côn Lôn Sơn 998 và tàu hậu cần hải quân lớp 904 xuất hiện trong trailer phim tại VN, do Công ty CGV phát hành, chính là các tàu vừa mới tập trận trên Biển Đông vào cuối năm 2017 và đầu năm 2018, kèm theo những thông điệp hiếu chiến.

Viện Nghiên cứu hải quân Mỹ còn chỉ ra trong đoạn cuối phim thì các tàu bị xua đuổi có hình ảnh tàu khu trục thuộc lớp Arleigh Burke. Gần đây, Mỹ thường triển khai các tàu khu trục thuộc lớp Arleigh Burke thực hiện các chuyến tự do hàng hải áp sát một số thực thể mà Bắc Kinh chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông. Chính vì thế, đoạn cuối của Điệp vụ Biển Đỏ được xem là lời đe dọa.

***

Nếu chỉ nhìn mấy chi tiết trong phim thì có thể những người không có kiến thức về vấn đề Biển Đông thấy là bình thường. Vì trong phim chỉ nói chung chung, không nói trên khu vực nào trên Biển Đông. Chúng ta lưu ý là Biển Đông không hoàn toàn thuộc chủ quyền của một quốc gia nào, mà có nhiều quốc gia cùng nằm cạnh Biển Đông.

Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh các yêu sách của Trung Quốc đối với Biển Đông thì lại khác. Duy nhất chỉ có Trung Quốc đơn phương yêu sách gần 80% Biển Đông là thuộc chủ quyền của họ, và đương nhiên, họ không dựa trên yếu tố pháp lý nào.

Bị quốc tế phản đối, họ đã luôn tìm cách khẳng định bằng cách tuyên truyền bằng nhiều biện pháp để giúp cho yêu sách của họ có lợi thế. Trước đây họ sử dụng “đường lưỡi bò”. Vì thế, nếu hiểu về vấn đề Biển Đông và hiểu về yêu sách sai trái của Trung Quốc trên Biển Đông thì chúng ta sẽ hiểu ngay thông điệp trong phim này muốn nói gì.

Trung Quốc sử dụng một cuộc chiến phi quân sự để giành những lợi thế trên Biển Đông, mà các nhà nghiên cứu gọi là ba cuộc chiến bao gồm cuộc chiến truyền thông, tâm lý và pháp lý. Chính vì vậy, các hành động của họ nếu tách rời thì tưởng chừng vô hại nhưng nó nằm trong một chiến lược chung rất rõ ràng.

Nếu xâu chuỗi nhiều sự kiện này với các chi tiết trong phim Điệp vụ Biển Đỏ, đặc biệt là tin tức về bộ phim trên website của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, rõ ràng là phim này nằm trong chiến lược tuyên truyền cho yêu sách chủ quyền vô lý và đi ngược luật pháp quốc tế của họ.

Ông Hoàng Việt (thuộc Ban Nghiên cứu luật Biển và hải đảo của Liên đoàn Luật sư VN)
Nguồn Báo Thanh Niên

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2018

Học giả phân tích trật tự thế giới mới của Trung Quốc

Nguồn: Ramesh Thakur, “China’s New World Order?”, Project Syndicate, 10/11/2017.
Biên dịch: Đặng Tấn Phước | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Tính đến nay, có hai xu thế địa chính trị chính trong thế kỷ 21: sự xuống dốc tương đối của Mỹ kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh; và sự nổi lên của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế, chính trị và quân sự. Do đó, cách Trung Quốc hành xử trên trường quốc tế sẽ là một nhân tố địa chính trị quan trọng trong những thập niên tới.
Trong tương lai, tầm nhìn chiến lược của Trung Quốc chắc chắn sẽ phản ánh tầm nhìn chiến lược của chủ tịch Tập Cận Bình, người hiện giờ đã củng cố vị trí là nhà lãnh đạo quyền lực nhất kể từ thời Mao Trạch Đông. Trong bài phát biểu dài của mình tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPC) lần thứ 19 vào ngày 18/10/2017, ông Tập tuyên bố về một kỷ nguyên mới của sức mạnh quốc gia, sự tự tin, và quyền lực toàn cầu của Trung Quốc.
Ông Tập hình dung ra thế giới mà trong đó Trung Quốc đã đạt được sự ngang bằng địa chính trị với Mỹ, khẳng định mình trên trường ngoại giao và đóng vai trò lớn hơn trong việc xây dựng các quy tắc của hệ thống quốc tế. Theo đó, thế giới nên chuẩn bị cho một sự gia tăng hoạt động chính sách đối ngoại Trung Quốc. Để hiểu các hành động đó sẽ diễn ra dưới hình thức nào và có những ảnh hưởng gì đối với quan hệ quốc tế, nhãn quan của các nhà bình luận của Project Syndicate, những người từ lâu đã ghi chép về sự nổi lên của Trung Quốc như một cường quốc khu vực và toàn cầu, đem lại một nguồn tham khảo vô giá.
Đề phòng “Bẫy Thucydides”
Trong cuộc theo đuổi sự cân bằng với Mỹ, Trung Quốc chắc chắn sẽ hưởng lợi từ sự thật là phương Tây, theo như cựu thủ tướng Úc Kevin Rudd, “ngày càng vị kỉ, tự hài lòng, và tự mãn trên trường quốc tế.” Nhưng khi cán cân quyền lực toàn cầu dịch chuyển khỏi phương Tây, Trung Quốc sẽ phải cẩn trọng về các mối lo ngại mới và đang lớn dần.
Ví dụ, Graham Allison và đồng tác giả Arianna Huffington của Đại học Harvard đã lo ngại rằng Trung Quốc và Mỹ có thể rơi vào “Bẫy Thucydides,” được đặt theo tên nhà sử học Hy Lạp, người nhận thấy, “Chính sự nổi lên của Athens, và nỗi lo sợ mà điều này đã gây ra cho Sparta, đã khiến cho chiến tranh trở nên tất yếu.” Theo như Allison và Huffington, nguyên nhân dẫn tới Chiến tranh Peloponnesse vẫn còn đúng cho tới ngày hôm nay. “Trong suốt 500 năm qua,” họ viết, “trong 16 trường hợp khi một cường quốc mới nổi đe dọa cường quốc thống trị, 12 trường hợp đã dấn tới chiến tranh.”
Do khu vực Châu Á – Thái Bình Dương giờ đây là trái tim của nền kinh tế thế giới, thật dễ hiểu khi Trung Quốc và Mỹ sẽ tranh giành ảnh hưởng chiến lược nơi đây. Tuy vậy liệu trò chơi quyền lực chính trị này có thể leo thang thành chiến tranh? Một mặt, Trung Quốc đã xây dựng và gia cố các hòn đảo trên Biển Đông; gia tăng sự hiện diện hàng hải của mình ở Ấn Độ Dương, biển Ả-rập, và vịnh Aden; và thành lập một căn cứ hải quân ở Djibouti. Và giờ Trung Quốc đã vượt qua tất cả các thành viên thường trực còn lại của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc về số lượng binh sĩ tham gia các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc ở Châu Phi.
Mặt khác, do khoảng cách đáng kể giữa khát vọng triển khai sức mạnh để bảo vệ các lợi ích kinh tế ở xa và khả năng làm điều đó của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể sẽ không muốn đi quá xa trong việc thách thức Mỹ. Họ, theo lời Keyu Jin của Trường Kinh Tế London, “hiểu rõ về việc Bẫy Thucydides đã bẫy cả kẻ thống trị lẫn kẻ thách thức như thế nào, kể cả sau khi kẻ thách thức dường như đã chiến thắng.”
Họ cũng biết rằng Trung Quốc là một bên hưởng lợi lớn từ trật tự dựa trên luật lệ hiện tại, đó là lý do tại sao ông Tập đã dùng sự xuất hiện của mình ở Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới hàng năm để ủng hộ hệ thống thương mại toàn cầu chống lại các đề xuất bảo hộ xuất phát từ Mỹ. Và ở Đại hội ĐCS Trung Quốc, ông Tập khẳng định rằng, “Không quốc gia nào có thể trở về hòn đảo của mình, chúng ta sống trong một thế giới chung và đối mặt với một định mệnh chung.” Những tuyên bố như vậy có vẻ sẽ loại trừ sự trỗi dậy của Trung Quốc như một siêu cường theo chủ nghĩa xét lại.
Nhưng cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James Steinberg và Michael O’Hanlon của Viện Brookings không tin vào điều đó. Mỹ nên thể hiện quyết tâm rõ ràng trong việc duy trì nguyên trạng hệ thống quốc tế đến mức khiến Trung Quốc phải ngần ngại trong việc phá hoại nó. Steinberg và O’Hanlon kêu gọi “Mỹ và các đối tác ”phát triển “một dải rộng hơn các phản ứng cho phép họ có thể biểu lộ việc sẵn lòng trừng phạt mạnh tay trong khi không tạo ra sự leo thang phản tác dụng.” Và họ cũng đề xuất một “biến thể của chiến lược lâu dài ‘can dự nhưng phòng bị nước đôi’, trong đó Mỹ cho Trung Quốc ‘các động lực để phát triển, trong khi duy trì lực lượng quân sự mạnh để phòng trường hợp sự can dự với Trung Quốc thất bại.”
Hướng về Chủ nghĩa Đại Hán?
Dù vậy, trong khi Mỹ vẫn là thế lực áp đảo ở Châu Á trong tương lai gần, nó không thể duy trì sự áp đảo hoàn toàn về quân sự, kinh tế và chuẩn mực ở đây mãi mãi. Và chính quyền Trump cũng đã đặt câu hỏi về chính trật tự quốc tế hậu chiến được Mỹ dẫn dắt. Tuy vậy, thậm chí trước khi ông Trump thông báo về việc ra ứng cử của mình, Yoon Young-Kwan, cựu Ngoại trưởng Hàn Quốc, đã chỉ ra rằng các nhà lãnh đạo của Trung Quốc luôn tin rằng “cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và cái giá đắt từ hai cuộc chiến tranh ở nước ngoài đã khiến Mỹ không có khả năng lãnh đạo quốc tế.”
Sự suy yếu tiềm tàng của trật tự quốc tế mà Mỹ dẫn dắt, cùng với cố gắng của ông Tập để nắm một vị trí lớn hơn trên trường quốc tế, ngay lập tức gây nên nhiều vấn đề đáng lo ngại. Đầu tiên, không giống các cường quốc thế kỷ 19 và 20, Trung Quốc không có các truyền thống về mặt lịch sử, triết học hay văn học để làm nền tảng cho những hành vi của mình trong một hệ thống của các cường quốc. Di sản của nó là di sản của “Vương Quốc Trung Tâm” được các nước chư hầu triều cống. Ngay cả khi đang ở đỉnh cao, Liên Xô chỉ là một siêu cường quân sự, trong khi Trung Quốc đã nhanh chóng nổi lên như một siêu cường đa chiều với một nền kinh tế có sức cạnh tranh toàn cầu.
Tất nhiên, một sự khác biệt quan trọng giữa Trung Quốc và Liên Xô chính là việc Trung Quốc không có vẻ muốn xuất khẩu mô hình toàn trị của mình, bất chấp luận điệu của ông Tập. Thay vào đó, quan tâm chính của Trung Quốc là thúc đẩy sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế trong nước, bằng cách bảo đảm tiếp cận tài nguyên và thị trường quốc tế. Biểu hiện rõ ràng nhất về cách tiếp cận này chính là Sáng kiến Vành Đai và Con Đường (BRI), mà, Shang-Jin Weithuộc Đại học Columbia giải thích, “nhằm vào việc phát triển cơ sở hạ tầng và các liên kết chính sách kết nối tới hơn 60 quốc gia khắp Châu Á, Châu Âu, và Châu Phi.”
Theo cách nhìn của ông Wei, BRI chính là điều thế giới đang cần khi mà Mỹ và các “nước có nhiều ảnh hưởng khác đang quay đầu hướng nội, nói về việc dựng lên các hàng rào thương mại và xây tường biên giới.” Tương tự, cựu Ngoại trưởng Australia Gareth Evans thừa nhận rằng Australia và các đồng minh và đối tác của Mỹ ở Châu Á “không còn có thể – giả sử rằng chúng ta đã từng – coi sự lãnh đạo mạch lạc và khôn ngoan của Mỹ là điều hiển nhiên. Và ông khuyến khích tất cả các chính phủ “nhận ra tính chính đáng trong khát khao trở thành siêu cường của Trung Quốc, và hãy đối mặt nhưng không đối đầu với nó.”
Vấn đề trên các vùng biển
Nhưng ông Evan cũng cảnh báo rằng Trung Quốc cần phải bị kháng cự khi nó đi quá giới hạn, ít nhất là ở Biển Đông, nơi nó đã tiếp tục thách thức phán quyết bác bỏ yêu sách chủ quyền Trung Quốc được đưa ra bởi Toà Trọng tài Thường trực (PCA) tại The Hague. Ngay trong mùa hè này, như Brahma Chellaney của Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Sách tại New Delhi quan sát, Trung Quốc “đã đe dọa phát động các hành động quân sự chống lại các tiền đồn của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa đang tranh chấp,” để ngăn chặn chính quyền Việt Nam “khoan lấy dầu trong khu vực ngoài rìa Vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc ở Biển Đông.”
Những khiêu khích hàng hải có vẻ ngẫu nhiên của Trung Quốc không phải lúc nào cũng đe dọa các chính phủ khác đến mức họ phải lùi bước. Nhưng chúng kiểm tra quyết tâm cùng với khả năng hỗ trợ các đồng minh và đối tác chiến lược của Mỹ. Bằng cách cố ý giữ hành động dưới ngưỡng xung đột quân sự, Trung Quốc đang tìm cách dần dần tạo nên sự mệt mỏi chiến lược giữa Mỹ và các đối tác. Chiến lược này dường như đang có tác dụng. Chỉ riêng năm 2017, Philippines đã đồng ý với các thương vụ và đầu tư lớn của Trung Quốc, Malaysia mua tàu chiến Trung Quốc, và Việt Nam đã từng bước tăng cường quan hệ ngoại giao và quân sự với Trung Quốc.
Nhưng nói vậy không phải là không có những đáp trả. Theo Lê Hồng Hiệp thuộc Viện ISEAS-Yusof Ishak tại Singapore, các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đã thúc đẩy Việt Nam và Nhật Bản tăng cường “quan hệ đối tác chiến lược” mà họ đã lập nên năm 2009. Ông Hiệp nhắc lại việc Nhật Bản đã cam kết sẽ cung cấp cho Việt Nam “các tàu tuần tra để hỗ trợ các hoạt động phòng thủ ở Biển Đông”, bên cạnh việc bán cho Việt Nam “hai vệ tinh viễn thám dựa trên công nghệ radar tiên tiến” và có thể là cả “các máy bay P-3C cũ có khả năng chống tàu ngầm và thu thập tình báo hàng hải.”
Và Việt Nam không đơn độc. Theo Thitinan Pongsudhirak của Đại học Chulalongkorn tại Bangkok, “sự trỗi dậy nhanh chóng trở thành mối đe dọa lớn nhất cho sự ổn định khu vực” của Trung Quốc đang tạo nên một cuộc chạy đua vũ trang tại Châu Á. Tính đến năm ngoái, khu vực này chiếm tới “gần một nửa chi phí quân sự toàn cầu, nhiều gấp đôi tổng chi phí của các nước Trung Đông và gấp 4 lần chi phí của Châu Âu.”
Các tuyên bố trước đây của Trump rằng các đồng minh của Mỹ nên tự bảo vệ mình rõ ràng không có tác dụng. Nhưng vấn đề thực sự, ông Pongsudhirak nói, là sự thiếu “một khuôn khổ khu vực nhằm ngăn chặn, giảm thiểu, và giải quyết các tranh chấp chủ quyền.” Một khuôn khổ nhưng vậy sẽ không bao giờ thành công nếu không có sự tham gia của Trung Quốc; để đảm bảo điều đó, ông Pongsuhirak gợi ý “các thành viên có quan tâm nên nhường nhịn một chút và cho Trung Quốc không gian để nhìn nhận những hiểm họa từ sự hung hăng của nó.”
Nhưng kể cả khi Trung Quốc nhìn ra lỗi lầm của mình, ông Evan nhận thấy, nó “có vẻ sẽ không từ bỏ sự chiếm đóng của bất cứ hòn đảo, bãi san hô, hay bãi đã nơi nó đã có mặt.” Ông đề xuất một thỏa hiệp để Trung Quốc có thể giữ thể diện. Trong số các hành động thành ý khác, các lãnh đạo Trung Quốc nên được khuyến khích dừng các hoạt động xây đảo nhân tạo của mình, và đồng ý với một bộ quy tắc ứng xử được thỏa thuận với các thành viên khác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Ngược lại, nếu các nhân vật cứng rắn ở Bắc Kinh áp đảo và Trung Quốc tiếp tục hành vi hung hăng của mình, Australia và các nước khác có thể quyết định thực hiện chiến dịch tự do hàng hải (FONOPs) trong phạm vi mười hai hải lý xung quanh các khu vực tranh chấp nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc. Như giáo sư Đại học Harvard Joseph S. Nye đề cập, Mỹ đã tạo sẵn một tiền lệ năm 2013, khi nó cho hai máy bay ném bom B-52 đơn phương và không báo trước bay vào Vùng Nhận dạng phòng không mà Trung Quốc đã đơn phương xác lập không báo trước bao trùm quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp ở Biển Hoa Đông.
Không may, với nhiều FONOPs và các chiến dịch tương tự hơn, khả năng xảy ra các biến cố quân sự sẽ gia tăng. Tất cả các bên đều quan tâm đến cảnh báo của cựu thủ tướng Philippines Fidel V. Ramos khi ông còn là đặc phái viên ở Trung Quốc sau phán quyết năm 2016 của PCA: căng thẳng ở Châu Á không chỉ là về “các bãi đá và rặng san hô”; chúng là vấn đề của “chiến tranh và hòa bình.”
Góc nhìn từ Bắc Kinh
Người phương Tây có thể muốn cho rằng sự hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu ngày càng sâu đậm của Trung Quốc sẽ ngăn chặn xung đột. Nhưng Trung Quốc thật sự muốn phục hồi địa vị là một bá chủ khu vực của mình, đặc biệt là qua việc tái cân bằng cán cân quân sự ở Châu Á. Và các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể còn sẵn lòng đánh cược rằng các nhà lãnh đạo Mỹ sẽ lùi lại thay vì chấp nhận rủi ro từ một cuộc đối đầu tốn kém. Những con sông chất đầy thi thể là nỗi sợ dẫn tới những giả định như vậy.
Nhưng cũng rất cần nhìn nhận tình hình từ góc nhìn Trung Quốc. Như Steinberg và O’Hanlon đã nhắc nhở, Trung Quốc có một “lịch sử dễ bị tổn thương bởi sự can thiệp bên ngoài.” Và hôm nay, như Minghao Zhao của Viện Charhar ở Bắc Kinh quan sát, “bờ biển của Trung Quốc, ở một mức độ nào đó, bị bao vây bởi Nhật Bản và Phillippines, đều là đồng minh của Mỹ, và Đài Loan, nơi Mỹ vẫn duy trì các quan hệ an ninh.” Hơn thế, Zhao giải thích, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không nhắm mắt làm ngơ trước chiến lược kiềm chế của Mỹ trong khu vực. Qua thời gian, hệ thống “trục và nan hoa” của Mỹ đã biến thành “hệ thống mạng lưới an ninh rộng khắp khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.”
Do sự biến đổi này, ông Zhao cho rằng, Nhật Bản đã có “quyền tự chủ lớn hơn trong vấn đề an ninh”, Hàn Quốc đã trở thành nơi đặt một hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ, và Ấn Độ cùng với Việt Nam đã xích lại gần hơn với Hoa Kỳ. Và các nhà lãnh đạo Trung Quốc chắc chắn không thể không nhìn thấy những nỗ lực vô ích của Mỹ trong việc ngăn chặn các đồng minh tham gia vào Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB) do Trung Quốc dẫn đầu. Trong những trường hợp này, Zhao giải thích, “Trung Quốc cảm thấy rằng nó không còn cách nào khác ngoài việc chuẩn bị cho các kịch bản xấu nhất – một cách tiếp cận được phản ánh trong cái được gọi là khái niệm ‘giới hạn cuối cùng’ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.”
Trong bối cảnh này, sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc ở phương Đông và Biển Đông, và sự gia tăng hiện diện tại các vùng biển xung quanh Indonesia và Úc, có thể được xem như là một cố gắng nhằm đẩy lùi sự kiềm chế của phương Tây trong khu vực của mình. Lãnh đạo Trung Quốc, theo Bill Emmott, cựu tổng biên tập của The Economist, “tin rằng Trung Quốc nên có khả năng triển khai sức mạnh quân sự và bảo vệ những gì nó cho là không gian chiến lược của mình – giống như Hoa Kỳ.” Điều này đặt ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Hoa Kỳ. Một Trung Quốc đang nổi lên không thể được trông đợi là sẽ chịu đựng mãi sự hiện diện quân sự phiền toái của Mỹ trong khu vực. Nhưng một chính sách thỏa hiệp của Hoa Kỳ có thể làm các đồng minh của họ trong khu vực lo lắng, và báo hiệu sự đánh mất quyết tâm và độ tin cậy của một quốc gia giúp đảm bảo an ninh khu vực.
Trò chơi lớn của Châu Á
Không nơi nào mà nỗi lo sợ về sự tự mãn của Mỹ rõ ràng hơn là ở Nhật Bản và Hàn Quốc, hai nước nơi “cuộc chạy đua vũ trang hiện nay ở châu Á có thể vượt ra ngoài phạm vi vũ khí thông thường”, theo bà Yuriko Koike, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Nhật và giờ là Thống đốc của Tokyo. Ngay cả trước khi Trump lên nắm quyền với thứ “chủ nghĩa sô vanh lộn xộn” của mình, bà Koike giải thích, những sự khiêu khích của Trung Quốc đã trao cho Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đủ không gian chính trị để thúc đẩy sửa đổi điều khoản hoà bình của hiến pháp sau Thế chiến II của Nhật Bản. Trong khi đó, Trung Quốc cũng đã tăng cường khiêu khích Ấn Độ. Ông Chellaney nói rằng “năm nay, Trung Quốc đã không cung cấp dữ liệu [thủy văn và khí tượng] cho Ấn Độ, làm suy giảm hiệu quả của các hệ thống cảnh báo sớm lũ lụt của Ấn Độ -trong mùa mưa mùa hè ở châu Á.” Và mùa hè này, Ấn Độ và Trung Quốc đã bị cuốn vào một cuộc đối đầu căng thẳng, do “sự xâm nhập bí mật” của Trung Quốc vào biên giới vùng Hymalaya của Ấn Độ. Cũng giống “việc lực lượng hải quân Trung Quốc theo sau ngư dân để tạo ra không gian cho việc bồi đắp các bãi đá hoặc rạn san hô” ở Biển Đông, ông Chellaney nói, lực lượng trên bộ của nước này cũng tiến bước theo sau những “người chăn nuôi, nông dân, và gia súc.”
Ngày 28 tháng 8, Trung Quốc và Ấn Độ đã thông báo về một giải pháp ngoại giao cho cuộc đối đầu tại Hymalaya. Nhưng không ai biết được hòa bình sẽ kéo dài bao lâu. Trong thập niên qua, Trung Quốc đã ít hào phóng hơn nhiều trong việc thỏa hiệp với một Ấn Độ đang lên so với việc Hoa Kỳ đã ủng hộ Trung Quốc. Shashi Tharoor, Chủ tịch của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Đối Ngoại, nhận thấy một điều đáng lo ngại trong hành vi của Trung Quốc, theo đó các nhà lãnh đạo của họ đã đáp lại những “nỗ lực thiện chí của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi bằng một loạt những xúc phạm.”
Ví dụ, vào năm 2014, ngay sau khi ông Modi chào đón ông Tập “đến quê hương của mình, Ahmedabad, vào ngày sinh nhật của chính mình,” ôngTharoor kể lại, “lính Trung Quốc nhanh chóng vượt qua biên giới tranh chấp với Ấn Độ ở khu vực Ladakh của Jammu và Kashmir, đi xa tới mức dựng trại trên vùng đất mà Ấn Độ coi là lãnh thổ có chủ quyền của mình.” Trung Quốc cũng đã bác bỏ đề xuất của Ấn Độ xin gia nhập Nhóm các Nhà cung cấp Hạt nhân, và “xây dựng một Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan” xuyên qua các vùng ở Kashmir do Pakistan kiểm soát”, những vùng mà “Trung Quốc tự thừa nhận” là lãnh thổ có tranh chấp. Và trong tháng Tư năm nay, Trung Quốc đã tung ra một loạt các đe dọa và cáo buộc nhắm vào Ấn Độ sau khi Đức Dalai Lama đã đến thăm một tu viện Phật giáo lịch sử ở bang Arunachal Pradesh thuộc Ấn Độ.
Lãnh đạo hay không lãnh đạo?
Với nhiều nhà quan sát, sự leo thang giữa Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên về chương trình hạt nhân của nước này sẽ là dịp để Trung Quốc thể hiện vai trò lãnh đạo có trách nhiệm của mình hơn so với những gì đã thể  hiện ở các nơi khác. Như ông Hiệp đã giải thích, khi ông Tập và ông Trump tổ chức cuộc gặp mặt đầu tiên vào tháng 4, ông Trump dường như nghĩ rằng bằng cách đe dọa trừng phạt thương mại chống lại Trung Quốc, ông có thể buộc Trung Quốc giúp “kiềm chế tham vọng hạt nhân của Bắc Triều Tiên.” Nhưng theo quan điểm của ông Hiệp, chính quyền Trump đã “đánh giá quá cao ảnh hưởng của Trung Quốc lên Bắc Triều Tiên.” Rốt cuộc, chế độ của Kim Jong-un vẫn tiếp tục thử nghiệm hạt nhân và tên lửa “bất chấp các lệnh trừng phạt của Trung Quốc, vốn đã ngưng nhập khẩu than từ Triều Tiên – nguồn thu nhập chính của nước này.”
Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không để cho sự bực bội cá nhân đối với Kim làm họ phân tâm khỏi mục tiêu địa chiến lược lớn hơn. Ông Lee Jong-Wha từ Đại học Hàn Quốc chỉ ra, để Trung Quốc làm nhiều hơn, “nước này cần được đảm bảo rằng nó sẽ không ngay lập tức mất đi vùng đệm chiến lược trên bán đảo Triều Tiên.” Nếu không có sự đảm bảo như vậy, Trung Quốc sẽ tiếp tục không hợp tác, kể cả khi làm như vậy gây thiệt hại cho “mối quan hệ của nó với Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc – đều là các đối tác có giá trị hơn một Triều Tiên ngang bướng, nghèo đói.”
Một cách giải quyết, theo cựu Thủ tướng Thụy Điển Carl Bildt, là khiến tất cả các bên liên quan dùng một cách tiếp cận ngoại giao rộng hơn bắt đầu bằng “giải quyết vấn đề cơ bản, trung tâm của mâu thuẫn: đó là không có một hiệp định hòa bình nào được ký kết để chấm dứt chiến tranh Triều Tiên 1950-1953.” Một cuộc đối thoại như vậy, theo ông Bildt, “có thể mở đường cho các cuộc thảo luận rộng rãi hơn về vấn đề leo thang hạt nhân và các mối đe dọa khác đối với sự ổn định khu vực.” Với việc Trung Quốc vẫn cam kết theo đuổi đàm phán hòa bình, hành động này có thể mang lại lợi ích tối đa với chi phí tối thiểu.
Nhưng ông Emmott chỉ ra rằng có một giải pháp thay thế cho các cuộc đàm phán hay một cuộc tấn công quân sự do Mỹ dẫn đầu: Trung Quốc có thể can thiệp quân sự, hoặc để cung cấp an ninh cho chế độ của ông Kim hay để thực hiện một sự thay đổi chế độ có trật tự hơn. Kịch bản này có vẻ thật xa vời. Nhưng Emmott cho rằng nó không chỉ hợp lý mà còn là “cơ hội tốt nhất để Trung Quốc đạt được sự cân bằng chiến lược lớn hơn với Hoa Kỳ trong khu vực, trong khi loại bỏ một nguồn cơn bất ổn đe dọa cả hai.”
Nguy hiểm của sự thiếu năng lực
Khi Trung Quốc đang cố gắng tìm hiểu các nhu cầu lãnh đạo của khu vực và toàn cầu, nó sẽ không chỉ cần dè chừng Bẫy Thucydides, mà còn cả cái mà ông Nye gọi  là “Bẫy Kindleberger”: “một Trung Quốc có vẻ như quá yếu chứ không phải là quá mạnh.” Ý  tưởng này, ông Nye giải thích, xuất phát từ Charles Kindleberger, một nhà sử học Mỹ,  “người lập luận rằng thập niên thảm khốc của những năm 1930 là do Mỹ thế chỗ Anh làm cường quốc lớn nhất thế giới nhưng thất bại trong việc thay thế Anh cung cấp các hàng hóa công toàn cầu.”
Pax Britannica (nền Hòa bình kiểu Anh) được xây dựng dựa trên một hệ thống pháp lý thực dân và sự kiểm soát lãnh thổ, cho phép nước Anh khai thác, xử lý, vận chuyển và sử dụng hoặc bán quyền sở hữu nguồn lực tài nguyên tự nhiên rộng lớn trên toàn cầu. Ngược lại, Pax Americana(nền Hòa bình kiểu Mỹ) được xây dựng trên một hệ thống các chế độ cho phép tiếp cận thị trường, cho phép Hoa Kỳ kiểm soát tài nguyên, tạo điều kiện cho dòng chảy vốn, hàng hoá và công nghệ toàn cầu. Nhờ xây dựng các thị trường toàn cầu thay vì một đế chế toàn cầu, Hoa Kỳ tránh được trách nhiệm pháp lý phải đảm bảo an ninh và phúc lợi cho những quốc gia phụ thuộc thực dân mới. Và nó thuyết phục những người khác rằng “hàng hóa công toàn cầu” chỉ là một hệ quả tự nhiên từ sự bá quyền của Mỹ.
Sau năm 1945, Mỹ viết nên các quy tắc của trật tự quốc tế, và giám sát chúng trong 70 năm. Câu hỏi bây giờ là liệu Trung Quốc có sẵn sàng chấp nhận gánh nặng đó. Trung Quốc đang mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của nó thông qua BRI và các sáng kiến ​​khác, và những nỗ lực này đã cho phép nó củng cố các quan hệ ngoại giao, thúc đẩy thương mại, và tạo ra các hành lang năng lượng.
Tuy vậy, cho đến nay Trung Quốc đã không thực hiện được việc biến các hàng hóa công cho khu vực và toàn cầu trở nên đồng bộ hóa với lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Và như Minxin Pei của Claremont McKenna College chỉ ra, chính bản thân Đảng Cộng Sản Trung Quốc “đã trở nên hầu như không liên quan tới cuộc sống hàng ngày của những người Trung Quốc bình thường nữa.” Ông Pei cho rằng điều đó có thể hạn chế sức mạnh của ông Tập. Nhưng nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn thành công trong việc định hướng nước mình để lãnh đạo toàn cầu, trọng tâm của họ nên là duy trì tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội trong nước, trong khi xây dựng những liên minh và ảnh hưởng giúp gìn giữ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ hiện tại. Nếu không, sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ làm gián đoạn trật tự đó, bao hàm những biến động trong khu vực và toàn cầu gần như không thể tránh khỏi trong nhiều năm tới.
Ramesh Thakur, cựu trợ lý Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, là Giám Đốc Trung Tâm Không Phổ Biến Vũ Khí Hạt Nhân và Giải Trừ Vũ Khí thuộc Đại Học Quốc Gia Australia.
Copyright: Project Syndicate 2017 – China’s New World Order?