Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2018

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 3)

Lực điện từ
Nếu ánh sáng thật sự là sóng, thì có vẻ hợp lí thôi nếu ta hỏi: chính xác thì cái gì đang dao động như sóng? Các tính chất của một hiện tượng có vẻ chẳng liên quan gì, lực điện từ, rốt cuộc lại đem đến câu trả lời.
Năm 1831, Michael Faraday khám phá hiện tượng cảm ứng điện từ, trong đó những dòng điện biến thiên “cảm ứng” ra những từ trường biến thiên, và ngược lại. Các thí nghiệm của Faraday (cái vẫn là nền tảng cho sự phát điện) cho thấy một liên hệ rõ ràng giữa lực điện và lực từ, nhưng mãi đến năm 1865 thì James Clerk Maxwell mới thiết lập một mô hình lí thuyết cho biết sự cảm ứng điện từ và các hiệu ứng có liên quan xảy ra như thế nào. Lí thuyết của Maxwell cho biết các điện trường và từ trường dao động, hoán chuyển, có thể truyền đi trong không gian dưới dạng sóng điện từ. Điều quan trọng, ông tìm thấy sóng điện từ di chuyển tự do trong chân không, và truyền đi ở tốc độ 300.000 km/s (186.000 dặm/s), đúng bằng tốc độ ánh sáng. Nếu aether đã không tồn tại, thì có lẽ ánh sáng là sóng điện từ chăng?
Lực điện từ
Chuyển động của dòng điện (dòng hạt electron tích điện âm) qua dây dẫn gây cảm ứng một từ trường vây xung quanh vật dẫn. Đảo chiều dòng điện làm đảo chiều của từ trường.
Các phương trình Maxwell
Để giải thích trọn vẹn lực điện từ, James Clerk Maxwell đã sử dụng một số phương trình từ các nhà khoa học khác và thiết lập chúng thành một lí thuyết chặt chẽ. Phương trình thứ nhất của ông mô tả cường độ của một điện trường giảm như thế nào theo bình phương khoảng cách. Nói cách khác, khi khoảng cách đến nguồn tăng gấp đôi thì trường yếu đi bốn lần. Phương trình thứ hai mô tả độ lớn của từ trường và cách chúng luôn luôn đi theo những đường khép kín giữa các cực từ.
Phương trình thứ ba của Maxwell mô tả làm thế nào tương tác giữa các điện trường và từ trường dao động có thể tạo ra “suất điện động”, cái biểu hiện dưới dạng điện áp. Cuối cùng, phương trình thứ tư mô tả làm thế nào một dòng điện biến thiên có thể cảm ứng một từ trường có độ lớn tỉ lệ với cỡ của dòng điện. Những phương trình này kết hợp với nhau mô tả sóng điện từ hành xử như thế nào, đồng thời cung cấp một lí giải trên lí thuyết cho biết sóng ánh sáng chính xác là thứ gì, nó truyền đi như thế nào trong chân không và nó tương tác như thế nào với điện trường và từ trường.
Các phương trình Maxwell
Trong các phương trình Maxwell, E biểu diễn điện thông, B là từ thông, r là điện tích trong một thể tích không gian, và J là dòng điện chạy trong một vật dẫn.
Vật lí Lượng tử Tốc hành | Gemma Lavender

Nguyễn Văn Đông: 'Đường đời mưa bay gió cuốn'


Tôi được gặp và nói chuyện với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông hai lần, năm 2009 và năm 2015. Ông ngoài 75 tuổi nhưng đầy nhiệt huyết như một con hùm.
Ông Đông nói rằng ông có đọc sách của tôi. Hình như dù có vài thắc mắc không tiện nói về sách này, ông thấy tôi là một người được tin tưởng. Ông nhấn mạnh rằng gần như không cho ai phỏng vấn ông.
Trong bài này tôi sẽ không nói nhiều về các tác phẩm của nhạc sĩ tài hoa này. Tôi muốn nói đến hiện tượng của Nguyễn Văn Đông trong bối cảnh thị trường nhạc thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa.
Đời ông bị làm chia đôi. 43 năm (1932-1975) ông làm hết mình - ông học hỏi, sản xuất, và làm việc nước. 43 năm nữa (1975-2018) ông im lặng để tồn tại.
Mặc dù sau năm 1975 ông sống như một người vô hình, nhưng tôi đã được gặp một đàn ông rất tự tin và biết giá trị của mình. Trong nửa đời sản xuất tròn 43 năm, ông đạt được những thành công phi thường.
Nguyễn Văn Đông sinh ở quận 1, Sài Gòn. Bố mẹ gốc Tây Ninh là điền chủ từng bị bắt tù thời chiến tranh chống Pháp. Lúc bấy giờ có một sĩ quan Pháp, đại úy Vieux coi Nguyễn Văn Đông như người em kết nghĩa nhận ông là con nuôi và cho học tại École d'enfants de troupe (Trường Thiếu sinh quân Đông Dương). Đây là một ngôi trường ưu tú, chỉ có con cái của sĩ quan Pháp được vào học.
Trường này dạy về văn hóa và quân sự. Giáo sư âm nhạc là Charles Martin, một nhạc sĩ Pháp từng dạy hòa âm và phối khí từ những năm 1920 ở Sài Gòn.
Thuở ấy Nguyễn Văn Đông đã học thổi kèn trompette và tham gia dàn nhạc fanfare của ngôi trường.
Năm 1948 khi lên tuổi 16 ông cũng sáng tác "Thiếu sinh quân hành khúc" đã được nhận là bài ca của trường.
Năm 1951 ông thi vào École Militaire Cap Saint Jacques (Trường Võ bị sĩ quan Vũng Tầu) và năm 1952 ông học xong với cấp sous lieutenant (thiếu ủy).
Năm 1952 ông học thêm ở École Militaire Interarmes de Dalat (Trường võ bị liên quân Đà Lạt) và năm sau ông lên cấp Trung Uỷ. Rồi sau đó ông ra Bắc và học tiếp ở École Tactique Hanoi (Trường chiến thuật Hà Nội).
Trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh Đông Dương thứ nhất ông chỉ huy một Đại đội Trọng Pháo ở hai tỉnh Móng Cái và Lạng Sơn. Sau biến cố thua trận ở Điện Biên Phủ ông được chuyển về miền Nam.
Từ năm 1954 đến 1958 Nguyễn Văn Đông đóng quân ở Đồng Tháp Mười. Khu này được coi như một "chiến trường ác liệt" suốt 30 năm chiến tranh ở Đông Dương. Nó cũng là căn cứ địa của bên cộng sản vì nằm cạnh ranh giới Việt Nam - Cambodia.
Nguyển Văn Đông là một hiện tượng rất hiếm là một nhạc sĩ chuyên nghiệp nhưng đã từng cầm súng trên trận địa. Năm 1956 Nguyễn Văn Đông soạn hai tác phẩm "Chiều mưa biên giới" và "Phiên gác đêm xuân." Các ca khúc này phản ánh đời sống của lính chiến ở khu ấy.
Ông nói với tôi rằng ông "viết thực tế về lính." Ông "có thấy chết nhiều lắm, đau khổ nhiều lắm." Khi mới cho phổ biến hai bài ca ấy ông đề tên bút Vì Dân như nửa muốn dấu tên mình. Hai ca khúc đều có lời giới thiệu: Kính tặng các Chiến sĩ một nắng hai sương lao mình nơi tiền tuyến, dâng mình cho đất nước và các Bạn thanh-niên sắp khoác chiến y.


Chiều mưa biên giớiBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionNhạc phẩm ''Chiều mưa biên giới''

Chiều mưa biên giới

Tôi hỏi ông về ca khúc "Chiều mưa biên giới" ông suy nghĩ sâu. Cũng có thể ca khúc của mình đã làm giảm sức chiến đấu của quân lực miền Nam ít hay nhiều. Nhưng ông nói là "trong người có trách nhiệm với lương trí."
Ông "không làm chủ - không lãnh đạo được cái trí của mình." Ông muốn biểu lộ cảm xúc thực của mình. "Tôi không có ý muốn phản bội. Tôi muốn người ta hiểu mình."
"Chiều mưa biên giới" được xuất bản năm 1959 rồi không biết bao nhiêu lâu sau đó lại bị cấm chung với các bài ca "Phiên gác đêm xuân," "Mấy dặm sơn khê," và "Nhớ một chiều xuân."
Trên bìa sau ca khúc "Nhớ người viễn xứ" (sáng tác chung với Lâm Tuyền và được cấp phép xuất bản 26 tháng 4 1963) có danh sách bốn ca khúc này với lời nhắn các "quí bạn yêu nhạc đừng gởi thơ về xin chữ ký trên các nhạc phẩm này nữa."
Trên bìa cũng đã đề cập đến hai ca khúc "Cuốn theo chiều gió" về "Bến đò biên giới" mà "chúng tôi cũng không xuất bản. Hẹn ra mắt quí vị khi có hoàn cảnh thuận tiện."


Nhạc phẩmBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionMột số nhạc phẩm bị cấm của Nguyễn Văn Đông

Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ thì lúc "thuận tiện" mới đến và các tác phẩm ấy được phổ biến rộng rãi. Thực ra "Chiều mưa biên giới" đươc nghe khắp mọi nơi như làm khuây với dân miền Nam đã cảm thấy khó phù hợp với phong cách cai trị chặt chẽ của chế độ ấy.
Nguyễn Văn Đông tâm sự: "Làm văn nghệ rất là khó - không được sự hỗ trợ vì không vào cuộc chiến tranh tâm lý."
Vì vụ bài ca "Chiều mưa biên giới" ông bị quân đội phạt, nhưng ông cũng giỏi về việc tự lăng-xê mình. Các bài hát bị cấm thì một điều tất nhiên là quần chúng sẽ càng thích và tìm đến.


ContinentalBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionHãng đĩa hát Continental năm 1960

Nhạc sĩ - doanh nhân

Ông là sĩ quan quân đội, là nhạc sĩ sáng tác, nhưng cùng thời ông là một doanh nhân. Ông đã từng lập ra một số hãng đĩa và nhà xuất bản. Ông mở hãng đĩa hát Continental năm 1960 (167 thương xá Nguyễn Huệ). Hãng đĩa Continental có nhãn hiệu chữ viết hoa in đệm và gọn. Tên Continental là tên gọi có tính quốc tế mà có nghĩa Lục Địa được viết thế trông oai nghi và nghiêm trang.


Trăm Hoa Miền NamBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionNhà xuất bản Trăm Hoa Miền Nam

Sau đó năm 1966 ông lập nhà xuất bản Trăm Hoa Miền Nam (103 đường Nguyễn Thái Học)
Nhãn hiệu Trăm Hoa Miền Nam được tao nhã in với chân chữ trang điểm với hình lá cây. Một thiếu nữ tóc bay thổi hạt và cánh của nụ hoa. "Trăm hoa" chắc gốc từ chữ "bách hoa" nghĩa là nhiều loài hoa.


Sơn CaBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionHãng đĩa hát Sơn Ca

Năm 1967 có thêm hãng đĩa hát Sơn Ca (135/116 đường Nguyễn Huệ) "do nhạc sĩ Phượng Linh trình bày" (Phượng Linh là tên bút chính của Nguyễn Văn Đông). Nhãn hiệu Sơn Ca hiện đại hơn, hai chữ ghép với nhau trên hình trái đất có con chim hót trên. Ở dưới có hình đàn guitar lập thể nhiều sắc màu.


Đông Phương TửBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionChủ trương do Đông Phương Tử

Ông sáng lập thêm một nhà xuất bản năm 1967 là "chủ trương do Đông Phương Tử." Đông Phương Tử là tên bút của Nguyễn Văn Đông khi làm cổ nhạc hay soạn lời tân cổ. Chữ của nhãn hiệu vừa tròn, vừa nét kẻ.


Hoa Bốn PhươngBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionNhà xuất Hoa Bốn Phương

Nguyễn Văn Đông lập nhà xuất Hoa Bốn Phương năm 1971 với nhãn hiệu có phong cách thí nghiệm. Chữ màu cam khó đọc trên nền cây cỏ nấu. Phông chữ cũng hỗn độn chữ hoa với chữ thường, chân chữ với sans serif trống rất hiện đại.
Năm 1966 Việt Nam bắt đầu có kỹ thuật mới để phát thành nhạc là băng cát xét. Đến năm 1969 thì kỹ thuật này đã thành phương tiện chính của người tiêu thụ âm nhạc vì được sản xuất và bán rẻ tiền hơn.
Hãng Continental thực hiện các chương trình mới và chương trình được biên soạn theo các đĩa hát 45 tua từ trước. Hãng Sơn Ca đã từng làm các chương trình cát xét chỉ có một nghệ sĩ (nổi tiếng nhất là Sơn Ca 7 với Khánh Ly ca nhạc Trịnh Công Sơn). Các băng cát xét Sơn Ca có nhạc đề ("Sơn Ca, Sơn Ca, Sơn Ca" với ba giọng ca nữ hát hợp âm xuống) của Nguyễn Văn Đông soạn và Lê Văn Thiện phối khí.
Hãng băng nhạc Premier mà Nguyễn Văn Đông lập năm 1971 không sản xuất đĩa. Chữ Premier viết hoa được uốn cong như hình tròn của cuốn băng.


PremierBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionHãng băng nhạc Premier

Quãng thời gian hữu ích nhất trong sự nghiệp văn nghệ của Nguyễn Văn Đông là khi ông được chuyển làm ở Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn. Mặc dù bộ quốc phòng không thích ông làm văn nghệ, nhưng mỗi cuối tuần Nguyễn Văn Đông làm âm nhạc và xếp chương trình đĩa băng. Ông tự mô tả mình là "người chia làm hai." Đến trưa thứ bảy ông làm quân sự, nhưng "tối thứ bẩy, chủ nhật thì thuộc về mình."

Thị trường âm nhạc

Là doanh nhân thì Nguyển Văn Đông phải nghiên cứu và tìm hiểu về thị trường âm nhạc. Hãng của ông phân phối đĩa với 36 đại lý khắp miền Nam. Ông hỏi kỹ ở các đại lý về sở thích của người mua đĩa để sắp xếp các chương trình ăn khớp với thị hiếu của quần chúng nghe nhạc. Ông kể rằng một chương trình cải lương được phát hành với 10,000 đĩa mỗi lượt, nhưng một chương trình tân nhạc chỉ có phát hành 5,000. Thường lệ một chương trình cải lương hay tân cổ sẽ bán được 70,000 đĩa và một chương trình tân nhạc chỉ bán được 5,000 đĩa.
Ông giải thích rằng lúc bấy giờ "cải lương nuôi tân nhạc."
Ông thừa nhận "tân nhạc chỉ ăn ở thành phố." Quần chúng ở các tỉnh chỉ ưa mua đĩa vọng cổ và cải lương.
Ông thực sự là một nhà sản xuất tài ba. Mỗi chương trình đĩa tân nhạc gồm bốn ca khúc thì ông chọn từng bài, tuyển các ca sĩ và dàn nhạc. Với các đĩa cải lương ông làm đạo diễn chọn đề tài chọn nghệ sĩ và thuê tác giả soạn kịch.
Mỗi việc xảy ra từ khuya đêm thứ bảy. Sau mỗi buổi cải lương kết thúc thì các nghệ sĩ đi đến phòng thâu ở cơ quan hãng Continental tại 167 thương xá Nguyễn Huệ. Các ca sĩ tân nhạc thường hát phòng trà rồi cũng đến phòng thâu từ khuya và làm việc suốt ngày chủ nhật.
Để giúp vui ông đãi các nghệ sĩ những đồ ăn và uống ngon nhất. Các nhạc công rất vui mừng khi được làm việc với ông mặc dù là đêm khuya vì được tăng lương thêm một nửa.


Băng nhạc ContinentalBản quyền hình ảnhTƯ LIỆU NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Image captionBăng nhạc Continental

Nguyễn Văn Đông làm việc tích cực ở nhiều lĩnh vực - soạn cổ nhạc, viết ca khúc, sản xuất đĩa, xuất bản nhạc phẩm, phân phối đĩa và bản nhạc, và điều hành một phòng thu âm. Tài năng chính của ông là "có tổ chức lắm."
Nhờ Nguyễn Văn Đông làm kinh doanh giỏi, nhiều nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhạc công, kể cả kỹ sư âm thanh, họa sĩ, tiệm bán đĩa và bản nhạc cũng được kiếm sống.
Nhưng ông cũng làm các việc nhỏ nhoi như viết chapeau (tức "cái nón), thực là lời giới thiệu cho các chương trình băng nhạc.

Sau 1975

Sau 1975 ông mất hết. Vì ông là đại tá của quân đội Việt Nam Cộng Hòa từng nhận mề đay của quân đội Mỹ tặng thưởng, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị giam 10 năm.
Trong những năm đầu ông ở một trại tại Biên Hòa, nhưng từ năm 1978-1985 ông ở Khám Chí Hòa.
Tại các trại ở ngoài trời có chế độ lao động thì ông sung sướng hơn, khi bị giam ở nhà tù phải ngồi đợi trong im lặng. Là một con người ham hành động thì bị bắt phải ngồi không rất là đau khổ.
Khi được thả tự do và được sum họp với gia đình ông sống rất khép kín. Một điều tất nhiên là ông từng thường bị công an thăm hỏi và theo dõi.
Không muốn bị nghi ngờ thì ông phải tiếp xúc với mỗi người rất cẩn thận. Một thí dụ là khi mở tài khoản email ông chọn một công ty Việt Nam để được công khai và dễ kiểm soát hơn.
Tôi nghĩ rằng ông hiểu rõ vị trí của một người lính bên thua cuộc và chấp nhận hay chịu đựng cái đời sống mới ấy mặc dù đời sống ấy chưa có chỗ đứng cho mình được hoạt động.
Nhưng ông đã tồn tại. Ngay sau biến cố năm 1975 các sản phẩm văn nghệ ông từng thực hiện bị xã hội mới coi xấu, thậm chí là độc ác. Hàng hóa của các công ty ông bị tịch thu luôn.
Nhưng mới đây thì nền tân nhạc thời Việt Nam Cộng Hòa được xét lại và dần dần được chấp nhận kể cả tán dương.
Hiện nay nhiều người than phiền về thị trường lộn xộn của âm nhạc Việt Nam. Song thị trường ấy chỉ khởi đầu từ những năm 1990 mà được xây lại từ đầu trong những năm đổi mới.
Trước năm 1975 thì miền Nam Việt Nam đã từng có một thị trường âm nhạc mà cũng có những nét lộn xộn. Nhưng thị trường ấy cũng có mặt tao nhã.
Nguyễn Văn Đông là một tay mạnh ở đằng sau thị trường âm nhạc miền Nam lúc bấy giờ. Ông soạn ca khúc theo kiểu phương Tây, nhưng ông cũng là một "Phương Đông tử" nâng cao nhạc truyền thống.
Các chương trình ông được thực hiện rất kỹ càng. Ông chú ý đến kỹ thuật âm thanh và họa tiết từng bìa và quảng cáo để hiện đại hóa văn nghệ Việt Nam. Thực ra ông chế tạo những sản phẩm văn hóa hậu tân thời và rất cá tính.
Jason Gibbs có bằng tiến sĩ về Lý thuyết và Sáng tác âm nhạc từ Đại học Pittsburgh, chuyên nghiên cứu âm nhạc Việt Nam. Bài viết gửi BBC được ông viết trực tiếp bằng tiếng Việt.

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2018

NGƯỜI GIỮ 16 TẤN VÀNG CỦA VNCH QUA ĐỜI TẠI CHIANG MAI

TS. Đinh Xuân Quân
Người có trách nhiệm và giữ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia (NHQG), tài sản của Việt Nam đã qua đời tại Chiang Mai, Thái Lan thọ 81 tuổi (tháng 9 1937-2018). Ông mất ngày 26 tháng 1, năm 2018. Nhân dịp 49 ngày ông mất tôi xin có bài sau đây.

Trong giới Kinh Tế Tài Chính, nhất là vào những năm chót của VNCH, ai cũng biết đến Thống đốc trẻ tuổi của Ngân Hàng Quốc Gia là ông Lê Quang Uyển (LQU).

Sau khi tốt nghiệp HEC (Hautes Etudes Commerciales) tại Paris năm 1960, ông Lê Quang Uyển đã về VN phục vụ. Ông đã làm một thời gian ngắn làm cho Ngân Hàng Pháp Á (BFA – Banque Francaise de l’Asie). Sau đó ông Lê quang Uyển cũng như nhiều chuyên viên trẻ khác cũng bị động viên vào quân đội lên đến cấp Đại Úy.
Từ quân đội ông được chuyển sang ngạch ‘chuyên viên phủ Tổng Thống,’ một ngạch công vụ của VNCH dành cho các chuyên viên trẻ, có học thức và nhiều tương lai. Họ được đào tạo để trở thành các lãnh đạo tương lai trong nghành kinh tế, tài chính, giáo dục, các công ty của chính phủ - nhà đèn, công ty đường, Air VN, vv.. Và sau này có thể có những trách nhiệm cao cấp trong chính phủ. Ngạch này được thành lập từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm để kéo các chuyên viên giỏi phục vụ cho chính phủ VNCH.
Trong cương vị này ông đã tham gia chiều chuyến đi của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, trong đó có chuyên viếng thăm Manilla. Sau này ông đã được đề nghị vào giữ ghế Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia. Người ta nhớ nhất về Thống Đốc Uyển là những việc sau đây :
Chuyện Tín Nghĩa Ngân Hàng (TNNH hay Con gà đẻ trứng Vàng), một si-că-đan hồi thời VNCH. Lúc đó Tín Nghĩa Ngân Hàng là một trong những Ngân hàng có tiếng tại VN, có nhiều chi nhánh tại Saigon, Chợ Lớn và tại các tỉnh [Vào 1969, sau khi đậu cao học kinh tế tôi có về làm tập sự tại Ngân hàng ở VN và được gởi đi nhiều chi nhánh để biết về các nghiệp vụ tài chính ngân hàng.]
Ban thanh tra ngân hàng của Ngân Hàng Quốc Gia có trách nhiệm theo dõi các nghiệp vụ cho vay của mọi ngân hàng có mặt tại VN. Một người trong nhóm thanh tra có báo cáo ‘sơ hở’ trong quy trình cho vay của Tín Nghĩa Ngân Hàng và việc này đã trở thành si-căn-đan tài chính tại VN. Ông chủ tịch Tổng Giám Đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng đã dùng một số bộ hạ, người thân tín trong gia đình để vay các tín dụng. Ông quên rằng những việc làm này cũng khó mà qua mắt các thanh tra ngân hàng của Ngân Hàng Quốc Gia. Các người đi vay có tài sản quá thấp làm sao có thể thế chấp để đi vay một số tín dụng khổng lồ của TNNH. Thật ra thì ông Nguyễn Tấn Đời (NTĐ) đã sử dụng những người này đứng tên vay tiền cho cá nhân ông và ông đã dùng các số tiền tín dụng này để đầu tư cho riêng cá nhân ông.
Hồi thời đó chưa có tin học hay máy computer cho nên muốn kiểm tra phải tới tận nơi và khám xét trực tiếp các hồ sơ cho vay (Các sổ sách và tính toán làm bằng tay hay bằng máy NCR). Thống đốc Uyển đã trình TT Thiệu và thảo luận với nghành cảnh sát hình sự để giúp Ngân Hàng Quốc Gia đánh giá các hồ sơ cho vay của TNNH.
Thống đốc Lê Quang Uyển đợi lúc khi ông Nguyễn Tấn Đới đi nghỉ ở Đà Lạt để gởi các thanh tra ngân hàng làm cuộc truy tìm các hồ sơ tín dụng gian lận của TNNH. Các thanh tra chặn các cửa của Tín Nghĩa Ngân Hàng ở bến Chương Dương không cho hồ sơ thoát ra ngoài. Trụ sở Tín Nghĩa Ngân Hàng không xa Ngân Hàng Quốc Gia, có lẽ độ 1,000 m cùng ở bến Chương Dương. Qua việc kiểm tra này các thanh tra đã tìm thấy các hồ sơ tín dụng ‘dởm’. Lúc đó ông Nguyễn Tấn Đời là một Tổng Giám Đốc ngân hàng rất mạnh, có nhiều người che chở và việc kiểm tra sổ sách của TNNH là một kỳ công – phải được tổ chức như một chiến dịch quân sự.
Qua việc thanh tra này ông Nguyễn Tấn Đời đã bị đưa ra tòa. Ông bị tuyên án và phải vào khám Chí Hòa. Ở đây Thống đốc LQU đã làm đúng trách nhiệm của NHQG thanh tra hệ thống ngân hàng thương mại dưới quyền ông. Qua việc này ông đã chận các lạm dụng trong ngành tài chính.

Việc giúp các chuyên gia khối kinh tế tài chính – gởi đi làm việc tại các bộ .
Một khó khăn của VNCH trong những năm 1970 là thiếu ngân sách và khó tuyển mộ chuyên viên vì lương thấp. Trong kinh tế, muốn có thăng bằng ngân sách thì chinh phủ bán một số công khố phiếu ra cho công chúng. Với tiền công khố phiếu, chính phủ bù đắp thâm hụt ngân sách.
Ngân Hàng Quốc Gia (NHQG) có nhiệm vụ tham gia vào các chính sách tiền tệ và có đóng góp qua việc mua một số công khố phiều của chính phủ. NHQG mua một số công khố phiếu và tiền lời của công khố phiếu được bỏ vào một quỹ của Ngân Hàng Quốc Gia. Thống Đốc Uyển quyết định dùng số lời này để trả lương cho nhân viên kinh tế tài chính mà lúc đó VNCH rất thiếu và cần một số lời được chia cho nhân viên của Ngân Hàng Quốc Gia. Qua việc này, ông thống đốc giúp bồi đắp vào các chỗ hổng tài trợ chuyên viên mà trước đây cơ quan USAID tài trợ nhưng các ngân khoản viện trợ ngày càng giảm. Qua việc này, một số chuyên gia đã được gởi đi làm tại các bộ như Tài chính, Nha Thuế vụ hay bộ Kế Hoạch, nói chung mọi nơi cần chuyên gia.
Ông cũng có chương trình kéo các chuyên viên tài chính ngân hàng trẻ gia nhập Ngân Hàng Quốc Gia gây dựng nhân sự cho tương lai của ngân hàng. Một số người trẻ, có khả năng và có tay nghề được tuyển mộ vào Ngân Hàng Quốc Gia làm trong văn phòng Thống Đốc.
Ngoài việc dùng Quỹ tiền lời công khố phiếu, thống đốc Uyển còn sử dụng Quỹ Phát Triển (QPT) Kinh tế Quốc Gia mà ông làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) gởi các chuyên viên của QPT đi giúp các bộ. QPT là một chi nhánh - thành phần của NHQG được vốn của Hoa kỳ (USAID) trợ giúp. Ngoài việc tái tài trợ các ngân hàng phát triển VN (Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ, Ngân Hàng Phát Triển Nông nghiệp, SOFIDIV,vv.) Quỹ Phát Triển Kinh tế Quốc Gia có một số chuyên viên trẻ được gởi đi trợ giúp các Bộ Kế Hoạch, bộ Tài chính qua việc tham gia vào công tác xây dựng Kế Hoạch Phát Triển Hậu chiến, nhất là sau khi Hiệp Định Paris được ký.
Thống Đốc Lê Quang Uyển cũng cố vấn cho TT Thiệu chọn người trong khối Kinh tế Tài Chính, trong đó có việc giới thiệu ông Nguyễn Văn Hảo vào Quỹ Phát Triển và sau này làm phó Thủ Tướng đặc trách về Kinh tế Tài chính.

Giữ 16 tấn vàng cho VN.
Trong những ngày chót của VNCH, Hoa Kỳ muốn VNCH đưa 16 tấn vàng gởi dự trữ tại Ngân Hàng Trung Ương tại New York (một việc làm bình thường vì đa số các nước đều có trương mục với ngân hàng FED New York).. Sau khi bàn bạc, TĐ Lê quang Uyển đã quyết định gởi các thoi vàng đi Thụy Sĩ, tại Ngân Hàng Banque International Ressettlement - BIR tại Basle.
Theo kinh nghiệm thế giới, nhiều chính phủ Âu châu trước đây bị CS xâm chiếm đã gởi dự trữ vàng của họ tại đây để tránh chiến tranh và sau này giữ được tài sản quốc gia. Một kế hoạch đã được dựng lên để chở 16 T vàng sang Thụy Sĩ chứ không phải sang Hoa Kỳ. NHQG đã cho mướn một chuyến may bay để chở vàng này đi Thụy Sĩ.
Trong lúc hỗn loạn của những ngày miền Nam sắp mất, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay được mướn chở vàng đã không có cơ hội đáp TSN và kế hoạch gởi vàng qua Thụy Sĩ đã không thực hiện được.
Vào các ngày chót một số nhân viên ngân hàng từ cấp cao đều được cấp Walkie Talkie để dễ liên lạc với nhau vào bảo vệ tài sản VN. Thống đốc LQU tử thủ trong NHQG và chỉ mở cửa NHQG khi CS mang nhiều xe tăng đến đòi bắn vào NHQG.

Có tin đồn là cựu TT Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng đi nước ngoài trong khi nhiều người cũng kể công về việc giữ số vàng này. Vậy sự thật ra sao ? Bài báo sau đây của nhân chứng nói về kiểm tra vàng tại NHQG do báo Tuổi Trẻ đăng:

Bài viết trên tờ Tuổi Trẻ trích đoạn như sau:
“...Những ngày đầu tháng 5-1975, tôi vào trình diện tại Ngân hàng Quốc gia ở 17 Bến Chương Dương, thủ đô Sài Gòn cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.
Lần kiểm kê cuối cùng … … Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm thấy không có gì đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho chính quyền mới.. Tôi không lo âu gì cả vì biết chắc rằng số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp đúng với sổ sách.
Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của Ngân hàng Quốc gia vẫn được chúng tôi quản lý một cách tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.
Đại diện Ban Quân quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Anh hay nắm tay tôi khi trò chuyện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt - chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân hàng Quốc gia.
Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân hàng Quốc gia vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi: vàng thoi mua của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED); vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi - Công ty Montagu; và vàng thoi được đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào.
Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi.
Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau... Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dõi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho. Kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi ký vào biên bản kiểm kê, lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới đã hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng còn lại một chút gì, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản lý nghiêm túc của những người đã từng làm việc tại Ngân hàng Quốc gia...”
Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng tủ và từng Hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông ghi: “Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.”
Qua việc bảo tồn tài sản quốc gia, việc này cho thấy là các công chức của NHQG và đứng đầu là Thống đốc Lê Quang Uyển đã làm việc một cách nghiêm túc – với tinh thần trách nhiệm của một công chức. Đó là niềm hãnh diện cho VNCH, không bỏ chạy (tình thần trách nhiệm) và rất trung thực. Thống đốc Lê Quang Uyển là một gương soi sáng cho thế hệ trẻ - cho tinh thần trách nhiệm của công chức miền Nam.

Thống Đốc Lê Quang Uyển và tù cải tạo
Ông Uyển, cũng như những người khác, đã phải đi cải tạo trên 3 năm trong Nam (1975-1979). Trái với ông phó Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia ông Dõng, ông không trình diện liền khi CS kêu gọi thành phần nội các ra trình diện học tập. (Họ không biết là Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia có hàm bộ trưởng.) Ông Phó Thống Đốc Dõng đã ra trình diện và ông ta đã chết tại trại tù Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hóa. (Tác giả bài viết này còn gặp bà Dõng tại Saigon khi bị trục xuất ra khỏi nhà tại NHQG khi tôi đi cải tạo về vào 1979).
Ông Uyển là một sĩ quan VNCH cấp đại úy và đã ra trình diện khi CS gọi các sĩ quan cấp đại úy trình diện. Ông bị đi cải tạo 3 năm.
Ông LQU đã đi Pháp cùng vợ vì bà vợ chị Geneviève LyLap (một huynh trưởng nữ hướng đạo hệ Scout et Guide de France) là công dân Pháp và là nhân viên Tòa Đại sứ Pháp tại Saigon.
Năm 1981 ông Uyển tham gia vào ngân hàng Banque Indosuez.Ông được gởi làm giám đốc chi nhánh tại Saudi Arabia và ở đây đến 1990. Ông đứng đầu chi nhánh "Al BankAl Saudi Al Fransi" (Saudi French Bank), ngân hàng duy nhất của Pháp tại Arập Saoudi. Sau 1990 ông LQU được phái đi làm cho nhiều chi nhánh của ngân hàng Indosuez tại nhiều nước khác nhau.
Ông Lê Quang Uyển đã về hưu tại Chiang Mai, Thái Lan. Ông là hình ảnh một công chức VNCH có tư cách và có tinh thần trách nhiệm rất cao. Trong dịp 49 ngày ông qua đời (ba má và gia đình ông LQU theo đạo Cao Đài), tôi viết vài hàng này để đề cao tinh thần trách nhiệm của cựu Thống Đốc Lê Quang Uyển.
Với tư cách một chuyên viên trẻ đã từng có thời gian làm việc với ông, tôi xin thành kính chia sẻ nỗi buồn với chị Uyển trong sự mất mát này và cầu mong ông sớm được về miền Cực Lạc.

TS Đinh Xuân Quân

* TS Đinh Xuân Quân là cựu nhân viên Quỹ Phát Triển trực thuộc NHQG. Ông là cựu GS Đại Học Luật Khoa, ban Kinh tế, Đại Học Saigon (khóa 1974-1975). Hiện nay ông là chuyên gia cố vấn kinh tế cho LHQ (UNDP+World Bank) và USAID tại nhiều nước như Afghanistan, Iraq, Indonesia vv.

Bài học từ Hawking/Lessons from Hawking

Phạm Việt Hưng

A very special man, Stephen Hawking, was gone to another world two days ago. People remember him not only because of his great contributions to science, but especially because of his philosophical view on the world. On this occasion, discussing on Hawking’s changes of worldview during his lifetime maybe an useful way to commemorate him…
Một người rất đặc biệt, Stephen Hawking, đã ra đi đến một thế giới khác hai ngày trước. Người đời nhớ ông không chỉ vì những đóng góp lớn lao của ông cho khoa học, mà còn vì quan điểm triết học của ông về thế giới. Nhân dịp này, thảo luận về những thay đổi thế giới quan của Hawking trong suốt cuộc đời của ông có lẽ là một cách hữu ích để tưởng niệm ông.
Sau khi công bố bài “Nhớ Hawking”, tôi cảm thấy đã đủ để nói lên một cái gì đó tiếc nuối cho một bậc tài danh như Hawking, vì ông đã tự tước bỏ đức tin quý giá vào Đấng Sáng tạo. Nhưng sau chuyến thăm tháp “Thiên Ngọc Kết” của một người bạn, tôi cảm thấy những gì tôi vừa nói về Hawking dường như chưa đủ. Tôi sẽ nói về tháp Thiên Ngọc Kết ở cuối bài, nhưng chuyến thăm đó đã gợi ý tôi phải nhấn mạnh đến vấn đề ĐỨC TIN là thứ quý giá mà Hawking đã đánh mất. Đó là lý do để tôi viết thêm bài này, như một dị bản của bài “Nhớ Hawking”. Hy vọng độc giả sẽ nhận được ở đây nhiều ý tứ bổ sung thú vị. Xin chân thành cảm ơn.
Quả thật, Stephen Hawking là một người vô thần. Rất nhiều tuyên bố của ông chứng tỏ điều này, và không giống như Darwin chỉ dám nhận mình là một người “bất khả tri” (agnoticist), Hawking công khai tuyên bố “Tôi là một người vô thần” (I am an atheist)[1]. Nghĩa là ông rất tự tin về tư tưởng vô thần của mình. Ông tự tin đến mức đưa ra những tuyên bố rất phi lý về nguồn gốc vũ trụ, điển hình là một kết luận “bất hủ” trong cuốn Grand Design, tác phẩm cuối cùng trong đời ông:
Vì có một định luật như định luật hấp dẫn, vũ trụ có thể và sẽ tự tạo ra nó từ hư không” (Because there is a law such as gravity, the universe can and will create itself from nothing)[2].
Câu nói này để lộ chỗ yếu quá rõ ràng của “scientism” (chủ nghĩa duy khoa học), đến nỗi một số môn đệ của chủ nghĩa này đã phải lên tiếng khuyên mọi người nên đọc câu nói này của Hawking trong toàn bộ ngữ cảnh của nó.
Nhưng liệu có thể có một “ngữ cảnh” nào, một lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận phản lại những nguyên lý cơ bản của khoa học, chẳng hạn Định luật bảo toàn vật chất và năng lượng?
Một cách logic, nếu một vũ trụ đầy ắp vật chất có thể sinh ra từ hư không thì suy ra Định luật bảo toàn vật chất và năng lượng SAI. Nhưng định luật này KHÔNG THỂ SAI, suy ra Hawking sai, bất kể lập luận của ông “cao siêu” đến thế nào. Thậm chí, từ kết luận của Hawking, có thể thấy đây là một trong những dấu hiệu chứng tỏ khoa học dựa trên nền tảng logic vật chất thuần túy đang đi đến chỗ tự nó mâu thuẫn với nó, đúng như chính Hawking đã nhận định trong bài báo “Gödel and the End of Physics” (Gödel và sự kết thúc của vật lý), rằng “các lý thuyết (vật lý) chúng ta có đến nay vừa không đầy đủ, vừa không nhất quán” (The theories we have so far, are ~both inconsistent, and incomplete)[3].
Đó là chỗ yếu về triết học của chủ nghĩa duy vật mà Louis Pasteur đã dự đoán từ thế kỷ 19:
“Một ngày nào đó hậu thế sẽ cười vào sự ngớ ngẩn dại dột của các nhà triết học duy vật hiện đại. Càng nghiên cứu tự nhiên tôi càng kinh ngạc trước công trình của Đấng Sáng tạo…” (Posterity will one day laugh at the foolishness of modern materialistic philosophers. The more I study nature, the more I stand amazed at the work of the Creator. I pray while I am engaged at my work in the laboratory)[4].
Bây giờ hãy xem công chúng nghĩ gì về kết luận của Hawking:
Thảo luận trên trang “Physics”[5]
Độc giả Nawaz bình luận: “Đó không phải là logic luẩn quẩn ư? Làm thế nào mà lực hấp dẫn tồn tại nếu không có vũ trụ? Và nếu không có lực hấp dẫn thì làm thế nào để nó có thể là lý do sáng tạo ra vũ trụ? Cũng vậy, nếu vũ trụ không tồn tại, làm thế nào để nó có thể tự tạo ra nó? Đối với tôi, câu nói đó thật vô nghĩa. Điều đó dường như quá vô lý và phi logic đến nỗi tôi chưa bao giờ nghe thấy những câu như thế ngay cả trong triết học. Dựa trên nền tảng nào mà Stephen Hawking tuyên bố như thế?”.
Một độc giả khác có nickname là “twistor” cho biết trong một công trình mang tên “Wave Function of the Universe” (Hàm sóng của vũ trụ), Hawking đã từng nhận định:
“Không giống như sự sáng tạo ra cặp hố đen, người ta không thể nói rằng vũ trụ de Sitter được sáng tạo ra bởi năng lượng trường trong một không gian có trước. Đúng ra, nó thực sự được sáng tạo theo nghĩa đen từ hư không: không phải từ chân không (vacuum), mà từ hư không tuyệt đối chẳng có gì cả, bởi vì chẳng có cái gì bên ngoài vũ trụ” (Unlike the black hole pair creation, one couldn’t say that the de Sitter universe was created out of field energy in a preexisting space. Instead, it would quite literally be created out of nothing: not just out of the vacuum, but out of absolutely nothing at all, because there is nothing outside the universe).
Chú ý rằng những lập luận khoa học nói trên chỉ là những suy diễn thuần túy duy lý của Hawking chứ không phải một thực tế đã được kiểm chứng. Nói cách khác, lý luận của Hawking dù “logic” đến mấy cũng không phải là chân lý. Chỉ có những người mắc bệnh tôn sùng Hawking mới cả tin vào những lập luận đó. Thực tế là đa số công chúng không tin vào kết luận của Hawking, như ta sẽ thấy sau đây.
Thăm dò của tờ The Guardian
Ngày 02/09/2010, tờ The Guardian của Anh tiến hành một cuộc thăm dò dư luận độc giả với câu hỏi: “Is Hawking right?” (Hawking có đúng không?). Câu hỏi này được đính kèm theo bài báo nhan đề “Stephen Hawking nói vũ trụ không do Chúa tạo ra”[6], trong đó nêu rõ sự thay đổi lập trường của Hawking trong vấn đề nguồn gốc vũ trụ ─ năm 1988 khi ra mắt cuốn “Lược sử Thời gian”, Hawking thừa nhận vai trò của Đấng Sáng tạo nhưng 22 năm sau, khi ra mắt cuốn “Thiết kế lớn”, ông phủ nhận vai trò đó.
Nếu lập luận khoa học của Hawking thuyết phục thì chắc chắn không cần phải thăm dò dư luận. Thực tế, nhiều trang mạng đã đăng tải những thắc mắc, nghi ngờ, phản đối kết luận của Hawking. Tờ The Guardian cũng làm điều đó thông qua việc thăm dò ý kiến độc giả. Câu hỏi chi tiết như sau:
“Hawking nói Chúa không cần thiết. Trong một cuốn sách mới, nhà vật lý nổi tiếng thế giới Stephen Hawking đã thay đổi lập trường của ông trước đây ─ lập trường chấp nhận một đấng sáng tạo thần thánh ─ để lập luận rằng vũ trụ là công trình vật lý chứ không phải do Chúa tạo ra. Bạn có đồng ý (với Hawking) không?”
Kết quả: 37% đồng ý, 63% phản đối. Ý kiến phản đối được tóm tắt trong một câu hóm hỉnh, rằng “Chúa phán: Hawking không cần thiết”.
Vấn đề đặt ra là tại sao Hawking lại thay đổi quan điểm? Tại sao một người giỏi khoa học như ông lại có thể nêu lên một ý kiến phản lại định luật bảo toàn vật chất và năng lượng? Khó có thể trả lời rốt ráo vấn đề này nếu không có kiến thức về lịch sử khoa học và đặc biệt, nếu không biết gì về Định lý Gödel, bởi lẽ vấn đề nguồn gốc vũ trụ mà Hawking đụng đến thực ra là vấn đề của triết học, và do đó không thể không vận dụng Định lý Gödel để tìm câu trả lời. Hawking đã thấm nhuần Định lý Gödel để thay đổi quan điểm về TOE (Theory of Everything), tức Lý thuyết về mọi thứ, nhưng ông thấm nhuần chưa đủ sâu sắc để áp dụng vào vấn đề nguồn gốc vũ trụ.
Trên thực tế tất cả các câu hỏi về nguồn gốc đều dẫn khoa học duy lý tới bế tắc. Cụ thể là những câu hỏi lớn sau đây:
  • Nguồn gốc vũ trụ?
  • Nguồn gốc sự sống?
  • Nguồn gốc loài người?
Lý thuyết Big Bang không trả lời được nguồn gốc vũ trụ. Nó bị dừng lại ở thời điểm 10^(-43) giây kể từ Big Bang. Đó là “bức tưởng Planck”, khoa học không biết gì và không thể biết gì về vũ trụ bên kia bức tường Planck.
Lý thuyết nguồn gốc sự sống và nguồn gốc loài người của học thuyết Darwin hoàn toàn là những giả thuyết tưởng tượng, bịa đặt, không hề có thực tế để kiểm chứng, và không bao giờ có thể kiểm chứng. Thậm chí các giả thuyết này đã và đang bị khai tử bởi mã DNA ─ học thuyết Darwin tuyệt đối bất lực trong việc trả lời nguồn gốc của thông tin hướng dẫn sự sống.
Tại sao những câu hỏi về nguồn gốc không thể trả lời được bằng khoa học?
Bởi vì vấn đề nguồn gốc thuộc về nguyên nhân đầu tiên, tức hệ tiên đề của một hệ logic. Định lý Gödel đã chứng minh rằng không có một hệ logic nào có thể tự chứng minh tính nhất quán (phi mâu thuẫn) của hệ tiên đề của nó. Nói một cách nôm na dễ hiểu, A không thể tự chứng minh A đúng. Muốn chứng minh A, phải đi ra ngoài A ─ bổ sung những tiên đề mới nằm bên ngoài A vào hệ tiên đề của A. Nhưng lập tức hệ tiên đề mới lại không thể tự chứng minh nó đúng. Quy trình này lặp đi lặp lại đến vô tận, có nghĩa là KHÔNG BAO GIỜ một hệ logic có thể tự chứng minh hệ tiên đề của nó là đúng. Người ta chỉ có thể đặt NIỀM TIN vào hệ tiên đề, và niềm tin đó dựa trên TRỰC GIÁC.
Đó là bài học vĩ đại của Định lý Bất toàn của Kurt Gödel!
Stephen Hawking đã thấm nhuần Định Gödel đến mức thay đổi quan điểm gần như 180 độ trong nhận định về tương lai của TOE (Lý thuyết về mọi thứ), nhưng chưa đủ sâu sắc để thấy rằng Định lý Gödel đồng thời bác bỏ khả năng giải thích được nguồn gốc của vũ trụ.
Thật vậy, chính Hawking đã nói trong bài “Gödel và sự kết thúc của vật lý”[7] của ông rằng:
“Nhưng chúng ta không phải là thiên thần nhìn vũ trụ từ bên ngoài. Thay vào đó, cả chúng ta lẫn các mô hình của chúng ta đều là một bộ phận của vũ trụ mà chúng ta đang mô tả. Như vậy, một lý thuyết vật lý là một hệ tự quy chiếu, như trong định lý của Gödel. Do đó người ta có thể cho rằng lý thuyết ấy hoặc không nhất quán hoặc không đầy đủ. Cho đến nay, các lý thuyết hiện có vừa không nhất quán vừa không đầy đủ”.
Đó là một ý kiến xuất sắc, thể hiện sự thấm nhuần Định lý Gödel. Từ ý kiến đó, có thể khẳng định rằng các lý thuyết về vũ trụ đều bất toàn, và do đó không bao giờ có thể giải thích được nguồn gốc của vũ trụ. Vì thế, khi Hawking cố né tránh Đấng Sáng tạo để giải thích nguồn gốc vũ trụ, ông đã đi đến một kết luận đầy khiên cưỡng, trái với Định luật bảo toàn vật chất và năng lượng. Đó là một kết luận hết sức vô nghĩa, phản lại khoa học, phản lại cái tư duy duy lý mà ông tôn thờ!
Nghịch lý thay, một nhà khoa học lỗi lạc như Hawking lại phạm phải những lỗi sơ đẳng về khoa học. Nguồn gốc sâu xa của lỗi lầm này có lẽ là vì ông quá tự phụ, quá hăng hái với cái khoa học duy lý của ông. Ông thấm nhuần Định lý Gödel chưa đủ để thấy rằng khoa học có giới hạn ─ nên biết dừng lại trước những câu hỏi về nguồn gốc.
Thực ra trong trường hợp tìm câu trả lời cho vấn đề nguồn gốc vũ trụ, một người thông minh nên nghĩ đến nguyên lý “dao cạo Occam” (Occam’s Razor). Nguyên lý này nói rằng trong trường hợp phải đối mặt với những câu hỏi không có câu trả lời buộc ta phải đưa ra các giả thuyết thì nên lựa chọn giả thuyết nào đơn giản nhất.
Trước câu hỏi nguồn gốc vũ trụ, có 2 giả thuyết:
  • Giả thuyết 1: Vũ trụ sinh ra từ hư không.
  • Giả thuyết 2: Chúa sáng tạo ra vũ trụ.
Vì khăng khăng không muốn tin vào Chúa nên Stephen Hawking đã chọn Giả thuyết 1, trong khi những nhà khoa học giỏi nhất mọi thời đại như Louis Pasteur, Albert Einstein, Kurt Gödel,… đều tin vào Giả thuyết 2.
Nếu thực sự thấm nhuần Định lý Gödel, Hawking phải thấm nhuần câu nói giản dị của Gödel sau đây: “To explain everything is impossible” (Giải thích mọi điều là bất khả). Hawking quên điều đó nên đã cố giải thích chuyện tầy trời, rằng vũ trụ sinh ra từ hư không!
Cái khăng khăng không muốn tin vào Chúa của Hawking rất giống cái khăng khăng không muốn tin vào Chúa của George Wald, một nhà sinh học đoạt Giải Nobel năm 1967. Đây, hãy nghe George Wald giải thích lý do vì sao ông chọn thuyết tiến hóa để giải thích nguồn gốc sự sống, thay vì chọn Đấng Sáng tạo:
“Chỉ có hai cách giải thích có thể có về việc sự sống hình thành như thế nào: Sự sống hình thành tự phát hoặc một tác động sáng tạo siêu nhiên của Chúa… Không có một khả năng nào khác. Lý thuyết sự sống tự phát đã bị Louis Pasteur bác bỏ bằng khoa học từ 120 năm trước, và điều đó để lại cho chúng ta chỉ một khả năng còn lại… rằng sự sống ra đời do một tác động sáng tạo siêu nhiên của Chúa, nhưng tôi không thể chấp nhận triết học đó vì tôi không muốn tin vào Chúa. Do đó tôi chọn niềm tin vào cái mà tôi biết là bất khả thi về mặt khoa học, đó là sự sống hình thành tự phát dẫn tới tiến hóa” (There are only two possible explanations as to how life arose: Spontaneous generation arising to evolution or a supernatural creative act of God…. There is no other possibility. Spontaneous generation was scientifically disproved 120 years ago by Louis Pasteur and others, but that just leaves us with only one other possibility… that life came as a supernatural act of creation by God, but I can’t accept that philosophy because I do not want to believe in God. Therefore I choose to believe in that which I know is scientifically impossible, spontaneous generation leading to evolution)[8].
Xin nhắc lại để nhấn mạnh, rằng George Wald biết rõ lý thuyết sự sống hình thành tự phát là SAI về mặt khóa học, đã bị khoa học bác bỏ, nhưng vì ông không muốn tìn vào Chúa nên ông vẫn chọn cái SAI đó để TIN (!).
Câu nói “bất hủ” nói trên của George Wald có thể tìm thấy ở rất nhiều tài liệu. Ngoài chú thích trong bài này, tôi có thể cung cấp nhiều nguồn dẫn khác.
Điều đáng để chúng ta suy ngẫm là tính chất phi khoa học ở câu nói đó. Vô tình George Wald đã thú nhận rằng thuyết tiến hóa không phải là một khoa học, mà chỉ là một hệ tư tưởng (ideology). Có lẽ chính các nhà tiến hóa cũng không ngờ một lãnh tụ của thuyết tiến hóa có thể thú nhận như vậy. Thử hỏi còn gì là khoa học ở đó nữa?
Bây giờ hãy trở lại với Hawking. Phải công bằng mà nói rằng Hawking dù sao vẫn còn sáng suốt hơn nhiều nhà khoa học vô thần khác. Điều ấn tượng nhất ở ông là ở chỗ ông dám thừa nhận sai lầm của bản thân, khi ông nhận thấy mình sai lầm. Chẳng hạn:
Ông nhận mình đã SAI trong cuộc tranh luận với Leonard Susskind. Độc giả muốn tìm hiểu cuộc tranh luận này, xin đọc cuốn “Cuộc chiến lỗ đen” của Leonard Susskind, mới được xuất bản bằng tiếng Việt gần đây.
Kết quả cuộc tranh luận này dẫn tới một kết luận vô cùng quan trọng:
Thông tin độc lập với vật chất!
Đó là điều trước đó Hawking chưa nhận thấy. Sự thừa nhận của Hawking rất có lợi cho khoa học, bởi nó giúp cho mọi người hiểu và tin rằng thông tin là một hiện thực độc lập với vật chất. Điều này giáng một đòn chết người vào chủ nghĩa duy vật, vì nó khẳng định rằng vũ trụ không phải chỉ có vật chất, mà còn có những hiện thực phi vật chất, đó là thông tin!
Hawking cũng là người khảng khái nên mới chịu tiếp thu Định lý Gödel để điều chỉnh lại cách nhìn về tương lai của Lý thuyết về mọi thứ, như đã nói ở phần trên.
Thêm nữa, Hawking là người luôn luôn lo lắng cho số phận của nhân loại, trước những nguy cơ hủy diệt nhân loại do chính con người gây ra. Ông từng lên tiếng cảnh báo nhiều lần về nguy cơ hủy hoại môi trường, nguy cơ của robots và những thứ vũ khí hủy diệt do con người chế tạo. Ông từng cảnh báo Trái Đất chỉ còn có thể sống trong vòng vài trăm năm nữa,… Những cảnh báo của ông mang đầy ý nghĩa nhân bản.
Giá như ông có những cảm xúc tâm linh như Louis Pasteur thì có thể ông sẽ còn đóng góp cho nhân loại nhiều hơn. Đây, hãy nghe Pasteur nói:
“Sau cái chết, sự sống tái xuất hiện dưới một dạng khác và với những định luật khác. Nó sẽ tuân thủ những định luật của sự sống trường cửu trên bề mặt Trái Đất và mọi thứ như cây cối và động vật sẽ bị phân hủy và biến đổi thành khí gas, chất bay hơi và chất khoáng”[9].
Ý của Pasteur nói rằng sau cái chết thì thể xác sẽ tan rữa, trở về với cát bụi, nhưng linh hồn không chết, mà bước sang một thế giới mới, với những định luật hoàn toàn mới. Điều đó rất dễ hiểu đối với những người có đức tin, nhưng với Stephen Hawking, George Wald,… thì khó hiểu.
Thực ra người ta khác nhau và hơn kém nhau ở TRỰC GIÁC.
Nhờ trực giác âm nhạc, có người trở thành thần đồng âm nhạc, có người “điếc nhạc”. Trực giác toán học cũng tương tự,… Và cuối cùng, trực giác tâm linh cũng quyết định làm cho người ta trở thành một con người tâm linh hoặc con người vô thần. Những người không có trực giác tâm linh không thể hiểu và không thể tin vào các sự kiện tâm linh. Ngược lại, những người có trực giác này thì thấy đó là điều tự nhiên như ta ăn, uống và hít thở vậy. Những người như Hawking mắc bệnh tự phụ tự cho mình là khôn ngoan, nhưng thực ra là dại dột, bởi vì đã tự tước bỏ một món quà quý giá mà Đấng Sáng tạo ban cho con người.
Nếu Hawking hiểu điều Pasteur nói, chắc chắn ông sẽ không cố ý né tránh Đấng Sáng tạo để phát biểu những ý kiến vô lý và phản khoa học như chúng ta đã thấy. Và có lẽ ông sẽ không tự phụ nhận mình là người vô thần!
KẾT
Tôi nhận được tin Hawking từ giã thế giới đúng vào lúc tôi đang tham quan chiêm ngưỡng tháp “Thiên Ngọc Kết” ở Tứ Kỳ, Hải Dương. Đây là một tháp tâm linh đặc biệt, hình chóp cụt 7 cạnh, gồm 7 tẩng, cao tổng cộng 32m. Tác giả của tháp này là một chuyên gia nổi tiếng về công nghệ thông tin, tiến sĩ Quách Tuấn Ngọc. Tôi và anh gặp nhau tại Hội thảo “Tác động của Định lý Gödel đối với triết học về nhận thức”, diễn ra tại Khoa Triết, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà-nội, hồi tháng 10/2017. Câu chuyện giữa chúng tôi trước hết đồng điệu về mặt khoa học nhận thức. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên thích thú là “cuộc cách mạng về tâm linh” diễn ra ở anh. Đó là một câu chuyện dài,  không thể kể hết ở đây được, nhưng đó là lý do để tôi tới thăm chiếc tháp có một không hai này. Lúc nhận được tin về Hawking, tôi chợt nghĩ: Hay thật, ở đời có những chuyển động trái chiều ─ một người tài giỏi như Hawking đã không may mắn khi từ bỏ đức tin vào Đấng Sáng tạo để trở thành một người vô thần 100%; trong khi đó, bạn tôi, anh Quách Tuấn Ngọc, từ một người hoàn toàn vô thần (như anh tâm sự với tôi), anh đã nhận được những tín hiệu lạ lùng từ những thế giới khác trên cao để ngộ ra rằng thế giới này không chỉ có vật chất. Tôi khong thể nói thêm về bạn tôi, vì e rằng sẽ lạc đề, nhưng xin dùng chuyện đó thay cho lời kết:
Sự tự phụ làm cho Hawking tự tước bỏ một nhận thức quý giá ─ đức tin vào Đấng Sáng tạo! Sự khiêm tốn sẽ mở rộng tâm mắt của chúng ta về thế giới, bởi nhận thức được bổ sung những tri thức vượt ra khỏi không gian chật hẹp của tư duy vật chất, thông qua những kênh thông tin mà khoa học vật chất không thể có được. Đó là sự vận dụng nguyên lý bổ sung, như một hệ quả triết học của Định lý Godel ─ không có một lý thuyết nào là hoàn hảo, vì thế bức tranh về thế giới chỉ có thể được mô tả đầy đủ hơn, phong phú hơn bằng cách bằng cách kết hợp nhiều phương pháp nhận thức, nhằm bổ sung cho nhau.

PVHg 16/03/2018

[7] Gödel & The End of Physics, bản dịch của Phạm Việt Hưng, Khoa học & Tổ quốc, Tháng 04/2012 https://viethungpham.com/2012/03/27/toan-van-bai-gi%E1%BA%A3ng-c%E1%BB%A7a-stephen-hawking-godel-s%E1%BB%B1-k%E1%BA%BFt-thuc-c%E1%BB%A7a-v%E1%BA%ADt-ly/