Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

Tại báo Đại Đoàn Kết: Cần phải khôi phục lại công việc và chế độ cho các nhà báo chống tiêu cực

Việc chúng tôi tố cáo ông Đinh Đức Lập là thực hiện quyền công dân theo đúng quy định của luật pháp. Tuy nhiên, bên cạnh đó tôi còn nghĩ tới trách nhiệm của người làm báo trong bối cảnh từ trung ương, tới địa phương các cấp Đảng, Nhà nước và MTTQ đang ra sức động viên, kêu gọi mọi người tham gia, chung tay đấu tranh phòng và chống tham nhũng.

Chúng ta đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng trong xã hội nói chung nhưng thông thường ít người trực diện đấu tranh với cái xấu tại chính nơi mình đang làm việc. Đặc biệt là đấu tranh với chính những người đang là cấp trên trực tiếp, có quyền sinh quyền sát với bản thân mình. Chính vì hiểu rõ sự khó khăn của những người đấu tranh trong thế yếu mà các nhà làm luật về tố cáo, về phòng chống tham nhũng đã rất cẩn thận đề ra nhiều quy định cụ thể, rõ ràng nhằm bảo vệ người đấu tranh, tố cáo.

Về mặt pháp luật thì việc tố cáo các sai trái, tiêu cực trong hành xử công vụ của cán bộ công chức đang giữ chức vụ quản lý là hợp pháp, là quyền của mọi công dân được luật pháp bảo vệ. Tố cáo các hành vi sai phạm của người đứng đầu một cơ quan không hề bị pháp luật cấm đoán và bị quy kết thành “tội” tiết lộ bí mật công tác hay “tuyên truyền chuyện nội bộ” của cơ quan làm mất uy tín của cơ quan tổ chức đó. Pháp luật cũng quy định rất rõ ràng thẩm quyền và trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết và xử lý các nội dung tố cáo, cũng như quy trình giải quyết tố cáo.

Theo các quy định của Luật Tố cáo thì cho tới thời điểm này (dù đã gần 2 năm trôi qua) thì việc xử lý, giải quyết các nội dung tố cáo của chúng tôi đối với ông Đinh Đức Lập là chưa kết thúc, chưa có kết luận của cơ quan đủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật là Ban Thường trực UBTWMTTQVN.

Do vậy, việc ông Đinh Đức Lập cố tình đem tôi và các đồng nghiệp khác ra xem xét xử lý kỷ luật và ra quyết định với hình thức buộc thôi việc những người tố cáo rõ ràng là hành vi trù  dập, trả thù người tố cáo tại nơi công tác, làm việc dưới nhiều hình thức bị pháp luật nghiêm cấm.

Việc xử lý, giải quyết các nội dung tố cáo ông Đinh Đức Lập của cơ quan chủ quản (cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật) vừa chậm chạp, chùng chình vừa không rõ ràng minh bạch đã vô tình (hay cố ý) tiếp tay cho các ngón đòn trả thù ngày càng thô bạo hơn dành cho những người tố cáo của ông Đinh Đức Lập (người bị tố cáo).


Tại báo Đại Đoàn Kết: Cần phải khôi phục lại công việc và chế độ cho các nhà báo chống tiêu cực

Quy định của Đảng và pháp luật của nhà nước đã quy định rõ quyền khiếu nại, tố cáo và cách giải quyết của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Hình thức kỉ luật cho người vi phạm “những hành vi bị nghiêm cấm” rất nghiêm khắc. Thế nhưng, bất chấp  Kết luận số 43 KL/MTTW – ĐĐ ngày 8/1/2013 của Đảng đoànMTTQ Việt Nam, ông Đinh Đức Lập, Tổng biên tập và hội đồng kỉ luật báo Đại Đoàn Kết vẫn tiến hành kỉ luật những người tố cáo. Điều đáng nói ở đây là đa số những nội dung tố cáo đều có cơ sở, (người giải quyết đã giảm đi rất nhiều mức độ và tính chất sai phạm).

Việc trả thù ba nhà báo Nguyễn Mạnh Thắng, Đặng Thị Kim Ngân và Bùi Hữu Phước (Hữu Nguyên) của ông Lập đã được báo Tuổi trẻ (ra ngày 4/8/2013)Tạp chí NgườiLàm Báo (số tháng 8) phản ánh. Ở đây, chúng tôi bổ sung thêm căn cứ để khẳng định việc trả thù người tố cáo của ông Lập và Ban biên tập báo Đại Đoàn Kết là có cơ sở.

Thứ nhất, Kết luận số 43 KL/MTTW – ĐĐ nêu rõ nội dung tố cáo: Điều chuyển ông Nguyễn Mạnh Thắng từ Phó Trưởng Ban Văn hóa – Nghệ thuật sang làm Phó Trưởng ban Kỹ thuật Quản trị mạng là có cơ sở. Thế nhưng, thay vì sửa sai, khôi phục vị trí công tác, trả lương và các chế độ cho ông Thắng nhưng ông Lập lại cố tình thành lập Hội đồng kỉ luật và “trắng trợn” ghi “căn cứ vào Kết luận số 43 KL/MTTW – ĐĐ của Đảng đoàn” để quy kết ông Thắng “không chịu sự phân công công tác của Ban Biên tập” để ra quyết định Buộc thôi việc với ông Thắng.

Thứ hai, đến nay, nội dung đơn tố cáo ông Lập và Ban Hỗ trợ dự án báo Đại Đoàn Kết thụt két chiếm dụng vốn trong dự án xây dựng nhà ở cho cán bộ công nhân viên của nhà báo Đặng Thị Kim Ngân (từ tháng 1/2013) vẫn chưa được giải quyết. Ngày 22/10/2013, Ủy Ban Kiểm tra Đảng ủy MTTQ Việt Nam vẫn còn mời bà Ngân lên làm việc xung quanh sai phạm này của ông Lập và Ban Hỗ trợ dự án. Thế nhưng, từ tháng 7/2013, bà Ngân đã bị ông Lập ra quyết định kỉ luật vì “tố cáo nhiều lần, nhiều nơi, không đúng và không có cơ sở”.

Thứ ba, việc kỉ luật nhà báo Hữu Nguyên – Phó Trưởng Ban Đại diện báo Đại Đoàn Kết tại TP. Hồ Chí Minh trong khi đa phần những nội dung do ông Hữu Nguyên tố cáo (tại Kết luận số 43 KL/MTTW – ĐĐ) đều khẳng định là có cơ sở. Tại sao thay vì khen thưởng người tố cáo như quy định, ông Lập lại cố tình trả thù kỉ luật người tố cáo với hình thức Buộc thôi việc?. Hơn nữa, Biên bản họp Ban Đại diện báo Đại Đoàn Kết tại TP. Hồ Chí Minh đều phủ nhận những cáo buộc của Thông báo kỉ luật ông Hữu Nguyên. Trong Hội đồng kỉ luật ông Hữu Nguyên không có thành phần của BCH Công đoàn MTTQ ở phía Nam (nơi ông Hữu Nguyên sinh hoạt) như quy định.

Còn nhiều căn cứ khác để khẳng định việc ông Lập ra quyết định Buộc thôi việc những người tố cáo là có cơ sở. Điều này sẽ được làm rõ tại Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Đến nay, đã quá 4 tháng kể từ thông báo Thụ lí, nhưng Tòa án nhân dân quận Hoàn kiếm vẫn chưa đưa vụ án tranh chấp Hợp đồng lao động của ông Thắng khởi kiện báo Đại Đoàn Kết ra xét xử. Ông Thắng đã làm Đơn khiếu nại việc này. Ngày 14/10/2013, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội đã có công văn số 213/2013/CV-TA chuyển đơn và đề nghị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm giải quyết vụ án.

Thiết nghĩ, để bảo vệ uy tín của mình, thực hiện thẩm quyền của người giải quyết và bảo vệ người tố cáo theo luật định, lãnh đạo MTTQ Việt Nam nên chỉ đạo Ban Biên tập báo Đại Đoàn Kết hủy bỏ quyết định buộc thôi việc những người tố cáo. Đồng thời khôi phục vị trí công tác, lương cùng cách chế độ khác.

Duy Nghĩa



Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Ông Đinh Đức Lập tiếp tục bị tố cáo nhiều sai phạm nghiêm trọng trong vụ bán tòa nhà của báo Đại Đoàn Kết ở Đà Nẵng

Trong quá trình phát triển, báo Đại Đoàn Kết từ lâu đã có nhiều văn phòng thường trú tại các địa phương. Một trong những văn phòng thường trú khá lâu đời của báo là Văn phòng thường trú Trung Trung bộ có trụ sở tại Đà Nẵng.

Một trong những sự hỗ trợ cụ thể, thiết thực của chính quyền Đà Nẵng là chuyển giao quyền sử dụng đất và hóa giá căn nhà số 82 Trần Quốc Toản cho báo Đại Đoàn Kết với mục đích làm Văn phòng thường trú khu vực Trung Trung bộ của báo. Ngày 19/7/2004 UBND TP. Đà Nẵng đã ra Quyết định số 5755/QĐ-UB chuyển quyền sử dụng đất tại số nhà 82 Trần Quốc Toản có diện tích đất 100,70m2, diện tích xây dựng và diện tích sử dụng 95,30m2 cho báo Đại Đoàn Kết – làm Văn phòng đại diện khu vực trung trung bộ với giá tiền 674.483.400 đồng.
 
Thế nhưng, theo Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng, không hiểu sao số tiền 674.483.400 đồng nộp cho Sở Tài chính vật giá TP. Đà Nẵng lại không đứng tên báo Đại Đoàn Kết nộp mà người nộp tiền lại là ông Phan Văn Anh Vũ – Giám đốc Công ty CP xây dựng 79 (biên lai số 007724 ngày 27/7/2004).

Các sai phạm dây chuyền từ ông Trưởng văn phòng thường trú của báo Đại Đoàn kết ở Đà Nẵng lúc đó (ông Trương Duy Nhất), cho tới các động thái hợp thức hóa liều mạng của các tổng biên tập sau này trong đó có Đinh Đức Lập khiến người ta có thể hiều rằng một số cá nhân lãnh đạo của báo Đại Đoàn Kết đang cố tình lợi dụng danh nghĩa cơ quan báo chí của Mặt trận để chơi ván bài “kinh doanh bất động sản” siêu lợi nhuận cho bản thân mình bằng cách biến tài sản nhà nước thành của tư nhân với giá rẻ như bèo. 

Tuy vậy, cho đến ngày 20/2/2011 Ban biên tập báo Đại Đoàn Kết vẫn khẳng định quyền sử dụng đất và sở hữu căn nhà 82 Trần Quốc Toản, Đà Nẵng là của báo tại công văn số 12/CV/ĐĐK.BBT do Phó tổng biên tập Nguyễn Minh Ngọc thay mặt Ban Biên tập ký gởi cho Công ty xây dựng 79, là một công ty tư nhân có thỏa thuận hợp tác khai thác, sử dụng tòa nhà này với Văn phòng thường trú Trung Trung bộ.

Thế nhưng, ngày 24/4/2011, ông Đinh Đức Lập – tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết đột nhiên đã ký một văn bản chuyển giao toàn bộ nhà và đất nói trên cho một công ty tư nhân để nhận “bồi thường” cho báo Đại Đoàn Kết 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Kể từ đó, báo Đại Đoàn Kết mất quyền sử dụng công sản số 82 Trần Quốc Toản, Đà Nẵng để làm văn phòng thường trú mà phải đi thuê một trụ sở khác.

Biên bản ngày 20/4/2011 cho thấy, ông Đinh Đức Lập thừa nhận cơ sở thỏa thuận cũng như nội dung hợp tác giữa báo Đại Đoàn Kết với Công ty 79  “theo các quy định của pháp luật thì nhiều nội dung thỏa thuận, một số văn bản giấy tờ chưa hợp lý, tuy nhiên do tính chất lịch sử và yêu cầu khách quan nên phải chấp nhận”. Đồng thời ông Lập cũng “cam kết không còn khiếu kiện gì liên quan đến quyền sử dụng sở hữu nhà đất tại 82 Trần Quốc Toản, thành phố Đà Nẵng”. Nếu trong đất nước này ai ai cũng viện dẫn “tính chất lịch sử và yêu cầu khách quan” như ông Lập để làm trái pháp luật (trong trường hợp này là để bán rẻ công sản Nhà nước cho tư nhân) thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Đáng nói là khi ông Đinh Đức Lập phát hiện những sai phạm trong việc thanh lý tài sản Nhà nước, đã không “Bảo vệ, giữ gìn tài sản nhà nước” theo Điều 6 Nghị định số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính phủ; không báo cáo cấp có thẩm quyền như luật định (Điểm b khoản 1 Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước quy định về Quyền, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước) mà tự ý ký kết Biên bản thỏa thuận với Cty CP xây dựng 79.

Khi ký Biên bản (Xung quanh quyền sử dụng, sở hữu ngôi nhà 82 Trần Quốc Toản TP Đà Nẵng) ngày 20/4/2011, Ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết đã vi phạm Điều 3 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) và Khoản 2 điều 33 Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước.  Số tiền 1 tỷ thu được từ Cty CP Xây dựng 79 lẽ ra phải được hạch toán riêng, sau khi trừ đi chi phí hợp lý liên quan, nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước, báo Đại Đoàn Kết mới được sử dụng để phát triển hoạt động sự nghiệp. Thế nhưng, số tiền 1 tỷ đồng này sau khi chuyển vào tài khoản chung của cơ quan báo Đại Đoàn kết nay không biết đã được sử dụng như thế nào?

Có lẽ cũng cần nói thêm là, công tác quản lý nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước trong một thời gian khá dài sau đổi mới là một trong những lĩnh vực phát sinh rất nhiều tiêu cực và là một điểm nóng của công tác phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Vì lĩnh vực này có liên quan tới nhiều nguồn tài sản có giá trị rất lớn trong khi cơ chế pháp lý để kiểm soát còn nhiều khe hở để các phần tử xấu dễ dàng lách luật hoặc công khai làm trái rồi chạy tội bằng vật chính vật chất thu được từ các hành vi bất chính này. Rất nhiều vụ án, nhiều vụ tiêu cực có liên quan tới yếu tố cơ quan Nhà nước, cơ quan đoàn thể chính trị - xã hội tranh thủ sự bất cập, lỏng lẽo của cơ chế pháp lý, đã lạm dụng công sản, sử dụng lãng phí, tùy tiện, chuyển nhượng, hoặc bán nhà đất sở hữu Nhà nước cho tư nhân núp bóng dưới rất nhiều hình thức nhằm qua mặt cơ quan quản lý Nhà nước.

Sau đây là đơn của nhà báo Nguyễn Mạnh Thắng tiếp tục tố cáo và phân tích các sai phạm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng của ông Đinh Đức Lập liên quan tới việc bán tòa nhà của báo Đại Đoàn Kết ở Đà Nẵng:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN TỐ CÁO
(Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết Đinh Đức Lập thiếu trách nhiệm
trong việc quản lý sử dụng tài sản của nhà nước)
                                                                                                     
                Kính gửi:  - Ban Thường trực Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam

Tôi là: Nguyễn Mạnh Thắng – Nhà báo - Nguyên  Phó Trưởng Ban Văn hóa – Nghệ thuật báo Đại Đoàn Kết
Nơi cư trú: xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội.
ĐT: 098xxxx567

Kính thưa quý vị lãnh đạo!

Tôi xin được tố cáo ông Đinh Đức Lập - Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết với sai phạm: Thiếu trách nhiệm trong việc quản lý sử dụng tài sản của nhà nước theo Điều 6 Nghị định số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính phủ; Điều 3 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính); Điều 5, Điều 6 và Khoản 2 điều 33 Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước, dựa trên các căn cứ dưới đây:

Căn cứ vào Thông báo số 203/PC46 ngày 23/9/2013 của Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng về kết quả điều tra, xác minh đơn tố giác ngày 10/4/2013 của tôi, đối với Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết Đinh Đức Lập trong việc “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” tại trụ sở Văn phòng báo Đại Đoàn Kết trung trung bộ số 82 Trần Quốc Toản, TP. Đà Nẵng.

      Căn cứ Công văn số 12/CV.ĐĐK.BBT của Ban Biên tập báo Đại Đoàn Kết gửi Ban giám đốc Công ty CP xây dựng 79 ngày 20/2/2011.

     Căn cứ Biên bản (Xung quanh quyền sử dụng, sở hữu ngôi nhà 82 Trần Quốc Toản TP Đà Nẵng) ngày 20/4/2011 giữa đại diện báo Đại Đoàn Kết (Tổng biên tập Đinh Đức Lập) đại diện Công ty CP Xây dựng 79 (giám đốc Phan Văn Anh Vũ).

      Căn cứ Nghị định số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998.

      Căn cứ Quy chế Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành kèm theo Quyết định số 20 /1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

     Căn cứ Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

    Căn cứ Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước

Cụ thể:

Những sai phạm của báo Đại Đoàn Kết khi thanh lý tài sản nhà đất trụ sở làm việc cho Công ty CP Xây dựng 79.

Tại trang 2 và trang 3 Thông báo số 203/PC46 ngày 23/9/2013 của Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng đã xác minh quá trình mua bán nhà 82 Trần Quốc Toản – TP. Đà Nẵng như sau: Ngày 19/7/2004, UBND TP. Đà Nẵng có Quyết định số 5775/QĐ-UB cho phép bán và chuyển quyền sử dụng đất thuộc sở hữu Nhà nước tại 82 Trần Quốc Toản, P. Hải Châu I, Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng có diện tích đất 100,70m2, diện tích xây dựng và diện tích sử dụng 95,30m2 cho báo Đại Đoàn Kết – Văn phòng đại diện khu vực trung trung bộ với giá tiền 674.483.400 đồng.  Thế nhưng, không hiểu sao số tiền 674.483.400 đồng nộp cho Sở Tài chính vật giá TP. Đà Nẵng lại không phải do báo Đại Đoàn Kết nộp mà người nộp tiền lại là ông Phan Văn Anh Vũ – Giám đốc Công ty CP xây dựng 79 (biên lai số 007724 ngày 27/7/2004).

Điểm C Khoản 1 Điều 4 Quy chế Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành kèm theo Quyết định số 20 /1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) quy định: Nguồn kinh phí để chi trả tiền mua hoặc thuê nhà được bố trí trong dự toán Ngân sách hàng năm của cơ quan HCSN  được cấp thẩm quyền phê duyệt”.

Điều 6 Quy chế Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành kèm theo Quyết định số 20 /1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ) quy định: “Trụ sở làm việc của các cơ quan HCSN phải được sử dụng đúng mục đích, công năng và tiêu chuẩn, định mức do Thủ tướng Chính phủ quy định. Các cơ quan HCSN được Nhà nước giao quản lý, sử dụng trụ sở làm việc nếu không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điểm a và d Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 14/1998/ NĐ-CP ngày 06/3/1998 của Chính phủ, tuyệt đối không được: - Sang nhượng hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để sản xuất kinh doanh, dịch vụ; - Cho thuê, dùng vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phân cho cán bộ công nhân viên làm nhà ở hoặc sử dụng vào mục đích khác”.

Như vậy, ông Vũ nộp tiền với tư cách pháp nhân nào?.

Nộp tiền thay Đại Đoàn Kết từ 27/7/2004 nhưng phải đến 20/8/2004 (gần một tháng sau), ông  Phan Văn Anh Vũ mới ký với ông Trương Duy Nhất Hợp đồng nguyên tắc số 64/TTB và sau đó là Phụ lục Hợp đồng ngày 27/9/2004 với nội dung: “Cty xây dựng 79 bỏ số tiền 674.483.400 đồng nộp vào ngân sách theo quy định, bỏ tiền đầu tư xây dựng ngôi nhà để được sở hữu sử dụng ngôi nhà 82 Trần Quốc Toản – Đà nẵng và cho phép Báo Đại Đoàn Kết – Văn phòng trung trung bộ được sử dụng toàn bộ phần diện tích tầng 2 để làm trụ sở trong thời gian 30 năm”. Như vậy, rõ ràng việc để ông Vũ nộp tiền mua nhà công sản 82 Trần Quốc Toản, TP Đà Nẵng là có dụng ý từ trước nhằm gây “thất thoát tài sản nhà nước” vào tay công ty tư nhân của báo Đại Đoàn Kết.

Ông Trương Duy Nhất đã sai phạm khi cố ý làm trái quy định của pháp luật về xử lý tài sản không thuộc thẩm quyền của mình (ông Nhất chỉ là Trưởng đại diện một văn phòng chứ không đại diện cho báo Đại Đoàn Kết). Ông Nhất lại sai thêm khi tự ý Hợp đồng nguyên tắc số 64/TTB và sau đó là Phụ lục Hợp đồng ngày 27/9/2004 trước rồi mới làm Báo cáo gửi lãnh đạo Ban Biên tập báo Đại Đoàn Kết ngày 4/10/2004

Ông Lê Quang Trang (Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết thời điểm năm 2004)  đã ký Quyết định số 112/ĐĐK ngày 12/11/2004  về việc thực hiện Hợp đồng nguyên tắc số 64/TTB, có nội dung:

“Điều I: Chấp nhận Hợp đồng nguyên tắc số 64/TTB ngày 20/8/2004 đã được ký kết giữa văn phòng đại diện báo Đại Đoàn Kết khu vực Trung trung bộ đã ký với Công ty 79.
Ông Trương Duy Nhất – Trưởng văn phòng đại diện có trách nhiệm thực hiện Hợp đồng đã ký kết, trong đó có việc làm các thủ tục hợp pháp để chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu ngôi nhà 82 Trần Quốc Toản, thành phố Đà Nẵng cho Cty xây dựng 79.
Điều II: Ủy quyền cho ông Trương Duy Nhất chịu trách nhiệm liên hệ với các cơ quan, ban ngành có liên quan của thành phố Đà Nẵng để hoàn tất công việc theo quy định tại điều I”.

Với Quyết định số 112/ĐĐK ngày 12/11/2004 , Ông Lê Quang Trang đã vi phạm nghiêm trọng Điều 4 và Điều 13 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Theo đó, thẩm quyền đệ trình việc thanh lý tài sản nhà đất, trụ sở làm việc của báo Đại Đoàn Kết thuộc Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam sai phạm các trình tự, thủ tục điều chuyển tài sản nhà nước.

Tại trang 3 Thông báo số 203/PC46 ngày 23/9/2013 của Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng cho biết: “Ngoài việc mua bán thể hiện như trên, qua xác minh tại báo Đại Đoàn Kết còn thể hiện: ngôi nhà 82 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng không có trong danh mục tài sản của báo Đại Đoàn Kết”.

Như vậy, việc cố tình gây “thất thoát tài sản nhà nước” vào tay công ty tư nhân của ông Lê Quang Trang (đại diện báo Đại Đoàn Kết), đã vi phạm nghiêm trọng khoản 2 điều 16 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Theo đó, sau khi tiếp nhận tài sản từ UBND TP Đà Nẵng, báo Đại Đoàn Kết phải thực hiện việc ghi tăng tài sản và giá trị tài sản theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Những sai phạm của ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết

Tại trang 4 Thông báo số 203/PC46 ngày 23/9/2013 của Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng: “Khoảng đầu tháng 1/2011, Trương Duy Nhất xin nghỉ làm việc tại báo Đại Đoàn Kết, biển hiệu đề tên Văn phòng đại diện báo Đại Đoàn Kết khu vực Trung trung bộ tại 82 Trần Quốc Toản – Đà Nẵng đã bị tháo gỡ. Ông Lập và sau đó là ông  Tuyền có vào Đà Nẵng để tìm hiểu tình hình, làm việc với Phan Văn Anh Vũ – Giám đốc công ty xây dựng 79, ông Vũ yêu cầu thanh lý Hợp đồng nguyên tắc số 64/TTB ngày 20/8/2004 và bồi thường thời gian sử dụng mặt bằng còn lại cho báo Đại Đoàn Kết”.
        Về việc này, ông Nguyễn Minh Ngọc (Phó Tổng biên tập, thay mặt Ban Biên tập báo Đại Đoàn Kết thời điểm 2011) đã có Công văn số 12/CV.ĐĐK.BBT ngày 20/2/2011 gửi Ban giám đốc Công ty CP xây dựng 79. Nội dung khẳng định: “Căn cứ vào tất cả giấy tờ hiện có, báo Đại Đoàn Kết có quyền sở hữu nhà 82 Trần Quốc Toản – Thành phố Đà Nẵng (nhà công sản được Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng chuyển quyền sử dụng đất cho báo Đại Đoàn Kết làm Văn phòng theo Quyết định 5775/QĐ-UB ngày 19.7.2004 ). Việc công ty vô cớ gỡ biển và đóng cửa Văn phòng của báo, một tờ báo có truyền thống 70 năm từ ngày 15.1.2011 đến nay là một việc làm không hợp pháp và có thể gây ra nhiều hệ lụy không tốt. Trước mắt, đã gây nhiều khó khăn cho hoạt động của văn phòng và của tờ báo Đại Đoàn Kết, gây bất bình và búc xúc trong cơ quan báo và dư luận không chỉ ở Thành phố Đà Nẵng”.

       Tại trang 1 Biên bản (Xung quanh quyền sử dụng, sở hữu ngôi nhà 82 Trần Quốc Toản TP Đà Nẵng), ông Đinh Đức Lập (đại diện báo Đại Đoàn Kết) khi nói về các bản Hợp đồng nguyên tắc số 64/TTB của Văn phòng báo Đại Đoàn Kết tại Trung trung bộ ngày 20/4/2004Quyết định số 112/ĐĐK ngày 12/11/2004 của Ban biên tập báo Đại Đoàn Kết cũng thừa nhận: “Theo các quy định pháp luật thì nhiều nội dung thỏa thuận, một số văn bản giấy tờ chưa hợp lý, tuy nhiên do tính lịch sử và yêu cầu khách quan nên phải chấp nhận”.

      Viện cớ “do tính lịch sử và yêu cầu khách quan nên phải chấp nhận”, Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết Đinh Đức Lập đã ký Biên bản đồng ý nhận 1 tỷ đồng của Cty CP xây dựng 79 cam kết không còn khiếu kiện gì liên quan đến quyền sở hữu nhà đất tại 82 Trần Quốc Toản Đà Nẵng.

      Theo quy định tại điều 13 và điều 4 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) thì cấp có thẩm quyền  đề nghị việc thanh lý trụ sở văn phòng của báo Đại Đoàn Kết thuộc Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

       Thế nhưng, ông Đinh Đức Lập khi phát hiện những sai phạm trong việc thanh lý tài sản Nhà nước, đã không “Bảo vệ, giữ gìn tài sản nhà nước” theo Điều 6 Nghị định số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính phủ; không báo cáo cấp có thẩm quyền như luật định (Điểm b khoản 1 Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước quy định về Quyền, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước) mà tự ý ký kết Biên bản thỏa thuận với Cty CP xây dựng 79.

       Khi ký Biên bản (Xung quanh quyền sử dụng, sở hữu ngôi nhà 82 Trần Quốc Toản TP Đà Nẵng) ngày 20/4/2011, Ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết đã vi phạm Điều 3 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) và Khoản 2 điều 33 Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước.  Số tiền 1 tỷ thu được từ Cty CP Xây dựng 79 lẽ ra phải được hạch toán riêng, sau khi trừ đi chi phí hợp lý liên quan, nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước, báo Đại Đoàn Kết mới được sử dụng để phát triển hoạt động sự nghiệp. Thế nhưng, số tiền 1 tỷ này sau khi chuyển vào tài khoản chung của cơ quan không biết được sử dụng như thế nào?.

      Kính thưa quý vị lãnh đạo!
     
      Nhân đây, tôi cũng xin trao đổi đôi điều về bản Thông báo số 203/PC46 ngày 23/9/2013 của Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng. Trang 4, Bản Thông báo số 203/PC46 cho rằng: UBND TP. Đà Nẵng có Quyết định 5775/QĐ-UB ngày 19/7/2004 cho phép bán và chuyển quyền sử dụng đất thuộc sở hữu Nhà nước tại 82 Trần Quốc Toản – P. Hải châu I, Q. Hải Châu – TP Đà Nẵng cho Báo Đại Đoàn Kết – Văn phòng đại diện khu vực Trung trung bộ. Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Chương 1 Nghị định của Chính phủ số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 về quản lý tài sản nhà nước, thì: Nhà 82 Trần Quốc Toản không còn là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. Khi viết: “Nhà 82 Trần Quốc Toản không còn là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước” Cơ quan CSĐT Công an Đà Nẵng đã cố tình “suy diễn” nhằm “gỡ tội” cho Ban biên tập báo Đại Đoàn Kết. Sự thực, Khoản 2 Điều 1 Chương 1 Nghị định của Chính phủ số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 viết: Tài sản thuộc sở hữu  toàn dân mà Nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó”. Ở đây phải xác định rõ hai vấn đề. Một: Báo Đại Đoàn Kết có phải là Tổ chức chính trị - xã hội, hay là đơn vị Hành chính sự nghiệp?. Hai: Kể cả khi nhận mình là tổ chức chính trị - xã hội thì Báo Đại Đoàn Kết có quyền muốn bán trụ sở cho ai cũng được không cần chấp hành quy định của Nhà nước?.

     Sự thực là Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng đã “lờ” đi không hề nhắc đến Điều 13 của chính Nghị định của Chính phủ số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998  quy định về thẩm quyền thanh lý tài sản trụ sở nhà đất của báo Đại Đoàn Kết (ông Lê Quang Trang không có thẩm quyền). Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng đã “lờ” đi không hề nhắc đến  Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp ban hành kèm theo. Điều 2 Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC quy định: “Quy chế này áp dụng cho việc xử lý thu hồi, điều chuyển, thanh lý tài sản nhà nước giao cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, Tổ chức chính trị, Tổ chức chính trị- xã hội, Tổ chức xã hội, Tổ chức xã hội- nghề nghiệp, các cơ quan ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (gọi chung là cơ quan HCSN) quản lý, sử dụng”.

      Như vậy, dù ở tư cách pháp nhân nào, việc mua, quản lý, sử dụng và thanh lý tài sản là trụ sở của báo Đại Đoàn Kết vẫn phải tuân thủ quy định của pháp luật Nhà nước (Nghị định số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998; Quy chế Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành kèm theo Quyết định số 20 /1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính); Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính); Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước…). Do đó, việc Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết Đinh Đức Lập phát hiện ra cái sai của những người tiền nhiệm mà cố tình không báo cáo để cấp có thẩm quyền đứng ra giải quyết là vi phạm nghiêm trọng điều 5 và điều 6 Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước.

      
       Kính thưa quý vị lãnh đạo!

      Qua đơn tố cáo này, tôi đề nghị quý vị lãnh đạo, cơ quan có thẩm quyền xử lý:

1.   Ban Thường trực Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Đảng ủy cơ quan Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam xem xét và sớm có hình thức kỷ luật thích đáng với ông Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết trong sai phạm về quản lý, sử dụng tài sản kể trên theo Điều 6 Nghị định số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính phủ; Điều 3 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính); Điều 5, Điều 6 và Khoản 2 điều 33 Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước.

2.   Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền thu hồi lại:

-         Số tiền 1 tỷ đồng mà báo Đại Đoàn Kết thu từ việc sử dụng sai mục đích tài sản được giao làm trụ sở làm việc theo Điều 3 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính);
-         Thu hồi lại tài sản nhà đất Nhà nước giao cho báo Đại Đoàn Kết bị sử dụng sai mục đích theo Điều 14 Nghị định số 14 /1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính phủ; Điều 2, Điều 4Điều 9 Quy chế Quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (Ban hành theo Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

        Tôi xin chân thành cảm ơn!

                                                                                                                                                                                                       
                                                                          Hà Nội ngày 14 tháng 10 năm 2013
                                    
                                                                                                     Người làm đơn
                                                                                                Nguyễn Mạnh Thắng



Mời tham khảo thêm các sai phạm có liên quan của ông Đinh Đức Lập TẠI ĐÂY

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

Tập đoàn điện lực Việt Nam: Độc quyền – đặc lợi – tội đồ

Phạm Chí Dũng

EVN

Ở Việt Nam, EVN là một trong những dẫn chứng sống động và dối trá nhất về việc người ta đã mượn dĩ vãng kinh tế chỉ huy để trục lợi như thế nào. Trong điều kiện nền chính trị độc đảng, thủ đoạn lợi dụng càng trở nên có ý nghĩa hơn. Độc quyền và đặc lợi cũng vì thế đồng nghĩa với tội đồ, đối với nền kinh tế và đời sống dân sinh.

Bù lỗ vào dân!

Tháng 10/2013. Tròn hai năm từ thời điểm nhiều khuất tất của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) lần đầu tiên được lôi ra ánh sáng. Một lần nữa, báo chí trong nước phải dùng đến từ “phẫn nộ” đối với điều bị xem là tội ác của một tập đoàn luôn được chở che bởi cơ chế đặc quyền đặc lợi.

Hai năm trước, vào lúc nền kinh tế Việt Nam dợm chân vào suy thoái, sự đổ bể của hai thị trường chứng khoán và bất động sản đã kéo theo một phát minh không tiền khoáng hậu kể từ thời mở cửa: những doanh nghiệp nhà nước đặc trưng bởi chủ thuyết “giá chỉ có tăng chứ không giảm” như EVN và Petrolimex (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam) đã tạo thành cặp song sinh có chung hậu môn. Hàng loạt chiến dịch đầu tư trái ngành của các tập đoàn này vào chứng khoán, bất động sản và bảo hiểm rốt cuộc đã tích đọng gánh nợ đến trên 40.000 tỷ đồng.

Trong suốt hai năm qua, toàn bộ số nợ nần đó đã được EVN và Petrolimex tuồn qua tuyến đại tràng để đổ lên đầu người dân đóng thuế.

Nhưng cũng trong suốt hai năm qua, bất chấp những đợt tăng giá điện vô tội vạ của EVN, đã không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được làm tới nơi tới chốn. Tất cả những dấu hiệu khuất lấp về tài chính và số lương “nghèo khổ” ít nhất vài chục triệu đồng theo đầu người ở tập đoàn này mà dư luận bức xúc từ năm 2011, đã hầu như không được cơ quan chủ quản của EVN là Bộ Công thương đón nhận. Không những thế, những lãnh đạo cao nhất của Bộ Công thương như ông Vũ Huy Hoàng vẫn không ngơi nghỉ một chiến dịch khác: PR cho “cậu ấm hư hỏng” của mình.

Đó là một dạng PR không mới, nhưng lại chỉ được dư luận người dân Việt đặt tên chính thức từ năm 2012: PR chính sách. Chủ thể của hoạt động này chính là cái tên “nhóm thân hữu” – một chủ đề mà chưa một ủy viên Bộ Chính trị nào dám mổ xẻ trước bàn dân thiên hạ.

Nhóm thân hữu, về bản chất, lại có mối quan hệ ruột rà và móc xích giữa các chính khách ở các cấp khác nhau, từ dưới lên và từ trên xuống. Trong từng trải của người dân Hà Nội, thực tế sinh tồn của các doanh nghiệp lệ thuộc vào chính sách từ nhiều năm qua đã chứng tỏ một nguyên tắc bất thành văn là chỉ có chính sách mới tạo ra được lợi nhuận, để đến lượt mình, lợi nhuận phải quay lại “nuôi” chính sách.

Không quá khó hiểu là những động thái PR chính sách đã xuất hiện không ít lần, kể cả ở cấp Chính phủ. Cũng không ít lần, cứ sau cuộc họp thường kỳ hàng tháng của Chính phủ, phát ngôn viên của cơ quan này là Bộ trưởng Vũ Đức Đam - người đang được hứa hẹn sẽ “nâng lên một tầm cao mới” - lại đăng đàn với những lời lẽ lấp lửng về lộ trình tăng giá của EVN và Petrolimex.

Nhưng không giống với sự mơ hồ vô cùng tận của cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, kết quả của sự lấp lửng từ các nhóm lợi ích thời nay thường dẫn đến thái độ tăng giá “quyết liệt” - từ ngữ mà giới lãnh đạo chính phủ hay dùng - ngay sau đó.

Như một quy luật, giá điện và giá xăng dầu tìm mọi cách tăng vào thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội. Còn trong thời gian phiên họp Quốc hội, những nhà làm giá lập tức áp dụng chính sách giảm giá, nhưng chỉ là giảm cho có, để thường sau khi Quốc hội “thành công tốt đẹp”, giá lại ào ào tăng lên.

“Giết sống” dân chúng

Giá xăng dầu và điện lực tăng tất yếu dẫn đến lạm phát. Trong thực tế, chỉ số tiêu dùng CPI bị tác động không nhỏ và lập tức kích hoạt hàng loạt đợt tăng giá của hàng tiêu dùng, thực phẩm, giá vận tải hành khách và hàng hóa, giá nhà trọ…, làm khốn khó hơn cho đời sống dân nghèo vốn đã quá khó khăn.

Đời sống dân sinh ấy lại liên đới quá đỗi hữu cơ với một phần lớn lực lượng vũ trang và công chức viên chức nhà nước. Một viên thiếu tá an ninh than thở “Không thể tích lũy được chỉ với chục triệu bạc lương, vì điện và xăng ngốn hết cả rồi”.

Thế nhưng đối mặt với tất cả những trớ trêu và nghịch lý tận cùng ấy, lãnh đạo Bộ Công Thương vẫn im lặng, trong khi vài ba viên chức cấp vụ của bộ này vẫn cố gắng “an dân” bằng thuyết minh việc tăng giá xăng dầu và điện không ảnh hưởng nhiều đến CPI.

Phụ họa cho điều được coi là “ảnh hưởng không nhiều” trên, các nhà làm thống kê Việt Nam luôn đưa ra những con số không cần nguồn gốc. Chỉ có điều cho đến nay, rất nhiều người dân và cả giới chuyên gia nhà nước đã không còn tin vào các con số thống kê nữa. Một trong những scandal lớn nhất vừa xảy ra là giới chuyên gia phản biện đã thẳng thừng vạch ra hiện tượng “GDP có chân”, châm biếm về tình trạng báo cáo theo chủ nghĩa thành tích của các địa phương, và ngay cả con số GDP mà lãnh đạo chính phủ nêu ra cũng khó có thể mang trên mình tính thực chất.

Nhưng hoàn toàn ngược lại, lợi nhuận mới là thực chất nhất trong tất cả những vụ áp phe đình đám. Một cuộc thanh tra của Thanh tra chính phủ mới đây đã phát hiện trong bảng giá thành của mình, EVN đã hạch toán cả các công trình xây bể bơi, sân tennis và biệt thự vào giá bán điện. Giá bán điện lại được phổ cập cho mặt bằng dân trí thấp kém trong dân chúng. Và thêm một lần nữa, người ta có được bằng chứng về cái được coi là “trận đánh đẹp” của EVN: cuộc chiến bù lỗ vào dân.

Sau khi tăng giá liên tục trong hai năm qua, nợ ngân hàng của EVN đã được rút bớt. Nhưng chỉ là bớt một ít. Với hơn 30.000 tỷ đồng thất bát từ đầu tư trái ngành, EVN luôn phải đối mặt với tương lai phá sản nếu không thanh toán được cho các chủ nợ.

Trong khi đó, một con số lần đầu tiên được công bố là EVN chính là doanh nghiệp vay nợ ngân hàng lớn nhất Việt Nam, với hơn 118.000 tỷ đồng. Đây là mức dư nợ lớn nhất mà hệ thống ngân hàng dành cho một tập đoàn nhà nước.

Với nợ nần khổng lồ và số lỗ do đầu tư trái ngành, người ta ước tính EVN phải tăng giá điện liên tục đến năm 2017-2018 thì mới may ra “hòa vốn”.

Thế nhưng cái điểm hòa vốn đầy tính nhân quả ấy lại có thể khiến những người dân nghèo nhất phải quyên sinh. Bởi theo nguyên lý từ thời tư bản dã man, nếu doanh nghiệp độc quyền hòa vốn, nhân dân phải chịu lỗ; còn khi doanh nghiệp độc quyền có được lợi nhuận, nhân dân chắc chắn phải mất đi phần lớn thu nhập của mình.

Không chỉ mất tài sản, người dân còn phải trả giá bằng cả sinh mạng bởi lối hành xử vô lương tâm của những quan chức độc quyền nhà nước. Vụ xả lũ không thông báo trước ở Đắc Lắc vào tháng 9/2013 chính là một cách “giết sống” 12 cư dân nghèo nàn nơi rốn lũ, với trách nhiệm không chỉ thuộc về doanh nghiệp thủy điện và chính quyền Đắc Lắc, mà còn liên đới đến những lãnh đạo của EVN.

Tuy nhiên sau vụ “giết sống” trên, những phóng viên báo chí quốc doanh đành ôm hận vì bị giới tuyên giáo “chặn họng”. Cũng không có bất kỳ một quan chức vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa.

Tán tận lương tâm chắc chắn là từ ngữ hiển thị đầy đủ nhất tâm địa của các doanh nghiệp độc quyền trong những năm suy thoái kinh tế qua. Kinh tế càng xuống dốc, đời sống người dân càng túng quẫn, chủ nghĩa thực dụng và lợi nhuận càng lên ngôi, thái độ sống chết mặc bay càng đội mồ sống dậy.

Truy cứu độc quyền!

Sự tán tận lương tâm của quan chức và hậu quả của nó không thể không liên quan đến trách nhiệm của giới lãnh đạo chính phủ, những người đã im lặng hoặc “bật đèn xanh” cho EVN và Petrolimex gây nên các chiến dịch tăng giá vào thời gian giữa hai kỳ quốc hội.

Không chỉ bị lên án bởi dư luận trong nước, khối u độc quyền doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam còn bị nhiều chính phủ xã hội dân sự trên thế giới và các tổ chức quốc tế chỉ trích kịch liệt, bởi hiện trạng bệnh hoạn đó đi ngược lại với những cam kết về “hoàn thiện nền kinh tế thị trường” mà chính phủ Việt Nam đã hùng dũng cam kết trước cộng đồng quốc tế.

Hiện trạng bệnh hoạn trên lại liên quan mật thiết đến chuyến đi lặng lẽ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến New York vào cuối tháng 9/2013. Trong cuộc gặp gỡ đó, ông Dũng đã đề xuất một sự “linh hoạt” mà Mỹ và các nước trong Hiệp định đối tác kinh tế xuyên thái Bình Dương (TPP) “nên” dành cho Việt Nam - như một đặc cách.

Chỉ có điều, làm thế nào để xứng đáng nhận ân huệ ấy thì phía Việt Nam lại không nêu được một dẫn chứng cụ thể nào. Trong khi đó, từ bỏ độc quyền là một trong những điều kiện then chốt để Việt Nam có thể ngẩng mặt ngồi vào bàn đàm phán TPP.

Ít nhất, đã không có một cam kết cụ thể nào của Việt Nam được phát ra về kế hoạch xóa bỏ thế độc quyền và cải cách doanh nghiệp nhà nước. Tất cả những gì được hứa hẹn chỉ là “chúng tôi sẽ tiến hành cải cách”. Song thời gian để cải cách là bao lâu lại tùy thuộc vào lòng hảo tâm của các nhóm lợi ích đang lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam, và còn lệ thuộc vào cả lòng thành chính trị của các chính khách của đất nước này.

Nguyên tắc thương mại đa phương quốc tế rất rõ ràng: chừng nào chưa xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp, Việt Nam chưa thể đủ tư cách tham dự vào bàn tiệc mà phương Tây đã bày sẵn. Không những thế, hệ quả đó còn làm ảnh hưởng không nhỏ đến vị thế chính trị của giới chính khách lãnh đạo trước người dân trong nước và trong mối cộng hưởng với các phản ứng của quốc tế.

Phản ứng của người dân, như báo chí trong nước đã phải dùng đến từ “phẫn nộ”, sẽ không thể kéo dài tâm thế chịu đựng mãi. Nếu ở những quốc gia như Bungaria, toàn bộ chính phủ đã phải từ chức vào đầu năm 2013 sau cú tăng giá điện của hai tập đoàn điện lực tư nhân mà đã khiến cho hàng chục ngàn người dân Sophia đổ ra đường biểu tình, xã hội Việt Nam cũng có thể là một hình ảnh tương tự trong không quá lâu nữa.

Sau hai năm kể từ lúc các chiến dịch “thủ ác” được kích phát dồn dập và bất chấp oán thán dân tình, kẻ tội đồ EVN đã có đủ thời gian chứng tỏ nó có năng lực gây ra tội ác ghê gớm đến thế nào.

Bất kể động cơ nào, dù thuộc về tranh đấu nội bộ hay làm dịu tình cảm phẫn uất của dân chúng…, ban lãnh đạo EVN và cơ quan chủ quản của tập đoàn này là lãnh đạo Bộ Công Thương cũng rất xứng đáng bị Quốc hội, Thanh tra chính phủ và Bộ Công an tạm đặt ra “ngoài vòng pháp luật” về thế độc quyền, đồng thời không thể bỏ qua trách nhiệm pháp lý về ít nhất 17 hành vi có dấu hiệu sai phạm.


P.C.D.

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Nơi an nghỉ cuối cùng của Đại tướng ẩn chứa nhiều thông điệp

Nên nhớ tướng Giáp là một thiên tài quân sự, việc người chọn Mũi Rồng-Vũng Chùa không thể tách rời nhãn quan chính trị, quân sự lỗi lạc của ông. Có nhà văn Việt Nam cho rằng, vùng Đèo Ngang (Vũng Áng- Hòn La) là một tử huyệt về quân sự mà bao lâu nay Trung Quốc đã dòm ngó. Nếu chúng xâm lăng Việt Nam thì đây là vị trí bị tấn công đầu tiên để cắt đôi nước Việt Nam. Điều này không phải là không có lý. Có khi, Đại tướng ngầm chỉ con cháu lo về canh giữ vùng đất yết hầu này. Bởi vì, phía Bắc, chúng ta có 1400km đường biên giới giáp với Trung Quốc, từ Móng Cái đến A-pa-chải. Phía Nam, hàng vạn người Trung Quốc đang làm việc trong các mỏ Bô-xít Nhân Cơ, Tân Rai (Tây Nguyên). Ở chính giữa Tổ quốc, hàng triệu người Đài Loan-Trung Quốc thuê đất làm việc ở Vũng Áng ( Hà Tĩnh) nghe đâu lên đến thời gian 70 năm.


LUẬN VỀ CUỘC ĐẤT ĐẠI TƯỚNG CHỌN LÀM NƠI AN GIẤC NGÀN THU

Con gái Tướng Giáp: 
‘Ba tôi chọn Vũng Chùa - Đảo Yến từ năm 2006’ 
TPO -‘Sau nhiều lần về thăm quê, ba tôi đã có ý định chọn vùng Vũng Chùa - Đảo Yến thuộc huyện Quảng Trạch làm nơi an nghỉ khi ông qua đời. Và đến năm 2006 thì ông chính thức lựa chọn nơi này’.
Bà Võ Hạnh Phúc (ảnh bên), con gái Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói về quyết định cuối cùng chọn nơi an nghỉ mà sinh thời Tướng Giáp có nguyện vọng.

Theo bà Phúc, Tướng Giáp đã có ý định tìm kiếm một số nơi để ông an nghỉ khi ‘trăm tuổi’. Ban đầu, ông có ý định về căn cứ địa Việt Bắc (ở Thái Nguyên) hoặc ở đâu đó vùng Sơn Tây cho gần Bác Hồ. Tuy nhiên, cuối những năm 1990, sau nhiều lần về thăm quê hương Quảng Bình, ông nghĩ mình sẽ về với quê hương. Khi đó, gia đình cũng đã đi xem xét nhiều nơi trong tỉnh nhưng cuối cùng ông chọn vùng Vũng Chùa - Đảo Yến thuộc huyện Quảng Trạch. Ông đã có bút tích từ năm 2006 về việc này.

‘Quyết định về Vũng Chùa - Đảo Yến có từ năm 2006. Ông có bút tích để lại về việc này’, bà Phúc chia sẻ



Cũng theo bà Phúc, đưa ông về Quảng Bình nhưng không nhất thiết là ở quê nhà làng An Xá (nơi ông sinh ra – PV) và nơi an nghỉ của ông nằm ở khu vực đất liền, chứ không phải ngoài đảo, để người dân thuận tiện đến thăm viếng.



Bà Phúc cũng cho biết thêm, ông muốn về với miền Trung, miền đất nghèo khó nhưng giàu truyền thống anh hùng. 



Nén nỗi đau buồn trong lòng, bà Phúc rất cảm động về tình cảm của nhân dân trước sự ra đi của ông. Qua báoTiền Phong, bà muốn thay mặt gia đình gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể nhân nhân, tới đồng đội của ông, đặc biệt là các bác tuy tuổi cao sức yếu vẫn dành thời gian quý báu tới thăm viếng, dành sự thành kính đối với Đại tướng. 



Sau cuộc họp ngày 7/10 giữa T.Ư, tỉnh Quảng Bình và gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thể theo nguyện vọng của Đại tướng lúc còn sống và của gia đình, Vũng Chùa - Đảo Yến được chọn là nơi an táng Đại tướng. 
Theo thông cáo đặc biệt về việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần của Ban chấp hành T.Ư Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban T.Ư MTTQ VN và Quân ủy T.Ư thì quốc tang của Đại tướng sẽ được tổ chức từ 12 giờ ngày 11/10 đến 12 giờ ngày 13/10. Lễ an táng diễn ra vào ngày 13/10 tại quê nhà Quảng Bình.




Bảo Đăng - Hà Thành (ghi)

Nguồn:  Tiền Phong.
Nguyễn Quang Lập: Thế là đã rõ. Việc an nghỉ ở Vũng Chùa là ý chỉ của cụ Võ. Đến đây tôi xin hết ý kiến. Tôi thành thật xin lỗi gia đình cụ Võ về những gì tôi đã suy diễn hồ đồ. Riêng về vị trí an táng thì quan điểm của tôi không thay đổi. Ai cũng muốn nằm trong lòng đất mẹ. Đất mẹ của cụ Võ là Việt Nam, là Quảng Bình nhưng trước tiên và trên hết, đất mẹ của cụ là làng An Xá- Lộc Thủy- Lệ Thủy. Nếu bảo tôi nghĩ như vậy là thần kinh, là bảo thủ, là tầm địa phương thì tôi chịu nhưng đến chết tôi vẫn không thay đổi quan điểm này. Chấm hết.


Xin lỗi tất cả mọi người, nếu như tôi đã làm mọi người bực mình và mất thời giờ.
 ________________________

Vài nét phong thủy nơi Đại tướng an giấc ngàn thu:
VÌ SAO TƯỚNG GIÁP CHỌN MŨI RỒNG -VŨNG CHÙA LÀM NƠI AN GIẤC NGÀN THU?



Nhà giáo Lê Quốc Châu 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp không những là một bậc vĩ nhân khi còn sống mà còn là một bậc thánh nhân khi đã qua đời. Việc đánh bại quân đội tối tân của các cường quốc năm châu như Nhật, Pháp và Mỹ, góp phần chia lại trật tự thế giới đã minh chứng hùng hồn ông là một bậc vĩ nhân khi còn sống. Việc chọn Mũi Rồng-Vũng Chùa nằm trung tâm của Trường Sơn Bắc, nơi có dãy Hoành Sơn hướng ra biển Đông và Thái Bình Dương rộng lớn làm nơi an giấc ngàn thu cho thấy, ông là một bậc thánh nhân khi đã qua đời.

Việc chọn Mũi Rồng-Vũng Chùa làm nơi an nghỉ vĩnh hằng thể hiện nhân sinh quan hơn người, cái tầm rộng lớn, cái tâm bao la của Đại tướng.




1. Về mặt phong thủy

Xưa nay các bậc đế vương, hiền nhân quân tử đều rất coi trọng thuật phong thủy trong xây nhà, chọn đất đóng đô, xây dựng đền đài, lăng tẩm, chọn đất an nghỉ vĩnh hằng. Theo thuật phong thủy phương Đông, một thủ đô bền vững, một ngôi nhà thịnh vượng, một khu lăng mộ phát lộc cho con cháu đều phải hội đủ 3 yếu tố: bối sơn, diệp thủy, hướng dương. Bối sơn = dựa lưng vào núi, diệp thủy = trước mặt là nước, hướng dương = hướng ra phía mặt trời, hướng ra biển lớn…

- Bối sơn: Việc Đại tướng chọn Mũi Rồng – Vũng Chùa, vùng đất ngọa hổ tàng long, voi chầu hổ phục, đầu dựa vào núi Hoành Sơn, một nhánh đâm ngang của dãy Trường Sơn Bắc hùng vĩ. Phía bắc là dãy nũi cao Tây Nghệ An, ở giữa là các dãy đá vôi Quảng Bình và vùng đồi thấp Quảng Trị, phía Nam là vùng núi Tây TT-Huế.

- Diệp thủy: Trước mặt lăng Đại tướng gần nhất là Vũng Chùa, xa chút nữa là biển Đông rộng 3,477 triệu km2, xa khơi là Thái Bình Dương rộng lớn, là APEC, là năm châu bốn biển. Mộ ông gối đầu vào dãy Trường Sơn Bắc ( đoạn sau sẽ lý giải vì sao ông không chọn Trường Sơn Nam). Chân của Đại tướng đạp lên 3 hòn đảo vững thế kiềng 3 chân: Hòn Yến, Hòn Gió, Hòn La; xa hơn là hai chân ông gác lên 2 quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của Tổ quốc.

- Hướng dương: Mũi Rồng-Vũng Chùa theo các sách dư địa chí có hướng đông nam, hướng xuống các nước Đông Nam Á biển đảo.

Việc chọn đất đóng đô của Quang Trung-Nguyễn Huệ, của các vua chúa nhà Nguyễn tại Phú Xuân thuận theo thuật phong thủy này.

Như vậy, việc chọn Mũi Rồng-Vũng Chùa là một lựa chọn tuyệt vời xét về mặt phong thủy.

Mặt khác, cũng theo phong thủy, người người Việt thương quan niệm rằng “tụ thủy tụ nhân”. Vũng Chùa là một vùng biển tụ thủy hiếm có. Việc các vua Hùng chọn đất Phong Châu-Phú Thọ, (ngã ba sông) để đóng đô  hay gần đây nhất, tỉnh Hà Tĩnh cũng chọn ngã ba bến Tam Soa để xây khu lăng mộ Trần Phú-TBT đầu tiên của đảng cũng theo thuật phong thủy “ tụ thủy tụ nhân”.

Xét về mặt phong thủy thì việc Đại tướng chọn Mũi Rồng-Vũng Chùa là việc không phải bàn cãi nữa. Nó quá đẹp, quá chuẩn. Bây giờ, chúng thử bàn đến yếu tố thứ hai, bên cạnh phong thủy, yếu tố quân sự.

2.  Về mặt quân sự

Vì sao Đại tướng chọn nơi an nghỉ là dãy Bắc Trường Sơn, chính giữa đất nước mà không phải là Nam Trường Sơn, nơi Trung Quốc đang giúp ta khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên? 

Vì sao Đại tướng lại chọn ngọn núi Hoành Sơn, một nhánh đâm ngang của dãy Bắc Trường Sơn để an giấc, nơi có hàng vạn người Đài Loan-Trung Quốc (Tập đoàn Fomosa) đang làm việc trong KKT Vũng Áng? 

Nên nhớ tướng Giáp là một thiên tài quân sự, việc người chọn Mũi Rồng-Vũng Chùa không thể tách rời nhãn quan chính trị, quân sự lỗi lạc của ông. Có nhà văn Việt Nam cho rằng, vùng Đèo Ngang (Vũng Áng- Hòn La) là một tử huyệt về quân sự mà bao lâu nay Trung Quốc đã dòm ngó. Nếu chúng xâm lăng Việt Nam thì đây là vị trí bị tấn công đầu tiên để cắt đôi nước Việt Nam. Điều này không phải là không có lý. Có khi, Đại tướng ngầm chỉ con cháu lo về canh giữ vùng đất yết hầu này. Bởi vì, phía Bắc, chúng ta có 1400km đường biên giới giáp với Trung Quốc, từ Móng Cái đến A-pa-chải. Phía Nam, hàng vạn người Trung Quốc đang làm việc trong các mỏ Bô-xít Nhân Cơ, Tân Rai (Tây Nguyên). Ở chính giữa Tổ quốc, hàng triệu người Đài Loan-Trung Quốc thuê đất làm việc ở Vũng Áng ( Hà Tĩnh) nghe đâu lên đến thời gian 70 năm.

Tướng Giáp rất hiểu được việc đổi bạn thành thù năm 1979 ở biên giới phía Bắc. Tướng Giáp đã từng can gián chính phủ không được cho Trung Quốc khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên dù trong bất cứ giá nào. Vì vậy, việc ông chọn Hoành Sơn làm nơi an giấc, xét về mặt quân sự là một lựa chọn rất đáng lưu ý.

Lê Quốc Châu


Người đến chết vẫn nghĩ về Tổ Quốc

Võ Dậu



Nơi Đại tướng an giấc nghìn thu

Thế là đã quá rõ!


 Vì sao anh bạn bốn tốt, 16 chữ vàng lại tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt với lễ tang đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thế ?

 Vì ông Giáp đã lãnh đạo quân đội Việt Nam trong thời kì sang Căm Pu Chia giúp bạn thoát khỏi họa diệt chủng Pôn Pốt (đứng đằng sau Pôn Pốt là ai chắc mọi người đã biết).




Vì ông chỉ huy quân đội đánh chống trả “Thiên triều” xâm lược, tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc tháng 2-1979. 

Vì ông phản đối chính phủ Việt Nam thực hiện dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên, tức là gây khó cho việc bước đầu mở đường xâm lược của họ…vân vân và vân vân, 

Có muôn ngàn lí do để giải thích việc này. Nhưng còn một lí do nữa, xin mạo muội nêu ra để mọi người suy ngẫm. Địa điểm Vũng Chùa tỉnh Quảng Bình là nơi còn hoang sơ, ít người đặt chân đến. Có thể nói, đây là vị trí chiến lược, nếu xảy ra chiến tranh biển đảo thì đây là nơi xung yếu kẻ địch dễ mở đường tấn công vào đất liền. Đại tướng ra nằm đấy với sóng với gió với biển…ắt sẽ mang theo một đội quân hùng binh cả về tâm linh lẫn bằng xương bằng thịt. Một khi kẻ thù động đến đất đai Tổ Quốc ở nơi này, tinh thần dân tộc Việt Nam với lòng tin yêu kính trọng cụ Giáp, không thể để bọn chúng xâm phạm đến hình ảnh thiêng liêng của người anh hùng dân tộc, quyết đứng lên bảo vệ đến cùng non sông bờ cõi. 

Tầm nhìn chiến lược ấy có lẽ chỉ có ở cụ Võ Nguyên Giáp. Gọi cụ là thiên tài cũng chẳng ngoa, là thánh cũng chẳng ngoa

Thiên tài là người phát hiện ra quy luật. Quy luật rất đơn giản ở đây là trong chiến tranh kẻ địch luôn luôn tìm chỗ sơ hở phòng thủ của đối phương mà tấn công. Có thể gọi cụ là “Người đến chết vẫn nghĩ về Tổ Quốc”


 13-10-2013 


Vũng Chùa một ngày sau lễ an táng

Vietnamnet dẫn theo Tri thức

8h sáng nay, hàng nghìn người ngủ lại quanh Vũng Chùa đêm qua đã hòa vào dòng người lên núi Thọ, mong được thắp hương trước mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Hơn 8h sáng người dân được vào viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp được an táng vào chiều qua 13/10. Một số người dân đã có mặt từ tối qua.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Bà Đinh Thị Sỹ quê ở Thanh Hóa vào Vũng Chùa – Đảo Yến từ 3h sáng ngày 13/10 nhưng chưa được vào viếng Đại tướng. Sáng sớm nay, bà Sỹ vào khu mộ để tưởng nhớ Đại tướng.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Người phụ nữ này còn mang theo cả di ảnh lớn của vị Tướng tài ba để lên viếng mộ.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Hai cụ già dắt tay nhau vượt dốc lên viếng mộ Đại tướng. Thời tiết hôm nay tại Vũng Chùa – Đảo Yến vẫn có nắng.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Vòng hoa tưởng niệm Đại tướng được xếp dọc đường lên khu mộ.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Theo ghi nhận, những người lên viếng mộ Đại tướng sáng nay chỉ được mang hoa chứ không được thắp hương.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Một cụ già dù tuổi đã cao nhưng vẫn chống gậy lên núi với ước nguyện được tận mắt thấy nơi an nghỉ cuối cùng của Đại tướng.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Bà Sỹ quỳ lạy trước mộ Đại tướng.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Bàn thờ mộ Đại tướng đang được che tạm một tấm bạt. Sắp tới sẽ được xây dựng khang trang. Ảnh: Lê Hiếu.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Người dân từ thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình đến viếng mộ Đại tướng.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Đôi vợ chồng đưa con nhỏ lên viếng mộ Đại tướng.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Lúc này là gần 10h, dòng người kéo về mỗi ngày một đông.
Võ Nguyên Giáp, Đại tướng, Vũng chùa, Đảo Yến, viếng mộ, người dân
Một số gia đình lập bàn thờ thờ Đại tướng.

Nguồn Quê Choa