Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Tư liệu về nền giáo dục miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa


sach_giao_khoa_vn-large
Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năngmà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”. Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.
 
1468720_354694488000497_1492264788_n
Phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn (Internet)

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim - được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc. Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.
 
PKý lễ
Một buổi lễ ở trường Petrus Ký ( trường Lê Hồng Phong ngày nay )
Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị. Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Namtrong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn. Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trunghọc, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng).
Cảnh giờ rước học sinh.
Cảnh giờ rước học sinh tan trường.

Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh vànhững bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển. Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo cóý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.
750Thay_Co_truong_QGNT
Thầy cô giáo (Giáo sư) thời VNCH

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu họcđến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” được chính thức hóa ởhội nghị này. Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa(1967).
vnch-giao-duc6

Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm.


1.
 Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.
Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa cáccá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôngiáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

vnch-giao-duc1 (1)


2
. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.
Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thốngtốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thếhệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong nhữngnền văn hóa khác.
Sinh viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964

Sinh viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964.


3
. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng
.
Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếpnhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinhthần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việchiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minhthế giới.
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

Mục tiêu giáo dục thời VNCH:

Bích chương của Bộ Y Tế VNCH
Bích chương của Bộ Y Tế VNCH


1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.
Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.

Thanh nữ VNCH
Thanh nữ VNCH

2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết,tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974
Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974


3
. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ýthức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệmvà kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.
Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn (Số 3 Công Trường  chiến sĩ)
Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn (Số 3 Công Trường chiến sĩ)

Giáo dục tiểu học:

Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa.
Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961.


Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (
thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi làlớp Năm đến lớp Nhất). Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc). Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]
Niên họcSố học sinhSố lớp học
1955400.8658.191
1957717.198[9]
19601.230.000[9]
19631.450.67930.123
19641.554.063[10]
19702.556.00044.104


Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. 
Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều. Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học(chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc).
Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa.
Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa. (Lớp Bốn lớp Năm bây giờ.)

Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lậphay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục. Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn quốc văn; 2 giờ bổn phận công dân và đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục). Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ sử ký và địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn quốc văn, công dân và sử địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.

Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.
Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ
.

Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).

Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản
Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản


Giáo dục trung học:

Các vị Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn
Các vị Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn

Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổngsố thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc). Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ởcác trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)… Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Tên gọi năm lớp bậc tiểu học
trước 1971sau 1971
lớp nămlớp một
lớp tưlớp hai
lớp balớp ba
lớp nhìlớp tư
lớp nhấtlớp năm
Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp
lớp đệ thấtlớp sáu
lớp đệ lụclớp bảy
lớp đệ ngũlớp tám
lớp đệ tứlớp chín
Tên các lớp trung học đệ nhị cấp
lớp đệ tamlớp mười
lớp đệ nhịlớp 11
lớp đệ nhấtlớp 12

Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký
Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký


Trung học đệ nhất cấp:

Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 năm 72- 73
Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 năm 72- 73

Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ . Các trường trung học công lập hàngnăm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%. Những học sinhkhông vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trảhọc phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần. Từ năm 1966 trở đi, môn võVovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường. Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp. Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.

Sân trường Marie Curie
Sân trường Marie Curie

Trung học đệ nhị cấp:
Nam sinh Võ Trường Toản
Nam sinh Võ Trường Toản

Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở. Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chường và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai. Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.
Số liệu giáo dục bậc trung học[8]
Niên họcSố học sinhSố lớp học
195551.465890
1960160.500[9]
1963264.8664.831
1964291.965[10]
1970623.0009.069


Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8. Tỷ lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu” hay “ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên), thí sinhđậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình”(14/20); “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20).

Thầy trò trường Gia Long
Thầy trò trường nữ Gia Long

Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrús Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh. Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.

Nữ sinh Lê Văn Duyệt
Nữ sinh Lê Văn Duyệt


Trung học tổng hợp:
Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là mộtchương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đemáp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn,kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinhnhững kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trunghọc. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị nhữngmôn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống. Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp,nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức, sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và SươngNguyệt Ánh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường  Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960


Trung học kỹ thuật:
Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B'Lao
Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’Lao

Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáodục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấphọc bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắtbuộc là tiếng Anh và tiếng Pháp. Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầuhết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng), Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM).
Hiệu trưởng Cao thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng.
Hiệu trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng.

Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử

Các trường tư thục và Bồ đề:
Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974
Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974

Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tưthục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học. Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.

Sân trường Bác ái (Collège Fraternité)
Sân trường Bác ái (Collège Fraternité)

Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng sốhọc sinh là 58.466. Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả cáctrường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhấtđịnh cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam. Chương trình học chính trongcác trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm. Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới).

Le Collège Fraternité - Bac Ai datant de 1908, se situe 4 - rue Nguyên Trai, Cho Quan.
Le Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4 – rue Nguyên Trãi, Cho Quan.


Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:

Saigon 17 March 1971 - Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành Thư viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.
Saigon 17 March 1971 – Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành Thư viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.

Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhậnhọc sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một đặc ân của chính phủ giúpđỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng. Hệ thống này bắt đầuhoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế,và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chủ đích của các trường Quốc gianghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không đượchuấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu sinhquân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.
Giáo dục đại học:
VienDaiHocVanHanh Saigon

Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm. 
Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh,hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.

Trong khuôn viên Học viện Quốc gia Hành chánh
Trong khuôn viên Học viện Quốc gia Hành chánh
Số liệu giáo dục bậc đại học
Niên họcSố sinh viên
1960-6111.708[45]
196216.835[10]
196420.834[10]
1974-75166.475[46]


Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy 
bằng cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…). Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng cao học hay tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteurde troisième cycle; tương đương thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ). Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.

Luat Khoa Sai gon
Đại học Luật khoa Sài Gòn


Mô hình các cơ sở giáo dục đại học:
Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hìnhviện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở). Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit). Mỗi viện đại học bao gồm nhiều phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặctrường hay trường đại học (tiếng Anh: school hay college; ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…). Trong mỗi phân khoa đại học hay trường đại học có các ngành(ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứngvới mộtban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).
Đại học sư phạm kỹ thuật Thủ Đức
Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật


Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.
Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc. Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam). Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.

25-khach_vieng_truong_01
Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật

Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học. Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.

Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn
Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập. Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngànhhọc. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, vàTrường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật Tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện. Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học”cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hìnhviệnđại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của QuốcHội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các“đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”.
Các viện đại học công lập:
Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Namđổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trướcnăm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưngsau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từnăm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh. Vào thời điểm năm1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.
Viện Đại Học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa.

Hàng đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ trưởng Bộ QG Giáo dục , Viện trưởng Viện Đại học Huế đầu tiên ( tháng 3/1957-7/1957 ) Giữa Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm , bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965
Hàng đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ trưởng Bộ QG Giáo dục , Viện trưởng Viện Đại học Huế đầu tiên ( tháng 3/1957-7/1957 ) Giữa Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965

Viện Đại Học Cần Thơ: Thành lập năm 1966với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức:Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972).

Các viện đại học tư thục
Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.
Viện Đại học Đà lạt
Viện Đại học Đà lạt
Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoađại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học& Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinhviên.
Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973
Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973
Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3Tháng Hai), Quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam QuốcTự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm việntrưởng. Viện Đại học Phương Namcó 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thậpniên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.

Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn

Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phânkhoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quảntrị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.
Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài
Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoahọc Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại họcnày do Giáo hội Công Giáo điều hành.
Các học viện và viện nghiên cứu
Viện Pasteur Nha Trang
Viện Pasteur Nha Trang
Học Viện Quốc Gia Hành Chính:Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền nhưthuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận10, Sài Gòn. Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc(1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.
Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v. với những chuyên môn đặc biệt.
Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.
Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.

Các trường đại học cộng đồng:
Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở ĐàNẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.
Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.
Các trường kỹ thuật và huấn nghệ:
Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật


Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tươngđương với cấp đại học.
Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc.[74] Qua từng giai đoạn Trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.

Trường Cao đẳng Điện học
Trường Cao đẳng Điện học

Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức
Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia:Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.
Các trường nghệ thuật:
Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn TâyPhương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.

Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu Trần Thanh Tâm (đờn kìm) Phan Văn Nghị (đờn cò) Trương Văn Đệ (đờn tam) Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh)
Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh).

Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế:Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát 
Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.
Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật:thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).
 
Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hìnhvới các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ (1954-1966).
Sinh viên du học ngoại quốc:
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

Trang trong sách Địa Lý lớp Ba
Trang trong sách Địa Lý lớp Ba

Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất bản năm 1967
Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]

Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba
Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba

Trang bìa cuối sách Địa Lý lớp Ba

Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo. Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với 
UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.

KohoReader

Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức:

Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.  Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères
Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường cao đẳng sư phạm ởBan Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn[85] Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.[86] Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt.[87] Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp.[88] Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.[89] Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm).[90] Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.[91]

Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn
Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn

Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…[87]
Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa.[56]

Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đời sống và tinh thần giáo chức:

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.[87]

Scan_Pic0046
Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Sư Phạm.

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

Chứng chỉ Tú Tài 1
Chứng chỉ Tú Tài 1

Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.[27]

Chứng chỉ Tú tài 2
Chứng chỉ Tú Tài 2

Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.[27]

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:[96]
Phan_Huy_Quat
Ông Phan Huy Quát

ĐÁNH GIÁ

hocba1950
Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950

Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:
“Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.
…
Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.” ( Trích từ nguồn Blog Lý Toét )
Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 ( tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn làViệt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.” Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) vàPhạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]
Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt,[105]nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Tôi là con của một cán bộ Việt Minh– tham gia Cách mạng tháng Támtại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…“[106]
Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê: “Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.“[107]

(Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen)

Huỳnh Minh Tú (biên tập và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet)

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2016

Tiếng Lóng Sài Gòn

Lê Văn Sâm



Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời 'tiếng lóng' khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.
Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành một chùm tiếng lóng 'sức mấy' để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố "Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám."
Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn nhiễu nhương, quê hương chiến tranh buồn phiền;'sức mấy' đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt 'tính tính tè tè, tè ti tè ti té', làm cho đường phố càng náo loạn hơn.
Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra cụm từ tiếng lóng 'xưa rồi Diễm ơi', mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó, mà người nghe muốn gạt phăng đi.
Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng bóng 'Cai gà', gọi cảnh sát là 'mã tà', vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành 'mã tà'. Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: 'gác dan' tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dan. Cũng như nói 'de cái đít' tức lùi xe arriere; tiền bồi dưỡng người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi 'tiền boa', sau này chế ra là 'tiền bo'.
Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi ngân hàng là nhà băng, gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là 'con cò', còn nếu gọi 'ông cò' là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi 'thầy cò' tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói 'cò mồi' là tay môi giới chạy việc, 'ăn tiền cò' thì cũng giống như 'tiền bo', nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.
Thời kinh tế mới phát triển, đi xe auto gọi là đi 'xế hộp', đi xe ngựa gọi là đi 'auto hí', đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là 'xe điếc', đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là 'đi Cấp', đi khiêu vũ gọi là 'đi bum', đi tán tỉnh chị em gọi là đi 'chim gái', đi ngắm chị em trên phố gọi là 'đi nghễ', gọi chỉ vàng là 'khoẻn', gọi quần là 'quởn', gọi bộ quần áo mới là 'đồ día-vía'. Đi chơi bài tứ sắc các bà gọi là 'đi xòe', đi đánh chắn gọi là 'múa quạt', đi chơi bài mạt chược các ông gọi là 'đi thoa', đi uống bia gọi 'đi nhậu', đi hớt tóc gọi đi 'húi cua'. Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 – 1950 du nhập Sài Gòn, đó là 'đi đầu dầu', tức các chàng trai ăn diện 'đi nghễ' với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là 'hết sẩy', quê mùa chậm chạp gọi là 'âm lịch', hách dịch tự cao gọi là 'chảnh'.
Tiền bạc gọi là 'địa', có thời trong giới bụi đời thường kháo câu 'khứa lão đa địa' có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là 'xù', 'xù tình', tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là 'bắt địa', ăn cắp là 'chôm chỉa', tương tự như 'nhám tay' hay 'cầm nhầm' những thứ không phải của mình.
Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng 'hia mão', có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi 'kép chầu', có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được nhập biên chế gánh hát, đêm đêm họ cũng xách valyse trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì 'kép chầu' thay thế vào ngay. 'Kép chầu' phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.
Đào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là 'đào thương', kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là 'kép độc'. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là 'café à la… ghi' tức uống café thiếu ghi sổ…
Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi 'nhật trình'. Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là 'tin kho tiêu', các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là 'tin chó cán xe', tin quan trọng chạy tít lớn gọi là'tin vơ-đét' vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là 'luộc bài', chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là 'xào bài', truyện tình cảm dấm dớ gọi là 'tiểu thuyết 3 xu', các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là 'báo lá cải'. Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là 'tin phịa', nhưng trong 'tin phịa' còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là 'tin ballons' tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là 'tin Cá tháng Tư'.

Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Đó là 'tịch', 'hai năm mươi', 'mặc chemise gỗ', 'đi auto bươn', 'về chầu diêm chúa', 'đi buôn trái cây' hay 'vào nhị tỳ'; 'nhị tỳ' thay cho nghĩa địa và 'số dách' thay cho số một… đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.
Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là 'vòng vo Tam Quốc', ai nói chuyện phi hiện thực gọi là 'chuyện Tề Thiên', tính nóng nảy gọi là 'Trương Phi'. M ột số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là 'Nhạc Bất Quần' tức ám chỉ người ngụy quân tử, gọi là 'Đoàn Chính Thuần' tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé…
Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng 'ăn theo' mà ra đời.
Thời Mỹ đến thì một tiếng 'OK Salem', mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là 'sén' hay'chó lửa', dân chơi miệt vườn gọi 'công tử Bạc Liêu' còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ 'dân chơi cầu ba cẳng' thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi 'dân chơi cầu ba cẳng'? Đó cũng là lúc các tiếng lóng như 'dân xà bát', 'anh chị bự', 'main jouer' tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là 'anh hùng xa lộ', bị bắt gọi là 'tó', vào tù gọi là 'xộ khám'. Bỏ học gọi là 'cúp cua', bỏ sở làm đi chơi gọi là 'thợ lặn', thi hỏng gọi là 'bảng gót'. Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó 'đi ăn chè' trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.
Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như 'chà đồ nhôm' tức chôm đồ nhà, 'chai hia' tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với 'cưa đôi'. Lóng thời sự loại này có 'tô ba lây đi xô xích le' tức Tây ba lô đi xe xích lô. Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than 'buồn như chấu cắn', hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng 'lu bu' để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm 'lu xu bu' nại lý do không rõ ràng để trốn việc.

Để tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành 'quả tó', gọi chiếc xe Honda là 'con rim', gọi tờ giấy 100 USD là 'vé', đi ăn cơm bình dân gọi là 'cơm bụi', xuống phố dạo chơi gọi là 'đi bát phố', gọi người lẩm cẩm là 'dở hơi'…

Nhưng lý thú nhất là nhờ cụ cố nhà văn Nguyễn Tuân mà Sài Gòn nay có một tiếng lóng hiện đại thay cho cụm từ đi ăn nhà hàng theo American style – tiền ai nấy trả. Đó là cụm lóng KAMA, ghép bốn chữ tắt của 'không – ai – mời – ai'. Đi KAMA phở một cái, tức cùng đi ăn phở mà không ai mời ai, món ăn cổ truyền nhưng ứng xử là thoải mái. Vào thời văn minh hiện đại, ngôn ngữ tiếng Anh trở thành phổ biến, giới trẻ đã chế ra một tiếng khá văn hoa, như chê một ai đó chảnh, các cô nói 'lemon question' tức chanh hỏi – chảnh - (mở ngoặc: hoặc nói chệch đi: lê-mông-wét-trần! )

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2016

CHUYỆN NÀNG ĐIỂM BÍCH TRONG “TỔ GIA THỰC LỤC” - MỘT TRỨNG TU HÚ TRONG TỔ CHIM SÂU

Lịch sử ghi nhận các triều đình phương Bắc sau khi xâm lược Đại Việt ngoài chuyện áp đặt sự cai trị khốc liệt của họ còn luôn chú ý tới việc xóa bỏ văn hóa Việt để dễ bề đồng hóa. Rất nhiều tài liệu, văn bản Việt bị quân xâm lược thu vét đốt bỏ hoặc đưa về văn khố của nước họ nhằm chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài: xóa sổ bằng nhiều thủ đoạn trong đó có thủ đoạn cố tình xuyên tạc bằng cách sửa chữa, thêm bớt trên chính các văn bản Việt mà họ chiếm được.

Câu chuyện về nàng Điểm Bích liên quan tới Thiền sư Huyền Quang -  Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền độc đáo và ghi đậm dấu ấn Đại Việt, xuất hiện trong dòng tư tưởng khẳng định chủ quyền độc lập của người Việt, là một ví dụ về thủ đoạn xuyên tạc của người láng giềng phương Bắc.

Tác giả Viên Như với những phát hiện và bằng chứng cụ thể đã phân tích, lý giải khá rõ ràng thủ đoạn xuyên tạc văn bản dẫn tới sự bôi nhọ và gây hoang mang trong sự hiểu biết của người đời sau đối với thanh danh của bậc tiền bối có công trạng trong cuộc kháng chiến chống xâm lược.  Đây là một trong những chi tiết nhỏ trong hàng loạt vấn đề mà tác giả Viên Như đã dày công tìm tòi, nghiên cứu và lý giải về một chủ đề "Giải mã các nghi án nghìn năm", phân tích nhiều thủ đoạn xuyên tạc lịch sử Việt Nam, thực hiên mựu đồ xóa văn hóa Việt để đồng hóa của các triều đình phương Bắc.

Thủ đoạn thâm hiểm này của người láng giềng phương Bắc hiện cũng vẫn chưa dừng lại và đang ngày càng tinh vi, ác liệt hơn.


CHUYỆN NÀNG ĐIỂM BÍCH TRONG “TỔ GIA THỰC LỤC” - MỘT TRỨNG TU HÚ TRONG TỔ CHIM SÂU 


VIên Như

Tưởng niệm 677 năm ngày mất của thiền sư Huyền Quang 23-1- Giáp tuất (1334) 23-1-Tân mão (2011). 
Viên Như Nghiên cứu về Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334) Tổ thứ 3 Thiền phái Trúc Lâm

Hiện nay chúng ta chỉ có sách Bản Hạnh Ngữ Lục (BHNL) được biên tập lại trong sách Tam tổ Thực Lục (TTTL) với tiêu đề ấy nhưng chỉ có duy nhất phần Tổ Gia Thực Lục (TGTL) vài ghi chú trong một số văn bia và 25 bài thơ được cho là trích từ các tập thơ đã mất cùng một bài phú vịnh Chùa Hoa Yên. Việc thiếu tài liệu về một con người tài hoa và nhiều bí ẩn như vậy khiến cho việc nghiên cứu về nhân thân của ông hết sức khó khăn. Nhất là tác phẩm hiện còn lại gây ra nhiều suy nghĩ tiêu cực về cuộc đời của ông trong đó chủ yếu là sách Tổ Gia Thực Lục. Có lẽ chính vì ảnh hưởng của nội dung sách này nên từ trước đến nay đa số người dịch bài Xuân Nhật Tức Sự của ông đều cho rằng ông bị ảnh hưởng chuyện trần tục từ đó cung cấp cho người đọc những khái niệm sai lệch về một con người tài hoa một thời. Ngày nay hậu thế thường nghiên cứu các sự kiện lịch sử hay văn thơ xưa chủ yếu qua các bản dịch. Hoặc do trình độ chữ Hán giới hạn hoặc lười biếng nên tin vào bản dịch từ đó tư duy bình luận chủ yếu dựa vào bản dịch cùng với chú thích của tác giả. Tôi cũng không ngoại lệ nhưng nhiều lần đọc thơ ông bổng dưng thấy cảm cái cô đơn trong thơ ông từ đó một câu hỏi “Điều gì đã xảy ra với ông?” luôn xuất hiện trong tôi mỗi khi nhắc đến tên ông rồi một hôm đọc bản Tổ gia thực lục bằng chữ Hán tôi chợt nhận ra rằng có nhiều điều cần phải bàn về tác phẩm này từ văn phong cách dùng từ mốc thời gian. Tôi nghĩ rằng có thể từ những phát hiện này ta có thể có cách nhìn khác hơn về tác phẩm này chăng. Trong phạm vi bài viết này tôi xin trình bày những gì mà tôi cho rằng tác phẩm này “có vấn đề” hay nói khác hơn là về tính chân thực của tác phẩm “Tổ Gia Thực lục” . Về xuất xứ : Theo phần chú ở cuối sách thì sách TGTL nguyên trước được Thượng Thư Hoàng Phúc mang về Trung Quốc vào đời Tuyên Đức nhà Minh (1426 – 1435) trong đợt càn quét sách vở nước Đại Việt mang về Kim Lăng. Từ khi mang sách này về Trung Quốc Hoàng Phúc thường nằm mộng thấy Huyền Quang bảo phải gởi sách về Đại Việt nhưng chưa có dịp thực hiện trước sự linh ứng ấy ông cho làm một ngôi chùa lấy tên là “ An Nam Thiền Sư Huyền Quang Tự” Đến năm Gia Tĩnh triều Minh Tô Xuyên Hầu (Lê Quang Bí đậu Hoàng Giáp năm 1526 làm quan đến chức Binh Bộ Thị lang) nhà hậu Lê đi sứ gặp cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa đưa cho mang về. Khi về nước ông lại đưa sách này cho Nguyễn Bỉnh Khiêm từ ấy sách này được lưu truyền tại nước Việt. (60a 60b) Về tác giả Sách TGTL không ghi do ai soạn. Hoà Thượng Thích Thanh Từ thì cho rằng một người trong gia tộc viết lại(2) có lẽ căn cứ vào tên sách. Tuy nhiên nội hàm ngữ nghĩa của từ Tổ Gia Thực Lục chứa đựng một nghĩa rộng hơn “Ghi chép về Gia thế của Tổ” nếu ta đọc kỷ nội dung và cách trình bày sách TGTL thì ta sẽ khó có thể nghĩ rằng một người trong gia tộc của ông lại viết như thế được bố cục và nội dung của bản Tổ Gia Thực Lục này cho thấy rỏ điều đó. Về nội dung Nếu so sánh tiểu sử của Điều Ngự và Pháp Loa trong Tam Tổ Thực Lục thì những gì được ghi lại về Huyền Quang trong TGTL quá ít ỏi chủ yếu nói về chuyện Điểm Bích không những ít mà còn có nhiều chổ mâu thuẩn và bất cập. Tuy nhiên như thế vẫn còn may mắn vì ít ra còn có một chút gì đó để những người nghiên cứu có thể căn cứ vào đó để đi vào quá khứ và từ đó có thể hiểu được đôi chút về cuộc đời của Thiền sư Huyền Quang. Phương pháp sáng tác Phần đầu và phần kết thì viết theo lối tiểu sử của các cao tăng nhưng đoạn giữa chủ yếu là viết về chuyện nàng Điểm Bích theo lối tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc diển nghĩa của Trung quốc. Điều này ta không tìm thấy trong bất cứ tiểu sử nào của thiền sư Việt nam. Đi vào tác phẩm Toàn bộ tác phẩm gồm : I - TRANG BÌA VỚI TIÊU ĐỀ “BẢN HẠNH NGỮ LỤC”. II – NỘI DUNG SÁCH TGTL : Từ trang 49a tới 60b –là 12 tờ mỗi tờ 2 trang thành 24 trang chia làm 3 phần như sau : A - Từ tờ 49a nửa tờ 51b nói về giòng họ truyền thuyết về sự ra đời của ông (như hầu hết các của các vị cao tăng) thời niên thiếu và chuyện trước khi đi tu nguyên nhân đi tu. (4 5 trang). B - Từ nửa trang 51b tới nửa trang 59b nói về chuyện Điểm Bích (17 trang). C - Từ nửa trang 59b tới nửa trang 60a nói về thời gian cuối đời của ông. (1 trang). D - Từ nửa trang 60a tới trang 60b nói về nguồn gốc lưu hành sách TGTL 2 do người đời sau chú thích. I - TRANG BÌA VỚI TIÊU ĐỀ “BẢN HẠNH NGỮ LỤC”. Trước sách TGTL ta thấy có tờ bìa ghi Bản Hạnh Ngữ Lục như vậy chứng tỏ rằng có một cuốn sách tên là Bản Hạnh Ngữ Lục TGTL chỉ là một phần trong sách ấy mà thôi có nghĩa rằng trong sách Bản Hạnh Ngữ Lục còn có những phần khác ghi lại những giáo huấn của thiền sư Huyền Quang có thể bao gồm các tác phẩm thơ văn những đối đáp của ông với đệ tử kinh sách mà ông đã trước tác như nghĩa của từ “ngữ lục” mang lại mà muốn ghi lại những lời dạy cũng như các tác phẩm thơ văn của ông thì nhất định phải là đệ tử xuất gia thân cận với ông. Tuy nhiên hiện nay chỉ còn lại phần TGTL với nội dung gây nên nửa tin nửa ngờ còn những phần khác có thể bị hủy hay nhập vào một tác phẩm nào đó ở phương bắc. Như thế tôi cho rằng trong số sách vở của Đại Việt được mang về phương bắc có cuốn Bản Hạnh Ngữ Lục trong đó có phần TGTL với nội dụng đầy đủ ở đây tôi tạm gọi là TGTL1 dựa vào cuốn TGTL1 này họ xào nấu lại đưa câu chuyện Điểm Bích vào gởi về nước Việt từ đó ta có cuốn TGTL đang lưu hành hiện nay tạm gọi là TGTL2. Như thế việc gởi sách TGTL2 về nước Việt là có dụng ý từ nhận định này ta thấy cần phải xem xét lại tính chân thật của tác phẩm này. II – NỘI DUNG SÁCH TGTL : II/A - Nói về dòng họ quê quán sự nghiệp của ông .Từ tờ 49a nửa tờ 51b (4 5 trang). Nói một cách vắn tắc về quê quán dòng họ chức vụ công trạng từ thỉ tổ cho đến cha mẹ của ông truyền thuyết về sự ra đời của ông với tư chất thông minh từ thời niên thiếu có thể sánh với Á Thánh Nhan Hồi nên đặt tên là Tải Đạo rồi đến năm 20 tuổi thi Hương năm sau thi Hội (đại khoa) đổ khôi thủ . Qua đoạn mở đầu này người đọc dễ có nhận thức rằng người viết phần TGTL2 này chắc chắn là đệ tử thân tín của ông. Bởi vì chỉ với những người ấy mới có thể nắm chắc được tên họ chức vụ công trạng của cha mẹ ông nội ông cố ông sơ của ông như vậy cho dù có sửa đổi chút ít. Cá nhân tôi lâu nay cũng tin như vậy. Tuy nhiên đây chính là nhược điểm của người đọc bởi vì mỗi khi tin như vậy rồi thì những phần khác cũng không thắc mắc gì nữa đây là một thủ thuật mà nhiều kẻ lừa đảo vẫn thường sử dụng. Trước hết chúng tạo niềm tin làm cho đối phương mất cảnh giác rồi sau mới ra tay chính vì vậy việc để nguyên đoạn đầu này là để thực hiện ý đồ như đã nói. Tuy nhiên ngay trong đoạn mở đầu này kẻ dấu mặt kia do chủ quan và có thể không phải sửa vào thời Trần và trên đất Đại Việt nên cũng đã để lại nhiều sai lầm như sau : 1 - Theo Lịch sử thì ông tên là Đạo Tái(Tải) chứ không phải là Tải Đạo như TGTL2 đã ghi. Điều này chứng tỏ rằng người viết lại đoạn này suy nghĩ trật tự từ ngữ theo lối Trung quốc nên mới viết “ Đạo tải” thành “ Tải Đạo”. 2 - Năm 21 tuổi ông mới thi Hương chứ không phải là năm hai mươi(niên nhị thập) như TGTL2 viết vì theo lịch sử thì năm Ất Hợi 1275 mới có Đại khoa tức thi Hội (3) ông sinh năm 1254 như vậy năm đó ông đã 22 trước kỳ thi Hội một năm là thi Hương như vậy ông thi Hương vào năm 21 tuổi. Lý do cho việc sai lầm này là vì kẻ viết lại phần TGTL2 này chủ quan vì chữ “nhất” trong chữ Hán chỉ là một gạch ngang quá đơn giản nên dễ bị rơi rụng hơn nữa kẻ ấy có lẽ nghĩ rằng 20 hay 21 thì có hề gì đâu ngờ rằng ở Đại Việt suốt một thời gian dài nhà Trần mới có thi Hội chứ đâu phải mỗi năm mỗi thi; đồng thời mỗi kỳ thi đều được ghi lại trong lịch sử. Với những gì đã nêu rỏ ràng tác phẩm này (cụ thể là phần II/B) không thể do đệ tử thân tín hay người trong gia tộc viết được. 3 - Năm 1247 nhà Trần đặt ra danh hiệu Tam khôi để chỉ ba người xuất sắc nhất trong số thí sinh thi đổ theo thứ bậc cao thấp là: Trạng nguyên Bảng nhãn và Thám hoa (4). Vậy ông đổ khôi thủ có nghĩa là ông đổ trạng nguyên ngoài tài liệu TGTL2 này ta còn có nhiều chứng cứ cho thấy rằng ông đổ Trạng nguyên năm đó (1275) nhưng theo lịch sử khoa thi năm đó Trạng nguyên là Đào Tiêu Bảng nhãn khuyết danh và thám hoa là Quách nhẫn (5). Tại sao có điều này?. Rỏ ràng có bàn tay lông lá nào đó đã sửa đoạn này bởi vì nhà Trần mở khoa thi là để tìm kiếm người tài để phục vụ triều đình vậy tại sao trạng nguyên Đào Tiêu hầu như không để lại một danh tiếng gì. Trong khi đó Lý Đạo Tái thì làm đến quan Hàn Lâm (có lẽ tương đương bộ Ngoại giao bây giờ) tiếp sứ phương Bắc văn thư qua lại ngôn ngữ văn chương vượt cả lân bang ấy vậy mà không có tên trong khoa thi này. Như thế chí ít thì chổ khuyết danh đó là Lý Đạo Tái. Tuy nhiên với những gì đã nêu cùng nhiều chứng cứ về việc Lý Đạo Tái đã đổ Trạng Nguyên khoa thi năm Ất Hợi 1275 ta có thể nghĩ rằng : chổ khuyết danh đó chính là vị trí của Đào Tiêu. Nhưng tại sao lại có chuyện chuyển đổi và xóa bỏ này? Ai đã làm điều đó? Làm như thế với mục đích gì? Đó là những câu hỏi cần phải tìm hiểu. 4 - Có một điểm cần phải lưu ý là : Ở đoạn này đại từ để chỉ cho Ts Huyền Quang là “TỔ”. Tổng cộng 5 lần. II/B - Về chuyện Điểm Bích. Từ nửa trang 51b tới nửa trang 59b (17 trang). 1 –Toàn bộ phần viết về Huyền Quang là 22 5 trang mà riêng phần nói về Điểm Bích chiếm 17 trang như thế ta thấy phần này đã chiếm hết ¾ cuốn TGTL2 này. Vậy ta có thể nói rằng mục đích của cuốn TGTL2 này là viết về chuyện Điểm Bích. Chính vì vậy từ đây văn phong hoàn toàn khác với đoạn trước cách dùng từ cũng khác có những lầm lẫn mà từ đó ta có thể thấy rằng kẻ nhào nặn ra cái nội dung hổn hợp này chắc chắn không phải là người Việt và không viết trên đất Việt cho dù có mặt của một bài thơ Nôm. 2 - Trước tiên ta thấy đoạn này người viết theo lối tiểu thuyết chương hồi như kiểu Tam Quốc chí như: “khước thuyết Tổ thiếu thời(51a) khước thuyết sư khai sáng(53a ) khước thuyết sư chí Vân Yên(53b) khước thuyết Thị Bích đắc kim tử bái hồi gia(57b)- Lại nói về lúc trẻ của Tổ lại nói về khi sư khai sáng lại nói về sư đến chùa Vân Yên lại nói về khi Thị Bích được vàng rồi từ biệt về nhà”. So sánh truyện Tam Quốc diễn nghĩa “Khước thuyết Tào Tháo hồi quân khước thuyết Trần Đăng hiến kế vu Huyền Đức viết khước thuyết đế tại Lạc Dương v.v..- Lại nói về Tào Tháo lui binh lại nói Trần Đăng hiến kế Huyền Đức nói lại nói về vua tại Lạc Dương v.v.”. Rỏ ràng toàn bộ đoạn này được sáng tác rồi ghép vào cuốn TGTL2. 3- Do đây là một đoạn được sáng tác ra để đưa câu chuyện Điểm Bích vào với ý đồ nhập nhằng chuyện phụ nữ nên ngay đoạn đầu người viết đã chọn đoạn nói về chuyện nghị hôn của tổ lúc còn trẻ ở nhà để bắt đầu cho câu chuyện “khước thuyết tổ thiếu thời ……Sinh vương chi tôn”(51a) 4 - Chính vì vậy kể từ sau đoạn dẩn này người viết dùng đại từ “sư” (26 lần) thay vì “tổ” như đoạn trước để chỉ HQ . Điều này chứng tỏ nội dung đoạn này do một người khác sáng tác nên mới có sự bất nhất như vậy. 5 - TGTL2 viết “Tổ theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phụng Nhãn thấy Quốc sư Pháp Loa (1284 -1330) thuyết pháp sau đó dâng biểu ba lần từ quan được chấp thuận liền thọ giáo với Pháp Loa hiệu là Huyền Quang” (51b). Lúc này Huyền Quang đã 50 tuổi mà Pháp Loa nhỏ hơn Huyền Quang 30 tuổi có nghĩa là năm ấy chỉ mới 20 tuổi . Trong khi đó Pháp Loa xuất gia với Điều Ngự năm 1304 lúc 21 tuổi (6). Như vậy Pháp Loa này là Pháp Loa nào? cũng trong đoạn này người viết lại dùng “Quốc sư Pháp Loa” lẽ nào Pháp Loa làm quốc sư khi chưa đi tu. Điều này một lần nữa chứng tỏ người viết lại cuốn sách này không ở tại nước Việt. 6 - Do không phải là người Việt nên người viết đoạn này không biết rằng “Điều Ngự Giác Hoàng” là Đạo hiệu của Trần Nhân Tông (1258 -1308) sau khi đi tu chứ không phải là hiệu của vua do đó mới sửa “Điều Ngự Giác Hoàng” thành “ Điều Ngự hoàng đế (52a)”. 7 - “Ngày rằm tháng giêng năm Quý mão”(52b). Đúng ra là năm Quý sửu nhưng người viết nhầm thành Quý mão việc nhầm lẫn này không phải không có lý do. Như ta biết Huyền Quang sinh năm Giáp dần như vậy năm ông 60 tuổi là năm Quý sửu nhưng ở đây nhầm thành Quý mão nguyên do là vì chi Dần nằm giữa hai chi Sửu và Mão (Sửu – Dần – Mão)theo cách tính tuổi can chi trên bàn tay thì khi một ai đó nói năm nay tôi 60 tuổi. thì người tính biết ngay là chi tuổi của người đó nằm liền phía sau chi năm đó vì vậy năm đó là Quý sửu Huyền Quang 60 tuổi chi Dần là hoàn toàn chính xác. Trong trường hợp này thì người viết lại cuốn TGTL2 này không phải viết vào năm Quý sửu mà có thể viết rất nhiều năm sau đó nên lấy chi tuổi (dần)của Huyền Quang để tính ngược lại nên mới có sự nhầm ra là Quý Mão vì chi Mão nằm sau chi Dần. Việc quan tâm tới tuổi của Huyền Quang là có dụng ý nên sau đó người viết đã lập lại “ khước thuyết sư chí Vân Yên chính quý sửu niên thời sư lục thập tuế”. Lại nói Sư đến Vân Yên đúng vào năm Quý Sửu lúc đó Sư 60 tuổi”. Rỏ ràng người viết muốn nhấn mạnh độ tuổi hay ta có thể hiểu ý người viết là “ 60 tuổi rồi mà…” vì đây là đoạn bắt đầu chuyện Điểm Bích với những chi tiết như một truyện ngắn cho tới “ Xưng vi tự pháp – gọi là nối pháp(59b)”. II/C - Nói về thời gian cuối đời của ông. Từ nửa trang 59b tới nửa trang 60a (1 trang). Trong đoạn này người viết do nối hai đoạn lại với nhau nên vẫn còn dùng đại từ “sư” cho đến câu cuối cùng mới dùng “Tổ”(1 lần ) “Thị nhật vi Tổ kỵ nhật” việc này cũng như đoạn nối đầu cũng dùng “tổ” sau mới dùng “sư” để chỉ Huyền Quang đó là cách làm cho liền lạc văn mạch. Nếu là đệ tử lẽ nào viết về nhưng năm tháng cuối đời của thầy mình quá ư đơn sơ như vậy. 

KẾT LUẬN : 1 - Căn cứ vào lối hành văn cách dùng từ việc liệt kê các tên họ chức vụ công trạng những vị tiền hiền của thiền sư Huyền Quang ở đoạn II/A và sự liệt kê cụ thể ngày tháng năm ông mất tại đoạn II/C ta có thể tin rằng hai đoạn này tuy có sửa đổi đôi chút nhưng hầu hết là được chép lại từ phần đầu và phần cuối của sách TGTL1 trong cuốn Bản Hạnh Ngữ Lục; Đồng thời căn cứ vào tên sách TGTL cùng cách xưng hô “Tổ” ở đoạn đầu và cuối ta có thể tin rằng người viết sách TGTL1 là đệ tử xuất gia của ông có thể là An Tâm vì chỉ có người xuất gia và đệ tử mới dùng từ “Tổ” cho thầy mình. 2 - Với đoạn II/B . A - Như đã phân tích trên với cách hành văn kiểu tiểu thuyết chương hồi của Trung quốc cách xưng hô hoàn toàn khác với đoạn II/A và II/C “sư” thay cho “tổ” cùng nhiều nhầm lẫn khác ta có thể nói chắc rằng đoạn này đã được ai đó sáng tác rồi đưa vào cuốn TGTL1 làm thành cuốn TGTL2 với nội dung chủ yếu là chuyện Điểm Bích như ta đang biết ngày nay. – Chỉ riêng dung lượng của đoạn này đã chiếm ¾ sách TGTL2 lẽ nào đệ tử viết cuốn sách với tiêu đề TGTL lại sử dụng hầu hết nội dung để nói về nàng Điểm Bích một cách tường tận như thế từ nơi sinh ra lớn lên tính tình đọc phần này ta thấy người viết câu chuyện này nhất định là người thân của Điểm Bích và là một trong những quan đầu triều. Bởi vì nếu không như thế thì làm sao mà biết quá rỏ sự việc như vậy. Tất nhiên nói như thế là hoàn toàn chính xác vì nàng Điểm Bích do những kẻ ấy đẻ ra cái triều đình ấy cũng do họ dựng nên thì tất cả với họ chỉ là một mà thôi. B – Đặc biệt trong đoạn này lại nói đến chuyện nàng giỏi “quốc ngữ” theo tôi hiểu quốc ngữ ở đây là “Chữ Nôm” đây là kỷ thuật thông báo trước chuẩn bị cho việc xuất hiện bài thơ Nôm tại phần cao trào mà thôi.Tuy nhiên chính sự xuất hiện của bài thơ Nôm này cho ta biết rằng đoạn thêm vào này không thể không có sự giúp sức của tay sai người Việt. Đồng thời nó đã nói lên đoạn II/B được viết vào thời Lê hoặc sau đó vì Hoàng Phúc mang sách này về Kim Lăng sau khi họ chiếm Đại Việt bắt cha con Hồ Quý Ly mà như lịch sử cho biết chỉ đến thời Hồ Quý Ly ông mới đề cao và gọi chữ Nôm là Quốc ngữ. (7) C - Như đã phân tích trên đoạn II/B(chuyện ĐB) này là được thêm vào do đó nếu ta bỏ đoạn II/A và II/C thì cũng không ảnh hưởng gì nội dung của đoạn II/B này vì tự nó đã là một tác phẩm rồi. Như vậy mục đích những kẻ tạo ra câu chuyện ấy là gì? Ta có thể nói rằng những người thực hiện âm mưu này hết sức khôn ngoan thay vì nói xấu thì cuối cùng lại đưa ra giải pháp giải oan mù mờ bởi vì nếu không kết như vậy thì người đọc quá dễ nhận ra phần giả mạo nhưng cho dù như thế thì họ cũng đã đạt được mục đích mà họ mong muốn đó là : Một mũi tên nhưng bắn được nhiều mục tiêu: 1 - Vua tôi nhà Trần chẳng chính nhân quân tử gì! Ngay cả một trạng nguyên hai nước như Mạc Đỉnh Chi mà lại tham mưu cho vua những chuyện mà một kẻ bình thường cũng không nên làm. Đồng thời vẽ nên hình ảnh triều đình nhà Trần như những kẻ vô công rổi nghề. Chính kẻ viết phần này cũng đã dùng ngay chuyện Điểm Bích để nói điều đó. Vua nghe nói thì lòng buồn không vui than rằng. “Việc này nếu có thật thì chỉ là cái kế ngang qua cửa giăng lưới bắt chim của ta nếu không thì ông ta cũng khó tránh được mối ngờ “ngồi xỏ giày nơi đám ruộng dưa”(58b). Đồng thời làm cho hậu thế nghĩ rằng ngay cả cha mình thái thượng hoàng là thiền sư nhưng vua quan nhà Trần cũng chẳng thích gì Phật giáo mục đích là gây chia rẽ giữa triều đình với Phật giáo ít ra là người bình thường sẽ nghĩ như vậy. 2 - Thông qua sách TGTL2 họ đã xây dựng một hình ảnh thiền sư Việt Nam chủ yếu là cúng bái hay nói khác là mê tín dị đoan. Điều này không phải chỉ xảy ra với HQ mà trước đó ta có Minh Không Không Lộ Giác Hải cũng được xây dựng hình ảnh như vậy từ những truyền thuyết của những kẻ ném đá dấu tay. 3 - Đánh vào Huyền Quang là đánh vào tổ chức Phật giáo đời Trần nói rộng là Phật giáo Việt Nam. Bởi vì chỉ duy nhất ở Việt Nam và đời Trần mới có Vua đi tu Trạng nguyên cũng đi tu. Câu chuyện Điểm Bích với một cái kết không rỏ ràng là một đòn tung hỏa mù vào lịch sử truyền thừa của thiền phái Trúc Lâm. Điều này không phải không có tác dụng vì ngày nay có nhiều kẻ cho rằng cho dù có biện minh gì thì khó mà nghĩ rằng chuyện đó không có thật thậm chí có kẻ viết sách than phiền rằng tu hành mà quá nghệ sĩ tay cầm dùi mõ tay ống sáo thì làm sao mà truyền bá đạo pháp rộng rãi được nên Phật giáo đời Trần từ sau Huyền Quang suy vong dần là có phần lỗi của ông. 4 - Huyền Quang lớn hơn Trần Nhân Tông 2 tuổi đổ trạng nguyên rồi ra làm quan trong thời gian này nước Việt tiến hành hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông(1285 1287)đều đưa đến thành công. Chắc chắn với tư cách là quan đương triều ông đã tham mưu cố vấn cho Trần Nhân Tông nhưng không thấy lịch sử ghi lại về ông trong trong giai đoạn này có thể ông đã là một trong những nhân vật đóng góp nên cuộc chiến thắng nên sau khi hòa bình lập lại qua con đường tiệm tiến đối phương đã dùng chính người đồng liêu của ông gây trở ngại cho ông cũng nên phương thức này không bao giờ cũ cả có thể vụ án vườn Lệ Chi cũng không ngoài sách lược này. Ngay cả đến khi xuất gia được giao phó kế thừa thiền phái Trúc Lâm ông cũng phải từ chối cho dù sở học của ông có thừa. Là một người xuất gia tại sao ông không làm nhiệm vụ thiêng liêng đó rỏ ràng phải có một áp lực nào đó khiến ông thấy rằng không thể kế thừa. Việc xóa tên ông trong lịch sử và bôi nhọ nhắm vào ông thông qua tác phẩm TGTL2 này đã thể hiện một phần điều đó. Đây không phải là chuyện tình cờ mà là một sách lược lâu dài của nhiều triều đại phương Bắc nhắm vào nền văn hóa của nước ta. Tóm lại với những luận chứng đã nêu trên cho thấy chuyện Điểm Bích nằm trong cuốn TGTL2 là một trứng tu hú trong tổ chim sâu một công việc đánh lận con đen xây một ngôi nhà với cửa ngỏ là Việt nam nhưng toàn bộ nội thất là Trung quốc đây là một âm mưu một tính toán cực kỳ tinh khôn và thâm hiểm. Chúng ngụy tác câu chuyện rồi xóa bớt nội dung trong bản TGTL1 thêm phần đã bịa vào rồi đưa trở lại nước Việt với ý đồ như đã nêu trên; tất nhiên là chúng đã thành công nhất định không thành công sao được khi câu chuyện ấy làm tổn hao bao tâm sức và giấy của người Việt chúng ta. Tuy nhiên không phải chúng làm công việc ấy hoàn hảo với những gì tôi đã nêu trên đã chứng minh cho điều đó. Đồng thời chắc chắn trong số sách vở của Đại Việt mà Trương Phụ và Hoàng phúc vơ vét chắc chắn có cuốn Bản hạnh ngữ lục với đầy đủ những tác phẩm của Thiền sư Huyền Quang nhưng những phần đó đã vĩnh viễn ở lại Kim Lăng hoặc bị tiêu hủy hoặc đưa vào sách của họ nhằm chiếm quyền trước tác bài Xuân nhật tức sự là một minh chứng./. 

Linh Sơn Đà Lạt đầu xuân năm Tân Mão. 

1 – Tam Tổ thực lục –phần TGTL chữ Hán trang 134/49a - 111/60b Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành 1995. 2 – Tam Tổ Trúc lâm giảng giải. tr 537 HT . Thích Thanh Từ. NXB 1997 3 – ĐVSKTT quyển 2 trang 57 nxb Văn hóa Thông tin 4 – ĐVSKTT quyển 2 trang 27 28 nxb Văn hóa Thông tin 5 – ĐVSKTT quyển 2 trang 57 nxb Văn hóa Thông tin. 6 –Tam Tổ thực lục –phần chữ Hán trang 202/16b - 203/17a Viện nghiên cứu Phật học Việt nam ấn hành 1995. 7 – ĐVSKTT quyển 2 trang 291 nxb Văn hóa Thông tin.