Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

Hoàng Hưng: "Với tôi, Làng Mai là một công án"


Hoàng Hưng

Bài này viết ngay sau hai khóa tu Mùa Hè 2012 ở Làng Mai và Học viện Phật giáo Ứng dụng châu Âu, nhưng tôi muốn nghe ngóng lòng mình qua thời gian sau khi những bồng bột tan đi, còn những gì đọng lại. Một năm đã qua, khoá tu Mùa Hè 2013 đã tới, đọc lại vẫn thấy cảm xúc còn nguyên, vậy xin công bố như một thu hoạch tu tập, cũng như một kỷ niệm ân tình với Làng.

Trên chuyến bay từ Paris đến Reykjavik, thủ đô Iceland, tôi không khỏi mỉm cười khi thấy trên màn hình giới thiệu du lịch có những từ “mindfulness” (chánh niệm), “meditation” (thiền), “here and now” (bây giờ và ở đây). Hôm trước cũng nghe một thiền sinh ở Làng Mai (LM) chia sẻ rằng cô thích thú khi nghe một nữ tiếp viên hàng không nói với khách: “Please have mindfulness to bring your luggage down…” (xin chánh niệm khi đưa hành lý xuống…). Thiền tập đã đi vào đời sống người châu Âu đến vậy, có phần ảnh hưởng khá lớn của LM.



Với riêng tôi, Làng Mai (LM) là một “công án” ám ảnh nhiều năm.
Tôi biết từ lâu một thi sĩ với những vần thơ tự do khá mới mẻ chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện bên cạnh những bản dịch tuyệt bích thơ tứ tuyệt Lý Trần. Cũng nghe từ lâu dòng tu “nhập thế” nổi tiếng với Phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội, với những vận động hòa bình cho Việt Nam, với con tàu cứu vớt thuyền nhân… Cũng đọc không ít sách Đạo của vị Thiền sư (TS) được coi là tu sĩ Phật giáo lớn thứ nhì thế giới hiện nay mà người đọc và học trò đã lên tới nhiều triệu trên khắp hành tinh. Tôi ngưỡng mộ ông là chuyện tất nhiên.
Nhưng thú thật, với kinh nghiệm một đời lăn lộn, vỡ mộng cũng nhiều, cộng với “sở tri chướng” của kẻ “đa thư”, luôn e ngại mọi thần tượng, giáo chủ có “charisma” dẫn dụ bày cừu mê mẩn, tôi vẫn giữ thái độ “quan sát” đối với LM.
Ấn tượng đầu tiên của tôi với LM có sự mâu thuẫn. Lần đầu tiên tiếp xúc, vào năm 2005 khi TS đưa tăng đoàn về VN, là trong buổi pháp thoại của TS ở Viện Goethe. Ấn tượng này đã được ghi lại gần như tức thời qua bài thơ Bậc thầy (bài này đã in trong tập Hành trình, NXB Hội Nhà văn, HN 2005, bản tiếng Anh The Master in trong chapbook Hoang Hung, Poetry & Memoirs do International Poetry Library of San Francisco xuất bản, và đọc trong đêm thơ-văn “Echoes of Vietnam” tháng 3 năm 2012 ở Santa Cruz):
“Thầy vào như hơi gió
Tăng đoàn rạng rỡ tuệ quang…”
Quả thực hình ảnh khinh khoái hiếm thấy của một ông sư và ánh sáng trên gương mặt các học trò của thầy chinh phục tôi nhiều hơn những lời thuyết giáo.
Nhưng rồi ngay sau đó, tôi bị hẫng khá mạnh khi nghe qua bản thu âm câu hỏi đáp trong một buổi thầy thuyết trình ở Viện Khoa học Xã hội miền Nam. Một “giáo sư” giọng rất gay gắt (nói cho đúng là khiêu khích) nhắc lại hai lần câu hỏi, lần sau gắt hơn lần trước: “Tôi xin hỏi TS, nếu bây giờ tôi quy y thì tôi có còn được quyền yêu Đảng, Đảng do Bác Hồ sáng lập và lãnh đạo, có được quyền yêu nước, nữa hay không?” Có lẽ quá bất ngờ trước câu “truy hỏi”, TS hơi sững một chút, rồi đáp: “Không yêu Đảng không yêu nuớc thì quy y làm gì!”. Thú thật là tôi bất mãn với câu trả lời. Yêu nước, OK, còn “yêu Đảng”? Sao lại phải yêu cái đảng tuy một thời có công lãnh đạo cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất cho đất nước (tuy là với cái giá quá đắt, vấn đề này mang tính lịch sử rất phức tạp, lúc khác sẽ bàn), nhưng gần đây nó đã biến chất, suy thoái rõ rệt, không còn tính chính đáng?
Hình ảnh sơ phác của LM trong tôi thế là trong cái sáng vẫn còn cái “lăn tăn”.



Ba lần đến với Làng Mai:
Ba năm nay, Trời Phật sắp xếp sao đó để tôi có cơ duyên thực sự đi sâu, đi sát LM, để ngày càng hiểu rõ và hiểu đúng về Làng.
Tôi đã đến gần với LM qua những ngày hoạn nạn của các học trò TS ở Bát Nhã. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt người thân của mình sau mỗi chuyến lên Bát Nhã tu tập đợt hai tuần, đợt ba tuần. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt, đã nghe tiếng cười hồn nhiên của những sư em, những thực tập sinh trẻ măng căng tấm ni lông giữa trời hứng nước mưa khi bị các đệ tử của ông Đức Nghi cúp nước. Tôi đã nghe người thân kể chuyện những người trẻ là con em gia đình “cộm cán”, hay bản thân là trí thức trẻ đầy tương lai, đã dứt bỏ tất cả đi theo con đường LM để thực hiện tâm nguyện Bồ tát trước cứu mình sau giúp người ra khỏi cõi mê.
Tiếp ngay đó, cơ duyên lại đưa tôi đến thẳng LM. Nhân đi làm công việc dịch thuật ở Paris, hai vợ chồng tôi quyết định ghé xuống Làng vài hôm. Không liên lạc được trước, chúng tôi cứ đi, nghĩ có duyên thì gặp. Quả nhiên trong lúc tôi đang nằm thẳng cẳng ngủ giấc trưa “bụi đời” trên ghế băng trước cửa ga xép Sainte Foye La Grande chưa biết cách nào đến được LM, thì xuất hiện một sư cô người Tây trong trang phục màu đà quen thuộc của LM. Tình cờ cô ra đón một khách của Làng từ Paris tới. Thế là cô vui vẻ đưa chúng tôi về Xóm Mới, và cho biết ở đó đang có một khóa tu ngắn ngày. Bước chân vào Xóm, người tiếp đón chúng tôi là một sư cô trẻ măng đồng hương Hà Nội. Sau này tôi biết cô là con gái cưng của một quan chức cao cấp, lại biết cả mẹ cô cũng đã xuất gia theo gót con gái (thật dễ hiểu vì sao những quyền lực thế gian lại “kỵ” Bát Nhã, LM đến vậy!). Ba ngày ngắn ngủi ở LM tóm lại một cảm tưởng: một tiên cảnh giữa trần gian, với cảnh đồng quê đồi rừng thanh bình đẹp đến nao lòng, với những tiên đồng ngọc nữ tươi tắn trong veo và thanh tú, với hàng trăm người trong đại gia đình quốc tế vui vẻ và thành kính thực tập những “pháp môn” rất giản dị để thân tâm an lạc: tập thở vào thở ra, tập bước đi chánh niệm, tập ngừng lại khi nghe tiếng chuông…
Trong lần sơ ngộ này có một chi tiết tình cờ nhưng ít lâu sau thành một yếu tố gắn tôi với LM. Trong màn tự giới thiệu khi chia sẻ trong nhóm “gia đình”, tôi thành thật nói mình là nhà báo, không phải Phật tử (nói cho chính xác là không quy y Thầy nào, không theo tổ chức của chùa nào). Tôi đọc thấy vẻ ngỡ ngàng của quý ni sư và Phật tử. Giờ giải lao, một ông “Tây” to lớn đầu râu tóc bạc xin có vài lời với tôi. Ông bảo: “Tôi xin tự giới thiệu, tôi là cố vấn của Tổng thống Israel, nhưng tôi cũng là đệ tử của Thay (các đệ tử Âu Mỹ của TS đều gọi TS là Thay như một tên riêng) từ chục năm nay. Tôi không hiểu vì sao ông có ý nói ông là nhà báo nên không thể là Phật tử?” Tôi chỉ cười, đáp: “Mỗi nước có một hoàn cảnh khác nhau ông ạ”.
Chỉ vài tuần sau đó, tôi đang ở chơi nhà chị Thụy Khuê dưới Côte d’Azur, một biệt thự màu hồng đẹp như mơ trên đồi nhìn xuống biển Địa Trung Hải mà anh Lê Tất Luyến chồng chị là người tạo dựng và chăm nom, ngôi nhà luôn mở lòng đón tiếp bạn bè tứ xứ… thì dồn dập nghe tin Bát Nhã bị tấn công. Sự xúc động trong lòng tôi nhiều lần trào lên khóe mắt khi xem trên mạng những em thiền sinh ngồi an bình niệm danh Quán Thế Âm trước sự hung hăng dữ dằn của kẻ ác. (Trong dịp ở LM gần đây, mỗi lần nghe màn tụng Avakilotesvara trước khi Thầy pháp thoại, thì hình ảnh các em Bát Nhã niệm Quán Thế Âm lại hiện lên khiến sự xúc động của tôi lại dâng trào). Đến ngày cao điểm, bọn ác nhân xua đuổi 400 em khỏi Bát Nhã giữa trời mưa như trút thì tôi không nén nổi căm giận và xót thương. Tôi nhờ chị Thụy Khuê liên lạc ngay với Radio France International (RFI) – lúc này chị đã về hưu, chỉ còn cộng tác một chuyên mục với Đài – cho biết tôi muốn phát biểu trên Đài về sự kiện Bát Nhã. Tôi cũng không ngờ, như Thầy cho biết trong phút gặp gỡ đầu tiên ở LM, phát biểu của mình về pháp nạn Bát Nhã trên truyền thông quốc tế đã khởi lên cao trào lên tiếng bênh vực con em của LM đang gặp nạn, và cũng không ngờ việc này kéo tôi tiếp tục dấn thân vào vụ Bát Nhã, viết liên tục 9 bài trên các mạng trong ngoài nước, trong đó có Thư ngỏ và Thư thỉnh nguyện gửi ba nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước VN thu được trên 400 chữ ký bao gồm nhiều trí thức văn nghệ sĩ nổi tiếng trong ngoài nước và đảng viên Cộng sản kỳ cựu. (Đây là một câu chuyện hơi bị “ly kỳ”, dịp khác sẽ kể).
Có một điều là tôi luôn khẳng định: lên tiếng bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã không phải vì tôi là Phật tử hay đệ tử của LM (thực ra tôi từng là tín đồ Công giáo, đã chịu lễ rửa tội từ lúc còn nhỏ do các bà cô dẫn dắt, rồi lẳng lặng bỏ đạo khi các bà vào Nam và chính quyền Cụ Hồ về Hà Nội), mà chỉ do lương tâm của một nhà báo “thấy sự bất bằng”. Tôi bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã là bảo vệ quyền công dân, quyền con người, quyền chọn đi theo một lý tưởng, một tôn giáo của những người trẻ tuổi – tương lai của dân tộc. Tôi đã trả lời phóng viên hãng AP cũng như các sĩ quan an ninh VN “làm việc” với mình như thế.
Sau khi Bát Nhã tan, tôi biết ngoài hàng trăm thiền sinh được LM bảo lãnh sang Pháp, Đức, Mỹ, còn hàng trăm em ở lại tản mác khắp nước vẫn kiên gan chịu đựng sự truy bức của chính quyền để tu tập theo pháp môn của Thầy. Đôi lúc có dịp gặp, tôi vẫn thấy được vẻ “vững chãi như núi cao, thảnh thơi dường mây trắng” (như lời một thiền ca LM) của những con người ấy mặc dù họ không còn được đi với nhau “như một dòng sông”. Tôi hiểu là LM đã gieo được những hạt hướng dương bất diệt trên quê hương đau thương này.
Vậy đến gần đây, “Công án LM” của tôi có thể “diễn nôm” thế này:
1/ LM có “phép” gì đào tạo được những người trẻ tuyệt vời đến thế, những người quyết tâm thực tập ba đức Bi - Trí - Dũng của Bụt để “độ mình và độ đời”, giữa lúc nhan nhản quanh tôi là đám trẻ mất phương hướng, hoặc chỉ biết chạy theo “lý tưởng” làm giàu, tạo vị thế cho riêng mình, nói gọn là “vinh thân phì gia” bằng mọi giá, chấp nhận “đi với ma”, nhắm mắt che tai thậm chí hùa theo cái xấu cái ác, còn việc của dân của nước thì buông xuôi, mackeno, “đã có Đảng, Nhà nước lo”?
2/ LM làm thế nào hòa hợp được triết lý vô ngã, diệt dục của đạo Phật truyền thống với “chủ nghĩa cá nhân” sáng suốt và tính cạnh tranh là động lực phát triển của xã hội hiện đại?
3/ LM làm thế nào thu hút hàng ngàn người, hàng trăm gia đình Tây phương, trong đó không ít trí thức, doanh nhân thành đạt đến sinh hoạt và tu học theo hướng dẫn của các tăng ni người Việt trẻ măng?
Mùa hè vừa rồi, nhân sinh nhật thứ 30 của LM, tôi có cơ hội được cùng người thân của mình tham dự hai khóa tu liền, của người Việt tại LM và của người Hòa Lan tại cơ sở mới rất đồ sộ của Làng vừa khánh thành bên Đức (EIAB: Học viện Phật giáo Ứng dụng châu Âu). Gần một tháng sống trong đại gia đình quốc tế LM, tôi cảm nhận có sự biến chuyển trong mình, kẻ luôn tự nhận “tên học trò mới bướng bỉnh”.



Đi tu vui lắm chứ!
Đây là những gì đọng lại trong tôi sau khi đã rời Làng một tháng:
Bao trùm là cảm nhận về một cuộc sống thư giãn, yên vui.
LM đã khéo chọn những khung cảnh thần tiên cho đại gia đình của mình, những sườn đồi hiền dịu xanh nho, đỏ mận, vàng rực hướng dương, những cuộn rơm nằm im lặng trong nắng chiều, hay đồi cỏ mượt với hàng trăm cây táo đang ửng trái, giữa vùng quê thanh bình êm ấm mà ta khó lòng gặp được ở VN hôm nay. Không có những ngôi chùa thấp bé, tối tăm ẩn mình thời trước hay ngược lại hoành tráng phô trương lố lăng thời mới, “chùa” ở LM chỉ là những thiền đường rộng, thoáng, giản dị, duy nhất một ông Bụt Thích Ca mỉm cười với ta trên bệ thấp trước mặt (ta còn gặp trên đường thiền hành những ông Bụt nho nhỏ ngồi trên cỏ, không có tòa sen uy nghi, mà lũ trẻ Tây rất thích chơi với, có đứa ngồi trên lòng, ôm hôn ông gọi “Buddha! Buddha!”như gọi mẹ, có đứa đội mũ đeo kính cho ông như chơi với bạn…).
Nhưng điều khiến ta thư giãn, yên vui nhất chính là niềm vui tỏa ra từ các tăng ni ở Làng. Không hiểu sao tôi cứ nhớ đến những bà xơ vui tính trong một bộ phim ca nhạc của Mỹ. Từ “sư cô” ngoài 70 mà cứ xuất hiện là có ngay một dàn ca hát hình thành, đến “sư anh” hơn hai mươi tuổi trụ trì một ngôi chùa cả trăm tăng (trong đó có một vị hòa thượng) với cả ngàn thiền sinh Tây, mà gặp đâu cũng thấy cười đùa với đám teen, rồi trong đêm hội Trung thu thì đeo kính đen nhảy và hát “rap” (với lời “Đạo ca”, tất nhiên) khiến mấy cô bé cậubé khoái trá nhảy nhót theo tưng bừng. Xin biết rằng những vị ấy, chỉ mấy phút trước đây vừa lăn lưng khênh vác, dựng rạp, và đêm qua còn thức đến nửa đêm dọn dẹp nhà bếp hay lái xe đưa khách về nhà nghỉ, hay chiều nay vừa dẫn dắt buổi “chia sẻ” của những người lớn tuổi mang nặng tâm tình u ám. Tôi rất thích cách nói của một cô “sư em” khi phân công mọi người tham gia “chấp tác”: “Mời các cô các chú chơi rửa chén (chơi lau nhà, chơi sấy muỗng nĩa…) với con!” Và đúng thật, ai nấy làm mà thấy vui như đang chơi với nhau vậy. Cũng như mỗi lần trông thấy tôi, các “sư chị, sư em” bao giờ cũng hỏi: “Chú ở Làng có vui không ạ?” thay vì hỏi: “chú đã học được gì ở LM?”
LM có một sinh hoạt độc đáo chắc không hề có ở bất kỳ cơ sở tôn giáo nào: “Thiền buông thư” mỗi trưa. Nằm dài trong thiền đường, có sư thầy/ sư cô hát thiền ca cho mà… chìm dần vào giấc ngủ. Tôi đã bắt chợt cảnh ấy trong một khúc thơ:
“Em nằm trong thiền đường
Cỏ cây mùa hạ
Áo tràng
Xông hương”
“Thiền ca LM” có bài (đặt theo nhạc Phạm Duy): “Ai bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ! Ngồi tụng kinh, cái đầu rung rinh và con mắt lim dim…”
Nói “thiền ca”, thì quả thực, hai năm trước, khi nghe trong băng đĩa những bài dạy Đạo bằng lời ca “chế” từ các bài hát quen thuộc (có cả bài lấy từ “Năm anh em trên chiếc xe tăng” nữa chứ), tôi thấy nó… sao sao ấy! Rồi có một ngày, tôi lặng người nhìn cảnh hàng trăm người già, trẻ đủ màu da đứng vòng tròn giơ tay lên múa miệng hát say sưa bài I am free bằng mấy thứ tiếng, và tôi không thể ngăn mình hát theo. Từ lúc nào không biết, bây giờ, thỉnh thoảng lại tự bắt gặp mình lẩm nhẩm: “Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, hay Muốn ăn thêm nhưng có tiếng chuông, em thở vào thở ra…”
Một nữ kỹ sư dầu khí chuẩn bị xuất gia sau khi cả mẹ, chồng và hai con trai đều “theo chân Bụt”, kể với tôi: “Công an làm việc với em cứ thắc mắc tại sao LM thu hút được nhiều người trẻ đi theo thế? Em trả lời đơn giản: Anh không biết hồi trẻ chúng tôi được sinh hoạt Đội, Đoàn vui tươi, lành mạnh như thế nào hay sao? Bây giờ bọn trẻ có còn được thế không? ”.



Hạnh phúc chính là con đường:
Một chị trí thức sống lâu năm ở Pháp chia sẻ: “Tôi thu nhận nhiều nhất từ lời dạy này của Thầy: Năng lực hạnh phúc là một đức hạnh căn bản”. Tôi nghe chị nói mà thấm thía. Cả thế hệ chúng tôi hầu như đã bị mất đi cái năng lực ấy. Vì hoàn cảnh xã hội ư? Tất nhiên, khi ta là con dân một xứ sở đầy tai ương kéo dài cả thế kỷ. (Ngày đầu tiên ở Làng, một vị hòa thượng bảo tôi: “Bác hãy buông thư trong thời gian hai tuần lễ ở Làng, bỏ hết những áp lực của 70 năm ở lại VN”).
Nhưng còn hàng ngàn con người từ những nước phát triển nhất, bản thân may mắn, thành đạt, vì sao họ kéo tới đây hầu như chỉ mong tìm được con đường thoát ra khỏi tình trạng bất hòa, xung đột trong gia đình, phiền muộn, dằn vặt trong nội tâm? Vậy đâu có thể đổ hết cho hoàn cảnh xã hội?
LM chỉ cách để ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại. Hạnh phúc không phải là đích đến, hạnh phúc chính là con đường, châm ngôn của Thầy trên những bức thư pháp chỉ ra điều mà tôi thấy là căn bản nhất của “pháp môn LM”. Bây giờ, ở đây. Đây là tịnh độ, tịnh độ là đây. Hiện pháp lạc trú. Đâu phải đi tìm? Hãy sống hết mình với giây phút này, vì ta chỉ thực sống trong hơi thở này. Có thế thôi, còn gì giản dị hơn?
Nhưng để có được “đức hạnh căn bản” ấy, có khi phải đảo lộn toàn bộ nhận thức và lối sống sai lầm đã thành “tập khí” lâu dần “nội kết” trong ta. Làm sao gỡ những nội kết, từ “duy ngã” thành “vô ngã”, từ “tham đắm”, “chấp thủ” thành “buông xả”, “không ràng buộc”, từ “phân biệt” thành “không phân biệt”, từ “sân hận” thành “hiểu và thương”?
Những bài “pháp thoại” của Thầy rất giản dị, và chỉ nhắc đi nhắc lại vài ý rất căn bản, dễ hiểu, ai đã đọc sách của Thầy chắc đều nhận ra. Riêng tôi, khái niệm “vô ngã” khó “tiêu” nhất đối với con người hiện đại được Thầy làm sáng tỏ một cách thuyết phục bằng thực tế “tiếp nối” (continuation) và “tương tức” (interbeing, interêtre) của sự sống. “Ta” là “ta” mà cũng là “người”. Khi “ta” làm cho “người” đau khổ thì chính “ta” cũng đau khổ, và ngược lại, khi “người” làm ta đau khổ thì “ta” phải biết rằng chính “người” cũng đang đau khổ!
Những nhận thức gốc ấy của Phật giáo nói thì dễ, nhưng thiếu gì người tụng kinh đọc sách một đời mà mặt vẫn nhăn như bị? Vậy vấn đề là tu tập để làm sao thực sự “ngộ”những chân lý ấy. Đọc sách Thiền, ta thích những mẩu chuyện “hoát nhiên đại ngộ” của người xưa. Nhưng với con người tầm thường như tôi, tôi tin ở quá trình “tiệm ngộ” hơn. Pháp môn LM là con đường dẫn dắt ta “ngộ” qua từng ngày.



Thực hành và Chuyển hóa:
Trong các bài giảng ở LM, Thầy hay dùng từ “chuyển hóa”. Với hình tượng hoa sen làm mẫu. Hoa sen có năng lực từ từ chuyển hóa bùn thành hương thơm và vẻ đẹp, không chỉ thụ động “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” như ca dao nói. Ở LM, người ta không nói “đổ rác” mà “chuyển hóa rác”!
Và LM “sáng chế” ra những “kỹ thuật” rất hữu hiệu mà đơn giản để ta luyện tập “chuyển hóa” mỗi ngày. Tự chuyển hóa thông qua tập “chánh niệm” trong từng công việc, lúc ăn, lúc đi vệ sinh…, tập “thở vào, thở ra” – quán hơi thở để thân tâm hợp nhất trong giây phút hiện tại, tập “ngừng lại” khi nghe tiếng chuông để nhận biết giây phút hiện tại. Chuyển hóa lẫn nhau thông qua những pháp môn “làm mới”, “tưới hoa”, “ái ngữ”, “lắng nghe”…
Thoạt đầu, thấy cái gì đó như đơn giản, như công thức, như “trại hè thanh thiếu niên”! Rồi, chỉ sau 5, 7 ngày, ta ngỡ ngàng nghe lời tâm sự của những thiền sinh có đời sống thật khó khăn thấy sự thay đổi xảy ra trong lòng họ. Một chị người Pháp gốc Việt hôm mới đến vừa khóc vừa hỏi: “Thầy dạy hãy nghĩ rằng mình không đi một mình, lúc nào cũng có ông bà, cha mẹ mình đang cùng đi trong từng bước… Nhưng con KHÔNG MUỐN họ đi cùng với con, con hận họ!”. Mấy hôm sau, giữa đêm hội Vu Lan, chị đột ngột chạy ra bàn điện thoại, gọi về nhà. Ông bố sững sờ. Đã bao nhiêu năm ông không chờ đợi cú điện thoại của cô con gái bỏ nhà ra đi! Những chuyện “người thực việc thực” như thế ở LM có nhiều lắm. Chỉ cần dẫn một con số: sau khóa tu 5 ngày của 800 người Hòa Lan ở EIAB, có 200 người xin quy y, trong đó có nhiều tín đồ Công giáo, Do Thái giáo. Họ quy y vì thấy đạo Bụt mà Thay dẫn dắt họ vào là con đường hạnh phúc.
Còn riêng tôi, sau một tháng ở LM, tôi thấy mình học được nhiều hơn những gì mình học trong nhiều năm. Học từ đủ thứ xung quanh. Từ bước đi, từ nụ cười của Thầy (nhiều người nói đến sức mạnh “thân giáo” của “ông Thầy LM”), từ câu chuyện xử sự với chính quyền công an của một sư thầy, từ vẻ thành kính trên gương mặt chàng trai Tây phương khi bưng bát cơm lên niệm trước khi ăn… Nhất là từ các tăng ni tuổi con mình có phong thái đầy tình cảm mà thung dung, đĩnh đạc, đầy năng lượng tươi mát của “tâm ban đầu” (Xin cúi chào/ những người thầy rất trẻ/ của tôi… – những câu thơ ấy đã “vụt hiện” trong tôi giữa sân Xóm Trung, LM khi nghe các thiền sinh từ Bát Nhã hát về ngày mai đói nghèo tủi nhục /đang chờ mình dâng hiến bàn tay).Từ những con người bốn phương tụ họp với cùng một ý hướng tự tu, tự hoàn thiện. (Dịp khác tôi sẽ kể về những cái đẹp, cái lớn lao mình phát hiện được trong những anh những chị lặng lẽ, khiêm nhường hy sinh, chịu đựng, cống hiến suốt bao năm cho cộng đồng mà tôi có dịp gặp ở đây). Tôi hiểu thế nào là “sức mạnh tăng thân”, là “đi như một dòng sông”.
Nhưng có lẽ điều “chuyển hóa” quan trọng nhất là tôi đi đến xác quyết này: Ở tuổi 70, mình vẫn phải “tự chuyển hóa” để có được năng lực hạnh phúc. Vì tôi cũng như không ít người già thường biện minh cho sự bảo thủ của mình bằng câu “ngũ thập tri thiên mệnh”, hàm ý đến tuổi 50 là chẳng còn thể thay đổi gì nữa. Không, ở tuổi 70, mình vẫn có thể “tự chuyển hóa”, và có thể “tự chuyển hóa” từ những thực hành tu tập cụ thể nhất, đơn giản nhất mỗi ngày trong cả ba lĩnh vực thân - khẩu - ý.



Bụt – Chúa – Đảng và Thơ:
Khi mới đến LM, vào chào Thầy, tôi hồn nhiên thưa: “Thưa Thầy, tôi không quy y, không là Phật tử”. Thầy mỉm cười: “Phật tử đâu ở cái tướng?”. Tôi lại nói: “Thưa Thầy, tôi tiếc là mình không được gặp Thầy sớm hơn, nếu không chắc tôi đã đi theo Thầy.Bây giờ thì muộn rồi, thôi chắc xin hẹn Thầy kiếp sau!” (trong một bài thơ viết trên sông Hằng, tôi chả có lời nguyện cho tôi chết giữa dòng để hóa thân thành nhà thơ hay thiền sư lang bạt đó sao?). Thầy mỉm cười, bảo: “Làm Thơ cũng Tu được mà!”.
Ở LM tôi được nghe rằng: Sau một khóa tu, một thiền sinh đang là bà xơ băn khoăn có nên cởi áo chùng đen con Chúa khoác áo tràng nâu con Bụt? Thay nói: “Chúa hay Bụt cũng là một, con vẫn làm bà xơ nhưng tu tập theo pháp môn LM”. Tôi cũng thấy ở LM, các sư cô được gọi trong tiếng Pháp tiếng Anh là “soeur”, “sister” không khác gì bên nhà thờ Công giáo. Trong nhà ăn Xóm Mới, trên kệ thờ giản dị có hình Chúa sát bên hình Bụt. Tôi bỗng ngộ ra ý nghĩa câu trả lời của Thầy 7 năm trước: “Không yêu Đảng không yêu nước thì quy y làm gì?”. Liên kết với ý niệm “tâm ban đầu” của Thầy khi nhắc nhở những người Cộng sản VN về một thời tuổi trẻ họ sống có lý tưởng cứu nước, tôi hiểu Thầy muốn siêu việt ý niệm “Đảng” lên khỏi tầm của một tổ chức chính trị cai trị hay thống trị.
Như thế, với tôi LM có lẽ không phải chuyện Tôn giáo, mà là chuyện Lý tưởng sống, chuyện Lối sống. Con người hiện đại quá kiêu hãnh đang tự hủy hoại chính mình và hủy hoại đồng loại, hủy hoại trái đất. Từ đó mà khổ đau chồng chất. LM cống hiến một lối sống dựa trên minh triết của Bụt để con người có được hạnh phúc ngay trong hiện tại.
Câu cuối cùng Thầy cầm tay tôi nói lúc chia tay: “Hưng nhớ nhé, Thơ đi bằng hai chân: chánh niệm và hơi thở”. Lại một công án! Tôi sẽ phải giải công án này trong phần còn lại của đời mình.



Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

Nguyễn Đình Chiểu : Sáng mãi tấm gương trí thức dấn thân

Lê Phước

Thế kỷ XIX chứng kiến nhiều biến động trong lịch sử Việt Nam. Suốt mấy ngàn năm thường xuyên bị giặc ngoại xâm từ phương Bắc quấy nhiễu, đến thế kỷ này, lần đầu tiên nước Việt đối mặt với nạn ngoại xâm đến từ phương Tây. Cũng vào thế kỷ này, các nhà nho Việt Nam-với tư cách là giai tầng trí thức lãnh đạo và dẫn dắt xã hội- bắt đầu tìm đủ mọi con đường để cứu lấy dân tộc.


Dù rằng họ chưa tìm ra con đường cứu nước, nhưng họ đã thể hiện được tinh thần trách nhiệm của những bậc thức giả dấn thân vì nước vì dân. Trong số các bậc thức giả đó, Nguyễn Đình Chiểu nổi lên như một trong những trí thức dấn thân tiêu biểu nhất.
Nhà Nho lỡ vận
Nguyễn Đình Chiểu là một trí thức gần dân và rất được lòng dân. Người Nam Bộ gọi ông một cách thân thương là “Đồ Chiểu”, gọi bằng Cụ Đồ vì có một thời gian dài ông làm thầy dạy học chữ Nho ở trường làng. Thật ra, chữ “thầy” ở đây cũng có thể được hiểu nghĩa sâu rộng hơn vì các tác phẩm văn thơ của ông điều chứa đựng nhiều bài học quý giá, dạy cho con người sống đúng và xứng đáng với tổ tiên và đất nước.
Mộ phần của Cụ Đồ Chiểu hiện nay nằm ở huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre. Thật ra, ông không phải là người Bến Tre, mà nơi đây là điểm dừng chân đến cuối đời của ông trong bước đường ông bôn ba theo phong trào “Tỵ Địa” lúc bấy giờ.
Thân sinh của ông là cụ Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên, vào làm thư lại trong dinh tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt. Ở đây, Nguyễn Đình Huy đã gá nghĩa cùng bà Trương Thị Thiệt người làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc phường Cầu Kho, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Cụ Huy đã có vợ ở Thừa Thiên, và có hai con, Trương Thị Thiệt là vợ thứ. Bà Thiệt đã sinh cho ông được 7 người con (4 trai và 3 gái), trong đó Nguyễn Đình Chiểu là con trai đầu lòng. Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (ngày 1 tháng 7 năm 1822) ở quê mẹ.
Năm 1832, Lê Văn Duyệt bị bệnh mất, vua Minh Mạng vốn đã không thích ông, nên bèn bãi chức tổng trấn Gia Định thành và bắt đầu chia miền nam làm sáu tỉnh (Nam Kỳ lục tỉnh). Năm 1833, một người con nuôi của Lê Văn Duyệt tên là Lê Văn Khôi khởi binh làm phản, chiếm thành Gia Định. Triều đình Huế cử binh thảo phạt, nhưng mãi đến năm 1835 mới đánh dẹp được.
Khi Lê Văn Khôi làm loạn, cụ Nguyễn Đình Huy đưa Nguyễn Đình Chiểu ra gửi cho một người bạn làm quan ở Huế để cho ăn học. Và dĩ nhiên ở đây là học các sách vở Nho Giáo vì nền giáo dục Việt Nam lúc bấy giờ chỉ có Nho Giáo mà thôi.
Năm 1840, Nguyễn Đình Chiểu trở về Nam, và đến năm 1843 thì thi đậu Tú Tài ở trường thi Hương Gia Định. Khi ấy, có một gia đình khá giả hứa gả con gái cho ông. Đến năm 1847, ông lại ra Huế để chuẩn bị thi tiếp ở kỳ thi năm 1849. Nhưng gần ngày thi thì Nguyễn Đình Chiểu hay tin mẹ ông mất ở trong Nam. Ông cấp tốc lên đường trở về Gia Định, nhưng dọc đường lâm bệnh thập tử nhất sinh, dù thoát khỏi tử thần, nhưng do thương khóc mẹ, phần bị bệnh nặng nên ông đã mù đôi mắt.
Sự nghiệp dở dang, người hứa hôn bội ước, Nguyễn Đình Chiểu đã trút hết tâm tình này vào tác phẩm Lục Vân Tiên. Số là khi trở về Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu hành nghề dạy học và bốc thuốc đông y, sống trong tình thương yêu và đùm bọc của người dân.
Đến năm 1854, ông kết hôn với bà Lê Thị Điền, người Cần Giuộc, khi ấy thuộc Gia Định (bây giờ thuộc tỉnh Long An). Bà Điền là em gái của ông Lê Tăng Quýnh, mà ông Quýnh là học trọ của Đồ Chiểu. Cảm phục thầy, nên ông Quýnh đã gả em gái cho Đồ Chiểu để ông có người nâng khăn sửa túi.
Cây bút đấu tranh không mệt mỏi
Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định. Một số chí sĩ không chấp nhận sống chung với giặc, nên giặc chiếm nơi nào thì họ lập tức bỏ đến sinh sống ở những nơi chưa bị giặc chiếm. Làn sóng này được các sử gia gọi là gọi là phong trào «Tỵ Địa ». Nguyễn Đình Chiểu cũng là một trí thức theo phong trào này. Khi giặc chiếm quê ông, ông lập tức dọn về sống ở quê vợ là Cần Giuộc. Đến năm 1862, triều đình Huế ký với Pháp Hòa ước Nhâm Tuất nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, Nguyễn Đình Chiểu lập tức cùng gia đình chạy về “tỵ địa” ở Ba Tri-Bến Tre. Đến năm 1867, ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cũng mất nốt vào tay Pháp. Nguyễn Đình Chiểu hết chốn “tỵ địa”, nên mới chịu sống luôn ở Ba Tri cho đến ngày cuối đời.
Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu từ khi trưởng thành đến lúc cuối đời dường như toàn gặp phong ba bão táp: Lên muời tuổi đã chứng kiến cảnh chiến loạn trong vụ Lê Văn Khôi, mới đậu Tú Tài thì mẹ mất, lâm cảnh mù lòa rồi bị người hứa hôn bội ước, quãng đời còn lại là cảnh nước nhà bị nạn ngoại xâm. Do mù lòa nên không thể trực tiếp cầm gươm giáo mà xông pha ngoài mặt trận cùng với đồng bào, nhưng tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Đình Chiểu luôn cháy bỏng. Ông không chiến đấu bằng gươm giáo, mà vũ khí lợi hại của ông là ngòi bút, một ngòi bút đấu tranh vì chính nghĩa không mệt mỏi:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
(Dương Từ-Hà Mậu)
Cái “đạo” mà ông “chở” ở đây đương nhiên là đặt nền tảng trên Nho Giáo, bởi dù muốn dù không thì ông vẫn là một người Nho Giáo, được giáo dục trong lò Nho học từ thuở nhỏ. Thế nhưng, có một điều cần nhấn mạnh là: Cái Nho của Nguyễn Đình Chiểu có khác so với cái Nho của nhiều nhà Nho bảo thủ lúc bấy giờ.
Cái khác lớn nhất ở cái Nho của Nguyễn Đình Chiểu có lẽ là ông đã góp phần tách bạch giữa “Trung quân” với “ái quốc”. Số là xưa kia, các nhà Nho thường hay đánh đồng “vua” với “nước”, bởi vậy họ mới đánh đồng “trung với nước” có nghĩa là « trung với vua”, nói cách khác « vua » là « nước » vậy. Thế nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu thì khác. Tư tưởng trung quân của Nguyễn Ðình Chiểu là trung quân có điều kiện, trung với lẽ phải, trung với nước. Nhưng đối với những ông vua xấu, vua ác thì ông phê phán :

Quán rằng : ghét việc tầm phào 
Ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm 
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm 
Ðể dân đến nỗi sa hầm sẩy hang 
Ghét đời U, Lệ đa đoan, 
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần 
Ghét đời Ngũ bá phân vân, 
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn 
Ghét đời Thúc quý phân băng, 
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng hại dân…

(Lục Vân Tiên)
Hành động tự trầm của Nguyệt Nga cũng là thái độ phản kháng đối với chữ trung quân mù quán :

Nếu ngay cùng chúa lại quên ơn chồng 
Sao sao một thác thời xong 
Lấy mình báo chúa, lấy lòng sự phu

(Lục Vân Tiên)
Đồ Chiểu thậm chí còn ủng hộ việc không “trung với vua” để mà “trung với dân” qua việc ông hết lòng ủng hộ và còn làm bài văn điếu thống thiết cho tướng quân Trương Định. Họ Trương là thủ lĩnh cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gò Công, kháng lệnh triều đình, lãnh đạo nhân dân đánh Pháp. Cuộc kháng chiến thất bại, Trương Định tuẫn tiết. Nguyễn Đình Chiểu có làm một bài văn tế và mười hai bài thơ liên hoàn để điếu ông trong đó có đoạn :

Sớ mật lãnh binh lờ mắt giặc
Bằng son ứng nghĩa thắm lòng dân
Giúp đời dốc trọn ơn nam tử
Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần

Bên cạnh văn điếu Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu còn có nhiều bài điếu văn ca ngợi tinh thần hy sinh vì nước của người dân Việt. Số là vào đêm rằm thánh 11 năm Tân Dậu (tức ngày 16 tháng 12 năm 1861), các nghĩa sĩ nông dân tấn công đồn Pháp ở Cần Giuộc và có gần 20 nghĩa sĩ phải bỏ mình.
Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài điếu “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” để đọc trong buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hy sinh trong trận đánh này. Hay như khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết do không giữ được thành Vĩnh Long, Nguyễn Đình Chiểu cũng có làm hai bài thơ điếu. Năm 1868, thủ lĩnh kháng Pháp ở Ba Tri là Phan Tòng (còn có tên là Phan Ngọc Tòng) hy sinh, ông làm 10 bài thơ điếu. Hay như án hùng văn bất hủ “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh” hồi năm 1883.
Các bài thơ điếu đã cho thấy rằng Nguyễn Đình Chiểu đã tách biệt hẳn với nền Nho Giáo cổ hủ là xem thường giai cấp nông dân. Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi hết lời và bài tỏ lòng kính trọng không bờ bến đối với những nghĩa sĩ nông dân. Vì sao lại có lòng kính ngưỡng đến thế? Vì rằng những nông dân này đã chiến đấu và hy sinh vì tổ quốc. Hay nói đúng hơn, ở đây nhà Nho Nguyễn Đình Chiểu đã đánh giá con người không qua giai cấp sang hèn, mà qua hành động, và đối với ông hành động hy sinh vì nước là một hành động anh hùng đáng kính ngưỡng.
Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những người nông dân “Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, nhưng khi có giặc họ lại xông lên: “Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ” (Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc). Và kêu gọi quyết tâm đáng giặc tới cùng: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh…”
Hay như trong bài Điếu Phan Tòng, sự kính ngưỡng người yêu nước của Nguyễn Đình chiểu cũng rất rõ ràng:

Làm người trung nghĩa đáng bia son, 
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn 
Cơm áo đền bồi ơn đất nước, 
Râu mày giữ vẹn phận tôi con 
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết, 
Khí phách ngàn thu rỡ núi non...

Lòng yêu nước của nhà Nho Nguyễn Đình Chiểu đến mức mà ông đã gắn hai chữ « nhân, nghĩa » với việc yêu nước yêu nhà:

Mến nghĩa bao đành làm phản nước
Có nhân nào nỡ phụ tình nhà
(Dương Từ-Hà Mậu)

Tức là theo ông, người có nhân nghĩa là người trung với nước, trọn tình nhà. Ở đây ta chú rằng, ông không dùng chữ « phản vua », mà là « phản nước », tức là đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, chứ không phải lợi ích của một dòng tộc nào cả. Đến đây, ta thấy rằng, với tư cách là một nhà trí thức, Nguyễn Đình Chiểu dù mù lòa vẫn dùng ngòi bút của mình đóng góp hết sức mình cho nước cho dân.
Tấm gương sáng ngời cho hậu thế
Để tìm hiểu sâu hơn về lòng yêu nước và phương pháp đấu tranh bằng ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu, RFI Việt Ngữ có trao đổi cùng Giáo sư Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille (Cộng Hòa Pháp), người có nhiều công trình khảo cứu có giá trị đã được xuất bản tại Pháp về trí thức Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
RFI : Thưa Giáo sư, cuộc đời và sự nghiệp của nhà Nho Nguyễn Đình Chiểu vô cùng phong phú và to lớn. Vậy xin Giáo sư tóm lược một số nét nổi bật nhất của ông?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo : - Cảm tưởng đầu tiên, Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn lớn trong kho tàng văn học Việt Nam. Ông biết dung hòa luân lý Khổng Mạnh với truyền thống nhân bản của người Việt Nam.
- Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương tiêu biểu cho phong thái, tính tình và tâm lý đặc biệt của người miền Nam, qua quan niệm triết học, ngôn ngữ trong sáng và giản dị.
- Nguyễn Đình Chiểu đại diện cho lớp sĩ phu miền Nam luôn luôn gắn bó với quê hương. Cũng với nhiều nhà Nho khác như Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, ông đã lựa chọn con đường đối lập với chính quyền thực dân bằng tư tưởng dùng văn hóa làm phương tiện đấu tranh. Ví dụ như tác phẩm Dương Từ-Hà Mậu, dù không có giá trị văn học bằng Lục Vân Tiên nhưng lại có tính chiến đấu và thời sự hơn.
- Nguyễn Đình Chiểu đã hun đúc, rèn luyện con cháu trong gia đình giữ vững truyền thống yêu nước. Đặc biệt là cô con gái của ông có biệt hiệu là Sương Nguyệt Anh là một nữ sĩ và nhà làm báo phụ nữ đầu tiên ở xứ ta-bà là chủ bút tờ Nữ Giới Chung (Tức tiếng chuông của phụ nữ). Người con trai của ông là Nguyễn Đình Chiêm cũng là một nhà soạn kịch có tiếng ở miền Nam. Cháu ngoại của Sương Nguyệt Anh là Mai Huỳnh Hoa là vợ của trí sĩ yêu nước Phan Văn Hùm. Phan Văn Hùm là tác giả của một tác phẩm có giá trị cả về văn học lẫn sử học tên là « Nỗi Lòng Đồ Chiểu ».
RFI : Thưa giáo sư, có người cho rằng Nguyễn Đình Chiểu viện cớ mù lòa để trốn tránh việc nước ?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo : Theo ý tôi, đó là một dư luận mang tính xuyên tạc, không phản ánh đúng tình trạng phức tạp của dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ, và của cá nhân Nguyễn Đình Chiểu. Dĩ nhiên, sau khi ông bị bệnh, mù, và sau khi ông từ chối làm trong ban tham mưu của Trương Công Định, người ta có thể nói điều đó. Nhưng ai cũng biết rằng, sự thật không phải như thế, nó phức tạp hơn nhiều.
Không phải ông mượn cớ tàn tật để không tham gia phong trào kháng chiến ở nam Bộ, nhưng tôi nghĩ, ông là người theo con đường đấu tranh bằng văn hóa. Ngay như Phan Văn Trị và Huỳnh Mẫn Đạt là những người có địa vị xã hội và chính trị cao hơn ông cũng đã lựa chọn con đường đấu tranh bằng văn hóa, bằng tư tưởng. Tôi cho rằng, khi Nguyễn Đình Chiểu tham gia phong trào tị nạn và phản đối ngoại xâm của nhà Nho Việt Nam, ông đã làm tròn được vai trò của người trí thức trong thời loạn.
RFI : Thưa Giáo sư, với tư cách là một nhà trí thức, Nguyễn Đình Chiểu có xứng đáng với nước với dân chưa ?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo : Hoàn toàn xứng đáng. Thứ nhất, về mặt văn học, tôi xem Lục Vân Tiên là một tác phẩm quan trọng nhất ở Việt Nam, có thể so sánh với Kim Vân Kiều. Ngoài Lục Vân Tiên, ông còn để lại những tài liệu văn học và y học có giá trị. Còn nói về con người ông, thì ông tượng trưng cho lòng yêu nước và phương pháp đấu tranh yêu nước của người trí thức miền Nam.
RFI : Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho thủ cựu?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo : Đúng là nhiều lúc ông có thái độ hơi đóng chặt lại. Chẳng hạn như đối với chữ quốc ngữ, ông cấm con cháu không cho học chữ này vì cho rằng đó là chữ của ngoại xâm, của ngoại giáo, của bá đạo, nó dùng tôn giáo để xâm chiếm Việt Nam. Thái độ này của ông đối với chữ quốc ngữ có hơi thái quá. Ông cũng tỏ ra hơi thủ cựu trong việc khích bác Phật Giáo và Công Giáo. Nhưng nếu nhìn trong phạm vi một nhà nho học cổ điển, thì thấy rằng Nguyễn Đình Chiểu hoàn toàn trả lời rất đúng đắn những tiêu chuẩn của một nhà Nho Việt Nam yêu nước thời đại đó.
RFI : Thưa Giáo sư, trí thức Việt Nam hiện đại cần thấy gì và làm gì trước tấm gương Nguyễn Đình Chiểu ?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo : - Thứ nhất, đứng về mặt di sản văn học của ông, chúng ta phải tìm hiểu về ông nhiều hơn. Tôi thấy rằng, Nguyễn Đình Chiểu so với Nguyễn Du hay Đoàn Thị Điểm hoặc các nhà văn lớn miền Bắc khác, thì ông tương đối ít người biết hơn. Ngay cả những người nghiên cứu về văn học miền Nam cũng không đá động đến ông nhiều. Tôi nghĩ rằng, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu và học hỏi về tư tưởng văn học và về tác phẩm của ông. Phải tìm hiểu những ảnh hưởng của ông đối với thế hệ nhà văn sau ông, nhất là các nhà văn cận-hiện đại ở miền Nam.
- Kế đến, tôi thấy rằng, Nguyễn Đình Chiểu tượng trưng cho tinh thần yêu nước, yêu dân tộc và trung thành của người miền Nam. Không phải lúc nào cũng lao đầu vào chiến đấu (tức dùng đến võ lực). Nguyễn Đình Chiểu đề nghị một đường lối đấu tranh mềm dẻo, chính trị, đặt văn hóa và tư tưởng lên trên vũ khí quân sự. Ông là người đặt ưu tiên cho đấu tranh bằng phương tiện văn hóa và văn học. Sứ mệnh đặc biệt của người trí thức là đấu tranh bằng tư tưởng trên đấu tranh bằng vũ lực. Người trí thức thì phải đặt trọng tâm cho phương tiện đấu tranh trí thức và đấu tranh văn hóa. 
Đến đây, ta có thể khẳng định rằng, nhìn trên toàn cục, Nguyễn Đình Chiểu là một trí thức dấn thân đáng kính. Ông đã mù lòa lại sống trong cảnh khổ nghèo, thế mà tiết tháo Nhà Nho ông vẫn giữ vẹn, thể hiện qua việc kiên quyết không hợp tác và không nhận lợi ích từ tay giặc. Ông đã vượt lên hoàn cảnh và tỏ ra không mệt mỏi trong việc dùng ngòi bút của mình để « chở đạo » và « trừ gian ». Còn trên văn đàn dân tộc, thì ông cũng đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị về văn học lẫn tư tưởng.
Thời buổi nào cũng vậy, trí thức luôn đóng vai trò quan trọng trong sự vận hành và tiến triển của xã hội. Lê Quý Đôn từng nhấn mạnh rằng : « Phi trí bất hưng ». Nguyễn Đình Chiểu đã sống xứng đáng với nước với dân, xứng đáng là một trí thức dấn thân, một bậc thức giả yêu nước thương dân dùng ngòi bút đấu tranh không mệt mỏi. Ông là một tấm gương sáng ngời cho trí thức mọi thời đại, vì đâu phải trí thức nào cũng dám dùng ngòi bút của mình để chở đạo trừ gian.

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Cục trưởng bảo vệ thực vật xui dân cứ yên tâm... ăn độc!

Khuyên dân cứ ăn độc: Cục trưởng BVTV

Tác Giả: Phạm Thanh  

 
Khoai tây TQ được phù phép thành khoai Đà Lạt

Lời bình của Nguyễn Quang Vinh : Phát hiện thực phẩm có độc, ở đây là khoai tây Trung Quốc có dư lượng chất gây độc cao hàng chục lần, thay vì cần phải đề nghị Chính phủ, các Bộ ngành chức năng khẩn cấp vào cuộc, cho người dân những khuyến cáo cần thiết để loại bỏ hoặc từ chối, hoặc thông báo thu hồi, hoặc chí ít là giảm sử dụng….đằng này Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật khuyên người dân ăn đi, ăn đi, không sao đâu, cứ ăn…thì đúng là ngu chứ gì nữa. 

Ngu ở cấp cục gọi là Cục Ngu.

 
Khoai tây Trung Quốc nhiễm độc gấp 16 lần cho phép, cục trưởng Nguyễn Xuân Hồng vẫn khuyên người dân cứ yên tâm ăn . Ảnh : NLĐ

Có lẽ chẳng đâu như Việt Nam, kiểm định thấy thực phẩm nhiễm độc tố liều lượng cao gấp nhiều lần cho phép, mà hết lần này tới lần khác Cục trưởng vẫn “kiên định” khuyên người dân đừng lo lắng, hãy cứ ăn đi.

Người Cục trưởng “nhiệt tình” khuyên dân ăn đồ độc mà chúng tôi muốn nhắc tới ở đây đó là ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT).

Mới đây ông lại gây “sốt” khi trả lời báo chí (xem ở đây) liên quan tới sự kiện phát hiện hàng chục tấn khoai tây Trung Quốc có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt 16 lần ngưỡng cho phép tại TP. Đà Lạt (Lâm Đồng), khi phóng viên đặt câu hỏi phải chăng nếu vụ việc không bị phát hiện thì người tiêu dùng đã bị đầu độc?


Cục trưởng Hồng trả lời rằng: “Trong trường hợp như thế thì bất cứ nước nào trên thế giới đều phải chấp nhận”, thậm chí ông còn dẫn chứng “cả thế giới, cả những nước phát triển nhất cũng chỉ đến mức độ như thế thôi” để thuyết phục cho cái lập luận có vẻ ngược đời của mình của mình.

Mà đấy đâu đã là gì, nói về mức độ ảnh hưởng sức khỏe người dùng nông sản có dư lượng thuốc bảo vệ vượt cho phép, Cục trưởng Hồng giải thích thế này trên tờ NLĐ: “Mức dư lượng tối đa cho phép là mức mà trong thương mại người ta đưa ra, nó rất an toàn. Chứ không phải cứ vượt ngưỡng tối đa cho phép là mất an toàn”, tuy vậy theo vị này, đó là mức mà người ta thấy có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe để cơ quan quản lý nhà nước và người tiêu dùng có thông tin và bắt đầu tăng cường kiểm tra, đảm bảo các biện pháp an toàn.

Theo Cục trưởng trên, khi các loại rau quả này có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép, phải liên tục ăn thì nó mới ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì vậy, dù dư lượng thuốc trừ sâu vượt mức tối đa cho phép và vi phạm quy định của Việt Nam nhưng cũng chưa đồng nghĩa với việc mất an toàn.

“Khi nào nó vượt ngưỡng hàng trăm lần, thậm chí 1.000 lần thì lúc ấy cơ quan quản lý nhà nước mới vào cuộc để truy xuất nguồn gốc, tiêu hủy”, Cục trưởng Hồng khẳng định.

Ra là thế đó quý vị ạ, thời gian khoảng một năm gần đây Việt Nam liên tục phát hiện các loại nông sản Trung Quốc có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép như khoai tây, gừng, nho, cam, táo, lê… nhưng nó vẫn được nhập về và bán tràn lan trên thị trường, thậm chí trà trộn, dán mác hàng Việt để bán cho người Việt ăn. Nhưng ngặt nỗi, những đồ ăn, thức uống đó bị nhiễm độc tố chỉ ở mức vượt tiêu chuẩn vài chục lần, cao thì cũng chỉ trăm lần, thành ra nó chưa chạm tới cái “vượt ngưỡng trăm lần, thậm chí 1.000 lần thì lúc ấy cơ quan quản lý nhà nước mới vào cuộc để truy xuất nguồn gốc, tiêu hủy”, như Cục trưởng Hồng đã khẳng định ở trên.

Quan điểm trên của Cục trưởng Hồng xem ra đã thành “nguyên tắc” công việc của ông, khi cách giải thích tương tự mới được ông nói hồi giữa tháng 5 vừa qua, khi phát hiện mẫu gừng Trung Quốc có dư lượng thuốc trừ sâu Aldicarb cực độc vượt ngưỡng cho phép từ 1,2 tới 3 lần so với tiêu chuẩn của EU, Nhật Bản và mức khuyến cáo của Codex.

Khi đó, Cục trưởng Hồng cũng khuyên người dân không nên quá lo lắng, vì nguy cơ gừng Trung Quốc nhiễm hóa chất Aldicarb ở nước ta không cao (xét cả về tỷ lệ mẫu có chứa dư lượng thuốc sâu là 1/50 mẫu nhiễm, và mức độ nhiễm). Nên người dân cứ dùng thoải mái, vì lượng ăn không nhiều, nếu có muốn bị nhiễm độc thì một người phải ăn mỗi ngày từ 8gr tới 3kg gừng.

Và vì vậy nên, Cục Bảo vệ thực vật do ông Hồng làm Cục trưởng chỉ mới áp dụng biện pháp cảnh báo người tiêu dùng và kiểm tra chặt việc nhập khẩu, còn chưa phải thu hồi, tiêu hủy. Nhưng nói đi vẫn phải nói lại, ăn không sao cả, nhưng nếu có ăn thì Cục trưởng Hồng cũng nhắc người sử dụng nên rửa sạch và bóc kỹ vỏ gừng trước khi dụng.

Đấy, Cục trưởng thông qua báo chí gửi tới quý vị tiêu dùng thông điệp vậy đó, quý vị hãy lấy đó mà cảm ơn Cục trưởng đi, vì Cục trưởng của chúng ta đã rất lo lắng cho sức khỏe của người dân rất sát sao. Nó độc thì quý vị đừng có ăn nhiều, ăn ít thôi, ăn chơi chứ đừng ăn thật, đừng có ăn nhiều để rồi mà nôn thốc, nôn tháo, để phải đi viện cấp cứu giải độc.

Còn thực phẩm nhiễm độc vượt ngưỡng ai cũng biết ăn vào độc tố sẽ tích tụ trong cơ thể mà không đào thải ra ngoài được, qua thời gian sẽ sinh bệnh tật, ung thư nọ kia, nhưng đấy là chuyện của sau này, của nhiệm kỳ sau mới có thể xảy ra, thậm chí có khi gần hết đời quý vị mới phát bệnh ấy chứ, lúc đấy thì Cục trưởng Hồng cũng không còn là Cục trưởng, có khi cũng chẳng còn trên đời. Còn các lãnh đạo sau thì cũng có lý do để mà trốn tránh khi những hậu quả sức khỏe đó là của người tiền nhiệm, và rồi của tập thể, của cơ chế… chứ đâu phải của riêng ai.

Còn cái riêng, chỉ là bệnh tật riêng của mỗi người, không may nó rơi vào ai đó trong quý vị thì ráng chịu, bán nhà, bán đất mà chạy chữa, còn không chữa được, thì chết biết liền.

Box:
Sau khi phát hiện một số cơ sở tại TP. Đà Lạt (Lâm Đồng) nhập khoai tây Trung Quốc về sau đó trộn với đất đỏ Đà Lạt và bán ra thị trường với mác khoai tây Đà Lạt. Lực lượng chức năng tỉnh này đã lấy mẫu khoai tây kiểm nghiệm, kết quả công bố hôm 15/6 cho thấy, những mẫu khoai tây Trung Quốc này đều nhiễm chất độc hại Chlorpyrifos (có thể gây ung thư phổi) vượt ngưỡng cho phép tới 16 lần.

Đây là lần thứ 2 khoai tây Trung Quốc bị phát hiện có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vưỡng ngưỡng cho phép được nhập về Việt Nam trong trong vòng 10 tháng qua.Điều đáng nói, thời điểm tháng 8/2012, khi phát hiện khoai tây Trung Quốc có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá 3-5 lần giới hạn cho phép, Cục Bảo vệ Thực vật đã xếp khoai tây vào diện kiểm soát đặc biệt. Nhưng khoai tây nhiễm độc vẫn được nhập về.


Kính thưa Cục trưởng Nguyễn Xuân Hồng: Chất độc không thể ăn được!

(NLĐO) - Với phát biểu: “Có những mẫu dù dư lượng thuốc trừ sâu vượt mức tối đa cho phép và vi phạm quy định của Việt Nam nhưng cũng chưa đồng nghĩa với việc mất an toàn”, ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật - Bộ NN-PTNT, bị dư luận phản đối dữ dội. Đây không phải lần đầu ông cục trưởng phát biểu gây sốc.


    Ông Nguyễn Xuân Hồng: Khoai tây nhiễm độc của Trung Quốc vẫn an toàn
    Ngay sau khi đăng bài “Khoa tây độc: Phải chấp nhận”, Báo Người Lao Động nhận được rất nhiều ý kiến bạn đọc bày tỏ thái độ bất bình trước phát biểu của ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật - Bộ NN-PTNT, khi cho rằng dù dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép 16 lần nhưng khoai tây Trung Quốc vẫn an toàn.


    Ông Hồng  khẳng định  “Mức dư lượng tối đa cho phép là mức mà trong thương mại người ta đưa ra, nó rất an toàn... không phải cứ vượt ngưỡng tối đa cho phép là mất an toàn”. Ông giải thích thêm: “... Hằng ngày, 1 thanh niên 18 tuổi phải ăn 3.000 cây xà lách hoặc 1 cô gái phải ăn 354 quả táo. Khi các loại rau quả này có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép, phải liên tục ăn như thế thì nó mới ảnh hưởng đến sức khỏe”.
    Bạn đọc có nick culi  phản đối: “Ông trả lời với dư luận gì mà kỳ vậy? Ông chấp nhận nhưng những người mẹ, những người cha không thể "chấp nhận" cho con cái mình ăn những thứ độc phẩm như vậy được. Không có một quốc gia nào chấp nhận cho dân tộc mình ăn đồ độc”. Bạn đọc có nick Râu rầu  bất bình:  “Không ngờ Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật lại có thể phát biểu những câu mà tôi đọc xong cảm thấy bị khinh thường như thể một người lớn đang dỗ dành em bé quấy khóc vì bố mẹ nó thất hứa không mua quà”.
    Đối với bất kỳ ai và bất kỳ loài vật nào, chất độc không thể  ngửi, hít, chứ chưa nói là ăn vào. Do vậy, ở riêng 26 tấn khoai tây Trung Quốc bị phát hiện dư lượng thực vật cao gấp 1 lần cho phép mà ông Hồng nói vẫn an toàn thì không một ai chấp nhận được.
    “Nghe ông cục trưởng phát biểu thấy rầu quá, sức khỏe người dân đang bị xem thường” - bạn đọc Thanh nói. Bạn đọc Hữu Châu thì nói: “Với cách lập luận của ông Nguyễn Xuân Hồng thì người tiêu dùng nên tự cứu mình thôi”.
    Táo Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hiếu


    Đây không phải lần đầu tiên ông Cục trưởng Nguyễn Xuân Hồng phát biểu gây sốc  mà theo bạn đọc là quá vô cảm trước người dân.


    Còn nhớ ở vụ táo Trung Quốc nhiễm độc, trên Báo Người Lao Động số ra ngày 22-6-2012, ông Nguyễn Xuân Hồng cũng khẳng định: Chất độc trong táo Trung Quốc ở ngưỡng an toàn. Dẫn kết quả phân tích 40 mẫu táo Trung Quốc có chứa hóa chất độc hại thiram với hàm lượng 0,08 ppm, trong đó 15 mẫu có hóa chất aren ở mức từ 0,02 - 0,11 ppm, ông Hồng khẳng định chất độc thấp hơn ngưỡng cho phép và trong ngưỡng an toàn khi sử dụng. 


    Ngay sau tuyên bố này,  hàng trăm bạn đọc đã gửi ý kiến phản đối kịch liệt.  Bạn đọc cho rằng chất độc vẫn là chất độc và khi đã là chất độc thì không có ngưỡng, chỉ thấy nguy hại cho sức khỏe.


    Không tin vào kết quả kiểm tra cũng như thất vọng trước cách làm, cách nói của quan chức đầu ngành, người dân chỉ còn biết tự cứu lấy mình trước mối nguy rau củ quả, hàng hóa nhiễm đọc từ bên ngoài tràn vào. “Mong mọi người hãy tỉnh táo khi sử dụng tất cả các loại hàng hóa khi nó có trên thị trường” -  bạn đọc Phan Thị Kim Oanh đưa ra lời khuyên.

    Hãy sáng suốt lựa chọn

    “Dư lượng dưới mức cho phép, vậy thì ai cho phép? Sao Cục Bảo vệ thực vật không công bố bằng văn bản cho rõ ràng? Những dư lượng đó khi ăn vào có được đào thải ra ngoài hay không? Hay là chúng sẽ tích tụ lại trong cơ thể, đến một ngày nào đó khi đã phát hiện ra thì quá muộn?... Chúng ta là những người tiêu dùng, hãy sáng suốt lựa chọn cho mình những thực phẩm an toàn hơn”
    bạn đọc Hai Thời Sự

    Duy Quốc (tổng hợp)

Nỗi Đau Rồng

Hai bậc đại công thần trong lịch sử nước nhà đều bị thảm án trên cùng một khúc sông oan. Ai cũng biết hiền tài là nguyên khí quốc gia nhưng trọng dụng, khoản đãi bậc hiền tài không dễ. Lịch sử ăm ắp những bài học.


Truyện ngắn của Từ Khôi


Chít lại chiếc khăn vấn trên đầu, khoác tay nải lên vai và từ tốn chống cây gậy trúc bước lên bến đò, ông già có chòm râu điểm bạc ghé vào quán nước nghỉ chân. Đón bát nước vối của bà hàng nước, ông già khẽ nhấp một ngụm và chợt ngừng lại nhìn bát nước. Vị nước vối khác hẳn với những lần ông dừng chân ở bến đò Thiên Thai phía đông bắc của ngọn núi cùng tên này. Bát nước có vị chát và ngái của lá vối tươi mới bẻ đem nấu. Dường như đoán biết được cảm nhận của ông già, bà hàng nước phân trần:
- Cụ xơi tạm. Nhà cháu chưa kịp băm lá để ủ cho ngấu từ cái đận lễ thập đình quan trạng. Gớm hôm ấy hội đông quá, cả thúng vối nhà cháu chả còn lấy một cọng. À mà cháu hỏi khí không phải, hôm đó cụ có dự hội không?
Khẽ lắc đầu, ông già đáp lời:
- Bà thứ lỗi. Cho tôi được hỏi lễ thập đình quan trạng là thế nào? Vị quan trạng nào mà được thập đình làm lễ?


Minh họa của Nhật Song

Bà hàng nước có vẻ ngỡ ngàng. Lễ hội thập đình làng mình to thế mà sao ông lão không biết. À mà chuông làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ, ông ấy không biết là phải. Nghĩ vậy, bà hàng nước ôn tồn:
- Thưa cụ, trang Đông Cứu nhà cháu thờ đức quan trạng Lê thái sư thời đức vua Lý Nhân Tông. Nhiều làng quanh vùng cũng thờ ngài làm thành hoàng làng nên từ lâu đã sinh lệ thập đình để cùng chung lễ rước, lễ tế.
Ông lão giật mình, thảng thốt:
- Bà nói sao. Làng ta thờ đức Lê thái sư kỵ húy Văn Thịnh, người mở đầu khoa cử nước Việt ta?
Bà lão gật đầu. Câu chuyện tạm ngừng khi có người khách muốn mua nải chuối. Ông lão với chiếc điếu cày rồi lục túi lấy thuốc lào ra vê một điếu. Hút xong, ngẫm ngợi một lát, ông lão mua thêm thẻ nhang rồi hỏi bà hàng nước:
- Đền quan trạng đi hướng nào cụ nhỉ?
- Cụ cứ xuôi đê đoạn nữa rồi rẽ trái. Đấy cái quãng thằng bé chăn bò kia kìa. Cứ đi thẳng đoạn nữa là đến. Đền ở mạn sườn đông nam núi Thiên Thai này ấy.
Khoác tay nải lên vai, ông già cầm cây gậy trúc đi theo hướng bà hàng nước chỉ. Hơn một khắc (mười lăm phút), ông già đã đến chân núi phía đông nam núi. Ngước mặt nhìn lên tam quan cổ kính rồi ông già tiếp tục bước lên. Vào trong tam quan, ông nhìn thấy bên phải là một ngôi chùa, trên mái treo đại tự “Thiên thư tự” (nghĩa là chùa sách trời). Còn bên trái là một ngôi đền nhỏ, trên có đại tự “Thái sư tự”. Ông già rẽ sang bên trái.
Cụ thủ từ đền thái sư tiếp đón nhiệt thành. Ông già lấy thẻ nhang rút ra năm nén, châm lửa từ ngọn đèn dầu trên bàn thờ rồi kính cẩn chắp tay vái ba vái. Ông già lầm rầm khấn điều chi ông thủ từ không được rõ. Cụ thủ từ thấy lạ là ông già khấn rất lâu, vẻ khấn rất nhập tâm, nếp nhăn trên mặt chau lại. Còn ngạc nhiên quá, năm nén hương không hiểu sao hóa cong xoắn lại như rồng cuộn trước linh vị “Lê thái sư đại vương”.
Sau khi tĩnh tại bên chõng tre ngoài sân,  thưởng bát nước vối, ông già hỏi cụ thủ từ:
- Dám hỏi cụ, ai là hậu duệ đức Lê thái sư ở làng ta?
Cụ thủ từ lặng nhìn ông già, nét mặt có vẻ căng thẳng, hỏi lại:
- Cụ có phải là người họ Lê?
Ông già ngạc nhiên và lắc đầu:
- Sao cụ hỏi vậy. Tôi họ Nguyễn.
Nét mặt cụ thủ từ chùng xuống, rồi giãi bày:
- Từ cái đận xảy ra vụ án hồ Dâm Đàm, dòng họ Lê của quan thái sư tứ tán cả để tránh họa tru di. Giờ chúng tôi vẫn thắc thỏm chờ mong hậu duệ của ngài hồi hương bản quán nhưng cứ tuyệt mù tăm. Thế nên tôi cứ ngỡ ông là hậu duệ ngài...
Ông già trầm ngâm:
- Dám hỏi cụ, hàng năm vào kỳ lễ hội thập đình thì vị quan triều đình nào chủ tế?
Cụ thủ từ lắc đầu:
- Các cụ truyền khẩu lại là dân làng Bảo Tháp chúng tôi tự lập đền thờ đức quan trạng nên tự bầu ra ông đám tế. Dân làng tôi tâm niệm: quan trạng là người thương dân, lập công với nước, vì việc chung mà lâm vào vòng họa hại thì dân làng phải nhớ ơn, phải lập đền thờ để chiêu tuyết cho ngài, ông ạ.
Cụ thủ từ ngừng lời và đưa đĩa trầu cau mời ông già. Ông già cảm tạ và nhón tay lấy miếng trầu ở đĩa đưa vào miệng. Cả hai người đều im lặng nhai trầu. Một lát, ông già bùi ngùi:
- Trình cụ, tôi cũng nghĩ quan thái sư do bị kẻ ganh ghét hãm hại chứ không thể nào bậc đại nhân, đại trí, đại dũng dốc lòng cuồn cuộn như nước triều biển Đông lại có âm mưu thoán nghịch. Thậm phi lý cụ ạ. Lẽ nào vị đỉnh giáp khai khoa, vị tổ của khoa bảng đất Việt, thầy học của vua, quan thị lang bộ binh giành lại phần cương thổ phía Bắc của tổ quốc, vị thái sư đầu triều với bao cuộc cải cách lớn đem lại cơm no áo ấm cho người dân cả nước lại hành động bột phát như kẻ điên bất nhân thế được. Thật không thể tưởng tượng nổi sao kẻ ác lại có thể tàn độc như thế.
Nghe những lời cảm khái đầy tâm trạng của ông già, cụ thủ từ lấy làm kính nể. Cụ thủ từ liền mời ông già ở lại xơi bữa cơm trưa nhưng ông già với tay lấy cây gậy trúc, khoác tay nải rồi đứng dậy. Trước khi chia tay, cụ thủ từ hỏi:
- Dám hỏi quý tính của ông là gì? Người nơi đâu?
Ông già khiêm tốn trả lời. Chỉ vừa nghe xong, hốt nhiên, cụ thủ từ quỳ mọp xuống:
- Lạy quan lớn. Con có mắt như đui. Công lao trời biển của người dân chúng con luôn biết ơn và kính ngưỡng thờ phụng.
- Ấy chết. Xin cụ chớ làm vậy. Tôi đã hết quan hoàn dân. Tôi kém tuổi cụ nên người phải lạy là tôi chứ.
Cụ thủ từ đã đứng dậy nhưng vẫn chắp tay nghiêm cẩn:
- Con đâu dám. Cụ có hoàn dân thì công lao cụ với non sông mãi mãi còn đó ai đâu dám quên ơn.
***
Sau lần viếng thăm đền quan thái sư Lê Văn Thịnh này, mỗi dịp về kinh đô hay từ Thăng Long trở về Côn Sơn qua đường sông Thiên Đức, ông già lại ghé bến Thiên Thai viếng đền thái sư. Biết tin, các bậc tiên chỉ làng và người dân đều đến lạy chào. Bữa ấy, ông già đề đạt với dân làng:
- Trình các cụ, các ông các bà, tôi muốn cung tiến một pho tượng do tôi vẽ kiểu sau nhiều đêm ngẫm suy. Đó không phải pho tượng thờ ngài vì pho tượng đương thời đã được hô thần nhập tượng.
Người dân xúm lại xem bản phác thảo pho tượng do ông già vẽ trên giấy dó. Ai cũng kinh ngạc. Đó là một con rồng tự cắn vào thân mình và chỉ có một lỗ tai trái. Ngẫm nghĩ thâm ý của ông già, dân làng chấp thuận để ông già bỏ tiền thuê đưa đá từ xứ Thanh về cho thợ đẽo tạc. Trọn vẹn công việc trong ba tháng. Dù pho tượng được đặt bên tả trước tam quan nhưng dân làng vẫn làm lễ hô thần nhập tượng rất chu đáo, cẩn trọng. Buổi chiều trước khi làm lễ, ông già đứng trầm ngâm bên pho tượng rồng rất lâu rồi nói với người thợ đá:
- Anh giúp cho ta đục một lỗ bên tai trái ông rồng. Nhớ chỉ bên trái thôi.
Người thợ vâng lời.
Biết bao người đã bàn tán về ý nghĩa pho tượng rồng kỳ quặc. Tượng rồng mình rắn, vảy cá chép, liền khối, nặng chừng ba tấn, mắt trợn tròn, miệng đầy răng lởm chởm ngoạm lấy thân mình, hai chi trước bấu xé cơ thể. Người tinh ý thì thấy bên tai trái rồng có lỗ còn bên tai phải thì không. Người cho đó là thể hiện nỗi oan của quan trạng, người lại cho đó là sự đau đớn tiếc nuối của vua Lý Nhân Tông sau này khi hối hận. Vua vì chỉ biết nghe lời trái chứ không nghe lời phải nên đã nghe lời xiểm nịnh hãm hại đại công thần. Lúc hối thì đã muộn nên đau đớn tự cắn xé hành hạ thân mình... Thế nhưng, đem các thuyết ấy hỏi thì ông già chỉ mỉm cười...
***
Chưa đầy một năm sau khi pho tượng rồng đá được tạo tác thì xảy ra một sự kiện kinh thiên động địa đất nước. Sự kiện ấy xảy ra ngay tại Lệ Chi Viên, cùng vùng đất Gia Định với Đông Cứu. Bữa quân lính triều đình về áp giải trọng phạm qua bến đò Thiên Thai người dân đứng chật cả hai bên bờ sông Thiên Đức. Khi đoàn áp giải trọng phạm lên bến đò Thiên Thai tạm nghỉ thì bỗng đâu bà hàng nước cố lách người qua đám đông và xin quân lính cho được dâng người trọng phạm già một nắm cơm và bát nước vối. Trong khi mấy người lính dùng dằng thì một viên quan võ bước tới ngăn cản, xô bà hàng nước về phía sau làm đổ hết bát nước và nắm cơm văng xuống đất. Bà hàng nước nức nở trong dòng nức nở dâng trào của dân làng:
- Cụ Ức Trai ơi, oan cho cụ lắm cụ ơi. Sao ông giời lại không có mắt thế hả ông giời ơi. Oan. Oan. Oan...
***
Nguyễn Trãi – anh hùng giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại xâm giặc Minh phương Bắc, danh nhân văn hóa thế giới, vị đại công thần khai quốc nhà Lê lẽ nào lại chịu thảm cảnh đau thương tang tóc tru di tam tộc đến thế. Cụ Ức Trai đâu có ngờ tình cảnh trớ trêu xảy ra với bậc tiền nhân trước mình hơn ba trăm năm lại có thể ứng vận vào mình. Khi vua Lý Nhân Tông hối hận thì thái sư Lê Văn Thịnh đã mất. Và hai mươi hai năm sau vụ án Lệ Chi Viên, vua Lê Thánh Tông, người chịu ơn Nguyễn Trãi và bà lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ lên ngôi đã minh oan cho Ức Trai và ví ông như ngôi sao Khuê trên bầu trời. Nhưng hối nào có ích chi khi tam tộc Nguyễn Trãi đã bị tru di.
Sau vụ án, Lệ Chi Viên, nơi xảy ra cái chết của vua Lê Thái Tông bị triệt hạ. Pho tượng rồng do Ức Trai cung tiến ở đền quan thái sư cũng phải phá bỏ. Đêm ấy, trời không trăng, một số người dân Đông Cứu bàn nhau đào hố và chôn pho tượng rồng xuống rồi trồng cây lên sau đó dâng biểu tâu đã tự phá hủy rồi. Vì bí mật, lại không hiểu duyên cớ gì mà pho tượng không được khai quật lên sau mấy trăm năm. Cho đến một ngày năm 1991, vô tình dọn dẹp cổng đền, người dân Đông Cứu lại phát hiện ra ông rồng và đưa lên thờ ở bên trái đền như vị trí hiện tại.
Lệ Chi Viên và bến đò Thiên Thai nơi có đền thái sư Lê Văn Thịnh liền một dải đê trên sông Thiên Đức chỉ vài ba cây số nối kinh thành Thăng Long với Lục Đầu Giang nên có người gọi đây là khúc sông oan. Sau này không rõ vào năm nào, người ta đắp một con đê ngăn nước Thiên Đức để chống lũ cho hai xã Song Giang và Giang Sơn nên gọi là đê cộc. Khúc sông xưa chỉ còn một quãng ngắn gọi là sông Địa vì nằm trên địa bàn làng Địa. Bến đò Thiên Thai nơi trời đất khiến xui nên sự gặp gỡ giữa hai đại công thần của hai triều đại rực rỡ chịu bao oan khuất vì đều bị khép vào tội giết vua nay không còn. Dấu tích còn lại nơi bến đò xưa là chùa Bến. 
Đền thờ Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ ở Lệ Chi Viên và đền thờ thái sư Lê Văn Thịnh ở Đông Cứu nay đã được trùng tu khang trang. Ai cũng biết hiền tài là nguyên khí quốc gia nhưng trọng dụng, khoản đãi bậc hiền tài không dễ. Lịch sử ăm ắp những bài học. Ngẫm ngợi về pho tượng rồng, một thầy giáo ở quê hương Gia Bình cảm tác:
        Trợn mắt nghiến răng nghĩ cực thay
        Ngoạm thân đau đớn nỗi oan này
        Việc đời thiên tử nghe tai trái
        Biết hối, Người đâu để giãi bày.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Khi nào có "làn sóng mới" trong báo chí Việt?

Định danh, khẳng định của một cây bút không chỉ duy nhất đánh dấu bằng giải thưởng, mà phải được nhớ bởi độc giả, được bạn đọc tín nhiệm, đón tìm đọc.

VI THÙY LINH

"Làn sóng mới" chính là những người viết trẻ dồi dào bút lực và khát vọng cống hiến, khẳng định tài năng. Câu hỏi này không sợ "chậm thời sự", dù ngày Báo chí Việt Nam 21/6 đã qua một tuần. Báo chí là nhu cầu xã hội, công việc hàng ngày của những người làm báo, nên câu hỏi trên lúc nào cũng thời sự và... khó trả lời.
Không có "đinh", không thấy "đỉnh"
Đừng vội "mắng" người viết hỏi thừa, cũng chớ vội trả lời: Phóng viên (PV) trẻ rất đông, được gia tăng lực lượng mỗi năm, nhất là ở các thành phố lớn. Đến Cung văn hóa Việt Xô- Hà Nội dự lễ trao giải Báo chí Quốc gia lần thứ bẩy, tối 21/6, tôi buồn ngay ở đó và đến bây giờ. Ngày Báo chí VN, đỉnh điểm là cuộc trao giải, thành ngày hội của cả nghìn nhà báo tại chỗ và hàng vạn nhà báo toàn quốc, sao lại  nặng lòng lâu thế?
Hàng đoàn nhà báo xếp hàng tại lối đi bên phải khán phòng theo sắp xếp của nhà Đài, chờ lên nhận giải kịp thời vì truyền hình trực tiếp VTV1, giải C, giải B rồi giải A. Hàng đoàn tác giả, ken nhau đứng đầy sân khấu, ngồi bên dưới, không nhìn rõ, nhìn hết các gương mặt.
Lễ trao giải lần sáu có Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến dự và lần bẩy có Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, biểu lộ rõ sự quan tâm, kỳ vọng của các vị lãnh đạo cao cấp với nền báo chí đương đại. Giải Báo chí QG lần bẩy có 78 tác phẩm thuộc 11 loại giải được trao: Năm giải A, 28 giải B, 45 giải khuyến khích. Lần đầu tiên, giải Báo chí QG có tới năm giải A!
"Toàn cảnh" danh sách tác giả, chủ yếu là loạt bài của nhóm tác giả hoặc một tác phẩm của "chùm" tên PV. Không có "đinh", không thấy "đỉnh", không tác giả trẻ nào đáng chú ý - lột tả một giải thưởng Báo chí QG như thế là buồn xa xót cho nghề. Như có nhiều đồng ca hợp xướng mà không ai solo, lĩnh xướng. Lắm giải A mà vắng "sao", thật đáng tiếc.
Trao đổi với nhà báo Hà Minh Huệ - Phó Chủ tịch thường trực Hội Nhà báo VN, kiêm Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng giải Báo chí QG 2013, ông cho biết:
Chúng tôi mong muốn và luôn nỗ lực tìm kiếm những cây bút nổi bật chứ không phải xu hướng chấm giải năm nay là theo nhóm tác giả. Ngặt nỗi tác phẩm đưa lên từ các chi hội cơ sở toàn là loạt bài. Các hội đồng chỉ có thể chấm trong số những bài được đưa lên, tức là đánh giá theo phong trào, tìm tác phẩm khá nhất trong số đã có, chứ không phải là những tác phẩm xuất sắc nhất của Báo chí VN năm qua. Đúng là quá thiếu những cây bút trẻ tài năng, đam mê,thể hiện qua những tác phẩm gây dư luận xã hội.
Tôi đã hỏi những nhà báo uy tín: Ai là cây bút nổi bật giải Báo chí QG 2013? Không ai có câu trả lời. Bất cứ cuộc thi nào, ở lĩnh vực nào, dù "đãi cát tìm vàng" hay "bó đũa chọn cột cờ", đều nhằm tìm ra người nổi bật nhất để tôn vinh.
Giải báo chí quốc gia, nhà báo, dấn thân,
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao giải cho các tác giả đoạt giải cao trong giải báo chí quốc gia lần 7. Ảnh: Nghebao.org
Giọng hát, sắc đẹp, thành tích kỷ lục thể thao hay sáng tạo các loại hình nghệ thuật đều chọn tác phẩm, chính là tôn vinh tài năng tác giả. Giải Báo chí QG 2013 là cái cớ để những người tâm huyết với nghề báo suy nghiệm về đội ngũ những bây bút trẻ hôm nay, thế hệ 8X, 9X. Báo chí là lĩnh vực tiếp xúc trực tiếp từng phút từng giờ với xã hội, là loại hình nhạy cảm, nhạy bén nhất.
Tính tương tác phản biện giữa xã hội và báo chí là trục xuyên suốt của nhu cầu thông tin và xây dựng đất nước. Mà vận hành vũ bão của truyền thông có tác động, thay đổi, góp phần xây dựng nền kinh tế, mọi mặt của đời sống xã hội và chính nó.
Như thế, ở thời đại nào, báo chí cũng đều giữ vai trò xung kích... Làm báo vất vả, vắt sức tận lực, lăn lộn vào những  "mảng nóng" vùng sâu xa, các bài điều tra gai góc hay phóng sự gây chấn động, buộc người viết phải quyết liệt, xả thân.
Đòi hỏi tiên quyết và căn bản nhất của báo chí là sự thật, và sự thật được tìm hiểu, đưa đến bạn đọc nhanh, hay, ấn tượng, không chỉ cần lòng nhiệt tình, mà còn là sự tìm tòi, tâm huyết và tài của PV. Những cây bút cự phách của làng báo trong mọi thể loại, hầu hết thuộc báo viết, báo in, nay đã lớn tuổi. Thế hệ kế tiếp đâu? Trao giải  cho loạt bài hay nhóm tác giả, không phải là xu thế của giải Báo chí QG. Hay xu hướng bây giờ là "ê - kíp", hoạt động theo nhóm?
Nếu báo hình luôn đòi hỏi người thực hiện là nhóm PV (cần quay phim, biên tập và kỹ thuật, dựng băng), thì báo viết là khu vực dễ nhận ra tài năng thực sự của người viết - chủ thể chịu trách nhiệm tác phẩm rõ nhất, vì hoạt động tương đối độc lập.
Loạt bài, nhóm tác giả theo xu hướng "công trình tập thể" là hiện thực "trống vắng" cây bút có tài, dám đương đầu, nhất là với thế hệ 7X, 8X, 9X - lực lượng sung sức nhất của làng báo VN. Vẫn biết, sức trẻ còn do tâm lý, tư duy, song tuổi tác quyết định khá lớn đến phạm vi tác nghiệp của nhà báo, dù có những cây bút lớn tuổi mà tâm hồn vẫn trẻ, song lực bất tòng tâm, không đủ sức đi xa, vất vả.
Mảng phóng sự báo in, tôi tìm sau Đỗ Doãn Hoàng (sinh năm 1976, báo Lao động), PV "máu nghề" có Nguyễn Hữu Phùng Nguyên (báo Tiền phong), Trần Việt Dũng, Võ Văn Thành (báo Tuổi trẻ) chịu đi. Còn ai nữa tên tuổi? Tìm tiếp những cây bút trẻ có năng lực viết phóng sự - đội quân "tiên phong" của đội ngũ làm báo sao ít thế!
Sự thực cần báo động
Học viện Báo chí - Tuyên truyền, lò đào tạo lớn nhất nước, mỗi năm cho ra trường 200 cử nhân báo chí hệ chính quy. Lúc cần điểm danh, dồn mấy khóa, lại chẳng quá được một tá nhân tài?! Nhà báo, chức danh "tĩnh", gọi là "phóng viên", tính năng động cao hơn. Đội hình PV trẻ hôm nay không dễ tìm người "máu nghề", xả thân, chưa nói "hết mình" tận lực?
Không dễ điểm tên những "cây viết" của các thể loại. Có người viết được nhiều thể loại, có người viết mãi vẫn không ra hồn một... loại nào. Vì ít yêu nghề, hay ngày ngày nặng mưu sinh cơm áo, tham vọng trước mắt làm họ chai mòn, nhát gan, lười biếng?
Dám trả giá là sự đầu tư cho một sự nghiệp lâu bền: Từ thức đêm, chịu khó, trăn trở nghề đến những đối mặt nguy hiểm khi tác nghiệp. Không thể gọi PV xào xáo thông tin từ Facebook, cop nhặt trên mạng thành bài đều đều không biết ngượng là "phóng viên salon", gọi thế quá sang cho kẻ thiếu đạo đức nghề.
Tôi cũng không thấy việc những bài báo, PV tâm huyết viết cho báo in, báo in đưa lên Web của chính mình, rồi bị các báo điện tử, các trang mạng xã hội lấy lại, cắt xén, thay đổi tít bài hay để nguyên mà bỏ tác giả, nghiễm nhiên không xin phép báo gốc và không trả nhuận bút tác quyền, là biểu hiện của sự "phát triển tin học"!
Số lượng "bồi bút" háo danh, chụp giật ngày càng tăng. Họ săn rình, hóng hớt, cắt xén thông tin, "đạo văn" ngang nhiên như cơm bữa. Đừng đổ hết tội cho đám ca sĩ, người mẫu tự phong là dễ dãi, rẻ tiền, khi có sự phối hợp, đón lõng của cả hai bên cùng có lợi: Sự hợp  tác của PV "lá cải" với một bộ phận của giới showbiz là phối hợp "ăn ý". Một bộ phận PV làm việc kiểu "ăn xổi", "hớt váng" như thế mà không bị xử lý.
Sự "hot" từ chuỗi tin đồn, tít giật gân, những câu chuyện, phát ngôn gây sốc bị đổ đồng là "nổi tiếng", khiến từ này trở nên mất giá trị. Ngày càng thiếu hiếm những bài báo gây xúc động, hiệu ứng xã hội, góp phần thay đổi những số phận khốn khổ, nhỏ nhoi, những tác phẩm đấu tranh vì lẽ phải, công bằng! Vì đâu?
Chế độ đãi ngộ ít, nhuận bút chưa tương xứng hay vì không có lửa nghề, không chịu cực nhọc, hy sinh mà ngay những bài viết về đề tài đô thị, làm ngay tại thành phố, các PV cũng biếng nhác từ việc thẩm định thông tin, tìm hiểu nhân vật đến kiếm các chi tiết độc đáo, chọn cách thể hiện mới? Tính sáng tạo, dấn thân, dự báo là những đòi hỏi xa xỉ?
Không đem đòi hỏi của lý thuyết báo chí và kỳ vọng của xã hội, của các vị lãnh đạo cao cấp đặt vào lực lượng làm báo để phán quyết tổng thể, nhưng sự thực cần báo động là nền báo chí đương đại hiện nay, với 1,7 vạn nhà báo có thẻ hành nghề của Bộ Thông tin Truyền thông, 1,9 vạn nhà báo có thẻ hội viên Hội Nhà báo VN, thiếu vắng nghiêm trọng  "làn sóng mới" những người viết say nghề, hăng hái lao động?
Định danh, khẳng định của một cây bút không chỉ duy nhất đánh dấu bằng giải thưởng, mà phải được nhớ bởi độc giả, được bạn đọc tín nhiệm, đón tìm đọc.
Tôi, một cây viết thế hệ 8X, vẫn hy vọng về lửa nghề và tâm huyết của thế hệ đồng lứa lẫn sau mình. Không ít em thi vào trường báo để "khớp lệnh" cha, mẹ truyền con nối, khi chẳng có năng khiếu gì, do không thi vào đó cũng không biết thi trường nào cho đỗ. Thi vào để ra trường còn có người nhà nâng đỡ, xin việc làm. Mục đích cơm áo thực dụng ấy là sự thật, hơn là vì năng khiếu, đam mê. Quá mức "xa thực tế", xa xỉ ư, khi đợi chờ lý tưởng nghề ở đội ngũ những người viết báo rất đông mà vẫn thấy thiếu trên một đất nước dân số trẻ đang phát triển?