Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

TẢN MẠN CUỐI NĂM

Tương Lai
Những ngày cuối năm 2014 dồn dập những tin gợi nhiều suy ngẫm. Cuộc chiến giá dầu đã làm thay đổi những toan tính chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới. Chỉ riêng việc áp dụng kỹ thuật mới trong cách khai thác dầu mỏ, Mỹ đã giành thế chủ động chiến lược trong đối phó với những đối thủ như Iran, Nga, và rồi sẽ là Trung Quốc. Xin chép lại đây một bình luận sắc sảo nhặt được trên mạng:
Nước Nga mạnh lên trong 10 năm nhờ khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ, vì chỉ biết bán tài nguyên dầu hỏa, khí gas để ăn. Nước Nga mạnh lên thì Hoa Kỳ và Trung Cộng cũng khốn khổ vì giá dầu tăng, vì họ là những quốc gia đứng thứ nhất và thứ hai sử dụng dầu nhiều nhất thế giới. Ông Putin đã gặp thời khi lên nắm quyền ngay lúc giá dầu tăng, thực ra ông không có tài năng gì, ngoài tư tưởng và hành động độc tài được nuôi dưỡng từ thời cộng sản Liên Xô. Nay giá dầu xuống. Nước Nga khốn đốn. Ông Putin quen là lãnh đạo ăn bám của để dành của tổ tiên. Nay không có sáng kiến gì để vực nước Nga, vì hơn 200 ngàn tài năng khoa học Nga đã bị chảy chất xám sang phương Tây và Hoa Kỳ trong 12 năm cầm quyền của ông. Quanh ông không còn ai biến nước Nga trở thành một quốc gia hùng mạnh nhờ vào trí tuệ, mà chỉ là những kẻ ăn bám như ông.
Oil dollar đã làm mưa, làm gió suốt 10 năm qua. Giờ đã đến lúc mưa tạnh, gió hòa. Cũng là lúc Hoa Kỳ hùng mạnh trở lại. Cũng là lúc Trung Cộng chật vật với bong bóng đầu tư. Cũng là lúc mà nếu ông Putin muốn trợ giá đồng Rub của mình thì, 400 tỷ dollar dự trữ từ bán dầu và khí gas của nước Nga chỉ có thể dùng trong 60 ngày!
Và rồi sự kiện Ukraine, một nhà xã hội học ở Matscơva phang một câu gọn thon lỏn: “Nước Nga giống như một chiếc máy bay: chỉ có một phi công điều khiển, phần còn lại thì nôn oẹ .Cuộc xung đột ở Ukraine có thể là chết người đối với chế độ Putin giống như Thế chiến I cho Sa hoàng Nicholas I, hay sự can thiệp của Liên Xô ở Afghanistan cho chế độ Xô Viết. Putin có lẽ sẽ không rút quân khỏi Lugansk và Donetsk. Nhưng để đóng băng cuộc xung đột sẽ rất tốn kém về tài chính và chính trị. Putin nói rằng cuộc khủng hoảng ở Nga sẽ kéo dài nhiều lắm là hai năm. Đây không phải là sự dối trá lần đầu tiên hay cuối cùng. Ông ta thuyết phục mọi người rằng cho mọi thứ là do người Mỹ, và có vẻ như ông ta cũng tin vào điều vô nghĩa này.
Có những người Nga tiếp nhận những lời nói này trong đức tin - phòng thủ chống lại phương Tây cần phải tập trung xung quanh nhà lãnh đạo. Nhưng cũng những người này cuối cùng sẽ hỏi, giá trị của nhà lãnh đạo là gì khi khuấy lên rắc rối với cả thế giới. Và sau đó, khi nói về Ukraine, họ sẽ lặp lại những lời của Andrei Sakharov về cuộc chiến ở Afghanistan – “một cuộc chiến đáng xấu hổ”. Thiếu suy nghĩ và độc ác. Nỗi bất hạnh của nước Nga.
Nhưng có lẽ điều bất ngờ lớn lại là sự xuất hiện và lan tỏa ảnh hưởng đáng sợ của IS, điều chưa ai hình dung nổi trước đây một năm. IS liệu có phải là một chương mới kể từ ngày 11.9. 2001, bọn khủng bố quốc tế biến những chiếc máy bay thành những quả bom tự sát lớn nhất trong lịch sử để đánh vào tòa tháp đôi ở New York, biểu tượng của nước Mỹ, gây nên một chấn động toàn cầu và kéo theo nó những sự kiện mà diễn biến của nó ngày càng khó lường cho đến hôm nay và chắc sẽ không chỉ hôm nay. Cùng với những hiện tượng chưa có tiền lệ đó là biết bao những sự kiện xảy ra mà các bình luận gia nổi tiếng của thế giới xem ra bất lực trong những gì họ đã cố gắng đưa ra những kiến giải.
Có thể còn phải kể nhiều nữa những hiện tượng, những sự kiện của những ngày cuối năm 2014, nhưng với trình độ hạn hẹp của người ĐIỂM TIN như tôi thì sự kiện tác động mạnh đến cảm nhận và dòng tư duy của người điểm tin chính là sự kiện diễn ra vào ngày thứ Tư 17.12.2014, ngày Tổng thống Obama lẫn Chủ tịch Cuba Raul Castro đồng thời loan báo bình thường hóa mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cuba, một “quyết định lịch sử”.
Là quyết định lịch sử vì nó cho ta thấy tầm quan trọng của việc theo đuổi thế giới như nó phải là, chứ không chịu bằng lòng với một thế giới như nó hiện là. Đây là lời của Obama trong phát biểu cám ơn Đức Giáo hoàng Phanxicô về vai trò của Giáo hoàng trong diễn trình bình thường hóa dẫn đến kết quả mà nhân dân Cuba khắc khoải chờ đợi cũng như nhân dân Mỹ mong muốn.
Tuy vậy, theo giáo sư François Durpaire, tác giả tập biên khảo “Lịch sử nước Mỹ”, thì “Một trong những lý do thúc đẩy việc chuẩn bị bình thường hóa quan hệ giữa Cuba và Hoa Kỳ là hậu thuẫn của công luận Mỹ: 67% người Mỹ ủng hộ xu hướng bình thường hóa bang giao. Tóm lại dư luận Mỹ đã chuyển biến. Và trong vụ này, Barack Obama đã thúc đẩy công luận Mỹ thay đổi, với hai động thái trong năm 2014 này. Đầu tiên là hình ảnh Tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay Chủ tịch Cuba Raul Castro tại sân vận động Soweto ở Nam Phi nhân lễ tưởng niệm cố lãnh đạo Nam Phi Nelson Mandela. Sau đó là lời khen của Ngoại trưởng John Kerry đối với Cuba, về vai trò của nước này trong cuộc đấu tranh chống dịch Ebola tại Sierra Leone và Guinéee.
Tóm lại, công luận Mỹ rốt cuộc đã dần dần thay đổi cái nhìn, và trong công chúng Mỹ, có các công dân Mỹ gốc Cuba. Bộ phận kỳ cựu nhất thuộc các hiệp hội chống Castro và luôn luôn giữ một lập trường cực kỳ cứng rắn chống lại việc bình thường hóa, nhưng con cháu của họ, các công dân Mỹ, lại đã thay đổi cách nhìn vấn đề và tương tự như đa số người Mỹ khác, mong muốn quan hệ Mỹ-Cuba được bình thường hóa.
Thế là sau hơn nửa thế kỷ thù địch và cấm vận, sư vận động của cuộc sống đã bác bỏ những cái như nó hiện là để dẫn đến cái như nó phải là đúng với quy luật. Nhưng có lẽ cũng cần nhớ rằng, những người thích nói và hay nói đến cái gọi là quy luật ấy nên hiểu về tính phức tạp của những biến động với những bước đột phá đôi khi nhìn bề ngoài có vẻ ngẫu hiên, rất khó lường, nhưng chính là thông qua vô vàn những ngẫu nhiên ấy mà tính tất nhiên biểu hiện ra.
Chẳng thế mà nhiều chuyên gia và nhà ngoại giao tại La Habana đều cho rằng việc xích lại gần với Mỹ không thể có được nếu Fidel Castro còn lãnh đạo. Là khuôn mặt của cuộc chiến tranh lạnh, ông đã thách thức được 11 đời Tổng thống Mỹ khác nhau, thoát chết qua rất nhiều âm mưu ám sát...Những lời lẽ đả kích chủ nghĩa đế quốc Mỹ của ông vẫn còn được tất cả mọi người ghi nhớ, và ngay cả trước khi chinh phục được quyền lực năm 1959 còn thổ lộ rằng cuộc chiến chống Mỹ là “định mệnh” thực sự của mình.
Nhà ngoại giao phương Tây trên đây nhận định: “Fidel tuyệt đối chống Mỹ, trong khi Raul có tầm nhìn thực dụng hơn, đặt lên hàng đầu những gì có lợi nhất cho đất nước”. Trên thực tế, với những cải cách của mình, với các tuyên bố hòa dịu và chính sách ngoại giao, Raul đã chuẩn bị cái nền cho mối quan hệ mới với người láng giềng khổng lồ, có thể mang lại các tác động có lợi cho người dân Cuba.
Chính vì vậy mà, trên thực tế, Gabriel Molina, khuôn mặt kỳ cựu của báo chí Nhà nước Cuba và là cựu chủ nhiệm nhật báo lớn Granma khẳng định: “Fidel không thể ra mặt, nhưng đây là thành tựu của nỗ lực ngoại giao trong đó ông ấy có nhúng tay vào, chắc chắn là như thế.
Năm nay đã 88 tuổi, lần cuối cùng Fidel xuất hiện trước công chúng là vào tháng 1/2014. Theo một viên chức Mỹ, Fidel Castro không tham gia các cuộc thương thảo được tiến hành vô cùng bí mật từ tháng 6/2013 dưới sự bảo trợ của Canada, và sự ủng hộ mang tính quyết định của Đức Giáo hoàng Phanxicô.
Nhưng đa số các nhà quan sát ở Cuba cho rằng việc xích lại gần người láng giềng bị phỉ nhổ trước đây đã được Fidel tán thành, vì Raul không bao giờ muốn qua mặt người anh nổi tiếng. Khi lên nối ngôi năm 2006, Raul đã khẳng định: “Fidel là người không thể thay thế được. Tất cả những quyết định quan trọng đều sẽ tham khảo ý kiến của ôngHôm thứ Tư, Raul đã nhiều lần nêu tên Fidel, nhắc lại lời hứa năm 2001 và nhấn mạnh rằng mặc cho tiến trình hòa giải, Cuba không hề nhượng bộ trong những vấn đề chủ chốt… như Fidel Castro đã tuyên bố trước đây.
Đương nhiên, làm sao mà không tuyên bố như thế được. Và cũng không lạ là ngay trong tiến trình đầy hân hoan với nhiều viễn ảnh ngoạn mục như: sau việc trả tự do cho các gián điệp bị tù lâu năm của cả hai phía, trên 50 nhà dân chủ Cuba bị tù do phía Hoa Kỳ đưa ra, các sứ quán sẽ được mở lại, rồi du lịch, rồi buôn bán, rồi ngân hàng sẽ được mở ra... Tổng thống Obama sẽ đến La Habana và Chủ tịch Raun Castro sẽ đến Mỹ thì ngày 30/12/2014, chính quyền Cuba đã câu lưu 51 nhà đối lập để ngăn cản họ tổ chức một cuộc tập họp công khai. Ngay lập tức, Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 31/12 đã ra thông cáo lên án việc chính quyền La Habana “tiếp tục sách nhiễu, bắt giữ tùy tiện, đôi khi rất thô bạo, để bịt miệng những người chỉ trích.
Bất chấp thông cáo nói trên, hôm qua, đúng ngày đầu năm 2015, cảnh sát Cuba lại câu lưu hàng chục nhà đối lập, khi họ kéo đến một nhà tù ở La Habana để đòi trả tự do cho những nhà đối lập khác. Chiến dịch đàn áp này sẽ càng khiến cho những người chỉ trích việc Hoa Kỳ Cuba xích lại gần nhau có thêm lý lẽ để phản đối. Những người này, mà trong đó có nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ, vẫn cho rằng lẽ ra Washington trước hết nên đòi La Habana có những nhân nhượng về mặt nhân quyền, trước khi cam kết sẽ bình thường hóa bang giao giữa hai nước. Mặc dù chủ tịch Raul Castro đã tuyên bố sẵn sàng thảo luận về mọi chủ đề với Tổng thống Barack Obama, nhưng ông đã nói ngay là sẽ không thay đổi chính sách và sẽ không nhân nhượng trên những vấn đề mà ông cho là thuộc chủ quyền quốc gia, trong đó dĩ nhiên là có vấn đề nhân quyền.
Sẽ hiểu hơn những diễn biến đó nếu lưu  ý đến bình luận của George Friedman trên Stratfor Global Intelligencengày 23.12.2014: “Quan hệ HK-Cuba đã giá băng trong nhiều thập kỷ, với không bên nào sẵn sàng nhượng bộ đáng kể hoặc thậm chí có những buớc đi đầu. Nguyên nhân một phần là do chính trị nội bộ của mỗi nước mà nó làm cho việc lạnh nhạt được khuyến khích. Về phía HK, liên minh của người Mỹ gốc Cuba, các nhóm bảo thủ và các nhóm bảo vệ nhân quyền chỉ trích sự vi phạm nhân quyền của Cuba và ngăn chặn nỗ lực. Về phía Cuba, sự thù nghịch với Hoa Kỳ đóng một vai trò then chốt trong việc duy trì chính đáng tính cho chế độ cộng sản. Không chỉ chính quyền được sinh ra để chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ, mà Havana cũng còn sử dụng lệnh cấm vận của HK để giải thích cho những thất bại kinh tế của Cuba. Không có áp lực bên ngoài để thúc đẩy hai bên tuơng nhuợng nhau, và có nhiều lý do nội bộ đáng kể để duy trì tình trạng ngưng đọng như vậy.
Người Cuba bây giờ đang bị một số áp lực để chuyển dịch chính sách của họ. Họ đã tìm cách để tồn tại sau sự sụp đổ của Liên Xô với những khó khăn. Bây giờ họ phải đối diện với một vấn đề cấp bách ngay trước mắt: sự bất ổn của Venezuela. Caracas cung cấp dầu cho Cuba với sự giảm giá rất lớn. Thật khó có thể nói nền kinh tế của Cuba gần bờ vực như thế nào, nhưng rõ ràng là dầu của Venezuela đã tạo ra một sự khác biệt đáng kể. Chính quyền của Tổng thống Venezuela, Nicolas Maduro, đang phải đối mặt với tình trạng bất ổn đang tăng tốc cho những thất bại về kinh tế. Nếu chính phủ Venezuela sụp đổ, Cuba sẽ mất đi một trong những trụ cột nền móng để chống đỡ chế độ. Số phận của Venezuela vẫn còn chưa biết được như thế nào, nhưng Cuba phải đối mặt với khả năng của một kịch bản xấu nhất có thể xảy ra này, và phải tạo điều kiện cho việc mở cửa. Mở cửa sang Hoa Kỳ thì hợp lý trong việc duy trì chế độ... Không ai biết được tương lai. Cuba muốn duy trì chế độ và tìm cách giải tỏa áp lực từ Hoa Kỳ. Tại thời điểm này, Cuba thực sự không quan trọng. Nhưng khi thời gian đi qua, không ai có thể đảm bảo rằng nó sẽ không trở nên quan trọng. Cho nên, chính sách của HK nhấn mạnh vào sự thay đổi chế độ trước khi giải tỏa áp lực. Với việc Cuba quyết định duy trì chế độ, thì Cuba có gì để cho? Họ có thể hứa trung lập vĩnh viễn, nhưng cam kết như vậy không có giá trị nhiều.
Cuba cần quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là nếu chính quyền Venezuela sụp đổ. Với nền kinh tế nghèo nàn của Venezuela thì có thể, về mặt lý thuyết, Cuba buộc phải thay đổi chế độ do từ áp lực nội bộ. Hơn nữa, Raul Cátro đã già và Fidel Cátro đã rất già. Nếu chính quyền Cuba cần phải duy trì, nó phải được bảo đảm ngay từ bây giờ, bởi vì hiện giờ không được rõ là những gì sẽ nối tiếp khi hậu Castros. Nhưng Hoa Kỳ có yếu tố thời gian, và mối quan tâm về Cuba là một phần trong DNA của HK. Không có sự lo lắng trong hiện tại, thì duy trì áp lực là điều không có ý nghĩa. Nhưng Washington cũng không có sự khẩn cấp để chấm dứt nó cho Havana. Obama có thể muốn có một di sản, nhưng logic của tình hình là Cuba cần điều này hơn HK, và cái giá của HK cho việc bình thường sẽ cao hơn khi nó xuất hiện ở thời điểm này, cho dù được thiết lập bởi Obama hay người kế nhiệm ông”.
Sự kiện Cuba khiến người điểm tin này quan tâm không phải chỉ vì ai đó từng phởn lên mà nhắc lại câu nói ngô nghê của một thời duy  chí về chuyện “anh thức tôi ngủ”! Mà vì, những bình luận nói trên của George Friedman gợi lên những ý tưởng cũng hao hao giống với ý tưởng của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski:
Hiện có một cơ hội lịch sử để xây dựng một mối quan hệ gần gũi hơn nhiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhưng chúng tôi không muốn đó là một mối quan hệ đổi chác, tức là chúng tôi đến với Việt Nam khi chúng tôi cần họ vì một cái gì đó và phía Việt Nam đến với chúng tôi khi họ cần chúng tôi vì một cái gì đóTrước đó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đã từng tuyên bố rằng phía Mỹ muốn mối bang giao với Hà Nội “sâu sắc và bền vững hơn như các mối quan hệ đối tác của Mỹ với các bạn hữu và các đồng minh thân thiết nhất ở châu Á, châu Âu cũng như những nơi khác”.
Nên hiểu Hoa Kỳ không muốn “quan hệ đổi chác” với Việt Nam theo hướng nào đây? Đài VOA bình luận: “Trong bối cảnh Trung Quốc có nhiều hành động mạnh mẽ khẳng định chủ quyền trên biển Đông, Việt Nam cũng củng cố quan hệ, nhất là về quân sự, với Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ. Vào những tháng cuối năm 2014, Washington dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Hà Nội nhằm tăng cường an ninh và trinh sát trên biển.
Theo các nhà quan sát, quyết định của Washington cho thấy sự tin cậy chiến lược giữa hai nước trong khi Mỹ theo đuổi chính sách xoay trục về châu Á giữa lúc Trung Quốc đang trỗi dậy. Ngoại trưởng John Kerry cũng nói, một đất nước Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng, độc lập, tôn trọng pháp luật và nhân quyền đã, đang và sẽ là người bạn đồng hành không thể thiếu được của Hoa Kỳ. Chúng ta sẽ sớm kỷ niệm 20 năm quan hệ hữu nghị Mỹ – Việt. Còn trợ lý Ngoại trưởng Mỹ thì nhấn mạnh rằng mối quan hệ Hà Nội – Washington cần phải “dựa trên những giá trị chung”, và đó là lý do vì sao Hoa Kỳ “nhấn mạnh rất nhiều tới vấn đề nhân quyền”. Tân Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Ted Osius, cũng tuyên bố rằng ông sẽ “thẳng thắn và trực tiếp nói với các lãnh đạo ở Hà Nội rằng việc chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền sẽ làm cho họ mạnh hơn, chứ không phải yếu đi, đồng thời tiềm năng của mối quan hệ đối tác cũng sẽ phát triển”.
Đề cập đến những sự kiện liên quan đến chủ đề này, đài BBC bình luận về việc Việt Nam có nên “tin tưởng hay không”vào những tuyên bố được cho là “ngoại giao hòa hoãn”, “hạ giọng,mềm dẻo” của nhà cầm quyền Trung Quốc qua chuyến thăm Việt Nam ba ngày diễn ra vào cuối tuần trước của Du Chính Thanh, BBC dẫn lời Giáo sư Vũ Minh Giang mà họ lưu ý ông này là “nguyên thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương, cơ quan tư vấn đường lối chiến lược cho Bộ Chính trị và Ban bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam”:
Đối với Trung Quốc, có lẽ kinh nghiệm từ xa xưa cho đến bây giờ nó vẫn không thay đổi bao nhiêu. Đó là cố gắng hết sức trong quan hệ ngoại giao, nhưng thực tế như thế nào thì phải là câu chuyện phải chờ […] Chứ không thể tin ngay vào những cử chỉ của quan chức, cho dù là cao cấp đến đâu, của Trung Quốc. Đó là thực tế lịch sử, chứ không phải là muốn hay không muốn, thích hay không thích. Vì vậy cho nên tôi không kỳ vọng nhiều lắm vào chuyến thăm của ai đó, cho dù là thứ mấy của Trung Quốc, sang Việt Nam...”Đối với Trung Quốc, tôi vẫn có một cách nghĩ. Đó là hãy quan sát họ làm trên thực tế, chứ những gì họ nói thì quá hay rồi, phải nói là không thể nói hay hơn được […] Việc Trung Quốc họ thực hiện từng bước mục tiêu của họ thì mình cũng không ngăn cản được, đó là mục tiêu của họ dồn toàn lực họ làm, thế nhưng họ làm được hay không là phụ thuộc rất nhiều vào phía Việt Nam.
Theo Giáo sư Giang, nhận thức của lãnh đạo Việt Nam đã thay đổi rõ rệt vào đầu năm 2015 so với thời điểm một năm về trước khi bước vào năm 2014, sau khi diễn ra vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên Biển Đông.
Nhà nghiên cứu sử học và địa chính trị nói: “Tôi nghĩ rằng Trung Quốc - Việt Nam vào thời điểm bước vào năm 2015 nó khác xa với bước vào 2014 trước khi có vụ Hải Dương 981, khác xa rồi”. Không có một “bật đèn xanh” nào đó, chắc là vị giáo sư nguyên là... như BBC nhấn mạnh, sẽ không có được khẩu khí kiểu này cho dù đã cố đưa ra một câu rất chi là lạc quan đáng ngờ: “Trước kia còn có người nói thế này, người nói thế kia, bây giờ ở Việt Nam, tôi thấy chỉ là sách lược thế này, thế kia, chứ trên dưới đồng lòng về nhận thức về Trung Quốc”.
Phải chăng chính vì vậy, khi được hỏi Việt Nam nên tiếp tục chiến lược ngoại giao như cũ, hay cần đổi mới khác đi, Vũ Minh Giang lại cho rằng Việt Nam vẫn cần tiếp tục kiên định với chính sách “đa phương” quan hệ và “ba không” để giữ “độc lập” và tránh “đối đầu” với Trung Quốc. Ông nói: “Kinh nghiệm của Việt Nam cho hay, cho đến nay Việt Nam có được những thành công trong quá trình phát triển của mình, là ở chỗ phải giữ được độc lập”.
Khác với ông Giang, một nhà nghiên cứu về quan hệ quốc tế và khu vực từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Tiến sĩ Khoa học Lương Văn Kế khẳng định với BBC cho rằng tham vọng và chính sách chiến lược của Trung Quốc về Biển Đông là không thay đổi. Và do đó, ông đặt vấn đề Việt Nam cần điều chỉnh chính sách “ba không” của mình, mà theo đó Việt Nam cam kết “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.”.
Bình luận mới đây về khả năng Trung Quốc lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Đông cùng các động thái được cho là đe dọa chủ quyền khác với Việt Nam, Tiến sĩ Kế nói: “Trong sự cạnh tranh với Trung Quốc, hay tìm kiếm một sự cân bằng với Trung Quốc, thì tôi nghĩ Việt Nam không thể chỉ dựa vào sức mình mà phải dựa vào các lực lượng khác. Mà tôi hoàn toàn tán thành một chủ trương là cần phải lựa chọn các đối tác an ninh ở khu vực để cân bằng sức mạnh, hay để vô hiệu hóa sự đe dọa hay là mối nguy từ phía Trung QuốcVà Việt Nam không thể nào một mình thực hiện theo chủ trương tôi gọi là “tuyệt đối ba không” được.Bởi vì nếu thực hiện “ba không” như vậy, thì mối nguy an ninh là rất rõ và tiềm chứa một nguy cơ là Trung Quốc sẽ ỷ thế vào và yêu cầu Việt Nam không được làm trái với điều mà Trung Quốc nói là “hoàn toàn nói ngược”.
Chúng ta tuyên bố “ba không”, thì không có lý do gì chúng ta liên minh với các nước khác để cân bằng với Trung Quốc, cho nên tôi nghĩ đến lúc chúng ta phải xét lại để hiểu thế nào là “ba không”. Trong trường hợp Tổ quốc lâm nguy hoặc toàn bộ không gian Biển Đông bị đe dọa, thì tôi nghĩ Việt Nam phải triển khai một chiến lược an ninh kết hợp các quốc gia khác. Chúng ta không phải liên minh nước này chống nước kia, nhưng chúng ta rõ ràng cần phải có sự hỗ trợ quốc tế và các thế lực có sức mạnh thực sự, có thể ủng hộ Việt Nam đảm nhiệm được sứ mệnh đảm bảo hòa bình và an ninh ở Biển Đông.
Xem ra, từ những thông tin và bình luận vừa dẫn ra thì cái câu ngô nghê dẫn ra ở trên lại có thể vận dụng dưới cái dạng phản đề của nó ở chỗ: chuyện người anh em “thức-ngủ” đang “xoay trục” kia không khỏi khiến ai đó giật mình. Thì chẳng phải là Trung Quốc đang rất sợ Việt Nam tuột khỏi vòng kiềm tỏa của họ đó sao? Chẳng thế mà tìm mọi cách ngăn cản Việt Nam gia nhập TPP là việc Trung Quốc đang ra sức xúc tiến.
Điều mà ngài Du Chính Thanh phải vội vã “sang thăm” Việt Nam vừa rồi đã được cụ Nguyễn Trọng Vĩnh kịp thời vạch rõ:
Chừng hơn một tuần trước đây báo, đài đưa tin: Theo lời mời của Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội nghị chính trị hiệp thương TQ sắp sang thăm nước ta, nhưng khi ông ta đến thì tối ngày 26/12 TV lại đưa tin là: Theo lời mời của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.
Theo cách đưa tin trên thì ông Du Chính Thanh sang thăm, gặp và làm việc với các nhà lãnh đạo quan trọng Việt Nam là chính... dù trước đó có hội đàm với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức tương đương chỉ là phụ và cho phải phép ngoại giao.
Ông Du Chính Thanh thăm Việt Nam trong bối cảnh: Đảng Cộng sản Việt Nam đương khẩn trương chuẩn bị Đại hội XII; nhân dân Việt Nam bất bình về việc TQ lấp đất đá trong cụm bãi đá Gạc Ma cướp của Việt Nam năm 1988 và sắp hoàn thành một căn cứ quân sự có đường băng, có cảng nổi, uy hiếp quần đảo Trường Sa của Việt Nam; Tổng tham mưu trưởng báo cáo trước Quốc hội cảnh giác đối với mưu đồ chiếm trọn biển Đông của nhà cầm quyền TQ; Việt Nam tổ chức những cuộc triển lãm đầy đủ tư liệu lịch sử, pháp lý về quyền sở hữu của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, còn đưa ra cả bản đồ cũ của TQ xác định biên giới tận cùng của họ chỉ đến đảo Hải Nam; Việt Nam đã nộp hồ sơ lên Tòa án trọng tài quốc tế, đề nghị Tòa án trú trọng đến quyền và lợi ích của Việt Nam khi xét xử vụ Philipine kiện TQ, Tòa án, chấp nhận xem xét đề nghị của Việt Nam và cho biết đương xem xét đề nghị của Hà Nội yêu cầu bảo vệ các quyền lợi của họ trong vụ việc; Việt Nam thăm Philipine, quan hệ tốt với Nga, hợp tác đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ. Mỹ đã đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam…
Bối cảnh trên đây thôi thúc nhà cầm quyền TQ phải hành động. Họ cử một Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị sang thăm nhằm thực hiện nhiều mục đích....” Vì thế, cụ Vĩnh quyết liệt cảnh báo:
Cần tỉnh táo, chớ vội tin vào những lời hữu nghị giả dối, phải xem những việc nhà cầm quyền TQ làm.
Mọi người Việt Nam có lương tri, có lòng yêu nước luôn phải cảnh giác với chủ nghĩa bành chướng Đại Hán chưa bao giờ từ bỏ ý đồ thôn tính Việt Nam.
Thực hiện dân chủ!
Xiết chặt khối đại đoàn kết các dân tộc!
Mọi quyết định của Đại hội đều vì nước, vì dân Việt Nam không cho thế lực nào chi phối!
Phát huy tình thần tự chủ tự cường!
Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền của tổ quốc Việt Nam!.
Rõ ràng là, chỉ điểm xuyết một vài thông tin nhặt nhạnh từ trên mạng về những hiện tượng nổi bật vào những ngày cuối năm 2014 bước sang 2015, những dữ kiện làm điểm tựa cho những suy ngẫm về thời cuộc đã thấy có quá nhiều vấn đề phải suy ngẫm. Đó là những dữ kiện có ý nghĩa lớn lao thôi thúc những cái đầu biết tư duy phải tự nhìn lại sự hạn hẹp của nhận thức đã có, rà soát lại, nhặt ra những thô thiển, những ngộ nhận, những sai lầm để tự bổ sung cho mình những tri thức mới, giúp thay đổi cách nhìn, cách nghĩ sát với sự vận động của cuộc sống.
Thời điểm mà chúng ta đang sống quả là một thời điểm đặc biệt, là một sự dồn nén về không gian và thời gian được bộc phát trong tư tưởng, trong nhận thức. Có người cho rằng chúng ta đang tiếp cận với một thế giới mà độ phức tạp của nó đã vượt quá năng lực trí tuệ phán đoán của con người. Hệ thống lớn với những tầng cấu trúc cực kỳ phức tạp như xã hội loài người lại đang ở trong một thời kỳ mà các quy luật của lượng biến thành chất và phủ định của phủ định bột phát, tác động đa trùng ở nhiều tuyến, nhiều diện, cộng hưởng trong không gian và hội tụ trong thời gian.
Người ta hiểu ra rằng, dường như quá khứ dừng lại ở đây, tương lai không còn là sự nối tiếp giản đơn theo tuyến tính của cái đã xảy ra. Sự biến đổi chính là một hằng số trong thế giới đầy bất định khó mà tiên liệu trước. Năm 2014 với những biến động dữ dội của chúng, trong đó, có những hiện tượng cừa dẫn như sự xuất hiện và lan tỏa ảnh hưởng đáng sợ của IS chẳng hạn, điều chưa ai hình dung nổi, là một ví dụ. Cùng với những hiện tượng chưa có tiền lệ đó là biết bao những sự kiện xảy ra đã thực sự đang “phá vỡ nguyên trạng” với nghĩa đen và nghĩa bóng mà các bình luận gia nổi tiếng của thế giới xem ra vẫn bất lực trong những gì họ đã cố gắng đưa ra. Đó là thế giới mà tôi đang sống và đang suy ngẫm về nó.
Trong kỷ nguyên của những biến động dữ dội ấy, một sự chậm đổi mới nào cũng đều phải trả giá. Không thể đi mãi trên một con đường mòn đã được vạch sẵn mà chặng đường 40 năm qua đã đưa đất nước chúng ta đến cái kết quả không tương xứng với xương máu đã đổ ra trên đất nước thân yêu của chúng ta cho dù đã có không ít những cố gắng, những thành tựu không thể và không được phủ nhận. Đó là một sự thật.
Cách nay đã 15 năm, khi bước vào thiên niên kỷ mới mở đầu với thế kỷ XXI, về “con đường mòn” ấy tôi có viết trên một bài báo Tết: Quen với con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước, sẽ dẫn đến thảm hoạ vì con đường mòn đó không có lối ra trong một thế giới đầy biến động với những bước đột phá mà mọi sự dự đoán đều không chắc chắn. Giờ đây nhìn lại, những “thảm họa” đã diễn ra còn khủng khiếp hơn suy nghĩ của tôi vào buổi ấy. Chỉ sau đấy 1 năm, ngày 11.9. 2001, thế lực khủng bố quốc tế đã biến những chiếc máy bay thành những quả bom tự sát lớn nhất trong lịch sử để đánh vào tòa tháp đôi ở New York, biểu tượng của nước Mỹ, gây nên một chấn động toàn cầu và kéo theo nó những sự kiện mà diễn biến của nó ngày càng khó lường cho đến hôm nay và chắc sẽ không chỉ hôm nay. Hiện tượng IS, rồi sự kiện Ukraine khiến châu Âu đang trở thành đấu trường của các biến động chính trị, cạnh tranh phạm vi ảnh hưởng và xung đột quân sự, đẩy thế giới đến gần một cuộc chiến tranh lạnh mới là minh chứng.
Trong phút giao thừa, lúc cũ mới giao thoa, năm cũ chuyển mình bước vào năm mới trong đầu tôi cứ lẩn thẩn với ý tưởng của Hégel vốn đọng lại trong đầu óc và chi phối cách nhìn nhận, phân tích về thế cuộc “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá”.
Trong sự “nổi loạn chống lại trạng thái cũ” thì sẽ không thiếu những cực đoan, quá khích nhân danh “cái mới”, thậm chí tự huyễn như vậy mới thật sự là “mới”. Còn “trạng thái cũ, đang suy đồi” thì thông thường vẫn giữ được cái vẻ bên ngoài là ổn định, thậm chí vững chãi, cho dù về bản chất thì đã mục ruỗng, thối nát. Nhất là khi cái “trạng thái cũ, đang suy đồi” ấy lại được “tập quán thần thánh hóa” thì sức chống trả của “cái cũ” thường rất dữ dằn bởi lẽ sức mạnh vang bóng một thời của nó vẫn còn lưu lại khá đậm trong tâm lý đám đông. Ấy thế mà nhiều khi với đám đông, cái vô thức thường tác động như một lực tiềm ẩn, mà trong hành động của con người thì phần vô thức lại hay chiếm một tỷ lệ lớn hơn phần lý trí.
Vì vậy, coi thường sức mạnh của “trạng thái cũ” hiện tồn hoặc khiếp sợ trước nó đều dẫn đến những sai lầm. Tốt hơn cả là nghĩ kỹ về khuyến cáo của Roosevelt: “Điều duy nhất mà ta phải sợ là chính là nỗi sợ hãi”. Vượt lên chính mình, đó là chuyện khó nhất. Khi viết những dòng này chính là lúc tôi đang cố vượt lên chính mình đây. Để vượt được, phải tự động viên bằng lời của Nobert Wiener, cha đẻ của ngành điều khiển học, “Chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó”.
Những diễn biến của cuộc sống với những sự kiện đã và đang diễn ra mà ĐIỂM TIN [một tài liệu do nhà nghiên cứu Tương Lai tập hợp, gửi cho bạn bè hàng tuần – BVN], một cố gắng nhỏ nhoi nhằm đẩy tới những chuyển biến để tạo ra một đột phá đẩy cuộc sống đi tới. Vâng, đúng là nhỏ nhoi, một hạt cát trong dòng chảy cuồn cuộn của cuộc sống. Trong dòng chảy ấy, triệu triệu hạt cát mới tạo thành phù sa, và từ phù sa bồi đắp mà cây cối đâm chồi nảy lộc. Cũng từ phù sa ấy những hạt giống tư tưởng được gieo trồng và hình thành nên tư tưởng của thời đại chúng ta sống đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!

T.L
Tp. Hồ Chí Minh ngày 4.1.2015

DỊCH LÝ - BÁNH CHƯNG - BÁNH GIÀY

TRUYỆN BÁNH CHƯNG 
Lĩnh Nam chích quái.

Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tửlại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”.
Các công tử đua nhau đi tìm các vị trân kỳ, hoặc săn bắn, chài lưới, hoặc đổi chác, đều là của ngon vật lạ, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Duy có công tử thứ mười tám tên là Lang Liêu, mẹ hàn vi, đã bị bệnh qua đời rồi, trong nhà lại ít người nên khó bề toan tính, ngày đêm lo lắng, ăn ngủ không yên. Chợt nằm mơ thấy thần nhân bảo rằng: “Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là vật để nuôi dân khỏe mạnh, ăn mãi không chán, không có vật gì hơn được. Nếu giã gạo nếp gói thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông để tượng trưng cho Đất, ở trong làm nhân ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý công ơn dưỡng dục của cha mẹ, như thế thì lòng cha sẽ vui, nhà ngươi chắc được ngôi quý”.
Lang Liêu giật mình tỉnh dậy, vui mừng nghĩ rằng “Thần minh giúp ta, ta nên bắt chước theo mà làm”. Lang Liêu bèn lựa nếp hạt trắng tinh, không sứt mẻ, đem vo cho sạch, rồi lấy lá xanh gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu chín tượng trưng cho Đất, gọi là bánh chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho nhuyễn, nhào thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, gọi là bánh dày.
Đúng kỳ hẹn, Vua hội họp các con lại trưng bày phẩm vật. Các con đem dâng không thiếu thứ gì, duy chỉ có Lang Liêu đem bánh hình tròn, bánh hình vuông đến dâng. Hùng Vương lấy làm lạ hỏi Lang Liêu, Lang Liêu trình bày như lời thần nhân đã bảo. Vua nếm thử thì thấy vị ngon vừa miệng ăn không chán, phẩm vật của các công tử khác không làm sao hơn được. Vua khen ngợi hồi lâu, rồi cho Lang Liêu được giải nhất. Vua dùng thứ bánh ấy để cung phụng cha mẹ trong các dịp lễ tết cuối năm. Thiên hạ mọi người đều bắt chước theo. Tục này còn truyền cho đến bây giờ, lấy tên của Lang Liêu, gọi là Tết Liệu. Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liêu; hai mươi mốt anh em kia đều chia nhau giữ các phiên trấn, lập làm bộ đảng, trấn thủ những nơi núi non hiểm trở.
Về sau, anh em tranh giành lẫn nhau, mỗi người dựng “mộc sách” (hàng rào cây bằng gỗ) để che kín, phòng vệ. Vì thế, mới gọi là Sách, hay là Trại, là Trang, là Phường. Sách, hay Trại, Trang, Phưòng bắt đầu có từ đây vậy.
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
alt
 Theo tôi, đáng ra ở đây nên viết là "20 quan lang và các con", về sau viết "gia đình Lang Liêu cùng  21 anh emthì có lý hơn về mặt Dịch học.

alt
alt
alt
CHỮ CHƯNG
alt
NGŨ HÀNH TRONG CHỮ CHƯNG
alt
Dưới bộ HỎA - Nhất = Đáy nồi = KIM -Thủy = THỦY - Nấp đậy = MỘC - Bánh chưng ở giữa nước = THỔ.
alt
8 quẻ, mỗi quẻ 3 hào = 8.3=24. Bản thân Lang Liêu = 3 hào. 24-3=21
alt

Trên mặt bánh chưng người Việt dùng Lạc (dây) chia thành 9 ô = Cửu cung.
8 ô chung quanh là 8 quẻ, nhằm khẳng định dân tộc Lạc Việt là chủ nhân của Dịch học.

Viên Như
Blog Chữ Nôm Mới 

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015

Tín hiệu của một nền giáo dục suy thoái

Thật khó mà liệt kê hết những tín hiệu về sự suy thoái của nền giáo dục. Nhưng đây đó và một cách thường xuyên, chúng ta chứng kiến những sự việc có liên quan đến -- hay xuất phát từ -- giáo dục. Những sự việc này tuy nhỏ nếu nhìn bề mặt, nhưng phía dưới bề mặt đó, nó lại là một căn bệnh trầm kha của nền giáo dục đã và đang gặp trở ngại, một nền giáo dục được xây dựng trên nền tảng của một chủ trương có thể nói là sai lầm.

Những tín hiệu

Chẳng hạn như câu chuyện về chương trình "Ai là triệu phú" trên đài truyền hình VTV3 làm giới báo chí xôn xao gần đây (1). Trong chương trình, người ta đưa ra câu hỏi "Ba thương con vì con giống mẹ, mẹ thương con vì con giống ai" và người ta cho 4 câu trả lời: (a) ông hàng xóm; (b) chú cạnh nhà; (c) ba; và (d) bác đầu ngõ. Thoạt đầu nếu chỉ thấy lướt qua thì ai cũng cười nghiêng ngả vì cái trò hề, nhưng sau trận cười, có lẽ nhiều người sẽ giật mình. Giật mình vì câu hỏi hết sức vô duyên, và những câu trả lời cực kì vô giáo dục. Tính vô duyên và vô giáo dục đó, cùng với những sự việc khác trong thời gian qua, là những tín hiệu của một nền giáo dục đang xuống dốc không kìm lại được.

Câu hỏi "mẹ thương con vì con giống ai" có vẻ là một chuyện tiếu lâm trên bàn nhậu, hơn là một câu hỏi nghiêm túc mang tính giáo dục. Đọc câu hỏi này chúng ta nhớ đến quyển Từ điển Tiếng Việt của một tác giả bí ẩn tên là Vũ Chất. Quyển từ điển đó gây xôn xao và làm tốn nhiều giấy mực của báo chí một thời, vì những kiểu giải thích tếu táo như "Quản giáo" là "Người coi một giáo đường hay tu viện", "Tù trưởng" là "người đứng đầu trông coi tội nhân", "Tao đàn là "Chỗ nằm của tao nhân thi sĩ", v.v. Ấy thế mà quyển từ điển được Nhà xuất bản Trẻ phát hành! Mà, còn ghi rõ là "Từ điển Tiếng Việt dành cho học sinh" (2). Quyển từ điển đã bị thu hồi, nhưng không ai đoán được tác động của nó. Câu hỏi "mẹ thương con vì con giống ai" thuộc cái típ của Từ điển Tiếng Việt của Vũ Chất.

Điều đáng nói là người ta lẫn lộn giữa sự tếu táo và học thuật. Những câu nói vô duyên như thế và những câu trả lời "mất dạy" như thế mà được đưa lên đài truyền hình quốc gia cho hàng triệu người xem. Nó chứng tỏ những người "gác cổng" đền giáo dục đã thất bại một cách thê thảm. Không thể biện minh bằng bất cứ lí lẽ nào cho sự thất bại đó.

Những người "gác đền"

Nói đến những người gác đền, chúng ta nghĩ ngay đến người đứng đầu ngành giáo dục. Có lẽ nhiều người còn nhớ đến lá thư mà ngài Bộ trưởng gửi cho giáo viên nhân Ngày nhà giáo 20/11 (3). Lá thư chẳng có một thông điệp nào đến giáo viên, mà toàn là những câu chữ sáo ngữ chúng ta hay thấy trên báo chí của những người làm tuyên truyền. Còn văn phong thì phải nói là quá lạ lùng, với những câu văn dài thượt trên 140 chữ! Ấy thế mà tác giả của lá thư kí một cách tự hào là “GS TS” và “tổng tư lệnh” của một ngành chuyên về giáo dục (tức kể cả dạy văn)! Cư dân mạng trở nên sôi nổi với lá thư, và ai cũng ngạc nhiên hỏi chẳng lẽ một vị GSTS, đừng đầu ngành giáo dục mà viết một lá thư ngắn còn chưa đạt? Người ta ngao ngán so sánh: Đấy, ngài bộ trưởng mà còn như thế thì đừng trông chờ gì từ những người trong hệ thống.

Những người trong hệ thống quả thật cũng chẳng khá gì. Nếu chỉ đọc qua những chức danh cao quí, chúng ta tưởng họ rất uyên bác và hoàn chỉnh, nhưng trong thực tế mỗi khi họ có dịp "trổ tài" thì công chúng mới "hỡi ơi." Một ví dụ tiêu biểu là thủ bút của ngài Bộ trưởng Bộ Y tế gần đây, với những sai sót cơ bản về chính tả, câu cú, mệnh đề và lí giải, v.v. (4). Điều đáng nói ở đây là bà bộ trưởng từng phê bình gay gắt về tiếng Việt của giới bác sĩ, và bà kêu gọi đưa môn văn vào chương trình đào tạo bác sĩ! Nhưng nếu chỉ chăm chú vào bà bộ trưởng thì e rằng không công bằng, phải xem tất cả những người đang lèo lái con thuyền quốc gia nữa. Chúng ta chưa biết hết về họ, nhưng mỗi lần họ phát biểu là mỗi lần làm cho chúng ta kinh ngạc về kiến văn, kiến thức, và phong cách.

Ngoại ngữ: Tiếng Anh

Chẳng những tiếng Việt, mà tiếng Anh cũng sai, sai cấp … quốc gia. Mới đây, báo chí và cư dân mạng lại xôn xao chuyện đài truyền hình VTV4 (5) viết chữ "Merry Christmas" thành "Mery Christmas"! Chuyện thật nhỏ, nhưng nó là tín hiệu của một vấn đề lớn hơn. Hôm đầu năm 2014, Tổ chức Giáo dục Education First công bố kết quả khảo sát cho biết chỉ số thông thạo tiếng Anh của VN chỉ 52%, tức ở hạng thấp. Trong môi trường như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy sai sót tiếng Anh tràn lan khắp nơi, từ học đường đến báo chí, thậm chí cả bia biên giới (6)!

Ngay trên những văn bản nghiêm chỉnh như bằng cấp tốt nghiệp mà người ta cũng viết sai tiếng Anh! Báo chí đã nhiều lần chỉ ra những "sai sót ngớ ngẩn" về tiếng Anh trên bằng tốt nghiệp đại học, bằng cao đẳng. Có những sai sót chỉ biết lắc đầu, như "July" thành "Yuly" (7). Nhưng không phải sai sót 1 lần mà sai sót rất nhiều lần ở nhiều nơi. Có thể nói rằng đó là những sai sót mang tính hệ thống chứ không phải ngẫu nhiên. Nhưng họ còn chưa biết rằng ngay cả tên bằng cấp người ta cũng dùng tiếng Anh chưa chuẩn, đọc lên nó ngô nghê thế nào!

Ngay cả tên nước mà người ta (dân ngoại giao đàng hoàng) viết cũng thiếu nhất quán và trang trọng. Lúc thì "Vietnam", lúc lại "Viet Nam", có khi thì "Viet-nam"! Đó là chưa kể đến những sai sót về cách viết, văn phạm, dùng từ, v.v. rất ư phổ biến trong văn bản ngoại giao (8). Người thường như chúng ta viết sai tiếng Anh thì chẳng ai nói gì (vì không phải là tiếng mẹ đẻ), nhưng một bộ đại diện cho một quốc gia mà viết sai nhiều quá là một điều rất đáng tiếc.

Nói dối

Một nền giáo dục như thế nào mà tình trạng nói dối phổ biến đến mức … bình thường. Một khảo sát mới đây (do Gs Trần Ngọc Thêm và đồng nghiệp thực hiện) cho ra những kết quả … giật mình. (9) Kết quả cho thấy tỉ lệ học trò nói dối tăng theo cấp học: ở cấp I, tỉ nói dối là 22%; đến cấp II tỉ lệ này là 50%; đến cấp III tỉ lệ nói dối lên 64%; và đến cấp đại học thì 8 trong 10 em nói dối! Xin nhắc lại: học càng cao, càng có nhiều người nói dối. Nhưng đó là nói dối cha mẹ, còn nói dối với nhau và nói dối với người ngoài cộng đồng có lẽ còn cao hơn nữa. Phải có gì hư hỏng ghê gớm lắm mới có tình trạng nói dối nhiều như thế.
Chẳng phải học sinh, sinh viên mới nói dối, mà ngay cả quan chức cũng nói dối nhưng họ nói dối có văn bản, có hệ thống. Từ những báo cáo láo, bệnh thành tích, vặn vẹo sự thật, gian dối trong sách giáo khoa, v.v. đều trở thành một "bệnh nan y" của nền giáo dục Việt Nam.
(Còn tiếp)
====

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Phật giáo thời Lý - Trần với bản sắc dân tộc Đại Việt

Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần với tinh thần tùy tục, tùy duyên, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo, nhập thế hành đạo nên đã sản sinh ra những thiền sư luôn luôn hướng về cuộc sống, hoà nhập với cuộc đời. Điều này còn cắt nghĩa tại sao ở ta thời nào cũng có những vị thiền sư tận tuỵ hy sinh cho đất nước, cho dân tộc và nhiều ngôi chùa lại thờ các vị anh hùng cứu nước, anh hùng văn hóa.

1. Nhờ bản lĩnh độc lập tự cường kết hợp truyền thống chống ngoại xâm, kể cả chống về mặt tư tưởng, cùng tính uyển chuyển, linh hoạt của cư dân lúa nước phương Nam nên bất cứ một học thuyết nào từ nước ngoài một khi đã vào Việt Nam đều phải phục vụ cho cái đạo yêu nước yêu dân của dân tộc, phục vụ những yêu cầu cuộc sống của dân tộc. Phật giáo khi vào Việt Nam cũng chịu sự chi phối của quy luật đó. Với tinh thần phá chấp triệt để và khả năng dung hợp rộng mở, với tính phóng khoáng và dân chủ của mình, Phật giáo Thiền tông đã bắt gặp tinh thần bình đẳng, dân chủ, lòng nhân ái của người dân ở đây nên nó đã dễ dàng hòa hợp và bắt rễ nhanh chóng, đã ảnh hưởng sâu rộng trong đòi sống con người Việt Nam. Mặt khác, Phật giáo Thiền tông khi vào Việt Nam đã biết kết hợp với tín ngưỡng dân gian bản địa, dung hợp với các hệ tư tưởng khác, mà chủ yếu là Nho và Lão - Trang cùng Đạo giáo, kết hợp với các tông phái khác (Tịnh độ tông, Mật tông) nên Phật giáo Thiền tông Việt Nam thời Lý - Trần có những nét khác nếu so với Thiền học Ấn Độ, Thiền học Trung Quốc.
Qua sử liệu, ta có thể khẳng định Phật giáo truyền vào Việt Nam bằng hai con đường: Một là, con đường biển từ phương Nam Ấn Độ trực tiếp truyền sang; Hai là, con đường bộ từ phương Bắc truyền xuống. Bằng con đường biển từ phương Nam, Phật giáo truyền vào Việt Nam rất sớm và sớm hơn bằng con đường bộ từ phương Bắc truyền xuống. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lang trong Phật giáo Việt Nam sử luận, tập 1, thì hồi ấy, các tu sĩ đi theo thuyền buôn Ấn Độ là những người đầu tiên truyền đạo Phật vào nước ta với tín ngưỡng đơn sơ: thờ Phật, đốt trầm, tụng kinh, chữa bệnh, trừ tà và bày phép cúng dường, bố thí cho dân bản địa cùng truyền pháp Tam quy Ngũ giới cho cư dân ở đây chứ chưa có sự truyền giảng kinh điển gì (1).
Tiếp theo, Phật giáo với hệ thống kinh điển đại thừa mang tính Thiền học của Phật giáo vùng Nam Ấn đã truyền vào Việt Nam . Cũng theo Nguyễn Lang và các nhà nghiên cứu Phật giáo sử thì Nam Ấn là vùng đầu tiên dùng kinh văn hệ Bát nhã (Prajna) như Kim Cương, Tượng đầu tịnh xá, Bát thiên tụng Bát nhã, Bát nhã tâm kinh, Bát nhã ba la mật, Đại bát Niết bàn v.v… Chẳng hạn, kinh Kim Cương là một cuốn kinh Đại thừa Phật giáo thuộc kinh văn hệ Bát nhã phổ biến và có vị trí quan trọng trong Phật giáo, trong Thiền giới Trung Quốc, Việt Nam. Nhờ bộ kinh này mà Lục tổ Huệ Năng ở Trung Quốc, nhà vua - thiền sư Trần Thái Tông ở Việt Nam đã đắc pháp, ngộ đạo khi đọc đến câu Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm mà Huệ Năng có ghi lại trong Pháp bảo đàn kinh và Trần Thái Tông có viết trong Thiền tông chỉ nam tự. Nhờ hệ thống kinh văn hệ Bát nhã mà thế kỷ thứ II sau Công nguyên, Long Thọ Bồ Tát (Nagarjãna) đã viết bộ Trung Quán luận nổi tiếng với tư tưởng Vô trụ, Siêu việt hữu vô, Chân không. Bộ luận này đã có ảnh hưởng sâu rộng trong Thiền giới ở Trung Quốc và Việt Nam. Tư tưởng Chân không của bộ luận cũng chính là chủ đề của bộ kinh Bát thiên tụng Bát nhã mà Khương Tăng Hội đã dịch ở nước ta vào thế kỷ thứ III. Các nhà nghiên cứu còn cho rằng đây là bộ kinh văn hệ Bát nhã xuất hiện xưa nhất ở Việt Nam (2).
Tư tưởng Phật giáo Đại thừa ở Việt Nam cũng đã có trước đó với tác phẩm Lý hoặc luận của Mâu Bác ở thế kỷ thứ II. Tiếp đến là một loạt tác phẩm dịch, chú sớ, đề tựa của nhiều nhà Phật học đều là những bộ kinh thuộc hệ thống Thiền học Đại thừa như An ban thủ ý kinh bàn về phép thiền quán sổ tức (phép đếm hơi thở) do Khương Tăng Hội dịch, chú sớ; Pháp hoa tam muội kinh do Cương Lương Lâu Chí và Đạo Thanh dịch. Bấy nhiêu cũng đủ khẳng định ở thời kỳ đầu, Phật giáo truyền vào nước ta chủ yếu là Phật giáo Đại thừa với khuynh hướng Thiền học và kinh điển chủ yếu là kinh văn hệ Bát nhã xuất hiện ở Nam Ấn. Để đến thế kỷ thứ IV, V tại Giao Châu, Thiền học Đại thừa cũng đã được phát triển với các bậc danh tăng như Huệ Thắng, Đạo Thiền… và các vị này còn truyền bá Thiền học Đại thừa sang tận Trung Quốc, trước khi tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam truyền dòng Thiền đầu tiên.
Từ khi ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đem dòng Thiền của mình truyền sang nước ta vào thế kỷ thứ VI, thì Phật giáo Việt Nam bấy giờ lại có thêm một mối giao lưu - tiếp biến khác đó là Phật giáo Thiền tông từ Ấn Độ sang Trung Quốc rồi truyền đến Việt Nam với hệ thống kinh Đại thừa thuộc văn hệ Bát nhã nhấn mạnh tư tưởng Vô trụ, Siêu việt hữu vô. Tuy Tỳ Ni Đa Lưu Chi đắc pháp với tổ thứ 3 Tăng Xán của dòng Thiền Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Quốc nhưng Tỳ Ni Đa Lưu Chi lại ít chịu ảnh hưởng Thiền học của thầy mình mà lại chịu ảnh hưởng Phật giáo Thiền ở Ấn Độ bấy giờ. Lúc này, Phật giáo Mật tông Ấn Độ và Tây Tạng đã phát triển mạnh. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lang thì Mật giáo (Mật tông) là giai đoạn phát triển thứ ba của lịch sử Phật giáo Đại thừa Ấn Độ (giai đoạn thứ nhất là Bát nhã, giai đoạn thứ hai là Duy thức). Giáo lý và thực hành của Mật tông có nét gần gũi tương đồng với Thiền tông như nhấn mạnh sự quan trọng của tọa thiền, trực cảm tâm linh, sử dụng những thoại đầu, công án với những hình ảnh cụ thể, dùng những mật ngữ để khai mở trí tuệ giác ngộ, sử dụng thần chú ấn quyết … để hỗ trợ đắc lực cho sự Thiền quán hành đạo. Vì thế mà Phật giáo Mật tông đã bao trùm mọi tín ngưỡng bình dân trong lòng nó tại Ấn Độ cũng như ở Việt Nam (Giao Châu) lúc bấy giờ. Riêng ở ta, khuynh hướng này rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian thờ phúc thần, nhiên thần, thờ Mẫu, tín ngưỡng vật linh…, đồng thời phù hợp với phong tục của người Việt nên nó trở thành một yếu tố khá quan trọng trong sinh hoạt Thiền môn (3).
Sang thế kỷ thứ IX, Phật giáo Việt Nam còn có thêm một mối giao lưu - tiếp biến khác là Thiền tông Trung Quốc truyền sang với dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Thiền phái này mang đậm dấu ấn Thiền học Trung Hoa với tư tưởng chân lý ở ngay trong lòng mình, Phật tại tâm. Chân lý đó con người có thể tu chứng trực tiếp, chứ không cần nắm bắt qua ngôn ngữ, văn tự. Thiền phái Vô Ngôn Thông chủ trương bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Đó chính là pháp môn Đốn ngộ mà Lục tổ Huệ Năng đã đề ra trước đó. Sau này, tổ Bách Trượng cũng đã phát biểu: Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu (Nếu đất tâm trống không, thì mặt trời trí tuệ sẽ tự chiếu sáng).
Tóm lại, Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần được kế thừa và phát triển trên cơ sở của ba mối giao lưu - tiếp biến bởi có 3 nguồn du nhập trước đó:
Một là, Phật giáo Đại thừa với khuynh hướng Thiền học từ Nam Ấn trực tiếp truyền sang bằng đường biển vào cuối thế kỷ thứ I trước công nguyên, cũng có thể là vào những năm đầu sau công nguyên với kinh văn hệ Bát nhã;
Hai là, Thiền tông Ấn Độ truyền sang Trung Quốc rồi đến Việt Nam bởi vai trò của ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi vào thế kỷ thứ VI với tư tưởng vô trụ, siêu việt hữu - vô;
Ba là, Thiền tông Trung Quốc truyền vào Việt Nam bởi vai trò của ngài Vô Ngôn Thông vào thế kỷ thứ IX với pháp môn Đốn ngộ và tư tưởng Phật tại tâm.
2. Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần với tinh thần tùy tục, tùy duyên, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo, nhập thế hành đạo nên đã sản sinh ra những thiền sư luôn luôn hướng về cuộc sống, hoà nhập với cuộc đời. Điều này còn cắt nghĩa tại sao ở ta thời nào cũng có những vị thiền sư tận tuỵ hy sinh cho đất nước, cho dân tộc và nhiều ngôi chùa lại thờ các vị anh hùng cứu nước, anh hùng văn hóa.
Phật giáo Thiền tông Việt Nam được thành lập có tổ chức hệ thống trước hết phải kể đến dòng thiền Nam Phương (Tỳ Ni Đa Lưu Chi) ở chùa Pháp Vân và sau đó là dòng Quán Bích (Vô Ngôn Thông) ở chùa Kiến Sơ. Hai dòng thiền này đã phát triển đến đỉnh cao ở thời Lý - Trần với những tên tuổi của các vị thiền sư có công lao to lớn đối với dân tộc trong buổi đầu đất nước phục hưng như: Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Minh Không, Khanh Hỷ, Diệu Nhân… dòng Nam Phương; Khuông Việt, Viên Chiếu, Thông Biện (tức Trí Không), Mãn Giác, Ngộ Ấn… dòng Quán Bích. Sự thật và sử sách xưa đều ghi như thế, nhưng không hiểu tại sao ông Nguyễn Duy Hinh lại cho rằng: “cả hai phái Thiền của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, cũng như Vô Ngôn Thông đều mang tính chất tiêu cực thoát ly cuộc sống một cách rõ rệt: Từ bỏ gia đình, xã hội, vào núi vào chùa ngồi Thiền định để tìm con đường giải thoát cho bản thân.” (4) (NCL in đậm để nhấn mạnh). Có lẽ khi viết những dòng chữ trên, ông Nguyễn Duy Hinh muốn đề cao ý nghĩa nhập thế của dòng Thiền Trúc Lâm nên đã hạ thấp vai trò của những thiền sư thuộc hai dòng Thiền này chăng? Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận dòng Thiền Trúc Lâm là một bước nhảy vọt của tư tưởng Phật giáo Việt Nam, đã có nhiều đóng góp lớn cho văn hoá dân tộc, đã là một dòng Thiền độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc với hệ thống tổ chức và kinh điển như của một tôn giáo riêng biệt. Ở đây, Nguyễn Duy Hinh đã quên rằng đệ tử của dòng Nam Phương và Quán Bích đều có những vị thiền sư đóng vai trò tích cực, nhập thế, có nhiều đóng góp lớn cho dân tộc trong buổi đầu phục hưng. Nhiều vị sư đã mở trường dạy học đào luyện nhân tài cho đất nước, có vị đại diện triều đình tiếp sứ thần nhà Tống như Khuông Việt, Pháp Thuận, có vị đã hiến kế giúp vua đuổi Tống, bình Chiêm như Vạn Hạnh và còn rất nhiều việc làm tích cực khác nữa của các vị mà sử sách xưa có chép lại.
Thật khó mà tìm hiểu tư tưởng triết lý của hai dòng Thiền trên một cách có hệ thống, bởi các vị hầu như trước tác rất ít, hoặc có trước tác nhưng do chiến tranh, thiên tai nên đã thất truyền! Hơn nữa, Thiền đạo vốn chủ trương “bất lập văn tự”, xem văn tự chỉ là phương tiện để đạt đến cứu cánh. Chú ý “không lập văn tự” chứ không phải “không dùng văn tự”. Một số nhà nghiên cứu nhầm lẫn chỗ này nên đã cho rằng các thiền sư Lý - Trần đã viết sách tức là đi ngược lại với yếu chỉ Thiền truyền thống, rồi xem đó là nét đặc thù dân tộc trong Thiền học Lý - Trần (5). Có vị lại không nói (vô ngôn), sư Tịnh Giới còn đi xa hơn:
“Khan tiếu thiền gia si độn khách,
Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm?”
(Đáng buồn cười cho những kẻ ngớ ngẩn trong làng Thiền,
Cớ sao lại đem ngôn ngữ để “truyền tâm” cho người?) (6)
Có nghĩa là đã xem thường ngôn ngữ. Thật là “vô ngôn” tuyệt đối! Vì Thiền vốn theo phương pháp Tâm truyền. Dù sao qua một số bài văn, bài kệ còn lại, ta có thể nói rằng, cũng như Thiền tông truyền thống, chú trọng Thiền định, nhờ Thiền định mới có thể tiếp cận được chân lý, mới giải thoát, cùng với pháp môn Đốn ngộ và chủ trương “trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, giáo ngoại biệt truyền”. Nhà Phật đã cho rằng tất cả hiện thực của thế giới khách quan là tạm bợ, hư ảo, không có thật như nó vốn có. Khi bàn về bản thể, nguồn gốc sinh tử, nguồn gốc vạn sự vạn vật, các vị lý giải theo quan điểm nhất nguyên, với quan niệm “tâm pháp nhất như”, “vạn vật nhất thể” như Giác Tính Hải Chiếu Thiền sư viết trong bài bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn (Thanh Hoá): “Vạn là sự tan rã của nhất, nhất là nguồn gốc của vạn (…) ôm cái nhất để thâu tóm cái vạn” (7). Đại Xả thì cho rằng vạn vật, con người gốc ở tứ đại hợp lại và do ngũ uẩn mà duyên thành, nhưng thật ra vốn là hư không, chẳng thể truy tìm nguồn gốc: “Tứ xà đồng kiệp bản nguyên không, Ngũ uẩn sơn cao diệc bất tòng.” (8) (Đất nước gió lửa cùng chung trong hộp [vật chất, thực ra] vốn là hư không, Năm yếu tố [sắc, thụ, tưởng, hành, thức làm thành thân thể và tâm trí con người] tuy như núi cao song cũng chẳng có nguồn gốc); Trường Nguyên thì nói nó “Đình độc vạn vật, Dữ vật vi xuân.” (9) (Sinh ra muôn vật, và trường tồn với muôn vật). Các vị cũng bàn đến lẽ sinh tử và xem đó là chuyện sinh hoá của chư pháp, là lẽ tự nhiên của tuần hoàn.
Nhiều khi, các thiền sư Lý - Trần đã tiếp thu tư tưởng Phật học rồi kiến giải chân lý theo chỗ tỏ ngộ của mình. Có vị đã đề ra thuyết lý với những lý giải mới, theo yêu cầu dân tộc như thuyết “Tâm pháp nhất như” của Cứu Chỉ, thuyết “Tam ban” của Ngộ Ấn v.v.. Dĩ nhiên, chúng ta không đòi hỏi nhiều ở các vị phải đảo lộn hoặc phá bỏ nguyên lý Thiền truyền thống, hoặc cải cách Thiền học mà vấn đề là xét xem các thiền sư thời ấy đã áp dụng Thiền học vào hoàn cảnh hiện tại của đất nước như thế nào. Một điểm đáng chú ý nữa là các vị thiền sư Lý - Trần đã tóm thâu những tư tưởng uyên áo và uẩn súc của Thiền đạo bằng một vài câu ngắn gọn đầy hình ảnh thi ca diễm lệ. Đây là một hình thức mềm dẻo, nói bóng gió, dùng hình thức ngụ ngôn hoặc thí dụ để dẫn dắt người học đạo dễ tiếp thu chân lý. Các bài kệ đó đã được thi vị hoá, nhiều khi nếu tách riêng ra, người ta sẽ nhầm là thơ chứ không phải kệ. Rất nhiều bài kệ mà sách Thiền uyển tập anh ngữ lục đã chép lại có giá trị văn học, giàu hình ảnh, đầy chất thơ, hơn là tính triết lý khô khan, đúng như ông Kiều Thu Hoạch đã khẳng định: “Thiền sư Lý Trần tỏ ra rất sở trường trong việc hình tượng hoá giáo lý Phật giáo” (10). Đây cũng là một trong những nét đặc thù của Phật giáo Thiền tông thời Lý - Trần.
Khác với Thiền tông Ấn Độ và Trung Quốc, Phật giáo Việt Nam đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa, với yếu tố thần thuật của Đạo giáo pháp thuật nên mới có câu chuyện những thiền sư tiên đoán việc xã tắc như Vạn Hạnh, dùng pháp thuật để chữa bệnh trừ tà, để giáng long phục hổ, hay bay trên không, đi dưới nước như Nguyễn Minh Không; để trả thù cho cha, hay để đầu thai như Từ Đạo Hạnh v.v.. Phật giáo thời Lý - Trần đã kết hợp với Mật tông. Hồi ấy có nhiều thiền sư đọc chú, tu luyện các phép Tổng trì Đà La Ni của Mật tông. Mật tông được truyền vào nước ta sớm nhất là vào khoảng nửa cuối thế kỷ X mà chứng cớ là các cột kinh Đà La Ni tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình) (11). Mật tông thường pha trộn với tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam; đồng hoá những phương thuật của Đạo giáo pháp thuật, rồi ảnh hưởng trong quần chúng bằng phép chữa bệnh trừ tà. Phật giáo Thiền tông thời Lý - Trần còn kết hợp với Tịnh độ tông. Qua tín ngưỡng của nhân dân bấy giờ, Tịnh độ tông đi vào quần chúng bằng con đường thuyết giáo từ bi, cứu khổ, cứu nạn, bằng cách dựng lên một cõi Tịnh độ, Tây phương cực lạc mà nơi đó có Phật A Di Đà sẵn sàng tiếp đón những người khi sống trên trần thế đã hành thiện tu phúc, niệm Phật, trai giới, cầu vãng sinh. Tịnh Độ tông còn dựng lên hình ảnh vị Bồ tát đắc đạo nhưng vì thương xót chúng sinh khổ não nên ở lại trần thế cứu vớt họ. Hình tượng vị Bồ tát này chúng ta thường gặp trong văn học dân gian: Phật bà Quán Thế Âm, tiêu biểu cho sức mạnh kỳ diệu và tình thương bao la. Không phải ngẫu nhiên mà Thiền phái Thảo Đường đời Lý đã xây dựng chùa Một Cột (bên cạnh chùa Diên Hựu) với mái chùa cong vút, chạm hoa sen nghìn cánh, trong đó lại thờ đức Quán Thế Âm. Dù việc này được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng trên cơ sở giấc mộng của bà mẹ là Hoàng hậu Mai Thị. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Khoá hư lục được Trần Thái Tông biên soạn để tín đồ đọc tụng 6 lần trong một ngày đêm để giữ cho 6 căn (nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý) được thanh tịnh (Lục thời sám hối khoa nghi) cũng chỉ vì Tịnh độ tông chủ trương trì kinh niệm Phật để giữ tâm được lặng lẽ thanh tịnh; để sám hối tội căn kiếp trước và để rửa sạch tội lỗi hàng ngày mắc phải.
3. Nói bản sắc dân tộc của Phật giáo thời Lý - Trần không thể không xét đến hai dòng Thiền riêng của Đại Việt là Thảo Đường và Trúc Lâm Yên Tử.
a. Thiền phái Thảo Đường
Do âm hưởng của hào khí vừa chiến thắng giặc ngoài, do điều kiện đất nước được phục hưng, do muốn xây dựng một ý thức hệ độc lập để tương xứng với một đất nước độc lập về chính trị, kinh tế, quân sự, mà ý thức hệ ấy không thể nào khác hơn là Phật giáo Thiền tông đang thịnh hành và phổ biến trong nhân dân, nên vua Thánh Tông nhà Lý mới xây dựng một Thiền phái mới: phái Thảo Đường mà chùa Một Cột là chứng tích văn hóa tiêu biểu hiện còn. Theo An Nam chí lược, Thiền uyển tập anh ngữ lục và sau này các sách của Trần Văn Giáp: Les Boudhisme en Annam des origines au XIII e siecle (1932), của Mật Thể: Việt Nam Phật giáo sử lược (1941) có nêu lại, thì Thiền phái Thảo Đường do vua Lý Thánh Tông và Thiền sư Thảo Đường lập nên tại chùa Khai Quốc (Trấn Quốc), kinh đô Thăng Long.
Khi Lý Thánh Tông đem quân chinh phạt Chiêm Thành, có bắt được một số tù binh, trong đó có một thiền sư người Trung Quốc, thuộc dòng Thiền Tuyết Đậu Minh Giác, đang cùng thầy truyền đạo ở Chiêm Thành, nhà vua giao cho quan Tăng lục làm nô tì. Một hôm vị Tăng lục đi vắng trong lúc đang viết dở cuốn Ngữ lục, sư Thảo Đường xem xong, có chữa lại, khi Tăng lục trở về đọc, thấy vậy lấy làm lạ tâu lên vua. Nhà vua hỏi về Phật pháp thì sư Thảo Đường ứng đối trôi chảy, nên mời làm Quốc sư. Ông là người có đức hạnh, nên vua bái làm thầy, về sau sư ngồi yên mà tịch. Đó là chuyện sách xưa truyền lại. Sự thật chưa thể khẳng định được. Thiết nghĩ, cũng có thể nhà vua đã đặt ra câu chuyện trên để cho dòng Thiền của mình có gốc gác chăng? Dòng Thiền này truyền được 5 đời, gồm 18 người, tôn Lý Thánh Tông làm sư tổ khai sơn, và hầu như chỉ truyền thừa trong giới quan lại trí thức của triều đình mà thôi.
Khó mà tìm hiểu triết lý phái Thảo Đường vì hiện nay tài liệu viết về Thiền phái này không có là bao. Thơ, văn, kệ của phái này hầu như không còn lại gì. Chỉ biết Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: Hoàng hậu Mai Thị nằm mộng thấy mặt trăng sa vào bụng, nhân đó có mang rồi sinh ra Lý Thánh Tông. Khi làm vua Lý Thánh Tông ham mê nghiên cứu Phật học; nhân chuyện nằm mộng của mẹ, nhà vua mới cho xây chùa Một Cột thờ đức Quán Thế Âm. Cuộc đời chính trị của nhà vua với chính sách khoan dân và nhân từ: sai lập chùa đền, giảm nhẹ hình phạt, sai phát chăn chiếu cho tù nhân và cho ăn uống đầy đủ trong ngày đông giá rét, thương dân như con mình, sửa Văn Miếu, tô tượng Khổng Tử, cho hoàng tử học Nho học… Sử còn chép rằng, vợ ông tức Ỷ Lan thay chồng cầm quyền nhiếp chính trị an khi ông cầm quân đi chinh phạt Chiêm Thành, đức độ của bà đã cảm hoá được nhân dân nên được tôn vinh là Quan Âm nữ.
Về yếu chỉ của dòng Thiền này, trong bài văn Cảnh sách, sư Thảo Đường đã nêu lên quan điểm: Thiền bản vô môn, phi túc cụ linh căn, đa địa kỳ đồ, mạt kiếp dung lưu, thành nan ngộ nhập. Quán tâm vi tế, như vô bát nhã chi tuệ, hãn năng giai chứng. Duy hữu niệm Phật nhất môn, tối vi điệp cảnh. Tự cổ chí kim, ngu trí đồng tu, nam nữ cộng thú, vạn vô nhất thất như tứ liệu giả sở minh. Chỉ yếu tự biện khẳng tâm, vật nghi tự chi bất đắc. (12) (Tạm dịch: Thiền vốn không có cửa vào nhất định, không phải người có đủ linh căn, thì phần nhiều rơi vào đường lầm lạc, trọn đời trôi nổi, khó mà giác ngộ. Phép quán tâm thì rất tế nhị tinh vi, nếu không có trí tuệ bát nhã, ít có thể đạt tới chứng nghiệm. Chỉ có lối niệm Phật là rất mau lẹ tiện lợi. Từ xưa đến nay, người thông minh kẻ ngu độn cùng tu được, đàn ông đàn bà đều chuộng, muôn người không một ai sai lầm như bốn lời đã tỏ rõ. Chỉ cần tự phân tích lấy tâm của mình, chớ có nghi ngờ mình làm không được.)
Chỉ bấy nhiêu đó, ta có thể suy luận tinh thần và tư tường của dòng Thiền Thảo Đường là sự kết hợp giữa Nho và Phật, giữa Thiền tông và Tịnh Độ tông (thiền quán gắn với tụng niệm, nhờ vào tha lực, thờ Phật bà Quán Thế Âm). Thiền quán là con đường tự lực, đốn ngộ, phù hợp với trí thức, căn cơ phát triển; còn tụng kinh niệm Phật là con đường tha lực, phù hợp với người bình dân, ít căn cơ. Vì thế mà Lý Thánh Tông cùng các triều thần cố gắng vun đắp cho dòng Thiền này. Như thế, so với Thiền nguyên thuỷ và Thiền Việt Nam trước đó thì dòng Thiền Thảo Đường có khác, nội dung phần nào phù hợp với yêu cầu của dân tộc bấy giờ.
b. Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử
Nối tiếp việc làm của vua nhà Lý, các vua nhà Trần cũng vì yêu cầu của thời đại nên đã xây dựng một ý thức hệ độc lập. Cuộc ra đi của hai ông cháu nhà Trần (Thái Tông và Nhân Tông) là minh chứng hùng hồn cho việc xây dựng trên. Nếu cuộc ra đi của Thái Tông không trọn vẹn, thì cuộc ra đi của Nhân Tông đã toại nguyện và nhà vua đã tiến hành công việc này một cách vững chắc, toàn diện và triệt để. Kết quả là Thiền phái Trúc Lâm Tên Tử ra đời với hệ thống tổ chức và kinh sách như một tôn giáo độc lập.
Tìm hiểu hệ thống Thiền học Trúc Lâm Yên Tử không chỉ đơn thuần là tìm hiểu giáo chỉ của ba vị Tổ: Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang mà còn phải tìm hiểu tư tưởng cùng vai trò đóng góp của hai nhân vật trước đó: Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung (13).
Trước hết, hãy tìm hiểu ý nghĩa của việc thành lập Thiền phái này. Về vấn đề này, có lẽ chưa có ai phân tích sâu sắc và xác đáng như Nguyễn Duy Hinh, đại để ông cho rằng, Thiền tông với lý thuyết duy tâm khách quan, với quan điểm từ bi bác ái, với tinh thần rộng mở phóng khoáng, và khả năng dung hợp nhiều tư tưởng khác nên tỏ ra có khả năng ưu việt hơn so với hệ tư tưởng khác trong việc truyền bá rộng rãi. Họ Trần buộc phải lựa chọn Thiền tông làm ý thức hệ tiêu biểu nhưng cũng cần thay đổi chút ít nội dung cho phù hợp và đạt những mục đích mà xã hội yêu cầu. Theo Nguyễn Duy Hinh, việc nhà Trần lập ra Thiền phái mới nhằm bốn mục đích:
1. Biểu lộ tính độc lập dân tộc.
2. Thay đổi phần nội dung tiêu cực và thân ngoại.
3. Ý đồ thống nhất ý thức hệ.
4. Tự khoác cho mình chiếc áo của một tôn giáo mới (14).
Với những mục đích trên, dòng Thiền Trúc Lâm đã có những thành tựu rõ rệt. Bản thân và hành trạng của vị sơ tổ Trúc Lâm đã là minh chứng cho một giáo chủ của Thiền phái mới này. Trần Nhân Tông được tôn vinh là Phật hoàng với những huyền thoại: Phật giáng sinh (Biến Chiếu Tôn), Thần Tiên giáng trần (Kim Phật Kim Tiên đồng tử). Thái tử Khâm - Trần Nhân Tông một vị vua, một giáo chủ, một vị anh hùng. Xưng là Phật vì sáng lập ra tôn giáo mới, gọi là Tiên vì phong cách tiêu dao kiểu Lão - Trang. Nói là người anh hùng vì đã chỉ huy đánh tan giặc Nguyên Mông hung hãn. Cuộc đời hành đạo của Trần Nhân Tông chẳng khác nào đức Phật Thích Ca. Trần Nhân Tông bỏ ngôi vào Yên Tử sơn, tắm ở Ngự Dội, thiền định dưới gốc cây tùng như thái tử Tất Đạt Đa, từ giã cung vàng điện ngọc vào Tuyết sơn (Hymalaya), tắm ở sông Ni Liên Thuyền Na, ngồi thiền định dưới gốc cây Tất Bát La (Bồ Đề). Sau khi đắc đạo, Trần Nhân Tông dắt hai môn đệ là Pháp Loa, Huyền Quang đi thuyết pháp ở Sùng Nghiêm, Siêu Loại như đức Thích Ca dẫn dắt ngài Ca Diếp và A Nan Đà đi thuyết pháp khi ở Lộc Uyển, lúc ở Vương Xá thành, ở vườn cây của Kỳ Đà, của trưởng giả Cấp Cô Độc v.v.. Nếu đức Thích Ca nhập diệt trong tư thế nằm nghiêng, tay phải gối đầu, tay trái duỗi thẳng theo thân (tư thế nhập Niết bàn) thì Nhân Tông hoá theo kiểu sư tử ngoạ. Tóm lại, để trở thành giáo chủ mới, Nhân Tông đã mô phỏng lại việc làm của đức Phật Thích Ca ngày xưa. Không phải ngẫu nhiên mà Nhân Tông cho xây dựng hệ thống kiến trúc Yên Tử thành ba bậc chính: Giải Oan, Vân Yên, Vân Tiêu và trên cùng là bia chữ Phật hòa nhập trong không gian bao la để tượng trưng cho ba cõi: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và bia chữ Phật kia tượng trưng cho Giải thoát. Đây chính là biểu hiện quan niệm của Thiền phái Trúc Lâm (15). Tất cả là cơ sở để có thể tìm hiểu tư tưởng của Thiền phái này. Điều thuận lợi là các vị tổ Trúc Lâm và những vị đặt nền móng về tư tưởng cho Thiền phái đều có trước tác để lại, dù đã bị mất cũng khá nhiều, hiện chỉ còn một số, nên qua đó ta cũng có thể hiểu được tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm tương đối có hệ thống. Thư tịch cổ cho biết Trần Thái Tông viết khá nhiều, nhưng hiện chỉ còn Khoá hư lục, Thiền tông chỉ nam tự, Lục thì sám hối khoa nghi, Phổ thuyết, Luận văn, Ngữ lục, Niêm tụng kệ (tất cả được người đời sau khắc in trong Khóa hư lục) và một ít bài thơ; Tuệ Trung Thượng sĩ thì còn thơ, kệ và Thượng sĩ ngữ lục (Đối cơ, tụng cổ); Trần Nhân Tông soạn Thạch Thất mỵ ngữ, Thiền lâm thiết chuỷ ngữ lục, Tăng già toái sự, Đại Hương Hải ấn thi tập, Cư trần lạc đao phú, Đắc thú lâm tuyền đạo ca; nhưng hiện chỉ còn một bài phú, một bài ca và ngữ lục Sư đệ vấn đáp, bài văn Thượng Sĩ hành trạng, cùng một số bài kệ, 32 bài thơ, một thư từ; Pháp Loa viết Đoạn sách lục, Tham Thiền chỉ yếu, hiện chỉ còn một bài kệ, một bài tán, một bài văn Khuyến xuất gia tiến đạo ngôn, một ngữ lục Trúc Lâm đại tôn giả thượng tọa thính sư thị chúng; Huyền Quang trước tác Ngọc tiên tập, Vịnh Vân Yên tự phú và soạn Phổ Tuệ ngữ lục, hiện chỉ còn một bài phú và 24 bài thơ.
Xét nội dung triết lý tư tưởng phái Trúc Lâm chủ yếu chúng tôi khảo sát Khoá hư lục và Thượng sĩ ngữ lục, cùng Thiền tông chỉ nam tự vì qua một số tác phẩm còn lại của ba vị Tổ Trúc Lâm, về nội dung cơ bản là nhất trí với hai vị có công đầu trong việc đặt nền móng quan điểm tư tưởng và việc hình thành Thiền phái này.
Khoá hư lục là một bản kinh Phật đời Trần dùng để đọc tụng sáu lần trong một ngày đêm, mỗi lần đọc tụng nhằm giữ một trong sáu căn cho thanh tịnh. Đây là phần thực dụng của kinh. Bên cạnh phần lý thuyết trình bày quan niệm của Thiền phái về vấn đề cơ bản của đạo Phật như Phật, Tâm, Thiền, Nhân sinh, Nguyên nhân của mọi khổ đau và Giải thoát. Nếu Thiền tông truyền thống thường thực hành Thiền định chứ không chú trọng Niệm, thì Thiền Trúc Lâm đã kết hợp cả hai: Thiền định và niệm Phật. Một sự kết hợp giữa Tịnh độ tông và Thiền tông mà chúng tôi đã nêu ở trước. Thiền Trúc Lâm ít nhiều còn có pha tạp màu sắc Đạo giáo, chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão - Trang. Một số bài kệ, bài thơ của Tuệ Trung như Sinh tử nhàn nhi dĩ, Phóng cuồng ngâm vài đoạn trong Khoá hư lục, Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là những dẫn chứng cho nhận định trên.
Còn đây là sự kết hợp tư tưởng Lão – Trang trong con người thiền sư với thú tiêu dao, tự tại, hòa đồng thiên nhiên chẳng khác nào một đạo sĩ ung dung, xem đời như giấc mộng:
- Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý,
Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chú tri âm. (16)
- Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao,
Chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hý. (17)
- Y cẩu phù vân biến thái đa,
Du du đô phó mộng Nam kha.
(Cuộc đời như đám mây nổi luôn đổi thay nhiều vẻ,
Mơ màng đành phó cho giấc mộng Nam kha.) (18)
Có lẽ, quay về với thiên nhiên là cách để các vị xa lánh cõi dời, để diệt dục, giúp cho tâm thanh tịnh mà hành Thiền, chứ không ngoài mục đích nào khác.
Bàn về Phật, Trúc Lâm chủ trương “Phật không có trong núi mà chỉ có trong lòng.” (Thiền tông chỉ nam tự); nếu “Lòng lặng lẽ mà biết, chính là Phật vậy.” (Thiền tông chỉ nam tự). Trúc Lâm đã kế thừa ý kiến của Huệ Năng khi cho rằng “Phật và Thánh vốn không khác gì nhau” và bổ sung thêm, tuy đi hai con đường khác nhau nhưng cả hai cùng đưa con người đến một mục đích và chủ trương Phật, Thánh phân công hợp tác (Thiền tông chỉ nam tự) (19).
Như vậy, theo Trúc Lâm, Phật chính là ta, là tâm. Một quan niệm đồng nhất trong sai biệt. Nhờ quan điểm này mà Thiền phái Trúc Lâm gần gũi với tư tường Thiền nguyên thuỷ hơn, dĩ nhiên, Trúc Lâm cũng có những kiến giải của riêng mình. Trần Nhân Tông đã phát biểu:
- Chỉn bụt là lòng, sá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ.
- Vậy mới hay: Bụt ở cùng nhà, chẳng phải tìm xa.
- Nhân khuy bản ta nên tìm Bụt; đến cóc hay chỉn Bụt là ta. (20)
Phật là tâm. Tâm là một cái gì trừu tượng như Phật tính: “Tâm vương vô tướng hựu vô hình” (21).
Trúc Lâm chủ trương muốn hiểu rõ tâm phải ngồi thiền. Ngôi thiền để tĩnh tâm, ngăn ác hướng thiện. Trúc Lâm không chọn con đường “Quán bích toạ thiền” mà chủ trương “Niệm Phật, thụ giới và toạ Thiền”. Niệm Phật là cách tự giáo dục, tự ức chế để giữ miệng và tâm thanh tịnh. Thụ giới là cách răn giữ bản thân theo giới luật nhằm để cho thân trong sạch và không làm điều ác. Niệm Phật, thụ giới, toạ thiền là cách giữ cho thân, khẩu, tâm của người học đạo không thể làm, nói, nghĩ đến điều ác. Điều ác không sinh tức điều thiện phát khởi. Có lẽ ví thế mà Trần Thái Tông soạn Khoá hư lục để người tu Phật tụng niệm. Khoá hư lục còn trình bày về năm giới răn của Phật mà người tu hành phải triệt để tuân theo. Có điều, qua việc trình bày giới luật, Trúc Lâm đã biến nó thành những bài học luân lý hơn là giáo lý nhà Phật, với mục đích nhằm bình ổn trật xã hội lúc bấy giờ. Khoá hư lục khuyên răn con người không được tham lam của cải, sắc đẹp, rượu nồng, thịt béo, công danh phú quý. Do lòng tham đó mà dẫn dắt người ta đi đến trộm cướp, bè phái, khinh vua, ghét cha, nhạo Tăng, chửi Phật… Khoá hư lục còn kêu gọi con người nên làm việc thiện, bố thí cho kẻ nghèo, thương yêu người khác, tôn trọng phép nước, kính cha thờ vua… Đây chính là cốt lõi nhập thế của đạo Thiền Trúc Lâm.
Thiền Trúc Lâm cũng phát biểu quan niệm về nhân sinh. Họ xem chuyện sống chết là thường tình và chấp nhận cuộc sống một cách khách quan, bài kệ Khuyến chúng của Trần Thái Tông: Sinh lão bệnh tử, Lý chi thường nhiên” (22); bài kệ của Trần Nhân Tông đọc cho Pháp Loa nghe trước khi tịch diệt: Nhất thiết pháp bất sinh, Nhất thiết pháp bất diệt. (23) đã chứng minh cho quan niệm này. Chính Tuệ Trung, người thầy của Nhân Tông, người có công đầu trong việc lập Thiền phái Trúc Lâm đã phát biểu: “Phù sinh tử, lý chi thường nhiên, an đắc bi luyến, ưu ngô chân dã.” (Sông chết là lẽ thường, làm gì phải xót thương quyến luyến làm rối chân tính của ta ? – Thượng sĩ hành trạng) (24).
Cuộc sống là một thực thể tồn tại khách quan không thể phủ nhận nên thiền sư phái Trúc Lâm đều dửng dưng trước cái chết, xem cuộc đời là vô thường. Chết chỉ là một chặng đường khác. Như vậy, Thiền phái Trúc Lâm tiếp thu quan niệm nhân sinh của Đại Đại thừa Phật giáo. Họ chấp nhận cuộc sống, cái chết mà không luyến tiếc. Các vị quan niệm không có gì sinh ra hay mất đi nên làm gì có việc đi và đến. Đó là quan niệm “thân ảo ảnh chẳng khác phù vân”, “Pháp thân thường trú, phổ mãn thái hư” của đệ nhất tổ Trúc L:âm Trần Nhân Tông. Các vị cho rằng cái thân đang tồn tại là do dục. Diệt được dục tức thoát khỏi sinh tử. Quan niệm trên đã phản ánh một nhân sinh quan tương đối, không sa vào hai cực, không tham sống sợ chết một cách yếu đuối. Phải chăng do hào khí thời đại, do cuộc đấu tranh sinh tử của dân tộc thời Lý - Trần đã ảnh hưởng tới nhân sinh quan này? Có lẽ vì thế mà phái Trúc Lâm cũng như các Thiền phái khác thời Lý - Trần lại gần gũi với đời, trở về với cuộc sống trần thế hơn.
Tóm lại, do yêu cầu thời đại, Phật giáo Lý – Trần nói chung, Phật giáo Thiền Trúc Lâm nói riêng đã Đại Việt hoá, dân tộc hoá tư tưởng Thiền đạo và sáng tạo thêm một số tư tưởng cụ thể, sắc bén, thích hợp với hoàn cảnh Đại Việt lúc bấy giờ, làm nên bản sắc rất riêng của dân tộc, phần nào đáp ứng được yêu cầu của thời đại lịch sử xã hội. Ngoài tôn chỉ chung của Thiền là phá chấp, đốn ngộ, tâm truyền, thì Phật giáo Thiền tông thời Lý – Trần còn có những nét riêng như đưa Phật Thiền vào cuộc sống, phục vụ đất nước và nhân dân, tu dưỡng nhân cách con người. Thiền dung hợp với những yếu tố tích cực của Nho, của Lão - Trang để giúp con người phát triển toàn diện, phù hợp với sự phát triển của đất nước. Phật giáo Thiền tông Lý – Trần còn kết hợp với Tịnh độ tông và Mật tông cùng tín ngưỡng dân gian để phù hợp với thực tiễn và mang tính đại chúng. Riêng quan điểm tư tưởng của Thiền Trúc Lâm - một Phật giáo nhất tông đã tác động nhiều đến xã hội, giúp con người ta rèn luyện luân lý đạo đức hơn là tôn giáo, góp phần duy trì bình ổn xã hội Đại Việt thời đó, để tạo nên chiến công oanh liệt với ba lần đại thắng Nguyên Mông. Đồng thời, Phật giáo hồi này đã đào tạo nên những thiền sư tâm hướng về Phật mà lòng vẫn gắn bó với đời, với cuộc sống trần thế. Đó chính là “cư trần lạc đạo”. Có thể nói đây là một Phật giáo đầy sức sống mà tinh thần chung được Đệ nhất tổ Trúc Lâm Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đúc kết trong bài kệ ở cuối bài phú Cư trần lạc đạo:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tác xan hề, khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền. (25)
(Cõi trần vui đạo, hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền.
Báu sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm,
Vô tâm trước cảnh, hỏi chi Thiền,)
PGS.TS. NGUYỄN CÔNG LÝ (Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP. HCM)