Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Ông Đinh Đức Lập tùy tiện lạm dụng báo Đại Đoàn Kết để vu khống, chụp mũ, xúc phạm người tố cáo

Sau khi báo Tuổi trẻ ngày 4.8 đăng bài viết vạch rõ những vi phạm pháp luật của ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết trong việc trả thù ba nhà báo đã dám tố cáo ông và Ban biên tập, xin xem tại đây, thì ngay lập tức, ngày 5.8 ông Lập đã dùng tờ báo giàu truyền thống 71 năm từ thời vẻ vang mang danh Cứu Quốc ra để đăng bài viết, xin xem ở đây để trả thù, vu vạ những nhà báo dám tố cáo mình. Đó là một bài viết mang tính chất áp đặt, chụp mũ những nhà báo đã có đơn thư tố cáo ông Lập suốt hơn một năm qua chưa được giải quyết đúng đắn theo quy định của pháp luật, đúng với tính chất sai phạm của ông Đinh Đức Lập nhưng lại vừa bị ông này ra quyết định buộc thôi việc. Quyết định buộc thôi việc của ông Đinh Đức Lập áp đặt trái pháp luật cho ba nhà báo đấu tranh với các sai trái, vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của Đảng của ông Đinh Đức Lập đã và đang bị các cơ quan chức năng phản đối.

Cả ba nhà báo đấu tranh với các hành vi tiêu cực, tham nhũng của ông Đinh Đức Lập (gồm Nguyễn Mạnh Thắng, Kim Ngân và Hữu Nguyên) đều là cán bộ cấp Trưởng Phó ban của báo. Việc bổ nhiệm các chức danh cho những nhà báo này theo quy định đều phải có sự phê chuẩn của lãnh đạo MTTQVN. Cả ba nhà báo này đều là những nhà báo làm việc nhiều năm tại báo Đại Đoàn Kết, đều có thâm niên làm báo tại đây nhiều hơn ông Đinh Đức Lập. Công tác tổ chức của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đâu phải là trò đùa mà lại đi bổ nhiệm những thành phần bị ông Lập coi là “vô tổ chức, vô kỷ luật, kém năng lực, gây rối và cản trở sự phát triển của báo Đại Đoàn Kết”.

Trước khi có đơn tố cáo và bị ông Đinh Đức Lập ra sức trả thù, trù dập, cản trở, gây khó khăn trong công tác, trong thu nhập và đời sống... các nhà báo nói trên đều là những cá nhân liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong nhiều năm trước đó. Đặc biệt, các nhà báo này đều có nhiều bài viết hoặc tham gia phần lớn vào các loạt bài quan trọng góp phần tạo nên uy tín cho báo Đại Đoàn Kết. Cụ thể là nhiều bài báo, loạt bài có sự tham gia của các nhà báo này đã mang lại nhiều giải thưởng lớn cho báo Đại Đoàn Kết trong năm 2011. Có nhà báo còn liên tục được vinh danh trên “Bảng vàng danh dự” trong danh sách các cá nhân xuất sắc nhất của báo Đại Đoàn Kết mà trong đó cũng có tên ông Tổng biên tập Đinh Đức Lập được đưa vào vị trí “ngồi  trên”!

Do vậy xét về năng lực, khả năng đóng góp cho báo Đại Đoàn kết, cả ba nhà báo này đều có phần không nhỏ. Cho nên nếu nói rằng họ thuộc nhóm những người không theo kịp sự phát triển của tờ báo là hoàn toàn quy chụp, cảm tính và không có cơ sở, nếu không muốn nói là hết sức tùy tiện xúc phạm đến nhận thức của nhiều người hiểu biết về quá trình phát triển báo Đại Đoàn Kết trong nhiều năm qua.


Hai nhá báo Mạnh Thắng và Hữu Nguyên nhận Giải A Giải báo chí Đại đoàn kết dân tộc năm 2011 (người thứ nhất và thứ ba từ trái sang)



Trên thực tế, từ tháng 5/2012,  trước các hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật hết sức nhức nhối của Tổng biên tập Đinh Đức Lập gây ảnh hưởng xấu tới cơ quan báo Đại Đoàn Kết và MTTQ Việt Nam mà các nhà báo nói trên đã có đơn tố cáo theo đúng quy định của luật pháp Nhà nước Việt Nam thực hành quyền của công dân và trách nhiệm của viên chức, của người làm báo trong việc đấu tranh với cái xấu, cái tiêu cực ngay trong chính cơ quan mà mình đang công tác.

Các cụ nói: “Con sâu làm rầu nồi canh”. Không có lẽ, người phát hiện và chỉ rõ con sâu trong nồi canh là người gây rối?

Việc xử lý và giải quyết tố cáo của cơ quan chủ quản là Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cho tới nay đã hơn một năm vẫn chưa kết thúc như quy định của luật pháp. Ngay thời điểm này, những người tố cáo chưa hề nhận được bất kỳ văn bản kết luận nào của cơ quan có thẩm quyền theo luật định cho thấy việc xử lý, giải quyết đã được thực hiện theo quy định của Luật Tố cáo.

Trong khi đó, người bị tố cáo lại ung dung bất chấp pháp luật ngang nhiên quay lại trù dập những người tố cáo, dùng thủ đoạn lôi kéo tập thể tiếp tục vi phạm pháp luật một cách thô bạo. Chính những người tố cáo này đã bị ông Đinh Đức Lập lạm dụng chức vụ quyền hạn ra sức trả thù, trù dập mà đỉnh cao nhất là các quyết định buộc thôi việc lần lượt cả ba nhà báo có đơn tố cáo ông Lập do chính ông Lập ký.

Nay, cũng chính ông Đinh Đức Lập, người chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt dộng của báo Đại Đoàn Kết trong đó có các nội dung được đăng tải trên báo đã cho xuất bản một bài báo chưa từng có trong lịch sử báo Đại Đoàn Kết.

Bài viết “vu vạ” của Đinh Đức Lập và ai đó bị sai khiến đã thể hiện rõ sự lạm dụng tùy tiện cơ quan ngôn luận của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhằm quy chụp và áp đặt một cách cảm tính các “tội danh tưởng tượng” mà ông Lập vốn vẫn hay quy kết cho những người dám đấu tranh không chấp nhận luồn cúi ông.

Nếu dũng cảm, ông Lập có dám cho đăng toàn văn những nội dung mà ba nhà báo đã tố cáo? Và bản giải trình của ông về các nội dung bị tố cáo?.  Nếu ông Lập không dám cho đăng tải những vấn đề bị tố cáo thì càng cho thấy rõ hơn động cơ thiếu trong sáng và nhận thức vô minh của ông Đinh Đức Lập trong việc đối phó với công luận bằng mọi cách, mọi giá. Phản ứng tùy tiện, bất chấp pháp luật (xem báo Đại Đoàn Kết như là tờ báo của riêng ông Đinh Đức Lập) càng cho thấy đúng như những gì mà ông Lập đã hành xử tại báo Đại Đoàn Kết nhiều năm qua, gây tổn hại uy tín nghiêm trọng cho tờ báo này và tổ chức MTTQ Việt Nam.

P.V

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Báo Tuổi Trẻ lên tiếng vụ buộc thôi việc ba nhà báo tố cáo ông Đinh Đức Lập

Bị buộc thôi việc sau khi tố cáo


TT - Ba nhà báo của báo Đại Đoàn Kết (cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc VN) bị buộc thôi việc sau khi đã tố cáo những sai phạm của ban biên tập.

Công đoàn cơ sở Ban công tác phía Nam (Công đoàn cơ quan trung ương MTTQ VN) đã kết luận việc “kỷ luật” nhà báo như trên là có nhiều sai phạm.


Từ ngày 7-5-2012, ba nhà báo Nguyễn Mạnh Thắng, Đặng Thị Kim Ngân và Bùi Hữu Phước (tức Hữu Nguyên) gửi đơn tới Ủy ban trung ương MTTQ VN tố cáo ông Đinh Đức Lập, tổng biên tập (TBT), và một số thành viên trong ban biên tập của báo Đại Đoàn Kết. Nội dung tố cáo gồm: bán tài sản công, tự ý bán trụ sở văn phòng báo tại Đà Nẵng cho công ty tư nhân, sai phạm trong công tác tổ chức cán bộ, vi phạm nguyên tắc Đảng...
Hơn 1 năm chưa nhận được trả lời
Ông Mạnh Thắng cho biết từ khi gửi đơn tố cáo đến nay đã hơn một năm nhưng chưa nhận được bất cứ trả lời nào từ phía MTTQ. Trong khi đó ngày 20-7-2012, ông bị TBT Đinh Đức Lập ra quyết định điều chuyển từ vị trí phó trưởng ban văn hóa - văn nghệ sang phó trưởng ban kỹ thuật quản trị mạng. Do công việc mới không phù hợp chuyên môn nên ông Thắng làm đơn khiếu nại. Ba ngày sau, ông Thắng bị cắt toàn bộ lương và các chế độ khác. Tiếp tục khiếu nại nhưng không được trả lời thỏa đáng, ông Thắng nộp đơn khởi kiện ra TAND quận Hoàn Kiếm và đã được tòa thụ lý.
Sau ba lần triệu tập ba nhà báo Mạnh Thắng, Kim Ngân và Hữu Nguyên đến họp với hội đồng kỷ luật của báo Đại Đoàn Kết, lần lượt ngày 3-6, 26-6 và 12-7-2013, TBT Đinh Đức Lập đã ký quyết định kỷ luật ba nhà báo này với hình thức cao nhất là buộc thôi việc. Các lý do đưa ra là: thiếu ý thức xây dựng cơ quan, tố cáo nhiều lần, nhiều nơi, nhiều cấp với nhiều nội dung sai, không đúng và không có cơ sở, không chấp hành phân công công tác của ban biên tập, tuyên truyền các vấn đề nội bộ gây ảnh hưởng đến uy tín của báo...
Trả lời Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Anh Xuân (phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng, MTTQ VN) khẳng định: “Chúng tôi đã có kết luận về nội dung tố cáo của ba nhà báo Mạnh Thắng, Hữu Nguyên và Kim Ngân. Ba nhà báo tố cáo có cái đúng, có cái sai. Vì tố cáo có điều đúng mà TBT báo Đại Đoàn Kết đã bị kỷ luật về mặt Đảng, chính quyền và bị khiển trách. Còn việc nhân sự báo Đại Đoàn Kết nhận ai, cho thôi việc ai thì MTTQ không can thiệp”.
Trả lời câu hỏi về việc các nhà báo gửi đơn tố cáo hơn một năm nhưng chưa nhận được trả lời, ông Xuân cho biết: “Chúng tôi không gửi kết luận bằng văn bản mà đã thông báo bằng việc mời các nhà báo lên và đọc toàn bộ kết luận của Đảng Đoàn”.
Buộc thôi việc không có cơ sở
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Đinh Đức Lập nói nội dung tố cáo của ba nhà báo có điều đúng, điều sai: “Điều đúng thì tôi đã bị kỷ luật, còn tố cáo sai thì phải chịu trách nhiệm”.
Ông Lập cho biết trước khi buộc thôi việc ba nhà báo Mạnh Thắng, Kim Ngân và Hữu Nguyên, báo Đại Đoàn Kết đã thành lập hội đồng họp xét kỷ luật. Ông Lập khẳng định sở dĩ kỷ luật buộc thôi việc là do các nhà báo có một số sai phạm trong quá trình công tác, và trong kết luận trả lời nội dung tố cáo của MTTQ có yêu cầu xử lý sai phạm của các nhà báo này. Nhưng khi chúng tôi hỏi kết luận đó thế nào mà các ông kỷ luật, cho thôi việc cán bộ, ông Lập cho biết: “Ban biên tập báo Đại Đoàn Kết không ai có bản kết luận nói trên, anh trưởng ban quản trị mạng được MTTQ gọi lên đọc cho nghe, chép lại và về báo cáo lại TBT. MTTQ cũng không cung cấp cho chúng tôi văn bản kết luận này”.
Ngay sau khi nhận được quyết định kỷ luật buộc thôi việc, nhà báo Hữu Nguyên (phó trưởng ban đại diện báo Đại Đoàn Kết tại TP.HCM) đã có đơn khiếu nại gửi đến Công đoàn cơ sở Ban công tác phía Nam. Ngày 15-7, chủ tịch công đoàn đã có công văn gửi TBT Đinh Đức Lập nêu rõ một số sai phạm trong việc kỷ luật buộc thôi việc nhà báo Hữu Nguyên như: thành lập hội đồng họp xét kỷ luật không đúng thành phần quy định, việc tổ chức kiểm điểm nhà báo Hữu Nguyên cũng không đúng thủ tục, các biên bản họp của báo Đại Đoàn Kết không phải là cơ sở pháp lý làm căn cứ xử lý kỷ luật với ông Hữu Nguyên, những nội dung kết luận của báo Đại Đoàn Kết để nói ông Hữu Nguyên vi phạm pháp luật là chưa có cơ sở...
Công đoàn MTTQ cũng cho rằng báo Đại Đoàn Kết nêu ra ba lý do để kỷ luật ông Hữu Nguyên nhưng mỗi lý do không có một hình thức kỷ luật tương ứng là trái quy định của pháp luật, các lý do kỷ luật cũng không nêu hành vi cụ thể.
LAN ANH - TÂM LỤA

Nhiều cái sai liên tiếp
Theo trình bày thì ba nhà báo Nguyễn Mạnh Thắng, Đặng Thị Kim Ngân và Bùi Hữu Phước của báo Đại Đoàn Kết là viên chức làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn.
* Nhà báo Mạnh Thắng gửi đơn tố cáo đến Ủy ban trung ương MTTQ VN đã hơn một năm, nhưng vẫn không nhận được trả lời thì Ủy ban trung ương MTTQ VN chưa làm đúng quy định tại khoản 1 điều 21 Luật tố cáo 2012. Theo đó, thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo.
* Hơn nữa, ông Thắng nhiều lần liên hệ và có đơn đề nghị thông báo kết quả bằng văn bản nhưng Ủy ban trung ương MTTQ VN không giải quyết là trái quy định tại khoản 2 điều 26 Luật tố cáo 2012.
* Việc ông Đinh Đức Lập ra quyết định điều chuyển ông Thắng là điều chuyển trái nghề mà không có lý do chính đáng, vi phạm quy định tại khoản 1 điều 28 và khoản 1, 3 điều 32 Luật viên chức 2010.
* Việc tờ báo cắt toàn bộ lương và các chế độ khác của ông Thắng lại càng sai. Trong khi đơn tố cáo chưa được giải quyết theo luật định, chưa có trả lời bằng văn bản nhưng ông Đinh Đức Lập ký quyết định kỷ luật các nhà báo Mạnh Thắng, Kim Ngân và Hữu Nguyên với hình thức buộc thôi việc là trái quy định tại điều 13 nghị định 27/2012/NĐ-CP ngày 6-4-2012 quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức.
Báo Đại Đoàn Kết căn cứ vào kết luận thường vụ Đảng ủy MTTQ VN với: nội dung tố cáo có phần đúng phần sai, từ thông báo của MTTQ chỉ được đọc cho nghe, sau đó chép lại và truyền đạt lại cho BBT... không hề có văn bản kết luận trong tay mà BBT ra quyết định buộc thôi việc ba viên chức của mình là trái với quy định Luật viên chức và Luật tố cáo, và đây không phải là căn cứ buộc thôi việc.
Luật sư Phạm Văn Thạnh 
(Đoàn luật sư TP.HCM)


Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Sơ kết một năm tố cáo Đinh Đức Lập (1)

1. Ngày 17/6/2012, quan ngại về tình hình ngày càng xấu đi của báo Đại Đoàn Kết, có liên quan tới trách nhiệm người đứng đầu là ông Đinh Đức Lập, nhân kỷ niệm Ngày Nhà báo 21/6/2012,  tôi gởi cho Chủ tịch Huỳnh Đảm và các vị lãnh đạo khác của MTTQVN một lá thư.

Lá thư bày tỏ sự lo ngại và cảnh báo về một tương lai không mấy tươi sáng của báo Đại Đoàn Kết, bởi tình hình của báo hiện đang trở nên vô cùng tồi tệ về nhiều mặt, mà trách nhiệm thuộc về người đứng đầu là tổng biên tập Đinh Đức Lập. Chỉ sau hơn 3 năm trở thành người đứng đầu, ông Lập đã nhanh chóng đầy tờ báo lâm vào “bước đường cùng”, đang phải đối mặt với những nguy cơ mất uy tín chính trị, mất cân đối tài chính và mất đoàn kết nghiêm trọng.

Ngoài những tiêu cực cụ thể đã xảy ra dưới sự điều hành của ông Đinh Đức Lập, các cảnh báo cũng nhanh chóng trở thành sự thật khi mà việc sử dụng nhân sự mang tính gia đình trị, nhóm lợi ích của ông Lập đã tiếp tay cho chấu ruột của ong là Đinh Quang Sơn chiếm dụng nhiều tỷ đồng tiền góp vốn xây dựng chung cư của anh em báo Đại Đoàn Kết trong nhiều năm trời. Khi sự việc bị phát giác, ông Sơn đã bỏ trốn cho tới nay mà không phải chịu bất cứ hình thức kỷ luật nào.

Tình hình tài chính của báo Đại Đoàn Kết chỉ cần có một cuộc thanh  tra, kiểm toán đúng pháp luật, khách quan thì sẽ rõ. Còn tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng thì ngày càng quá rõ.

2. Ngày 24/6/2012, Phó tổng biên tập Nguyễn Quốc Khánh thực hiện ý kiến chỉ đạo của tổng biên tập Đinh Đức Lập, ký công văn số 03/BBT.ĐĐK mời tôi (Hữu Nguyên) ra tòa soạn ở Hà Nội để làm việc với nội dung trao đổi và làm rõ những nội dung trong lá đơn mà tôi gởi cho Chủ tịch Huỳnh Đảm.

Tôi đã từ chối không thực hiện yêu cầu phi lý này của Ban biên tập báo Đại Đoàn Kết. Vì các lý do sau:

-  Lá thư đề ngày 17/6/2012 do tôi đứng tên phản ánh một số tình hình đáng lo ngại của báo Đại Đoàn Kết có liên quan tới trách nhiệm của người đứng đầu là Tổng biên tập Đinh Đức Lập ghi rất rõ là gởi cho các vị Lãnh đạo của UBTƯMTTQVN, thư này không gởi cho Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết;

- Nội dung được nói tới trong thư cũng không phải là chuyện để “trao đổi và làm rõ” giữa cá nhân tôi và Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết. Cho nên, không có cơ sở để Tổng biên tập triệu tập tôi nhằm tổ chức một cuộc đối chất giữa cá nhân tôi và Tổng biên tập về bức thư nói trên. Cũng như tôi không có trách nhiệm phải giải trình với Tổng biên tập về những vấn đề được nêu trong thư (có liên quan tới trách nhiệm cá nhân của Tổng biên tập). Thẩm quyền làm rõ những tồn tại ở báo Đại Đoàn Kết liên quan tới trách nhiệm cá nhân của Tổng biên tập Đinh Đức Lập thuộc về cấp chủ quản là UBTƯMTTQVN. Vì vậy, nếu có một cuộc “trao đổi và làm rõ” giữa cá nhân tôi với người chủ trì là Tổng biên tập về nội dung lá thư phản ánh những tồn tại liên quan trực tiếp tới trách nhiệm cá nhân của Tổng biên tập thì đó là một việc làm hoàn toàn không khách quan, không có ý nghĩa vì không giải quyết được vấn đề gì;

- Trong hoàn cảnh kinh tế - tài chính hết sức khó khăn của báo Đại Đoàn Kết, thực hiện một chuyến đi tốn kém tiền bạc của tập thể nhưng lại thiếu cơ sở pháp lý và cũng không góp phần giải quyết được vấn đề gì cho thực trạng đáng buồn của báo Đại Đoàn Kết hiện nay thì đó chính là một sự lãng phí.

Do vậy, với trách nhiệm của một thành viên đang làm việc tại báo Đại Đoàn Kết, tôi thấy không cần thiết phải ra tận Hà Nội để tham gia một cuộc làm việc chỉ phục vụ cho cách hành xử chủ quan của Tổng biên tập Đinh Đức Lập, không mang lại hiệu quả gì cho yêu cầu giải quyết tận gốc các vấn đề mà tôi đã trình bày minh bạch lên cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý là các vị Lãnh đạo cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

3. Ngày 10/7/2012, tôi chính thức làm đơn tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo vừa có hiệu lực từ ngày 1/7/2012, tố cáo nhiều hành vi sai phạm, tiêu cực của ông Đinh Đức Lập tại báo Đại Đoàn Kết. Đơn được gởi tới các lãnh đạo của cơ quan chủ quản báo là Ủy ban TW MTTQ Việt Nam.

4. Ngày 23/7/2012, Phó chủ tịch UBTWMTTQVN Bùi Thị Thanh thay mặt Ban Thường trực ký công văn số 2666/MTTW-BTT gởi cho tôi thông báo Ban Thường trực UBTWMTTQVN đã nhận đơn tố cáo của tôi về các sai phạm của ông Đinh Đức Lập, tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết. Công văn khẳng định: “Ban Thường trực UBTWMTTQVN sẽ chỉ đạo tiến hành làm rõ”.

Một Tổ công tác nhằm kiểm tra giải quyết đơn tố cáo của tôi đã được Ban Thường trực UBTWMTTQVN thành lập. Tuy nhiên, Tổ công tác này cũng chỉ dừng lại ở mức độ kiểm tra thông tin, thẩm định chứng cứ và sau đó tham mưu cho Ban Thường trực xử lý và kết luận.

5. Ngày 16/8/2012, Tổ Công tác kiểm tra giải quyết đơn tố cáo vào TP. Hồ Chí Minh làm việc với tôi về các nội dung của đơn tố cáo ông Đinh Đức Lập. Thành phần của Tổ Công tác gồm có: Ông Lê Bá Trình (Phó chủ tịch UBTWMTTQVN, phụ trách khối báo và tạp chí của MTTQVN); ông Nguyễn Anh Xuân (Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy UBTWMTTQVN) và bà Phạm Thị Hương (chuyên viên của Ban Dân chủ & Pháp luật UBTWMTTQVN).

Buổi làm việc đã đi tới sự nhất trí cao về 9 vấn đề sai phạm của ông Đinh Đức Lập bị tố cáo.

Sau một thời gian khá dài kiểm tra, xác minh và thu thập tư liệu, bằng chứng, Tổ Công tác đã có văn bản kết luận (nghe nói) dày khoảng 56 trang A4 khẳng định hầu hết các nội dung tố cáo của tôi đối với ông Đinh Đức Lập là đều có cơ sở.

Tổ Công tác đã trình báo cáo kết quả kiểm tra các nội dung tố cáo này cho lãnh đạo Đảng và Ban Thường trực của MTTQVN. Ngay sau đó, bản báo cáo được chỉ đạo làm lại, rút ngắn xuống còn trên dưới 10 trang hết sức chung chung.

6. Ngày 10/1/2013 tôi được Ủy ban kiểm tra Đảng ủy cơ quan Trung ương MTTQVN mời ra Hà Nội để nghe Thông báo kết luận giải quyết đơn tố cáo của tôi đối với ông Đinh Đức Lập. Tôi phải tự chịu tất cả các chi phí đi lại bằng máy bay và ăn nghỉ từ TP.HCM ra Hà Nội trong suốt thời gian được mời ra nghe thông báo này.

Tại buổi làm việc này, có mặt ông Lê Bá Trình (Phó chủ tịch UBTWMTTQVN, Tổ trưởng tổ công tác), bà Bùi Thị Thanh (Phó chủ tịch, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra), ông Nguyễn Anh Xuân (Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra), bà Phạm Thị Hương (chuyên viên Ban Dân chủ - Pháp luật MTTQVN), bà ...Hồng (Cán bộ của Ban DC-PL) và tôi.

Tôi chỉ được nghe bà Hương đọc các văn bản kết luận (được cho là của Đảng Đoàn MTTQVN) trong đó hầu hết (khoảng 80%) nội dung tố cáo của tôi được ghi nhận là có cơ sở. Những nội dung khác một phần do Tổ công tác chưa có thời gian để thu thập tư liệu chứng cứ, một phần khác vượt quá khả năng chuyên môn của Tổ công tác nên chưa thể kết luật. Tuyệt nhiên không có bất kỳ một dòng, một chữ nào trong kết luận mà tôi được đọc cho nghe khẳng định rằng tôi tố cáo sai, tố cáo không đúng.

Tôi đã phát biểu ý kiến không đồng tình về cách công bố kết luận giải quyết đơn tố cáo như thế này của lãnh đạo MTTQVN. Ngay tại cuộc họp tôi đã chính thức yêu cầu lãnh đạo MTTQVN cung cấp kết luật giải quyết tố cáo cho tôi bằng văn bản theo quy định của pháp luật.

Ngay sau đó, tôi đã làm đơn gởi lãnh đạo MTTQVN đề nghị cung cấp kết luận giải quyết tố cáo cho tôi bằng văn bản.

Thế nhưng, cho tới thời điểm này tôi vẫn chưa hề nhận được bất kỳ sự hồi đáp nào của lãnh đạo MTTQVN về yêu cầu chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật này của tôi.

Điều này có nghĩa, theo quy định của pháp luật cho tới thời điểm này việc giải quyết đơn thư tố cáo của tôi đối với ông Đinh Đức Lập là chưa kết thúc. Bởi vì, cho tới nay vẫn chưa có văn bản kết luận nào của cơ quan đủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật và người tố cáo cũng chưa nhận được bất kỳ văn bản kết luận nào của cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

(Còn tiếp)


Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Nguyễn Trãi & Nguyễn Bỉnh Khiêm


Thu Tứ

NGUYỄN TRÃI 
Ở thế nhiều phen 
Đêm nguyệt trà mai 
Đêm thanh nguyệt bạc 
Kìa nước nọ không 
Đun một nồi hương 
Bui một lòng người 
Mượn đắp lấy hơi 
Anh hùng ôm hận 
Lơ lửng bên sông


NGUYỄN BỈNH KHIÊM 
Uống rượu gốc cây 
Tréo cẳng hiên mai



Nguyễn Trãi (1380-1442) và Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) cuộc đời và tâm sự rất khác nhau. Nhưng lại giống nhau ở chỗ cùng có làm thơ tiếng Việt vào cái thời mà hiếm trí thức Việt chịu sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ. Những bài thơ tiên phong đáng trân trọng của Người Côn Sơn và Người Am Mây Trắng về nội dung có chỗ tương phản đáng chú ý. Vì số tác phẩm liên hệ không nhiều, để tiện đối chiếu ở đây xin bàn về cả hai trong một lần.

Nguyễn Trãi cáo quan về Côn Sơn năm 58 tuổi, với tâm trạng chán nản cực độ về chính sự và lòng người. Bài Ở Thế Nhiều Phen, làm khi mới ngoài 40 tuổi, cho thấy rõ điều đó. Ngoài ra, những câu thơ sau đây cũng cho thấy rõ điều đó:

"Góc thành nam lều một gian 
No nước uống thiếu cơm ăn 
(...) 
Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải 
Góc thành nam lều một gian",

"Lan huệ chẳng thơm thì chớ 
Nỡ chi lại phải chốn tanh tao",

"Khó ngặt qua ngày, xin sống!"

Sen giữa bùn vẫn cốt cách:

"Khó khăn phải đạo, cháo càng ngon",

vẫn tinh thần:

"Có xạ tự nhiên mùi ngát bay 
Lọ là đứng gió vung tay",

"Nước càng tuôn đến, biển càng cả, 
Đất một trùng thêm, núi một cao".


Nhưng hoàn cảnh khó rồi khó thêm. Người có nhân cách cao bắt đầu trăn trở nên tiếp tục ở hay nên về:

"Cốt lãnh hồn thanh chăng khứng hóa", 
"Lưng khôn uốn, lộc nên từ".


Ngẫm đi nghĩ lại, Nguyễn quyết định "từ":

"Rũ bao nhiêu bụi, bụi lầm 
Giơ tay áo đến tùng lâm".


Về đến rừng tùng Côn Sơn, Nguyễn bắt đầu vui cảnh, "vui đạo quên nghèo" , thơ những bài như Đun Một Nồi Hương, Đêm Thanh Nguyệt Bạc, Kìa Nước Nọ Không. Nhưng, ít nhất trong một hai năm, Nguyễn chưa quên hẳn được chuyện cũ, nên trong thơ gió mây trăng núi vẫn thi thoảng có chen đời, chen người, như những bài Đêm Nguyệt Trà Mai, Bui Một Lòng Người.

Lẽ ra rồi tất cả sẽ nguôi ngoai. Oan nghiệt. Người đã lui mà đời vẫn "tới". Không đầy hai năm sau khi Nguyễn Trãi xin về trí sĩ, vua Lê Thái Tông tỏ ý muốn trọng dụng vị lão thần. Nguyễn vui vẻ nhận lời. Để chỉ vỏn vẹn ba năm sau đó, bị tru di tam tộc!

So với đời Nguyễn Trãi, đời Nguyễn Bỉnh Khiêm suông sẻ lắm. Trước năm 45 tuổi, thấy nước loạn lạc, Nguyễn ở ẩn. Năm 45 tuổi đi thi, đỗ Trạng Nguyên, làm quan, bảy năm sau cáo quan, về tiếp tục ở ẩn, 43 năm nữa mới qua đời. Tính ra, Nguyễn này sống gần trăm năm thì ở ẩn sơ sơ cũng gần hết trăm năm!

Kể từ khi đỗ Trạng đến khi chết, hàng nửa thế kỷ, Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc nào cũng được trọng vọng. Nước chia Mạc, Nguyễn, Trịnh, thì cả Mạc, Nguyễn, lẫn Trịnh tương truyền đều từng xin ý kiến chủ am Mây Trắng về chuyện trọng đại nhất của mình.

Người chuyên sống xa "chốn lao xao", "chốn xôn xao", thơ tự nhiên cũng trăm phần trăm vô tư:

"Khát uống trà mai hương ngọt ngọt 
Giấc nằm hiên nguyệt gió hiu hiu".


Trở lại với Nguyễn "Số Đen". Đời càng bất như ý, càng dễ nẩy cảm xúc mạnh. Cảm xúc càng mạnh, nghệ phẩm càng dễ hay. Có lẽ một phần vì thế mà thơ Nguyễn Trãi trội hơn thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Về hình thức, thơ Nguyễn Trãi lắm bài câu sáu chữ chen giữa câu bảy chữ, có khi nhiều hơn câu bảy chữ.

Những câu sáu nhiều lúc khiến thơ có một phong cách rắn rỏi khác thường rất hợp với tính tình, tâm trạng người làm thơ!

Ở đây, hình thức thơ hợp với nội dung đến nỗi ta tự hỏi liệu cái nội dung ấy có thể diễn bằng bất cứ thể thơ hoàn chỉnh nào cho hiệu quả hơn được chăng. Thậm chí, ta tự hỏi liệu cái nội dung ấy không biết có nhà thơ nào viết thành thơ hay hơn được chăng!

Cuối cùng, xin lưu ý thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm không có nhan đề. Tất cả nhan đề trong bài viết này đều do người chọn tạm đặt.

Ở thế nhiều phen

Người tuổi "ngoại tư mươi" dù sống một cuộc đời bình thường thì cũng đã từng trải, già dặn lắm rồi. Huống gì Nguyễn Trãi là người hẳn đã sống một cuộc đời đầy trôi nổi, va chạm. Khi làm bài thơ này, ông chắc chắn đã hết sức quen thuộc với nhân tình thế thái. Quen và chán đến tận cổ, cho nên:

"Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn".

Tiếc cao, muốn tiếp tục lượn, nhưng vì đại nghĩa phượng đành sà xuống thấp, đáp lẫn với gà.

Nguyễn Trãi ngoài bốn mươi thì khởi nghĩa Lam Sơn đang ở vào khoảng giữa. Ngay trong kháng chiến, "hoa" đã "hay héo". Kháng chiến thành công, hoa càng thường xuyên ủ rủ, để đến khoảng mười năm sau đó thì rời Thăng Long về ẩn tại Côn Sơn...

Ở thế nhiều phen thấy khóc cười 
Năm nay tuổi đã ngoại tư mươi 
Lòng người một sự yêm chưng một 
Đèn khách mười thu lạnh hết mười 
Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn 
Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi 
Ai ai đều có hai con mắt 
Xanh bạc dầu chưng mặt chúng ngươi.(1)


Đêm nguyệt trà mai

"Trà mai" là thứ trà gì mà trước Nguyễn Trãi uống rồi sau Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng uống: "Khát uống trà mai hương ngọt ngọt"? Chắc không làm mất ngủ vì có thể uống ban đêm, có phải thực trà không? Có phải thức uống ưa thích của ẩn sĩ không?

Bài thơ này hẳn làm ở Côn Sơn, khi người làm đã thôi "đeo khổ nhục"...

Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng 
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu 
Dưới công danh đeo khổ nhục 
Trong dầy dãi có phong lưu


Đêm thanh nguyệt bạc

Bài thơ này tiếng Việt có mấy chỗ lạ. Có chỗ đoán được, như "khóm" là xóm, "đó" là đỏ; có chỗ thì chịu, như "tằm ôm lúc nhúc". Ngoài ra, thơ dùng "trì" Tàu thay vì "ao" Việt...

Thời gian và lịch sử cản trở ta thưởng thức trọn vẹn thơ xưa của ta. Nhưng tuy không được trọn, niềm vui khi đọc thơ vẫn đáng kể. Ta có thể "thấy" được những hình ảnh, "nghe" được những âm thanh, "ngửi" được những mùi hương của buổi chiều nơi cái xóm chài hẻo lánh nào đó chứ. Nhất là hai câu

"Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu"
"Dặng dõi cầm ve lầu tịch dương"

rất gợi, sờ sờ bóng dáng, tâm sự người viết nên câu...

Tằm ôm lúc nhúc thuyền đầu bãi 
Hào chất so le khóm cuối làng 
Nuớc biếc non xanh thuyền gối bãi 
Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu 
Thạch lựu hiên còn phun thức đó 
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương 
Lao xao chợ cá làng ngư phủ 
Dặng dõi cầm ve lầu tịch dương.(2)


Kìa nước nọ không

Sáng sớm sương kín mặt hồ, xuống thuyền chèo mấy nhát ngoảnh lại không thấy bờ đâu, gác chèo, không biết mình đang trên hồ hay trong mây!

Trời nghi ngút nước mênh mông 
Hai ấy cùng xem một thức cùng 
Lẻ có chim bay cùng cá nhảy 
Mới hay kìa nước nọ hư không.


Đun một nồi hương

"Ở thế nhiều phen thấy khóc cười". Nguyễn Trãi chán thấy, xin được thôi ở.

"Rũ bao nhiêu bụi, bụi lầm 
Giơ tay áo đến tùng lâm".


Ra khỏi triều đình, giũ bụi khỏi áo, rồi giơ tay áo lên mà đứng trên mây bay về rừng thông như một ông tiên!

Tiên về núi thì

"Dầu phải dầu chăng mặc thế 
Đắp tai biếng mảng sự vân vân".


Nghe chi "sự vân vân" nữa, phải quá.

Trong "con am" thanh vắng, kẻ ở ẩn khi ra xem hoa nở trước sân, khi vào thăm nồi hương đang sôi riu riu cạnh giường. Ngắm đẹp ngửi thơm, tất có làm thơ. Hễ nên thơ đắc ý:

"Ngâm được câu thần, dửng dửng ca".

Chỉ kết bạn với vượn với chim, chỉ gẩy đàn, đọc sách, xem hoa, ngửi hương, thi thoảng dửng dửng ca, thế mà ngày tháng trên non rồi cũng không được "trường".

Giậu thưa thưa, hai khóm cúc 
Giường thấp thấp, một nồi hương 
Vượn chim kết bạn non nước quạnh 
Cầm sách cùng nhau ngày tháng trường.


Bui một lòng người

Chiều hôm đủng đỉnh dạo núi, "trông thế giới phút chim bay", trông non non nước nước mây mây cây cây trăng trăng gió gió...

Dễ tưởng người đi dạo sắp hóa mây hóa gió trôi bay xa khỏi chốn "bụi lầm". Nhưng không, người trông mây "thuộc" núi, trông gió "hay" cây, rồi người nghĩ đến một cái hết sức khó thuộc khó hay:

"Bui một lòng người cực hiểm thay!".

Đời trót đã bước vào, không phải cứ hễ bước ra là quên ngay được.

Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay 
Trông thế giới phút chim bay 
Non cao non thấp mây thuộc 
Cây cứng cây mềm gió hay 
Nước mấy trăm thu còn vậy 
Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn này 
Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết 
Bui một lòng người cực hiểm thay!(3)


Mượn đắp lấy hơi

Thời Nguyễn Trãi mà văn chương trí thức đã lãng mạn vậy sao. Sao không, trước Nguyễn Trãi nhiều trăm năm, Lý Bạch bên Tàu đã có thơ thẩn rằng từ ngày em đi chăn gấp để giữa giường không dùng, ba năm rồi mà hương còn phảng phất (bài Ký Viễn)...

Nhưng quả thực Nguyễn Trãi không hay nhắc đến "khách lầu hồng" trong thơ mình đâu. Hình như chỉ có một lần này thôi. Hẳn làm khi chưa cùng Thị Lộ về ở Côn Sơn...

Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng 
Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng 
Ngoai ấy dầu còn áo lẻ 
Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng.(4)


Anh hùng ôm hận

"Sông lặng lặng", "lá xao xao", trên trời treo một mảnh băng, dưới đất dựng một cái bóng...
Tứ Nguyễn Trãi, lời Xuân Diệu, tưởng Nguyễn Trãi có sống dậy mà đọc, chắc cũng phải ưng!(5)

Kim cổ không cùng, sông lặng lặng 
Anh hùng ôm hận, lá xao xao 
Quay về một bóng lan can tựa 
Trăng sáng như băng trời biếc treo.


Lơ lửng bên sông

Về bài thơ nổi tiếng sau đây, Hoài Thanh viết: "... đã có lúc chúng ta ngờ không biết có phải thơ Nguyễn Trãi không vì lời thơ hình như quá mới. Nhưng sau khi đọc tập thơ nôm Nguyễn Trãi, tôi lại nghĩ bài thơ này ý thơ cũng rất có thể bắt nguồn từ thơ Nguyễn Trãi."(6) Tức sau cũng như trước, Hoài Thanh vẫn thấy "lời (...) hình như quá mới", do đó thơ khó lòng là của...

Theo một số nhà nghiên cứu, thể lục bát chỉ mới xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 15, sau khi Nguyễn Trãi qua đời. Có thể khi Nguyễn Trãi còn sống, lục bát đã phôi thai. Nhưng Lơ Lửng Bên Sông lại sáu-tám rất "nhuyễn", không giống thứ lời phôi thai. Cho nên hẳn không phải là thơ Nguyễn Trãi.

Không biết ai đã "vay" tứ cũ để làm thơ "mới" thế này.

Chiếc thuyền lơ lửng bên sông 
Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay 
Chắc chi thiên hạ đời nay 
Mà đem non nước làm rầy chiêm bao 
Đã buồn về trận mưa rào 
Lại đau về nỗi ào ào gió đông 
Mây trôi nước chảy xuôi dòng 
Chiếc thuyền hờ hững trên sông một mình.


Uống rượu gốc cây

Bạch Vân quốc ngữ thi văn bản tam sao thất bổn, có thể nhiều sai sót...

Bài sau đây có lẽ được nhiều người biết nhất. Tắm mát rồi ngồi gốc cây... khà, ở ẩn như Trạng Trình tưởng những kẻ lăn lộn theo phú quý không khỏi có lúc ước ao.

Một mai một cuốc một cần câu 
Thơ thẩn dù ai vui thú nào 
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ 
Người khôn người đến chốn lao xao 
Thu ăn măng trúc đông ăn giá 
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao 
Rượu đến cội cây ta sẽ uống 
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.


Tréo cẳng hiên mai

Cái ông già ưa ăn măng, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao, ưa ngồi uống rượu dưới gốc cây, cái ông đó chắc đã đạt đạo nên mới hóa hồn nhiên như trẻ thơ, mới dựa "cửa trúc vỗ tay cười khúc khích", mới nằm "hiên mai tréo cẳng hát nghêu ngao".

Ủa, ai nói Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm tréo cẳng trước hiên? Chưa ai nói, mình nói thử chơi. Ngồi mà tréo cẳng thì ra dáng ngang tàng, còn nằm mà tréo cẳng thì ra dáng thoải mái. Trạng Trình ưa thoải mái, chứ đâu có ngang, vậy chắc ông đã nằm...

Tưởng tượng người "nép mình qua trước chốn xôn xao", người ấy về đến am Mây Trắng bèn nằm khểnh trước hiên hát chơi, hát một lúc thì "mấy sự bên tai gió thoảng ào", người luôn tiện chợp mắt! Sống như vậy, trách nào sống đến sơ sơ 95 tuổi!

Nép mình qua trước chốn xôn xao 
Mấy sự bên tai gió thoảng ào 
Cửa trúc vỗ tay cười khúc khích 
Hiên mai tréo cẳng hát nghêu ngao 
Lo le đã vậy thời dầu vậy 
Vặt vãnh màng bao sá quản bao 
Chẳng hết trung cần hai chữ ấy 
Nhờ ơn đất rộng cậy trời cao.


___________

(1) Yêm (yếm): chán; xanh bạc: người xứng đáng thì mình nhìn bằng mắt xanh, người không xứng đáng thì mình nhìn bằng mắt trắng.
(2) Khóm: xóm; đó: đỏ?; trì: ao; tiễn: đưa (theo Xuân Diệu, trong Ba thi hào dân tộc, nxb. Thanh Niên, VN, 2000).
(3) Bui: duy.
(4) Loàn đan: lăng loàn, mạo muội; cả lòng: rộng lòng (theo Hoài Thanh, trong Tuyển tập Hoài Thanh, tập II, nxb. Văn Học, VN, 1982, tr. 41).
(5) Bài này từ Ức Trai thi tập (Hán văn), Xuân Diệu dịch, in trong sách đã dẫn.
(6) Hoài Thanh, sách đã dẫn.


ĐINH ĐỨC LẬP TIẾP TỤC SA THẢI NGƯỜI TỐ CÁO


Vụ Đinh Đức Lập: 

Ngang nhiên thách thức pháp luật, tiếp tục sa thải người tố cáo 

Ngày 1/7/2013, trên FB của mình, luật sư Trần Đình Triển có bài Vì sao báo chí vẫn chưa vào cuộc bảo vệ đồng đội”, sau đó được Teu đăng lại (http://xuandienhannom.blogspot.com/2013/06/luat-su-tran-inh-trien-bat-au-oc-ho-so.html). Nội dung bài viết nêu rõ các dấu hiệu sai phạm của ông Đinh Đức lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết theo nội dung đơn tố cáo của bà Đặng Thị Kim Ngân - Phó Trưởng Ban Khoa giáo báo Đại Đoàn Kết. 


Thể theo đơn đề nghị bảo vệ, Văn phòng luật sư Vì Dân đã làm các thủ tục các thủ tục cần thiết để luật sư Trần Đình Triển có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đặng Thị Kim Ngân – Phó Trưởng Ban Khoa giáo báo Đại Đoàn Kết đang bị Ban biên tập báo Đại Đoàn kết tìm mọi cách để trả thù, kỷ luật. 


Thế nhưng, ngày 8/7/2013 và ngày 11/7/2013, luật sư Trần Đình Triển đến trụ sở báo Đại Đoàn Kết để làm việc cùng Hội đồng kỷ luật báo Đại Đoàn Kết thì đều bị bảo vệ ngăn lại. Họ nói: Lãnh đạo không cho luật sư Trần Đình Triển vào, vì đây là chuyện nội bộ cơ quan. Nếu muốn gặp, luật sư phải đợi đến cuối giờ, sau khi Hội đồng làm việc xong thì sẽ tiếp.


Chiều 11/7/2013, trong phòng họp cơ quan, Phó Trưởng Ban Khoa giáo Đặng Thị Kim Ngân đã tuyên bố trước toàn thể Hội đồng kỷ luật: “Tôi là người đã tố cáo ông Đinh Đức Lập từ tháng 5/2012 nhưng cho đến nay chưa được giải quyết tố cáo theo quy định. Vì kiến thức pháp luật còn hạn chế nên tôi đã phải nhờ đến Văn phòng luật sư Vì dân, luật sư Trần Đình Triển để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tôi. Luật sư Triển đã có công văn đề nghị Ban biên tập, Hội đồng kỷ luật cung cấp bằng chứng liên quan về các sai phạm của tôi nhưng không được đáp ứng. Ngày 8/7/2013 và ngày hôm nay 11/7/2013, dù không có giấy mời, nhưng qua tôi thông báo, luật sư Triển đã tới để tham dự cuộc họp nhưng Ban biên tập và Hội đồng kỷ luật vẫn không cho vào. Vì vậy, tôi xin để lại Đơn Khiếu nại này và không tham dự cuộc họp nữa, vì nó vi phạm pháp luật…”.


Bí thư chi bộ, Phó Tổng biên tập Nguyễn Quốc Khánh – Chủ tịch Hội đồng kỷ luật nói: “Chị Ngân đã đến dự họp thì nên tham dự. Tôi nghĩ đây là một cuộc sinh hoạt chính trị rất ý nghĩa”.


Bà Ngân khước từ và ra khỏi phòng.


Ngay hôm sau, 12/7/2013,  ông Lập đã ký Quyết định kỷ luật Phó trưởng Ban Khoa giáo Đặng Thị Kim Ngân với hình thức; Buộc thôi việc.


Bà Ngân vừa nhận được Quyết định này và gửi cho chúng tôi.


Như vậy, cả ba nhà báo, ba lãnh đạo Ban của báo Đại Đoàn Kết chỉ vì tố cáo tiêu cực của ông Lập nên đã bị ông Lập trả thù, ra Quyết định: Buộc thôi việc.


Trong khi ông Lập và Hội đồng kỷ luật chưa kịp thở phào thì nhận luôn được Thông báo số 41/TB-MTTW-ĐĐ đề ngày 8/7/2013 của Đảng Đoàn Mặt trận tổ quốc Việt Nam (Thông báo do bà Bùi Thị Thanh ký). Nội dung ghi rõ: Đảng Đoàn giao cho hai Ủy viên Đảng đoàn (là hai Phó Chủ tịch) là: Ông Lê Bá Trình – Phụ trách khối báo và tạp chí MTTQ và bà Bùi Thị Thanh – Chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm tra Đảng ủy – Phụ trách tổ chức MTTQ làm việc với Ban Biên tập báo Đại Đoàn Kết về hành vi tự ý kỷ luật một số lãnh đạo Ban của báo mà không báo cáo Đảng Đoàn và Ban Thường trực MTTQ.
P. V