Thứ Tư, 6 tháng 2, 2019

“Lý thuyết hạnh phúc” của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục

Nguyễn Xuân Xanh

Tại sao không ai hiểu tôi và mọi người lại thích tôi.
Albert Einstein
Thứ Ba ngày 24, tháng 10, 2017, sau câu chuyện sóng hấp dẫn, một sự kiện mới đầy ngạc nhiên xảy ra: Một trang giấy với một dòng chữ vỏn vẹn bằng tiếng Đức mà Einstein đã viết tay để làm quà tặng cậu bé phục vụ (bellboy) của Khách sạn Hoàng gia Tokyo – sau gần 100 năm – đã được bán đấu giá với mức giá có lẽ ngoài sức tưởng tượng mọi người: 1.56 triệu đô la Mỹ! “Chúng tôi hoàn toàn bị sốc, chúng tôi không tin điều đã xảy ra”, Avi Blumenthal, phát ngôn viên của Cty Bán đấu giá và Triển lãm Winner ở Jerusalem, tuyên bố. Nó cho thấy bức thư đã có sức hấp dẫn đặc biệt và hết sức bất ngờ không ai lường tới.
Sóng hấp dẫn của Einstein quả đã không thua kém sóng của hấp dẫn của vũ trụ mà ông đã tiên đoán. Nhưng nói cho cùng, điều đó không lạ lắm, bởi Einstein là con người đã từng tạo ra nhiều câu chuyện ngoài sức tưởng tượng. Nói đúng hơn, Einstein là một “con người ngoài sức tưởng tượng”, có thể tạo ra những cái “khùng điên” mà người đời không hình dung nổi.
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Albert Einstein, nhà vật lý huyền thoại của thế kỷ 20.
***
Số là, tháng 11, năm 1922, Einstein được mời đến diễn thuyết ở Nhật Bản. Trên đường đi ông nhận tin được trao giải Nobel vật lý. Đến Tokyo, khi cậu bé đồng phục của khách sạn lên phòng để trao cho ông một cái gì đó, Einstein cảm ơn và muốn biếu cậu bé tiền tip, nhưng lại không có tiền. Ông bèn nghĩ ra một món quà hết sức độc đáo: Viết tặng ý tưởng đơn sơ sau đây trên tấm giấy có tiêu đề của khách sạn:
Cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn mang lại nhiều hạnh phúc hơn là theo đuổi sự thành công đi kèm với bất ổn thường xuyên
[Stilles und bescheidenes Leben gibt mehr Glück als erfolgreiches Streben, verbunden mit beständiger Unruhe]
Trên mảnh giấy trắng thứ hai tặng cho cậu bé, Einstein ghi thêm dòng chữ:
Ở đâu có ý muốn, ở đó cũng có con đường
[Wo der Wille ist, da ist auch der Weg].
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Bức thư Einstein được bán với giá siêu kỷ lục $1.560.000.
Theo lời thuật của Cty bán đấu giá, Einstein đã nói với cậu bé rằng, “hãy giữ chúng, giá trị của những những dòng này trong tương lai sẽ có thể cao hơn rất nhiều lần so với số tiền típ bình thường”. Sau gần 100 năm, quả đúng như thế, và đúng thất kinh luôn. Còn tấm giấy thứ hai cũng bán được 240.000 đô la với giá ước tính ban đầu là $6.000. Đó cũng là một giá rất cao so với giá bán cao nhất đạt được trước đó của bức thư Einstein gửi cho nhà vật lý học David Bohm là $84.000.
Chủ nhân của hai bức thư Einstein là người chắt trai của cậu bé đưa tin năm xưa, hiện đang sống tại Đức. Mấy tháng trước đó, khi nhìn thấy giá bán khá hấp dẫn của bức thư Einstein gửi cho Bohm đăng trên báo Đức – giá cao nhất cho đến thời điểm đó – ông bèn nghĩ đã có thể bán được di sản mà ông hằng lưu giữ.
***
Báo chí thế giới đưa tin khá nhiều, nhưng chưa có bình luận. Chúng ta muốn biết thêm: Einstein muốn gửi một thông điệp gì qua câu nói đó, và tại sao ông lại viết tặng cho cậu bé kia?
Nhưng trước tiên, vì sao có những giá bán cao như thế? Đó là kết quả của một sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: Sự ngưỡng mộ và tình yêu thế giới một trăm năm qua dành cho ông không suy suyển; Ảnh hưởng của mùa sóng hấp dẫn đã hâm nóng lại tên tuổi của Einstein. Khắp nơi người ta biết và bàn về sóng hẫp dẫn. Một thế kỷ trước, Thuyết tương đối đã từng trở thành một từ cửa miệng trong văn hóa đại chúng. Sự khám phá sóng hấp dẫn cực kỳ yếu làm người ta nhớ lại sự kiểm tra độ lệch ánh sáng rất nhỏ ở gần mặt trời vào năm 1919. Einstein nổi tiếng đến nỗi ông từng nói: Mỗi tiếng bíp ở tôi đều trở thành một bản độc tấu kèn trompet.1 Ông không biết rằng, sau 100 năm, một dòng chữ viết tay đơn sơ của ông lại đáng giá cả triệu đô la, gây sửng sốt hơn cả bản tấu kèn trompet! Có phải thế giới “khùng” không? Không. Thế giới đang cần một vĩ nhân gần gũi với con người để ngưỡng mộ, một con người tuy yếu đuối như cây sậy của Pascal nhưng không biết cúi đầu trước những cơn gió bạo, đại diện cho chân lý, tự do, chính trực, và cho tình yêu hòa bình vĩnh cửu. Không ai thích hợp hơn Einstein, nhà khoa học cô đơn trên đỉnh cao tháp hải đăng, là một phần của vũ trụ, và cũng của đời thường.2
Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn hết: Câu nói đó là viên ngọc bích của triết lý sốngcủa Einstein. Nếu là một nội dung khác, chưa chắc nó được cao giá như thế.
Chỉ còn yếu tố thị trường là ẩn số. Cũng như hai bức thư đó đi về đâu, không ai biết. Tương lai mới giúp trả lời.
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Ảnh Einstein lúc đến Kobe, 43t, tay cầm ống điếu, 
không biết tay kia có xách cây đàn violin như lệ thường hay không.
***
Thông điệp nào Einstein muốn nhắn gửi, và tại sao cậu bé kia lại là người có diễm phúc được chọn làm “sứ giả”?
Hạnh phúc đơn sơ là quan niệm sống suốt đời của Einstein. Các phát biểu của ông từ thời trẻ cho đến những năm gần mất đều cho thấy nội dung bút tích về một cuộc đời “tĩnh lặng và khiêm tốn” là hoàn toàn nhất quán với triết lý sống của ông. Cho nên câu nói trên mảnh giấy chính là thông điệp về quan niệm cuộc sống hạnh phúc của ông chứ không phải một câu nói bình thường. Vì vậy nó có sức hút.
Cả đời, Einstein chỉ muốn có một cuộc sống đơn giản. Lúc còn là học sinh, ông đã từng viết trong một bài essay bằng tiếng Pháp:
Một người hạnh phúc sẽ quá hài lòng với hiện tại để nghĩ nhiều về tương lai. Nhưng mặt khác, bao giờ thanh niên cũng chính là những người bận rộn với những dự định táo bạo. Ngoài ra, cũng là một điều tự nhiên đối với một thanh niên nghiêm túc, rằng anh ta nên hình thành cho mình một ý tưởng rõ ràng như có thể về mục tiêu của những mơ ước của mình.3
ADVERTISEMENT
Được hạnh phúc quá sẽ làm cho con người dễ quên đi những lý tưởng tương lai. Em gái Maja của Einstein đã từng kể về sự thờ ơ của Einstein đối với của cải vật chất mà những người khác thường coi trọng. Bà kể: “Khi còn trẻ anh tôi thường nói: ‘Tất cả những gì anh sẽ muốn có trong phòng ăn của anh là một cái bàn gỗ thông, một cái ghế dài, và vài chiếc ghế dựa.’” Thế thôi. Khi nổi tiếng rồi, Einstein vẫn còn “mơ” về một “vị trí của người giữ hải đăng” cho những người hoạt động khoa học, xem đó là nghề lý tưởng nhất. Ông chẳng màng vật chất lẫn danh vọng. “Mỗi sở hữu đều là một cục đá ở dưới chân. Không có gì tôi không từ bỏ được, bất cứ lúc nào” như ông viết.
Người ta có thể tìm thấy rải rác những câu nói khẳng định quan niệm hạnh phúc đơn sơ của ông. Vào những năm cuối đời, khi được hỏi về sự tự do của giới khoa học gia tại Mỹ trước chủ nghĩa McCarthy, ông đã trả lời: “Nếu tôi còn trẻ và đứng trước sự lựa chọn trong việc kiếm sống thì tôi sẽ không làm một nhà khoa học, bác học hay sư phạm, mà muốn trở thành một thợ ống nước hay một người bán hàng rong, trong hy vọng để giữ được sự độc lập khiêm tốn có thể còn tìm thấy được trong những điều kiện xã hội hiện nay.” Ông không hề biết sợ. Hay chẳng hạn những lần phát biểu khác của ông dưới đây:
Ở đâu mà thế giới thôi là sân khấu của hy vọng, mong ước và ham muốn cá nhân, ở đâu chúng ta đối diện với thế giới với tư cách là những con người tự do của tạo hoá để chiêm ngưỡng, tìm hiểu, và quan sát, ở đó chúng ta bước vào vương quốc của nghệ thuật và khoa học.
Tôi tin chắc rằng không tài sản nào trên thế giới có thể đưa nhân loại đi xa hơn, cho dù từ bàn tay của một người thật tận tụy với mục đích. Chỉ có tấm gương của các nhân cách vĩ đại và trong sáng mới có thể đưa đến những suy nghĩ và hành động cao cả. Tiền bạc chỉ thu hút cái vị kỷ và luôn dẫn tới sự lạm dụng không cưỡng lại được.
Nhà sử học Fritz Stern, bằng ngòi bút sắc bén, đã vẽ lên tính cách của Einstein rất sinh động:
Thực tế, chính tính đơn giản của ông, sự thanh thoát, gây ấn tượng lên con người. Quần áo ông đơn giản, diện mạo ông đơn giản đến từng chi tiết. Sự khiêm tốn ở ông là nổi tiếng – và đích thực, cũng như tính không vị kỷ. Có bao nhiêu nhà khoa học, hàn lâm (chỉ) yêu cầu một tiền lương thấp hơn lương được đề nghị? Ông là con người cô đơn, dửng dưng với các sự vinh danh, “vô gia cư” như chính ông thú nhận, lo lắng cho số phận của nhân loại… . Có lúc, ông xuất hiện như thánh Francis ở Assisi – một vị thánh cô đơn – lái thuyền buồm với vẻ ngây thơ, đôi mắt đượm buồn đăm chiêu và bối rối nhìn xa xăm.4
Có lẽ chính trong “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” ông mới thấy khao khát chân lý, và đi tìm, một cách kiên trì: Thuyết tương đối hẹp ông tìm 10 năm, Thuyết tương đối rộng 8 năm, thuyết trường thống nhất 30 năm vẫn chưa kết thúc, nhưng trở thành di chúc mãi mãi cho nhân loại. Một người đầy những ham muốn vật chất và danh vọng giống như một tách nước đầy, sẽ khó có thêm chỗ cho chân lý. Nghe giống như chuyện thiền. Thực tế, làm khoa học là một dạng thiền với những mantra khoa học, cho nên cần một cuộc sống “tĩnh lặng và khiêm tốn”. Cuộc sống khác đi sẽ che lấp đi tầm nhìn đích thực, đưa ta đi xa khỏi cội nguồn sáng tạo bên trong.
Nhưng tại sao Einstein lại viết ra câu đó tại khách sạn sang trọng cho cậu bé? Có lẽ vì hình ảnh cậu bé sống hồn nhiên với cái nghề đơn sơ đã truyền cảm hứng cho ông, phù hợp với quan niệm một cuộc sống đơn giản của ông, nên khiến ông đã chọn cậu bé làm “sứ giả”.
Có lẽ còn thêm một nhân tố nữa. Bản thân Einstein đã gặp vô số bất ổn, ngay cả sự đe dọa tính mạng ông, chỉ vì sự nổi tiếng của ông – ngoài ý muốn – chứ không phải do ông đi tìm. Walther Rathenau, bộ trưởng ngoại giao của Cộng hòa Weimar, gốc Do Thái và là bạn thân ông, đã bị bắn chết ngay trên đường phố tháng 6 cùng năm. Đó là một sự báo động cho ông. Sau đó ông bỏ đi chu du để tránh sự chú ý ở Berlin, như nhiều người đã khuyên ông. Có lẽ sự bất ổn đã góp phần khiến ông lập lại triết lý về một cuộc sống đơn giản trên mảnh giấy?
***
Nhưng xa hơn, đằng sau “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” có điều gì quan trọng mà Einstein muốn đạt tới không? Có, đó chính là hai chữ tự do – khát vọng sâu thẳm và cao cả xuyên suốt cuộc đời ông. Vâng, tự do đối với ông là mệnh lệnh cho cuộc sống. Einstein sẵn sàng đánh đổi tất cả để có cuộc sống tự do. Tự do để có nhân phẩm, để phát triển những phần thiên phú trong con người mà tạo hóa đã ban cho. Tự do để có khoa học, có nghệ thuật, để có chân, thiện, mỹ. Tự do là thiêng liêng. Ông là “người tự do nhất”, như nhà vật lý Mỹ Gino Segrè viết. “Chính tự do này đã đưa ông đến vị trí vinh dự và kính trọng mà thế giới dành cho ông như nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi và một trong những con người vĩ đại. Ông thực ra là chủ nhân của số phận ông, cũng như là một lực lượng định dạng số phận của chúng ta”. Đúng như thế, “Không có tự do kia, sẽ không có Shakespeare, không có Goethe, Newton, không có Faraday và Pasteur. […] Vì chỉ con người tự do mới làm ra những khám phá và giá trị tinh thần, những thứ làm cho cuộc sống chúng ta, những con người hiện đại, trở nên đáng sống” như Einstein viết năm 1933.
Chúng ta sẽ không hiểu Einstein nếu không cảm nhận được tầm quan trọng của hai chữ tự do đối với Einstein là thiết yếu dường nào cho cuộc sống tinh thần – bao gồm tự do nội tâm và tự do đối với bên ngoài xã hội:
Để phát triển khoa học và hoạt động sáng tạo nói chung cần phải có một thứ tự do khác, người ta có thể gọi là tự do nội tâm. Đó là cái tự do của tinh thần thể hiện qua sự độc lập của tư duy trước các trói buộc của thành kiến, của quyền lực và xã hội, cũng như trước những trói buộc của suy nghĩ lệ thường và thói quen không phê phán. Tự do nội tâm này là một món quà hiếm có của thiên nhiên ban cho và là một mục tiêu đáng giá cho cá nhân. Cộng đồng cũng có thể đóng góp rất nhiều vào việc giáo dục tự do nội tâm này, bằng cách cộng đồng ít nhất không ngăn cản sự phát triển của nó. Trường học, bằng ảnh hưởng gia trưởng và bằng gánh nặng trí óc thái quá cho những cá nhân trẻ, có thể ngăn cản sự phát triển của tự do nội tâm, hoặc ngược lại bằng khuyến khích tư duy độc lập, sẽ tạo thuận lợi cho nó. Chỉ khi tự do nội tâm và tự do bên ngoài được vun xới một cách có ý thức và lâu dài thì mới có được điều kiện cho sự phát triển tinh thần, cho sự hoàn thiện và cải thiện đời sống nội tâm và bề ngoài.5
Cuộc sống đơn giản là đi liền với tự do nội tâm. Nhưng để có tự do bên ngoài, xã hội cần phải có khoan dung, và không được gây không khí sợ hãi:
Loại khoan dung quan trọng nhất vì thế là sự khoan dung của xã hội và nhà nước đối với cá nhân. Nhà nước dĩ nhiên là cần thiết, để bảo đảm cho cá nhân sự an toàn cho sự phát triển của nó, nhưng nếu nhà nước trở thành chính yếu, và từng cá nhân trở thành công cụ mù quáng của nó, thì những giá trị tinh túy hơn sẽ mất đi. Như ghềnh đá trước hết phải dạn dày sương gió để cây có thể mọc trên đó, cũng như miếng đất canh tác trước nhất phải được làm xốp đi, để nó có thể tạo nên sự mầu mỡ, thì tất cả những thành tựu giá trị chỉ đâm chồi từ một xã hội con người, khi nó đủ thông thoáng để tạo điều kiện cho từng con người sự phát triển tự do cho những khả năng của nó.6
Cho nên Einstein mới chấp nhận cuộc sống cô đơn, sự cô đơn có thể làm ông đau khổ trong thời trai trẻ, nhưng “trong những năm tuổi về chiều lại ngọt ngào”, như ông tự nói.
***
Chốc chốc Einstein lại lên tiếng như muốn nhắc nhở con người về ý nghĩa của một “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn”, và để cảnh báo trước sự ám ảnh và cám dỗ của sự thành công, quyền thế và vật chất, những thứ giết chết tự do, kềm hãm sự phát triển lành mạnh. Không có tự do nội tâm, con người sẽ cằn cỗi; và không có tự do đối với bên ngoài, con người sẽ èo ọt tinh thần. Xã hội, thế giới, không thể phát triển lành mạnh với những con người mà tâm thức bị sụp đổ, hay khô héo.
Nếu như khoa học của Einstein giống như một “nghi thức truyền tâm ấn, khoa học như một sự thỏa mãn tâm linh”, như nhà vật lý học Marcelo Gleiser nhận xét7, thì câu nói “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” có lẽ cũng có thể được xem như một dạng “truyền tâm ấn” cho một cuộc sống hạnh phúc đích thực.
Einstein không muốn làm một người “truyền giáo”, nhưng thông điệp toát ra từ những gì ông viết, gần như có tính “truyền giáo”, cho một “tôn giáo” của đời thường. Ông không sống khổ hạnh như Thánh Francis, mà sống một cuộc đời “tĩnh lặng và khiêm tốn” bình thường. Có lẽ trong cậu bé, ông nhìn thấy một tâm hồn hồn nhiên và đơn giản, chưa bị che lấp bởi sương mù dục vọng. Chỉ có những đứa trẻ hồn nhiên mới dễ là những nhà triết học thơ ngây, mới dám đặt những câu hỏi táo bạo mà chưa cần những câu trả lời. Einstein đã từng đặt câu hỏi về ánh sáng lúc 16 tuổi mà chưa biết câu trả lời cho đến mãi mười năm sau ông tìm thấy nó trong thuyết tương đối hẹp. Người lớn đã mất đi tính hồn nhiên và tự phát. Họ đã trở thành những người “tuân giáo”, conformist, thuần thục của xã hội, mất đi con mắt tò mò để nhìn vượt khỏi khuôn khổ xã hội họ đang sống.
Einstein là một người sống đơn giản nhưng phong phú, như một “người nghèo mà rất giàu có”. Gandhi, người Einstein ngưỡng mộ suốt đời, cũng từng cổ xúy cho “đạo sống đơn giản”: “Hãy sống đơn giản để cho những người khác sống đơn giản.” Thánh Francis là người cũng từng dạy cho con người sống giản đơn bằng kinh thánh: Tôi kể cho quý vị chân lý, trừ khi quý vị thay đổi và trở thành những đứa trẻ nhỏ, quý vị sẽ không bao giờ bước vào vương quốc của Trời. Với Einstein, giữ được sự hồn nhiên và nhạy cảm của tâm hồm để ngưỡng mộ thế giới là điều kiện để bước vào vương quốc của vũ trụ, của “đạo vũ trụ”. Đối với ông, ai không biết rằng cái đẹp nhất là cái bí ẩn nhất của tạo hóa, nếu ai “không còn khả năng ngạc nhiên, sửng sốt trước nó, người đó coi như đã chết, ánh mắt đã tắt lịm đi.” 8
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Ảnh chụp phơi sáng hệ Ngân Hà phía trên Biển Đen. 
(Ảnh: Jasmine K, Shutterstock)
Ngân Hà là mái nhà của 400 tỉ vì sao, trong đó có mặt trời và thái dương hệ chúng ta. Nó là môt thiên hà có hình xoắn ốc (spiral) với đường kính khoảng 120.000 năm ánh sáng. Ngân Hà thu hút không biết bao nhiêu sự chú ý của con người, từ nhà thơ đến các nhà thiên văn học và nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp hay tài tử.
Chúng ta nhớ lại, cái gì cuối cùng đã khai sáng con người? Cái gì đã tạo nên lý tính? Cái gì đã tạo ra khoa học hiện đại? Cái gì đã giải phóng chúng ta khỏi u mê? Cái gì đã tạo ra hình hài của con người? Đó chính là các tinh tú trên trời và vũ trụ. Chúng ta là một phần của vũ trụ, hay nói vui như một nhà hóa học ví dí dỏm, “sản phẩm tái chế từ bụi tinh tú”, nhưng biết tư duy. Ngạc nhiên, sửng sốt, wonder, là mở rộng trái tim trước vũ trụ, để học, suy ngẫm, nhìn thấy. Ngạc nhiên là con đường để thành người của chúng ta. Thế giới không phải để cho chúng ta tiêu pha, mà để chúng ta giải các bài toán, như ý tưởng tuyệt vời của Kant. Ngạc nhiên là mở rộng trái tim để nhận thêm năng lượng trí tuệ của vũ trụ, như cây cỏ, sinh vật nhận ánh sáng mặt trời, và để đánh thức trong chúng ta ý thức về một sự liên thông của đại gia đình vũ trụ mà con người là một thành viên. Và ngạc nhiên để chúng ta khỏi quên làm “những vị khách tốt, đi nhẹ nhàng trên hành tinh như các sinh linh khác của nó cùng sống chung trên đó” (Chỉ một trái đất của Hội nghị Môi trường Stockholm năm 1972).
***
Tại Hội chợ Thế giới New York tháng 8, năm 1938, tại Thành phố New York, Einstein được mời viết một thông điệp để đưa vào một “Capxun thời gian” (time capsule) chứa đựng nhiều hiện vật của thế giới loài người được chôn cất sâu xuống 15 mét cẩn thận, và sẽ chỉ được đào lên năm 6939, nghĩa là sau đúng 5.000 năm kể từ khi được niêm phong. Không biết lúc đó thế giới sẽ ra sao, con người vẫn còn là con người, văn hóa con người vẫn còn tồn tại, và người ta vẫn còn biết Einstein là ai? Hoa vẫn còn nở, chim vẫn còn hót, nhạc Bach, Mozart vẫn còn được yêu thích?
Những điều được trình bày trên đều có tính tư biện, phỏng đoán, nhằm cố gắng “giải mã” một bí ẩn của Einstein. Chúng ta chờ xem có thêm những nỗ lực khác hay không.
Nguyễn Xuân XanhCuối tháng 10, 2017
Đăng lại từ Rosetta.vn
Mời độc giả ghé thăm để tìm hiểu thêm các bài viết của tác giả.
Chú giải:
1. Xem Albert Einstein, Mặt Nhân Bản, nxb Tổng hợp Thành phố HCM
2. Xem thêm EINSTEIN của Nguyễn Xuân Xanh, nxb Tổng hợp Thành phố HCM
3. Xem thêm Mặt Nhân Bản
4. Mặt Nhân Bản trong Lời dẫn nhập
5. Xem thêm EINSTEIN
6. Trong EINSTEIN, hay Mặt Nhân Bản
7. Xem Mặt Nhân Bản, Lời dẫn nhập
8. Xem thêm EINSTEIN
Nguồn Trithucvn


Thứ Ba, 22 tháng 1, 2019

Phượng Hoàng của bóng đá Việt Nam


Bá Tân

Thế là cái tưởng rằng không thể đã trở thành có thể, đội tuyển bóng đá Việt Nam đánh bại Jordan, và lần đầu tiên trong lịch sử hiên ngang bước vào tứ kết Asian Cup 2019. Không chỉ thắng về tỷ số (4:2),  tuyển Việt Nam còn thể hiện là ’’đàn anh’’ trên sân cỏ về mọi mặt, từ chiến thuật, kỹ thuật, sức bền thể lực và đặc biệt là tinh thần thi đấu kiên cường quả cảm.

Không chỉ hàng triệu triệu người trong nước, mà cả châu Á đều hân hoan chia vui với chiến thắng của Việt Nam. Đẳng cấp đội tuyển Việt Nam đã thực sự được khẳng định ở tầm châu lục. Hình ảnh Việt Nam, thông qua kỳ tích bóng đá, không ngừng lan tỏa trong lòng bạn bè quốc tế.

Chiến thắng của Việt Nam là kết tinh xứng đáng của ban huấn luyện, tập thể các cầu thủ cũng như sự động viên vô bờ bến của người hâm mộ. Tuy nhiên không thể không nói đến cặp đôi Nguyễn Công Phượng - Nguyễn Trọng Hoàng trong trận chiến thắng Jordan. Nếu không có bàn thắng gỡ hòa của Công Phượng, kết cục sẽ thế nào với Việt Nam. Nếu không có pha ghi bàn gỡ hòa của Công Phượng, làm gì có hai hiệp phụ, và sau đó là loạt đá luân lưu 11 mét. Nếu Công Phượng không gỡ hòa, đội Joran sẽ dành chiến thắng sau 90 phút thi đấu chính thức.

Pha ghi bàn gỡ hòa tuyệt đẹp của Công Phượng đã lật ngược cục diện trận đấu, đội tuyển Việt Nam như được hồi sinh, dồn đối thủ vào thế bị động và bất lợi. Sẽ không có bàn thắng quý hơn vàng của Công Phượng, nếu không có đường chuyền chính xác như đặt của Trọng Hoàng. Cặp đôi này đã không ít lần’’kết duyên’’tỏa sáng như vậy, đem lại những bàn thắng mang tính quyết định cho Việt Nam.

Hai cầu thủ này quê xứ Nghệ. Công Phượng quê ở huyện Đô Lương. Quê Trọng Hoàng là huyện Nam Đàn. Cặp đôi này gắn kết trở thành’’tinh hoa’’trên sân của tuyển Việt Nam,và tên của họ gắn với nhau như là sự sắp đặt huyền bí thần kỳ: Phượng-Hoàng. Phượng Hoàng là loài chim quý, tượng trưng cho sự dũng mạnh, oai phong và cao thượng. Bằng tài năng và cống hiến hết mình, cặp đôi Phượng-Hoàng xứng đáng là biểu tượng Phượng Hoàng của bóng đá Việt Nam.

Trong đội tuyển bóng đá Việt Nam, cầu thủ quê xứ Nghệ chiếm phần không nhỏ. Đội hình chính thức của Việt Nam tại Asian Cup 2019 luôn có 5 cầu thủ xứ Nghệ, án ngữ ở những vị trí then chốt trên cả ba tuyến.Thủ quân hiện thời của tuyển Việt Nam, Quế Ngọc Hải, người xứ Nghệ, được ví như ’’quả núi’’sừng sững ở tuyến phòng ngự, đồng thời là tác giả của những đường chuyền dài chính xác cho tuyến tiền đạo. Cầu thủ xứ Nghệ, bằng cả số lượng và chất lượng, góp phần không nhỏ đưa đội tuyển bóng đá Việt Nam liên tục gặt hái chiến thắng vang dội trên đấu trường khu vực cũng như châu lục.

Xứ Nghệ có quyền tự hào khi nói đến thành tích của bóng đá Việt Nam.
                                                
 Bá Tân

*Tác giả gởi bài tới chủ blog. 

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2019

Lại chuyện đạo văn?



Viên Như

Báo Đại Đoàn Kết – Cơ quan Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã từng đăng nhiều bài của tôi như số 206 (6-2008) bài Giải oan cho một Thiền sư – Hiểu bài bài thơ “Xuân nhật tức sự” thế nào cho đúng; Số 215 (3-2009) bài Thử phác thảo một hế thống chữ viết cho người Việt; Số 221 (9-2009) bài Bài thơVịnh nga” khẳng định đường lối ngoại giao trong thời kỳ đầu tự chủ của nước ta; Số 229 (5-2010) bài Những lời khuyên của thiền sư Pháp Thuận...

Gần đây tình cờ đọc bài “Chính sách nội trị & ngoại giao của nhà Tiền Lê qua thi pháp của Thiền sư Đỗ̉ Pháp Thuận” của Lê Cung, PGS.TS.Trường Đại học Sư phạm Huế, tham luận hội thảo “Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long”  do Học viện  Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 26 tháng 8 năm 2010. (Đọc ở đây). 

Nhận thấy một số nội dung của bài này quá giống với bài “Bài thơ Vịnh nga” khẳng định đường lối ngoại giao trong thời kỳ đầu tự chủ của nước ta có thể đọc ở đây.
Để thấy cái nội dung giống nhau như thế nào, xin trích đăng một số đoạn trong bài viết của hai tác giả để so sánh.
           
           Viên Như:
Năm (987), nhà Tống lại sai Lý Giác sang . Khi đến chùa Sách Giang,Vua sai Pháp sư tên là Thuận giả làm người coi sông ra đón. Giác rất thích nói chuyện văn thơ. Lúc ấy nhân có hai con ngỗng lội trên mặt nước. Giác vui ngâm rằng :
Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha.

Ngỗng ngỗng cả bầy ngỗng
Ngửa mặt  hướng vách  trời.

Pháp sư đương cầm chèo theo vần làm nối đưa cho Giác xem:

Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba.

Lông trắng phơi dòng biếc
Chân hồng rẽ sóng khơi.
Lê Cung:
 “Trên mặt trận ngoại giao, đóng góp của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận cũng hết sức nổi bật. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Năm Đinh Hợi Thiên Phúc thứ 8 (987) mùa Xuân,... nhà Tống lại sai Lý Giác đến. Tới chùa Sông Sách, vua sai Pháp sư tên Thuận giả làm giang lệnh đi đón. Giác rất giỏi văn chương. Bấy giờ, gặp lúc có hai con ngỗng bơi trên mặt nước, Giác vui ngâm:
Ngỗng ngỗng cả bầy ngỗng
Ngửa mặt ngó ven trời.
Nguyên văn:
Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha.
Pháp Thuận đang cầm chèo liền nối vần ngay:
Lông trắng phơi dòng biếc
Sóng xanh chân trời hồng.
Nguyên văn:
Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba.”
Viên Như:
Tuy nhiên, như ta biết ngôn ngữ thi ca là ngôn ngữ ước lệ, Lý Giác đâu mất công mà đếm có bao nhiêu con ngỗng dưới sông kia. Nó có thể là 5 con, 6 con mà có khi còn hơn nữa, con số mà trong tiếng Việt ta gọi là "bầy" và đây chính là ý của câu một. Ta tạm dịch câu này là " Ngỗng, ngỗng cả bầy ngỗng".
Ngưỡng diện hướng thiên nhai,
Ngưỡng mặt hướng vách trời,
Sáu con ngỗng đang bơi với tư thế ngưỡng mặt hướng về phía chân trời. Trong câu này Lý Giác dùng từ "thiên nhai" có nghĩa là chân trời cao xa vời vợi. Sao ở chổ sông nước kia lũ ngỗng lại ngưỡng mặt hướng về chân trời cao xa vời vợi thế. Hơn ai hết Pháp Thuận  là người trong cuộc, ông biết rằng "thiên nhai" ở đây chẳng qua Lý Giác muốn chỉ cho thiên triều nhà Tống đấy thôi. Như vậy ta thấy hai câu này đã nói lên sự ngạo mạn, trịch thượng của một sứ thần phương bắc. Ông đã ví vua quan và nhân dân nước Việt như là bầy ngỗng đang ngưỡng mặt hướng về thiên triều thần phục. Đây là thái độ phổ biến của sứ thần phương Bắc chứ chẳng riêng gì Lý Giác; tuy nhiên ở đây Lý Giác lại dùng thơ để nói, vừa thách thức Pháp Thuận về mặt kiến thức, vừa hạ thấp đối phương một cách văn vẽ, quả thật đúng là ngôn ngữ ngoại giao, hết sức nhẹ nhàng nhưng chứa đầy giông bão.

Lê Cung:
“Thực ra, đây là một lối chơi chữ mang tính kiêu ngạo của sứ thần Lý Giác, mà không chỉ riêng Lý Giác, đây là thái độ phổ biến của sứ thần phương Bắc. Ý Lý Giác xem vua và dân Đại Cồ Việt như là bầy ngỗng đang ngẩng mặt hướng về thiên triều thần phục. Ngôn ngữ ngoại giao mà Lý Giác sử dụng, thoạt nhìn thật là nhẹ nhàng, bay bổng; song nhìn kỹ quả thực là một sự nhục mạ, một thách thức lớn lao đặt ra với Đỗ Pháp Thuận”.
           
           Viên Như:
“Là một công dân nước Việt, được giao phó trọng trách tiếp sứ thần lân bang, dĩ nhiên Pháp Thuận hiểu ngay những câu thơ cao ngạo ấy của Lý Giác. Tuy nhiên trong tinh thần trách nhiệm của một công dân, hơn nữa lại là một thiền sư, ông đã bình thản trả lời Lý Giác bằng hai câu thơ, hai câu này không những để đối trọng lại thái độ ngông nghênh mà Lý Giác đã nói trước đó, mà còn làm cho bài thơ hoàn chỉnh, rất hay.
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bãi thanh ba.
Lông trắng phơi dòng biếc,
Chân hồng rẽ sóng khơi.
"Bạch mao" là lông trắng, là biểu tượng cho sự công khai, ngày nay chúng ta vẫn thường dùng các từ như: bạch hóa, minh bạch, hay sách trắng, đó là nhiệm vụ của bộ ngoại giao là nơi công khai những chính sách của chính phủ. Rõ ràng trong câu này Pháp Thuận đã sử dụng từ bạch rất chuẩn. "Phô" là khoe ra, phô bày, làm cho ai cũng thấy, như vậy ta thấy từ phô này hoàn toàn tương hợp với từ đi trước nó là bạch. "Lục thủy" là chỗ rộng rãi, bằng phẳng (bình đẳng)hay chỗ công cộng, quốc tế. Như thế câu này nghĩa bóng của nó là: Về phương diện ngoại giao, một cách minh bạch và bình đẳng, nước ta  công khai tính độc lập đó để các nước lân bang công nhận.
Tuy nhiên, việc yêu cầu nước khác công nhận nền độc lập không có nghĩa là chúng ta trở thành thuộc địa, hay lệ thuộc vào một nước khác, trong bài này cụ thể là nước Tống. Ở câu bốn Pháp Thuận đã minh định lập trường đó. "Hồng trạo" có nghĩa là mái chèo màu hồng, ở đây nghĩa đen là chân hồng, nghĩa bóng là nội lực tràn đầy, màu hồng là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ tràn đầy như: tuổi hồng, hồng quân, máu hồng, trạo là mái chèo, ở đây là cơ chế nội lực, "bãi" là hai tay khoát ra, ở đây là rẽ, "thanh ba" là sóng xanh. Câu này có nghĩa là nếu như ai đó gây ra sóng gió thì ta có nội lực để rẽ sóng mà tiến lên.  Lời lẽ của Lý Giác đưa ra trong bài thơ là cố ý hạ thấp nước Việt, xem vua quan và nhân dân nước Việt như những kẻ hoàn toàn lệ thuộc vào triều Tống, với tư cách là những thần dân. Đây là một thái độ ngông nghênh của một kẻ đại diện cho cái gọi là Thiên triều. Trước thái độ trịch thượng đó, Pháp Thuận đã bình thản (như một tính chất phải có của một nhà ngoại giao) trả lời Lý Giác "Về phương diện ngoại giao thì nước tôi thông báo cho nước ông biết là nước Việt là một nước độc lập, như thế không phải là nước Việt là thuộc địa của bất cứ ai, vì nếu cần thiết thì chúng tôi có thừa nội lực để rẽ sóng mà đi tới".”

Lê Cung:
 “Với trách nhiệm một công dân, cao hơn còn là một vị thiền sư giữ trọng trách đối với vận nước Đại Cồ Việt, Đỗ Pháp Thuận hiểu hết thâm ý của sứ thần Lý Giác nhưng vẫn với thái độ ung dung tự tại, nối vần một cách hết sức sắc sảo, để từ hai câu thơ của Lý Giác trở thành một bài thơ hoàn chỉnh. Nhưng sự nối vần của Đỗ Pháp Thuận ở đây không chỉ nhìn đơn thuần về mặt thi ca mà phải được hiểu đây là một thái độ ứng xử chính trị trên phương diện ngoại giao.
Lông trắng phơi dòng biếc
Sóng xanh chân trời hồng.
Lông trắng ở đây được hiểu là sự công khai (bạch hóa). Một sự công khai được phô bày nơi công cộng (lục thủy). Ở đây, Pháp Thuận muốn tỏ cho sứ thần Lý Giác hiểu rằng Đại Cồ Việt đã giành được độc lập và công khai sự độc lập này đối với thiên triều qua Lý Giác. Và nếu có chăng một thế lực nào đó, dù là thiên triều đi nữa, với âm mưu xâm phạm nền độc lập, nhân dân Đại Cồ Việt sẵn sàng đứng lên bảo vệ bằng chính sức mạnh của mình (hồng trạo). Hồng trạo ở đây được hiểu là mái chèo màu hồng, thuyền lướt được là nhờ mái chèo, cũng có nghĩa Đại Cồ Việt sẽ vững bước lướt qua mọi phong bao bão táp mà tiến lên bằng sức mạnh của chính mình (màu hồng tượng trưng cho sức mạnh)”.

Viên Như:
“Cần lưu ý rằng, cách đó một năm, chính Lý Giác đã sang nước ta để bảo lãnh cho hai tướng nhà Tống bị ta bắt trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng. Chắc chắn dư âm thất bại đó của quân Tống vẫn còn vang vọng trong tâm thức của ông ta, nên khi nghe Pháp Thuận đáp như vậy Lý Giác giật mình và hiểu ra rằng tại sao quân Tống thất bại (quân sự) và cả chính ông nữa cũng thất bại vào lúc này(ngoại giao). Cũng từ nhận thức nầy mà thái độ sau đó của Lý Giác dè dặt hơn, điều này đã thể hiện rõ trong bài thơ ông ta tặng Pháp Thuận sau đó. Tuy cao ngạo, nhưng ít ra ông ta cũng đã công nhận giờ đây nước Việt đã là một đất nước vững mạnh. Trong bài thơ Lý Giác tặng Pháp Thuận có câu"Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu, khê đàm ba tỉnh kiến thiềm thu. Ngoài trời có trời nên xa nghĩ, khe đầm sóng lặng thấy trăng thu".”

Lê Cung:
            “Nhưng rồi quân Tống đã bị thất bại nhục nhã. Năm 986, Lý Giác được triều Tống cử đi sứ Đại Cồ Việt, được vua Lê Đại Hành trao trả hai tên tướng là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân, bị bắt trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Cồ Việt năm 981. Phải chăng sự thất bại của quân Tống vẫn còn ám ảnh Lý Giác, nên khi nghe Đỗ Pháp Thuận nối vần bằng hai câu thơ, y đã phải giật mình hiểu tại sao quân Tống thất bại và ngay cả chính bản thân mình giờ đây cũng phải chuốc lấy thất bại trên mặt trận ngoại giao. Điều này giúp chúng ta nhận thức được vì sao Lý Giác đã có bài thơ chứa đựng lời lẽ đầy thán phục Đỗ Pháp Thuận và ngưỡng mộ Lê Đại Hành như đã đề cập ở trên.”
Với chừng ấy trích dẫn, ta thấy nội dung hai bài viết giống nhau là không thể bàn cãi, đây nhất định không thể là sự trùng hợp ngẩu nhiên mà là sao chép, nói đúng hơn là đạo văn. Chúng ta đang ở vào lúc mà nghề “Đạo” trở thành thời thượng, cái vỏ âm thanh “Đạo” chứa cả hai ý nghĩa. Một là con đường đem người ta đến cái Chân – Thiện – Mỹ, một lối sống đạo đức, hai là một hành động phi đạo đức, lấy cái của người khác làm của mình. Trong hai bài viết nói trên nhất định phải có một người làm cái việc phi đạo đức, đó là “ăn cắp văn” của người kia. Đặc biệt không chỉ là đạo văn mà là tư tưởng, một đứa con tinh thần mà cha mẹ nó phải thai nghén cả nhiều năm mới rứt ruột đẻ ra, chứ không phải văn ấy, tư tưởng ấy là sản phẩm mặc nhiên đi kèm theo cái học hàm, học vị nào đó. Đừng nghĩ việc làm ấy như hút thuốc lá, bao nhiêu chất liệu rồi sẽ thành mây khói, không đâu! lá có thể trở thành mây khói nhưng thuốc sẽ ở lại trong con người, trở thành một tác nhân gây đau đớn cho kẻ hưởng thụ nó sau nhiều năm, do đó việc trùng văn trùng ý này về lâu về dài nhất định sẽ có những hệ lụy.
Bài của Viên Như đăng vào tháng 9-2009, về sau lại in thành sách, cụ thể là bài thứ hai trong cuốn Giọt lòng. Còn bài của PGS. TS Lê Cung công bố vào tháng 08 -2010, có nghĩa là bài tham luận của Lê Cung viết sau cả gần một năm. 

Tôi tin rằng bài của PGS. TS Lê Cung là một bài tham luận về “Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long” để hướng về ngày Đại lễ kỷ niệm 1000 Thăng Long, một dấu mốc vô cùng quan trọng và đầy lòng tự hào của lịch sử dân tộc, không ai lại đem cái của “ăn cắp” để hiến dâng cho tiền nhân, những con người đã đem biết bao tâm huyết, giữ gìn và xây dựng đất nước cho chúng ta cảm thấy tự hào sau hơn cả một ngàn năm, vì như thế là dối cả tổ tiên, công luận và cả chính mình. Tuy nhiên điều đáng buồn vì đó là sự thật nếu PGS.TS. Lê Cung không trưng ra được bài tham luận đó đã được công bố một cách công khai, hợp pháp trước thời điểm tháng 9 – 2009, bởi vì không ai ăn cắp cái mà kẻ khác không có cả.

Đà Lạt, ngày 17 tháng 1 năm 2019

Viên Như









* Tác giả gởi bài tới chủ blog.




Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2019

Xứ Nghệ mất đi một danh nhân

Bá Tân

Tôi luôn lưu giữ sâu nặng triết lý sống của một hiền triết: tuổi thọ con người không tính bằng năm tháng sống, mà tính bằng khối lượng và giá trị công việc. Theo “công thức” chí lý ấy, với bậc tài hoa Nguyễn Trọng Tạo, dù ra đi ở tuổi 72, Anh xứng đáng có tuổi thọ trên cả bách niên trong lòng hàng triệu người giàu cung bậc thổn thức cái đẹp, cái hay của thơ ca, nhạc, họa mang thương hiệu Nguyễn Trọng Tạo. 

Người ta có nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để về. Nguyễn Trọng Tạo có quá nhiều nơi để đến, nơi nào cũng hân hoan mỗi dịp được đón Anh đến thăm, nghe Anh nói chuyện, đọc thơ...Nơi chốn Anh về là xứ Nghệ-nơi không chỉ lọt lòng từ mẹ sinh ra, mà còn là miền quê văn hóa đặc sắc hun đúc tạo dựng hồn cốt âm hưởng, phong cách vừa riêng biệt như đỉnh núi Đại Huệ, vừa hòa đồng thiện cảm như dòng sông quê. 

Với xứ Nghệ, Nguyễn Trọng Tạo thừa xứng đáng là một danh nhân. Chưa một lần thề thốt thế nọ, thế kia nhưng, suốt cả cuộc đời, bằng những sản phẩm văn hóa để đời, Anh rút ruột nhả tơ để cho xứ Nghệ được tôn vinh. Cách sống, cá tính, dấu ấn tác phẩm của Anh luôn đậm chất Nghệ. Chưa hẳn xứ Nghệ lấy tên Anh đặt tên một con đường, nhưng trong lòng hàng triệu người xứ Nghệ, kể cả thế hệ mai sau, có hẳn một đại lộ lung linh ngời sáng mang tên Nguyễn Trọng Tạo. 

Ngày Anh ra đi, trời se lạnh, mưa lất phất. Lòng người cũng vậy, triệu triệu người tiếc nuối, kể từ đây không còn được gặp người của công chúng, nhà thơ-nhạc sỹ tài hoa Nguyễn Trọng Tạo. 

Xứ Nghệ mất đi một danh nhân. Tre già măng mọc là quy luật của tự nhiên và xã hội. Biết vậy nhưng đến bao giờ, chờ đợi đến lúc nào, xứ Nghệ mới có được danh nhân như Nguyễn Trọng Tạo. 

Bá Tân

(Tác giả gởi bài cho chủ blog)

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

Cuối năm nói chuyện Dịch học


Huyền Cơ

Lúc trẻ tôi vốn không mê mấy món phong thủy, bói toán, nhưng khi có tí tuổi, có nhiều thời gian, thấy người ta bấm bấm ngón tay tính ra người này mạng này, người kia mạng kia, tò mò hỏi xem học nó có khó không, vài người quen động viên, cho mượn mấy cuốn sách, thoạt đầu cũng hơi khó vì các tên gọi đều là chữ Nho cả, nhưng rồi mọi việc dường như khả quan theo thời gian, tôi dần thuộc hết Tý sửu dần mẹo… Giáp ất bính đinh… 

Thừa thắng xông lên, tôi lại học tiếp Hà đồ, Lạc thư, chủ yếu qua mấy cuốn sách củ rích, tất nhiên là dịch từ sách Tàu cả. Đã đến nước này thì làm sao không nghĩ đến kinh Dịch, vì nó là trung tâm của mọi vấn đề mà, thế là tôi lên mạng. Trời ơi! Hóa ra bấy lâu nay mình quá lạc hậu, cái Lạc thư – Hậu thiên bát quái của Tàu đã sử dụng làm mọi thứ hóa ra là sai, cho dù nó đã được hình thành và phát triển hơn 6000 ngàn năm rồi, rồi đến cái Ngũ hành nạp âm của Tàu cũng sai nốt. Tất cả những thành tựu vĩ đại này được một số nhà nghiên cứu kinh Dịch ở Việt Nam đưa ra chừng hơn một thập niên qua. 

Tôi băn khoăn hết sức, bởi vì cứ theo sự suy luận của tôi thì lẽ nào hơn 6000 ngàn năm qua mà chỉ với 8 cái ký hiệu ở tám vị trí, có cái đứng sai vị trí mà hàng tỷ con người lại không nhìn ra, chờ đến nay, ở Việt Nam mới nhận ra cái sai bằng cách đổi quái này sang quái kia, thế là bao nhiêu sách vở viết ra từ trước đến nay trở thành mớ giấy lộn hết. Cái thành tựu đó người ta gán cho Made in Lạc Việt, chẳng biết họ có đăng ký nhản hiệu thương hiệu quốc gia không, nhưng đồng loạt nhiều người đều lấy chung một xuất xứ như thế. 

Tuy nhiên giữa những người dùng chung xuất xứ này lại cũng phủ nhận lẫn nhau, ông thì đổi chổ Tốn Khôn, ông thì đổi ngôi Đoài Chấn nhưng tất cả đều gọi là Dịch học Lạc Việt hay gọi ngắn là Dịch Việt. Không những thế họ còn cho rằng kinh Dịch là của người Việt và tổ chức hội thảo để khẳng định điều đó, thật là tuyệt vời làm sao. Là một người Việt, tôi tự hào biết bao khi thấy các nhà dịch học nước ta dội vào nền văn hóa của Tàu một gáo nước nóng như thế. Tôi tự hào vì họ nên cố đọc những gì họ viết nhưng không tài nào hiểu nỗi, quá khó đối với tôi, không khó sao được khi nó được viết ra bởi những bộ óc thông minh vượt bật hơn hẳn hàng tỷ tỷ bộ não của Tàu hàng mấy ngàn năm qua.

Không những họ chứng minh Lạc thư – Hậu thiên bát quái của Tàu là sai, Ngũ hành nạp âm cũng tầm bậy nốt, mà họ còn chứng minh cho thấy cách nhận thức về phương hướng của Tàu cũng chẳng ra gì. Cứ theo sách Tàu từ xưa tới nay trong dịch học thì Bắc dưới, Nam trên, Đông trái, Tây phải, giờ đây nhân danh Dịch học Lạc Việt, họ đổi thành Bắc trên, Nam dưới, Đông phải, Tây trái. Có thể nói đây là một phát kiến hết sức vĩ đại, bởi vì với phát kiến này không những làm cho Tàu bẽ mặt mà còn cho Tây thấy cái dốt của họ, một mũi tên bắn trúng cả hai con chim. 

Tàu sai thế nào thì như đã nói trên, còn Tây dốt thế nào thì xin nhìn vào hình minh họa sẽ rõ.








 * Tác giả gởi tới chủ blog 



Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

18 CẢNH GIỚI

Truyền Bình
Lục căn, lục trần, lục thức là bộ phận quan trọng của thuyết Thập nhị nhân duyên Phật giáo nhằm giải thích thực tướng của thế giới. Căn bản nhất là vô minh, đó là nhân duyên đầu tiên của chuổi 12 nhân duyên. Vô thủy vô minh và Nhất niệm vô minh là hai chìa khóa mở ra vũ trụ vạn vật, thế giới, con người…
Khoa học giải thích vũ trụ bắt đầu từ Big Bang. Trước Big Bang là một vũ trụ khác. Sau Big Bang là vũ trụ mà ta đang sống. Theo Phật giáo, Big Bang và những gì diễn ra sau đó đều là vô thủy vô minh. Vô thủy là không có bắt đầu. Vô minh là không sáng tỏ, là mê mờ, đó chính là nhân duyên số một làm phát sinh vũ trụ vạn vật. Thuật ngữ vô thủy vô minh là ý nói tất cả chỉ là hiện tượng tâm lý, là không có thật. Vì không có thật nên không có bắt đầu, không có kết thúc, không có sinh diệt. Vì vô minh nên thấy có vũ trụ vật chất, có sinh diệt, vì vậy mới có sinh tử luân hồi, mới có khổ sướng. Đức Phật dựa trên tâm lý mê muội của chúng sinh mà tiêu biểu là con người, thuyết giảng 12 nhân duyên để chúng hiểu đại khái vì sao từ Không, không có gì cả mà thành ra có Tam giới. Tam giới là 3 cõi giới :
– Dục giới chính là cõi giới của Con Người thế gian nhiều ham muốn, cõi vật chất có khối lượng, có trọng lượng. Trên cõi Người là cõi trời Lục Dục Thiên, chúng sinh cõi này có thọ mạng lâu dài hơn cõi thế gian. Thấp hơn cõi Người là cõi của A-tu-la (阿修羅; asura, có 3 loại : ác thần, quỷ, quái vật), Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục.
– Sắc giới là cõi có hình tướng mà không có khối lượng, không có trọng lượng, vật chất của cõi này chỉ còn là hào quang, ánh sáng, thông tin, sóng, năng lượng. Chúng sinh cõi này ít ham muốn, không còn xác thân vật chất, nhưng còn hình dáng, có thể thấy và nghe được.
– Vô Sắc giới là cõi không còn hình tướng, chỉ còn thông tin mà thôi, kinh điển có đề cập tới Cõi Trời gọi là Phi tưởng phi Phi tưởng xứ là một cõi Vô Sắc. Chúng sinh cõi này giao tiếp với nhau trực tiếp qua ý niệm, cá thể này khởi niệm thì cá thể kia đã hiểu, không cần ngôn ngữ lời nói.
Thuyết Thập nhị nhân duyên chủ yếu tập trung hướng về con người để thuyết giảng. (Xin xem bài Thập nhị nhân duyên). Bốn nhân duyên đầu (Vô minh, Hành, Thức, Danh Sắc) là sự vận động tự thân của cấu trúc ảo vật chất, (nói theo khoa học là quark hình thành proton, neutron, hạt nhân nguyên tử, rồi phối hợp với electron tạo ra nguyên tử của các nguyên tố, một số nguyên tử kết hợp thành phân tử vô cơ như H2 O2, N2,  một số nguyên tử khác kết hợp với các phân tử này thành thành một phân tử rất cơ bản cho sự sống là nước H2O và thành các phân tử hữu cơ như acid amin, tiêu biểu là glycine, một acid amin đơn giản nhất C2H5NO2    còn được viết dưới dạng NH2CH2COOH
Rồi các phân tử hữu cơ hình thành nên tế bào sinh vật, kết hợp với nhiều nguyên tố khác tạo ra cơ thể sinh vật, rồi tiến hóa dần thành ra sinh vật, con người.)
Phật giáo gọi chung sự kết hợp vô cùng phức tạp đó là trùng trùng duyên khởi. Tại sao có thể cấu trúc được những vật vô cùng phức tạp và tinh tế như vậy ? Vì cái nền hay cơ bản của nó là Phật tánh, tánh giác ngộ, tánh biết, thuật ngữ Phật giáo gọi là Chánh biến tri, tức cái biết bất nhị (không có năng tri và sở tri) cùng khắp không gian và thời gian, không có hạn lượng. Cái biết đó tạo ra vũ trụ, thiên hà, mặt trời, hành tinh, vạn vật, con người. Đúng ra vạn vật ban đầu chỉ có Sắc (vật chất) mà chưa có Danh (tên gọi) chỉ khi có con người xuất hiện, có ý niệm mới có tên gọi.
Tánh thấy tạo ra nhãn căn (mắt). Tánh nghe tạo ra nhĩ căn (tai). Tánh ngửi tạo ra tị căn (mũi). Tánh nếm tạo ra vị căn (lưỡi). Tánh sờ mó tiếp xúc tạo ra thân thể (thân căn), thân thể có nhiều cơ quan nội tạng giúp cơ thể hoạt động và tăng trưởng theo một chương trình thông tin di truyền chứa trong nhân tế bào gọi là nhiễm sắc thể (DNA DeoxyriboNucleic Acid). Tánh biết tạo ra ý căn (não bộ) là trung tâm tổng hợp và điều khiển mọi hoạt động của cơ thể và từ đó có khả năng suy nghĩ trừu tượng nhờ vào khả năng ghi nhớ của các tế bào thần kinh.
Trên đây là sự hình thành lục căn.
Đồng thời với sự hình thành lục căn là sự giao tiếp với lục trần.
-Những gì thuộc về màu sắc, hình dáng, trở thành đối tượng của mắt. Mắt là cơ quan tiếp nhận thông tin của đối tượng qua trung gian là ánh sáng. Ánh sáng mặt trời có 7 màu, màu sắc chỉ là cảm nhận của ý thức, phân biệt bằng độ dài sóng của từng ánh sáng đơn sắc như bảng sau :
Ánh sángĐộ dài sóng (nm)Năng lượng sóng (eV)
Tia tử ngoạingắn hơn 380lớn hơn  3,3
Tím3803,3
Xanh dương4502,8
Xanh lá cây5302,3
Vàng5802,1
Đỏ7201,7
Tia hồng ngoạidài hơn 720nhỏ hơn 1,7
Bảng 1Độ dài sóng và năng lượng sóng.
Con người dựa vào kiến thức này để chế tạo máy chụp hình và quay phim. Ngày xưa người ta dùng phim có tráng hóa chất để ghi nhận hình ảnh. Ngày nay người ta không dùng phim nữa mà dùng thẻ nhớ kỹ thuật số để ghi nhớ, tiện lợi hơn rất nhiều. Bây giờ tất cả điện thoại di động thông minh (smartphone) đều có camera để quay phim chụp ảnh.
-Âm thanh, tiếng động trở thành đối tượng của tai. Âm thanh hay tiếng động có bản chất là sóng, truyền đi qua không khí. Tai người có thể nghe được dao động của sóng âm trong khoảng tần số từ 20 Hertz đến 20 Kilohertz. Sóng điện từ có tần số dao động cao hơn, tai người không nghe được, nhưng những thiết bị như radio thu được và biến trở lại thành âm thanh mà tai người nghe được qua loa (speaker). Radio sử dụng tính chất cộng hưởng giữa sóng và máy thu để dò đài, khi dò trúng đài thì sự cộng hưởng làm cho biên độ dao động được khuếch đại rất nhiều khiến tai nghe rõ. Sóng điện từ có độ dài bước sóng từ 380 nm đến 720 nm (nanometre = 1 phần tỉ metre) thì mắt người nhìn thấy được, đó chính là ánh sáng. Tính chất cộng hưởng còn được sử dụng trong lò vi ba, khi tần số của vi ba trùng với tần số cộng hưởng của các phân tử hữu cơ trong thức ăn thì thức ăn hấp thụ mạnh năng lượng của vi ba nên nóng lên rất nhanh, rất tiện để hâm nóng lại thức ăn đã nguội.
Mùi thơm hay hôi trở thành đối tượng của mũi. Bản chất của mùi là phản ứng hóa học giữa tế bào khứu giác và các phân tử của một số chất khuếch tán trong không khí. Tế bào mũi nhận ra các phân tử đó khi so sánh chúng với dữ liệu chứa sẵn trong ký ức, đánh giá thơm hay hôi có thể là chủ quan của từng cá thể. Ví dụ mùi sầu riêng có thể là thơm đối với một số người, nhưng là hôi đối với một số người khác. Mùi hôi tanh của súc vật hay cá tép là cảm giác của người chớ đối với chúng là bình thường.
Vị ngọt, mặn, cay, nồng, chua, đắng, chát…trở thành đối tượng của lưỡi. Tế bào lưỡi nhận ra vị của thức ăn, nước uống, qua các phân tử, thông tin truyền vào não, ký ức so sánh và nhận ra, ví dụ muối thì mặn, đường thì ngọt, chanh thì chua, cà phê thì đắng, ớt thì cay, chuối sống thì chát, mỡ thì béo v.v…
Cảm giác trơn, láng, nhám, sần, khô, ướt, sướng, đau, rát, bỏng, ngứa…trở thành đối tượng của thân thể. Các tế bào thần kinh trên da, trên một số vùng của cơ thể thu nhận thông tin qua tiếp xúc. Ví dụ cầm ly nước nóng 70 độ có cảm giác nóng, nếu là ly nước đá thì có cảm giác lạnh. Tay sờ vào lụa có cảm giác trơn láng, sờ vào nền xi măng cho cảm giác nhám. Khi bị đánh thì có cảm giác đau. Xúc giác là cảm giác quan trọng trong sinh hoạt tính dục nam nữ. Loại cảm giác này quan trọng đến mức nó trở thành đặc trưng của cõi giới. Cõi giới của con người được gọi là dục giới. Dục là ham muốn, một trong những ham muốn chủ yếu của cõi này là tính dục. Tính dục là để sinh con đẻ cái, lưu truyền nòi giống, nhưng đối với con người, tính dục còn đem lại cảm giác khoái lạc, sung sướng hạnh phúc, cảm giác này ngày càng trở nên quan trọng hơn sự truyền giống. Trên cơ thể con người có những điểm nhạy cảm, như điểm G chẳng hạn, khi bị kích thích thì có cảm giác khoái lạc, kích thích liên tục thì dẫn đến cực khoái (orgasm). Trong giao hợp, cực khoái dẫn đến phóng thích tinh dịch từ người nam vào người nữ, có thể đưa đến sự thụ thai khi tinh trùng gặp được trứng. Chính vì ham muốn về tính dục là một nhu cầu rất mạnh, nên một trong 5 giới cấm căn bản trong giới luật Phật giáo là bất tà dâm (không tính giao ngoài quan hệ vợ chồng) đối với Phật tử thọ ngũ giới [bất sát sinh, bất thâu đạo (không trộm cắp), bất tà dâm, bất vọng ngữ (không nói dối), bất ẩm tửu (không uống rượu)]
Các pháp (dharma, pháp là thuật ngữ Phật giáo có nghĩa rất rộng, chỉ chung tất cả mọi sự vật là vật chất, kể cả những vật không hiện hữu như lông rùa, sừng thỏ, và mọi khái niệm của tinh thần, lý trí, tình cảm…đều được gọi là pháp) trở thành đối tượng của ý căn. Như vậy đối tượng của ý căn rất rộng lớn, bao gồm mọi lĩnh vực, từ vật chất tới tinh thần. Mọi hoạt động của xã hội loài người từ sản xuất vật chất đến văn hóa, nghệ thuật, triết học, văn học, khoa học, lịch sử, luật pháp đều thuộc về ý thức.
Sự giao tiếp giữa lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não) và lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) phát sinh lục thức (thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc giác, ý thức). Phật giáo gọi chung lục căn, lục trần và lục thức là 18 giới hay nói rõ hơn là 18 cảnh giới. Tất cả 18 cảnh giới đều là tâm cảnh chứ không phải vật cảnh, vì vật xét cho cùng là không có thật, mặc dù lục căn và lục trần phần lớn là vật chất, chỉ có pháp trần có thể một phần là tinh thần, bởi vì não phải nhận thông tin từ các giác quan, so sánh với dữ liệu lưu trữ trong ký ức mới có được nhận thức. Nếu ký ức không có dữ liệu, ví dụ đứa trẻ sơ sinh, không có gì để so sánh, thì nó không hiểu không biết gì cả. Có những đứa trẻ chưa học mà biết, đó là do ký ức của nó còn lưu lại những dữ liệu của kiếp trước. Đối với người giác ngộ, đã mở được a-lại-da thức thì biết cả quá khứ vị lai, vì bản chất đích thực của pháp giới là vô thủy vô chung, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng.
Lục thức là cái biết của nhất niệm vô minh, khi bộ máy hoạt động, từng ý niệm được phát sinh liên tục không ngừng nghỉ, tạo thành một dòng ý thức. Dòng ý thức này được mạt-na thức nhận là của nó, hình thành bản ngã, thông tin của ý thức được tích lũy trong a-lại-da thức. Khi một người chết đi, xác thân tan rã, lục căn không còn, nhưng thông tin vẫn còn nguyên trong a-lại-da thức. Như vậy khi một người chết, vong linh vẫn còn, một số nhà ngoại cảm như Phan Thị Bích Hằng có thể tiếp xúc với vong linh, thấy được hình tướng của họ. Họ không còn ở trong Dục giới mà đã qua Sắc giới. Phật giáo không gọi đó là vong linh hay linh hồn mà gọi là thần thức là năng lực chuyển tiếp trước khi đầu thai vào một kiếp sống mới, tùy theo nghiệp chướng mà sẽ đi vào một trong lục đạo (sáu đường) từ cao xuống thấp như sau, 3 đường trên là thiện đạo có phước báo, 3 đường dưới là ác đạo bị quả báo, lục đạo là :
1 Trời . Cõi trời thuộc Dục giới gồm 6 tầng gọi là Lục Dục Thiên bao gồm : Tứ thiên vương (四天王, sa. cāturmahārājika)), Đao lợi (忉利 hay Tam thập tam thiên 三十三天, sa. trayastriṃśa tức 33 cõi trời ), Tu Dạ Ma Thiên (須夜摩天, sa. suyāma), Ðâu Suất Thiên ((兜率天, sa. tuṣita), Hóa Lạc Thiên (化樂天, sa. nirmāṇarati), Tha Hóa Tự Tại Thiên (他化自在天, sa. paranirmitavaśavarti). Nói chung chúng sinh ở cõi trời có nhiều phước báo nên có thọ mạng lâu dài, hưởng nhiều lạc thú.
Cõi trời thuộc Sắc giới có 4 cảnh giới là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, mỗi cảnh giới có 3 loại cõi trời khác nhau,  riêng Tứ thiền có tới 7 loại khác nhau.
Cõi trời thuộc Vô Sắc giới có 4 cảnh giới :
a. Phi tưởng, phi phi tưởng thiên (Devas of Sphere of Neither-perception nor non-perception; Nevasaññā-nasaññā-yatanūpagā devā)
b. Vô sở hữu thiên (Devas of Sphere of No-thingness; Ākiñcañña-yatanūpagā devā)
c. Thức vô biên thiên (Devas of Sphere of Infinite Consciousness; Viññānañca-yatanūpagā devā)
d. Không vô biên thiên (Devas of Sphere of Infinite Space; Ākāsānañca-yatanūpā devā)
2 Người . Người và súc sinh ở chung trong 4 châu lục là Đông Thắng Thần Châu, Bắc Câu Lư Châu, Nam Thiệm Bộ Châu (còn gọi là Diêm Phù Đề hay Ta Bà) và Tây Ngưu Hóa Châu. Ở giữa các châu là núi Tu di. Đó là đại khái quan niệm về địa lý thế giới của thời Đức Phật. Đông Thắng Thần Châu là Trung Quốc; Bắc Câu Lư Châu là Tây Tạng, Bắc Trung Á; Nam Thiệm Bộ Châu là Nam Á ; Tây Ngưu Hóa Châu là Tây Á, Ả Rập. Núi Tu Di là dãy Hy Mã Lạp Sơn.
 3 A-tu-la : có 3 loại. A-tu-la thiên đạo có phước báo nhưng hình dung xấu xí thuộc loại ác thần chứ không được đẹp đẽ như thiên thần. A-tu-la quỷ đạo giống như quỷ nhưng không phải ngạ quỷ. A-tu-la súc đạo giống như thú nhưng là quái vật chứ không phải thú bình thường.
4  Súc sinh. Tức các loại thú, cầm, thủy tộc và các chủng loại như bò sát, côn trùng có cánh bay được, hay chỉ cựa quậy như sâu bọ, giòi.
5 Ngạ quỷ. Loài quỷ đói lúc nào cũng đói khát nhưng không thể ăn được vì cấu tạo cơ thể quái dị, cổ nhỏ bằng cây kim, không nuốt được thức ăn.
6 Địa ngục. Là nơi giam giữ chúng sanh có nhiều ác nghiệp, có thể bị treo ngược và đói khát triền miên nhưng không thể ăn được, thức ăn đưa đến miệng thì hóa thành lửa. Kinh điển có nêu trường hợp của Bà Thanh Đề, mẹ của Mục Kiền Liên, chịu khổ ở địa ngục.
Tất cả các cảnh giới trên đều là do tâm tạo, tùy theo nghiệp thiện ác mà cảnh hiện ra lành thanh tịnh, vững bền, hay dữ, ô uế, khổ sở, nhiều biến cố như thiên tai khủng khiếp, nước, gió , lửa hoành hành. Chúng sinh trong tam giới có 4 kiểu sinh sản hay xuất hiện :
a. Noãn sinh (Andajayoni): loài sinh ra từ trứng, như loài chim, ngỗng, khổng tước, gà, rắn, cá, côn trùng…
b. Thai sinh (Jalabuja, còn gọi Phúc sinh): loài sinh ra từ thai mẹ, như người, voi, ngựa, trâu, bò, heo, dê, lừa…
c. Thấp sinh (Samsedaja, còn gọi nhân duyên, hàn nhiệt hòa hợp sinh): loài sinh ra từ nơi ẩm ướt, hay có điều kiện thuận lợi như vi trùng, vi khuẩn.
d. Hóa sinh (Opapatika): Là cách xuất hiện không cần có cha mẹ, do nghiệp lực mà hiện sinh, gọi là hóa sinh, như : chư thiên, địa ngục, trung ấm, đều do nghiệp lực đời quá khứ khi tới hạn thì sinh ra.
Tuy tóm gọn trong 18 cảnh giới của căn, trần, thức, nhưng thực tế là bao trùm cả vũ trụ vạn vật, bởi vì tiền ngũ căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân)  nhận biết những đối tượng căn bản nhất, còn não bộ có khả năng lý luận và tư duy trừu tượng tức không cần có đối tượng ngay hiện tiền mà chỉ cần có ký hiệu để thay thế hiện vật. Ký hiệu bao gồm hình ảnh, ngôn ngữ, chữ viết, các ký hiệu đặc biệt khác như ký hiệu toán học, vật lý học, hình học…Những hiện tượng phức tạp còn được khái quát hóa thành mô hình, như mô hình nguyên tử vật chất, mô hình kinh tế, những sự vật cụ thể phức tạp có thể được vẽ thành sơ đồ…Do đó cái biết của bộ óc ngày càng nhiều và tinh vi. Nhiều sự vật trong thiên nhiên không có, nhưng bộ óc thông minh của con người sáng tạo ra để sử dụng như tàu thủy, xe hơi, máy bay, máy vi tính, sóng điện từ dùng trong radio, tivi; bluetooth, wi-fi, 3G, 4G dùng trong điện thoại di động và internet. Vô số phát minh sáng chế trong tất cả mọi ngành hoạt động khiến cho khả năng sản xuất vật chất và phi vật chất của con người tăng lên rất nhiều so với thời xưa. Bộ óc với tư duy trừu tượng có thể hiểu được nhiều điều kỳ diệu vượt rất xa so với những cái thấy nghe hay biết thông thường. Do đó Pháp trần, đối tượng của não bộ, tức ý căn, bao trùm cả Tam giới mênh mông, từ thiên thể vĩ mô cho tới thế giới vi mô hạ nguyên tử (subatomic), ý thức đều có thể đạt tới.
Chẳng hạn, thông thường thấy con trâu, con ngựa, heo gà, cá tôm, sông núi, nhà cửa, xe cộ, cơm nước là vật chất và cho rằng chúng có thật 100% vì mắt thấy, tai nghe, thân thể tiếp xúc, ngửi thấy mùi, nếm thấy vị, ăn no, tiêu hóa được, có tăng trọng, đâu còn chỗ nào để nghi ngờ rằng chúng không có thật ? Nhưng trí óc tư duy chặt chẽ biết vật chất cấu tạo bởi những hạt ảo như quark, electron, những hạt này nếu bị cô lập thì chúng không tồn tại, chúng chỉ hiện hữu khi được kết hợp, ví dụ 2 quark up kết hợp với 1 quark down thì xuất hiện hạt proton; 1 quark up kết hợp với 2 quark down thì xuất hiện hạt neutron. Proton và neutron là những hạt vô cùng bền vững tạo thành hạt nhân của nguyên tử. Hạt nhân kết hợp với electron thì tạo thành nguyên tử vật chất. Như vậy nguyên tử chỉ là sự kết hợp nhân duyên của các hạt ảo, nguyên tử không phải là vật. Vậy tại sao ta lại thấy nguyên tử là vật, là đơn vị đầu tiên của vật chất ? Đó là vì ta có lục căn, đó là một bộ máy ảo hóa có khả năng phát sinh nhất niệm vô minh, nói vô minh là vì mê mờ, không thấy rõ, không biết rõ, bị lầm lạc, nên tưởng tượng ra vật. Cũng giống như máy vi tính, mỗi dao động của con chip tương ứng với một niệm của con người. Con chip dao động hàng tỉ lần trong một giây, biến những dãy số nhị phân 0 và 1 có cấu trúc thiên hình vạn trạng, thành chữ viết, hình ảnh, âm thanh, video mà ta nhìn thấy trên màn hình. Cũng tương tự, cấu trúc ảo của nguyên tử, của các loại vật chất khác nhau (Phật giáo gọi là vô thủy vô minh) chỉ hiện hữu trên cái phông của tâm thức hình thành từ vô số nhất niệm vô minh liên tục. Không có cái đơn vị tư tưởng là nhất niệm vô minh thì cũng không có vật gì cả, bởi vì tất cả mọi cấu trúc của vật chất đều là ảo, là không có thật, nên cần có nhất niệm vô minh để tưởng tượng ra. Vì lẽ đó thuyết Thập nhị nhân duyên của Phật giáo lấy Vô minh làm nhân duyên cơ bản.
Vậy lý trí của ta hiểu rõ vật chất chỉ là thế lưu bố tưởng chứ không phải thật, song ta không thể tự mình chứng tỏ được điều đó, vì đã từ bao nhiêu kiếp ta đã chấp thật cho là vật chất có thật. Chính tâm chấp thật kiên cố đã làm cho các hạt quark dính chặt vào nhau trong cấu trúc proton và neutron tạo thành hiện tượng mà khoa học gọi là sự giam hãm (confinement) tức là 3 hạt quark bị giam hãm vĩnh viễn trong hạt proton không cách nào phá vỡ được. Dù khoa học có thể bắn phá làm vỡ hạt nhân nguyên tử, tạo thành nguyên tố khác và phát sinh năng lượng nhưng hạt proton và hạt neutron vẫn còn nguyên không bị phá vỡ. Cho dù ngày nay người ta có chế tạo được chiếc máy gia tốc khổng lồ LHC (Large Hadron Collider), gia tốc chùm hạt proton đạt tới vận tốc gần bằng ánh sáng, cho hai chùm hạt đi ngược chiều, va đập vào nhau, cũng không đủ sức phá vỡ hạt proton.
Chỉ khi nào hoàn toàn bỏ được tâm cố chấp, kiến tánh, vận dụng được sức mạnh tâm linh của Phật tánh thì mới phá vỡ được hạt proton, đạt tới Sự Sự vô ngại, tức có thể đi xuyên qua tường, một điều mà Trương Bảo Thắng đã từng biểu diễn đi xuyên tường của Đại Lễ Đường Nhân Dân Bắc Kinh năm 1982.
Bộ óc con người có khả năng rất lớn, làm được rất nhiều việc, nhưng lợi cũng nhiều mà hại cũng lắm. Cái lợi thì trong cuộc sống hàng ngày ai cũng thấy rồi, ta không thể sống mà thiếu điện, thiếu các phương tiện như xe cộ, máy bay, tàu thủy để đi lại, nhà cửa để ở, quần áo để mặc, tivi, máy vi tính, điện thoại di động để làm việc và giải trí. Nhưng cái hại cũng rất nhiều, hóa chất độc hại trong thực phẩm, môi trường ô nhiễm, hiệu ứng nhà kính, ùn tắc giao thông, vũ khí giết người hàng loạt, thảm họa hạt nhân…
Bộ óc cũng không có khả năng giúp con người đem lại thái bình an lạc cho thế giới, cũng không thể giúp con người thoát được đau khổ sinh lão bệnh tử và luân hồi. Vì vậy con người mới cần tới một đạo lý giải thoát như Phật giáo, học cách vận dụng sức mạnh tâm linh của Phật tánh, đây là một loại sức mạnh vô biên mà tôi có đề cập trong Lực học Thích Ca, có thể giúp con người an lạc trong hiện tại và những ai quyết chí thì có thể thực hành tham thiền để tự giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, đạt được tự do tự tại hoàn toàn, không có gì trói buộc được, dù đó là thiên nhiên hung hãn, hay láng giềng cường bạo, hay nhà nước độc tài phi dân chủ.