Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2019

Chuyến thăm Đà Lạt của GS ‘t Hooft



Nguyễn Xuân Xanh

Lời nói đầu. Tôi có may mắn tháp tùng GS Gerard ‘t Hooft và phu nhân, từ phi trường Tân Sơn Nhất lên Đà Lạt, và chuyến tham quan thành phố, cũng như buổi thuyết trình tại đại học vào đầu tháng 5 vừa qua. Dưới đây là bài viết của tôi ghi lại một số sự kiện của chuyến đi, đời thường cũng như khoa học. Tôi có thêm đôi chút ý kiến riêng trong phần khoa học như một sự bổ sung, cũng như những cảm nghĩ và mơ ước thô thiển cá nhân. Trong mạch này, tôi kể lại chuyến thăm có nhiều hệ quả của Einstein ở Buenos Aires, thủ đô của Argentina, năm 1925, cũng như hai nước khác của Nam Mỹ. Hôm nay chúng ta có một chuyến đi rất vui, một buổi nói chuyện khoa học thật thú vị. Hãy mơ, và nuôi dưỡng, chấp cánh cho giấc mơ để một ngày nào có một sự đổi thay tốt đẹp cho Việt Nam. NXX
***
Nghệ thuật quan trọng nhất của người thầy là đánh thức niềm vui sáng tạo và nhận thức.A. Einstein
Như đã được báo trước trong Thông cáo báo chí, Giáo sư Gerard ‘t Hooft có hai ngày thăm thành phố Đà Lạt. Ông đến chiều tối ngày 5/5, tham quan ngày 6/5, nói chuyện tại ĐH Đà Lạt ngày 7/5 và rời Đà Lạt chiều hôm đó đi Nha Trang và Quy Nhơn.
Chuyến đi thăm Đà Lạt của GS ‘t Hooft là một sự kiện rất ư thú vị cho thành phố. Từ 125 năm qua khi thành phố được khám phá bởi Bác sĩ Yersin, Đà Lạt là thành phố của quan quyền Pháp Việt, nơi nghĩ dưỡng của họ, thành phố của giới trung lưu sang trọng, của nhà thờ, tu viện, trường học, các villa đẹp, và của hoa. Vào thời Việt Nam mở cửa kinh tế, có một người khách lạ đầu tiên đến vùng đất này, đã đem lòng yêu nó, và đầu tư mà cơ sở ngày nay được biết đến là Cty hoa Đà Lạt Hasfarm. Ông là người Hà Lan. Và hôm nay thành phố được tiếp một vị khách đặc biệt, nhà vật lý giải Nobel rất tên tuổi Gerard ‘t Hooft, cũng từ Hà Lan. Ông không phải nhà đầu tư như thường lệ, mà mang đến cho Đà Lạt tri thức, và muốn đánh thức các tài năng.
Cái ‘duyên’ GS ‘t Hooft đến Đà Lạt có được là do ‘ông tơ bà nguyệt’ Trần Thanh Vân và Lê Kim Ngọc ‘se’. GS ‘t Hooft quyết định thăm “thành phố cao nguyên”, từng được ví là một “Paris nhỏ”, nằm cao 1.500 mét trên mặt biển. Ông có thể xem trên mạng, nhưng có lẽ chưa hình dung về thành phố thanh lịch và đáng yêu này.
Hôm đi máy bay từ Sài gòn lên phi trường Liên Khương, do bị trễ, ông bà không thấy gì không gian ngoài bầu trời tối. Ông bà được đội tiếp tân của Edensee resort tiến đón với hai vòng hoa choàng cổ, và hai hàng người hoan nghênh chào đón. Sau đó họ được đưa lên xe limousine về resort. Trời tối nên chỉ thấy qua ánh đèn xe những khoảnh nhỏ rừng thông hai bên đường trong sự tĩnh mịch. Tại Edensee resort, ông bà được hai vợ chồng doanh nhân Việt kiều Đức, anh Tiêu Như Phương và chị Bạch Mai, chào đón trọng thể với tất cả lòng hiếu khách và sự quý trọng. Resort này đẹp và sang trọng có lẽ thuộc loại “đệ nhất đẳng” tại Đà Lạt, tọa lạt tại một vị trí độc đáo bên bờ hồ Tuyền Lâm, có lẽ là resort đầu tiên của khu hồ. Resort có sức phục vụ các hội nghị “ma-mút” rất lớn, nhưng trong những ngày ít khách, nó chìm trong không gian lắng đọng thần tiên. Đã từng có một đoàn khách Thái Lan từ Chiang Mai đến nghỉ, để được thiền với vài vị sư của họ, bởi họ tìm thấy ở đây một không khí lý tưởng cho việc hành thiền!
Tôi hôm đó, vợ chồng GS ‘t Hooft được chiêu đãi một bữa cơm Việt Nam thanh lịch rồi đi ngủ sớm sau một chuyến bay mười nghìn cây số. Khách mời tiệc tối là TS Phạm S, phó chủ tịch UBND tĩnh Lâm Đồng phụ trách khoa học công nghệ. Ông là người ủng hộ tích cực cuộc thăm viếng của GS ‘t Hooft.
***
Sáng hôm sau, tôi chắc rằng khi vén các bức màn cửa sổ để nhìn ra khung cảnh bên ngoài, ông bà t’ Hooft sẽ cảm nhận một cảnh “thần tiên” có thật: trước mặt là hồ Tuyền Lâm nước xanh lung linh, xung quanh là rừng thông hàng hàng trên các sườn đồi lượn khúc xen lẫn những tia nắng vàng ấm áp đầu tiên của ngày. Mặt trời, rừng thông xanh, sự tĩnh lặng bao trùm, một cảnh tượng hài hòa thánh thiện biết bao. Chắc phải vui lắm đối với ông bà, giúp mau quên nỗi đi xa mệt nhọc. Ở “thiên đường” đâu ai bao giờ biết mệt. Đất nước của ông bà là đồng bằng. Cái “núi” đầu tiên ông thấy ở tuổi thơ, như được kể trong tự truyện (Tiểu sử Giáo sư Gerard ‘t Hooft), chỉ là một cái đồi cao hơn 100 mét ở Anh!
Điểm tâm xong, ông bà ‘t Hooft, với sự phối hợp với Sở du lịch tỉnh Lâm Đồng, được đưa đi tham quan một số nơi và giải thích về thành phố “Paris nhỏ” này. Xe chạy ngang qua hồ Xuân Hương vào khu trung tâm cho biết. Thành phố tương đối khang trang hơn trước, tuy cũng có vài kiến trúc “hiện đại” không mấy phù hợp lắm với cái nền cổ điển. Ông bà đi thăm một số nhà thờ kiến trúc xưa, trong đó có “nhà thờ con gà”, tức nhà thờ chính tòa đường Trần Phú (tên xưa St Nicholas of Bari Cathedral), nhà ga xưa Đà Lạt, trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt (tên xưa Petit Lycée Dalat), tất cả có kiến trúc Pháp ấn tượng. Và trưa hôm đó ông bà đến thăm làng nuôi dạy trẻ mồ côi SOS của vợ chồng GS Trần Thanh Vân & Lê Kim Ngọc gầy dựng. Buổi thăm trẻ mồ côi có lẽ là một sự kiện thú vị và sinh động nhất đối với ông bà. Khoảng 150 em, cùng với những “bà mẹ nuôi” tề tựu trong sân làng SOS để đón tiếp hai vị khách quý. Họ chụp ảnh lưu niệm và ăn trưa chung trong sân làng. Mọi người đều cảm thấy niềm vui lạ. GS ‘t Hooft nói ý nghĩ của ông, làm sao để các em được giáo dục sớm đến với khoa học. Tôi thầm nghĩ, một chuyến tham quan ở planetarium Quy Nhơn sắp khai trương sẽ là một cuộc khám phá truyệt vời trong đời thơ ấu của các em! Việt Nam làm gì có? Làm gì có những công trình giáo dục khoa học kỹ thuật như thế? Làm gì có được những “cánh cửa sổ” mở ra thế giới khoa học công nghệ, những thứ đã định hình nền văn minh phương Tây, và từ lâu đã tràn qua châu Á?
Buổi chiều trời mưa nên tiết mục chèo kayak trên hồ Tuyền Lâm bị hủy. Tối đến ông bà đi dự buổi chiêu đãi của Sở Văn hóa và Thông tin và nghe nhạc cồng chiêng. Ông bà đã tham gia nhiệt tình vào sinh hoạt văn nghệ với các nghệ nhân dân tộc nam nữ trong những bộ đồ và dụng cụ âm nhạc đặc trưng của họ. Từ hạt Higgs thâm sâu, và các hạt cơ bản ông trở về sống với những cảm giác của nhân loại xa xưa và mộc mạc.
Khác với vợ, GS ‘t Hooft lúc nào cũng ít nói, tập trung. Ông chăm chú ngắm các công trình kiến trúc Pháp và chụp ảnh các loài hoa lạ. Ông không dễ để ngoại cảnh kéo ra khỏi thế giới của ông. Ông giống một “absent-minded professor”, nhưng không phải “đãng trí”, mà luôn luôn sống trong “chánh niệm” trong thế giới của ông.
***
Sáng hôm sau chúng tôi đến trường Đại học Đà Lạt. Ngài hiệu trưởng Nguyễn Đức Hòa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, TS Phạm S, Phó hiệu trưởng Nguyễn Văn Kết và nhiều vị lãnh đạo khác đã có mặt sẵn lúc 9 giờ, rất đúng hẹn. Họ mời GS ‘t Hooft và chúng tôi vào phòng riêng để chào mừng, và giới thiệu hoạt động của đại học, cũng như nhân sự. Có vợ chồng GS Trần Hà Anh và chị Hà Ngọc Mai, những Việt kiều Pháp đã gắn bó với đại học từ những năm hòa bình lập lại. Có GS Phù Chí Hòa, người làm vật lý lý thuyết thuộc thế hệ hòa bình, đồng thời là trưởng khoa sư phạm, GS vật lý rất trẻ Nguyễn Đăng Chiến. Tất cả buổi nói chuyện cũng như thuyết trình sau đó đều được thông dịch bởi một người chúng tôi được biết dưới cái tên Tú Anh, duyên dáng và rất chuyên nghiệp. Cô tốt nghiệp tiến sĩ vật lý tại Hàn Quốc, và là trưởng phòng quan hệ quốc tế của đại học. Cô đã góp phần quan trọng trong sự thành công của buổi diễn thuyết.
Hiệu trưởng Nguyễn Đức Hòa đánh giá cao sự hiện diện của GS ‘t Hooft thông qua tổ chức Gặp gỡ Việt Nam của GS Trần Thanh Vân. GS ‘t Hooft là nhà khoa học đạt giải Nobel đầu tiên đến thăm và nói chuyện, đó là một vinh dự rất lớn cho Đại học, ông nói.
Phòng diễn thuyết đại học lớn vừa phải, có sức chứa khoảng hơn 100 người. Khi chúng tôi đến, phòng đầy ắp người, phần lớn các bạn trẻ, trong một không khí náo nức. Chỉ hơi tiếc một điều, hôm đó là thứ hai, các em học sinh cấp III, nhất là của các trường chuyên, phải đi thi, nên các em không thể có mặt, điều GS Trần Thanh Vân lấy làm tiếc.
***
Lần theo bài nói chuyện
Bài thuyết trình của GS Gerard ‘t Hooft là rất thú vị cho những người yêu vật lý, vẻ lên một cầu vòng ngủ sắc của vật lý hiện đại đã diễn ra nửa đầu và nửa sau thế kỷ trước. Ông đi từ thế giới phân tử, thế giới nanao, sang thế giới hạt cơ bản như quark, lepton và gluon, và các lực chi phối, lực yếu, lực điện từ và lực mạnh, tất cả tạo thành cái gọi là Mô hình chuẩn mà ông là một trong những người cha khai sinh. Mô hình này đã hình thành rõ nét những năm đầu1970 và có thể gải thích tất cả các hiện tượng vi mô hoàn toàn khớp với các kết quả thí nghiệm. Cao điểm là hạt Higgs, và cơ chế BEH (Brout-Englert-Higgs), cơ chế đã tạo ra khối lượng cho vật chất, mà nếu không có, sẽ không có gì hết, kể cả chúng ta. Thế giới hạt cơ bản được qui định bởi cơ học lượng tử và thuyết tương đối hẹp Einstein.
Những vẫn còn một lực còn nằm ngoài mô hình trên. Đó là lực hấp dẫn, lực cực kỳ yếu so với ba lực nguyên tử trên, nhưng lại có “quyền năng” điều khiển các khối lượng vật chất cấp hành tinh, thiên hà. Lực này được giải thích lần đầu tiên bởi Isaac Newton thế kỷ 17 như định luật hấp dẫn vũ trụ, tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách. Hơn 250 sau lực này được Albert Einstein “tinh luyện” bằng thuyết tương đối rộng với hệ thống các phương trình trường diễn tả lực hấp dẫn như độ cong của không-thời gian là thế giới thực chúng ta đang sống. Thuyết này có khả năng diễn tả lực hấp dẫn chính xác hơn ở những nơi mà lực này thất bại với Newton.
Chính từ thuyết tương đối rộng này người ra rút ra những hệ quả mang tính “kỳ dị” khó tin: big bangvào buổi sơ khai của vũ trụ, và lỗ đen nơi “chôn vùi” ngay tất cả những gì đến gần nó.
Lỗ đen là những vật thể lạ lùng, do mật độ vật chất tập trung cao độ nên nó có thể hút tất cả vật chất, cả ánh sáng nào đến gần nó, và không cho bất cứ cái gì thoát đi. Nhưng các thăng giáng lượng tử (quantum fluctuations) trong một trường hấp lực mạnh − và đây là khám phá độc đáo của Hawking những năm đầu 1970 − lại cho phép bức xạ thoát ra khỏi quyền năng của hấp lực vô cùng mạnh mẽ, tạo thành bức xạ Hawking một cách yếu ớt với một nhiệt độ nhất định. Lỗ đen, do đó, với thời gian sẽ tự mất dần năng lượng và khối lượng của nó. Đó là một nghịch lý, và cũng là nghịch lý giữa lực hấp dẫn và cơ học lượng tử. Các lỗ đen càng nhỏ, dòng hạt phát ra càng mạnh, làm cho lỗ đen càng nhỏ hơn, cường độ tiếp tục tăng lên cho đến khi bùng nỗ!
Tại đường chân trời (nơi không có điểm trở về), thời gian ngừng chảy đối với người quan sát từ xa, nhưng đối với một người bước vào đó, thì anh ta vẫn nghĩ thời gian vẫn tiếp tục. Hãy tưởng tượng điều gì xảy ra khi chúng ta xem xét cơ học lượng tử trong sự hiện diện của các lỗ đen? Những điều lạ lùng xảy ra đối với các hạt. Còn không gian, thời gian thì sao? Trên nguyên tắc, các lỗ đen có thể nhỏ hơn những hạt căn bản nhỏ nhất đã tìm thấy trong các phòng thí nghiệm.
Các lỗ đen có phải chính chúng là những hạt cơ bản không? Đâu là các phương trình cho một lỗ đen? Lỗ đen sẽ dẫn ta đến một “thế giới khác” bằng “cầu nối Einstein-Rosen” (ký hiệu ER)? Sự hiện diện của “thế giới khác” dẫn đến các vấn đề. Thông tin có thể rò rĩ sang thế giới kia, và trở lại chăng?
Nếu thế thì một lỗ đen riêng lẽ tự nó không thể tuân thủ các phương trình cơ học lượng tử. Nhưng chẳng phải chúng ta đã sử dụng cơ học lượng tử để khám phá các hạt Hawking hay sao? “Không thể được”, theo Leonard Susskind (Quyển sách tham khảo: The Black Hole War – My Battle with Stephen Hawking to Make the World Safe for Quantum Mechanics của Leonard Susskind)
Bây giờ chúng tôi tin tưởng rằng cầu Einstein-Rosen đơn giản nối các điểm đối ngược nhau của cùng một lỗ đen. [Juan Maldacena và Leonard Susskind gợi ý rằng ER = EPR, nghĩa là cầu nối Einstein-Rosen có tính chất thực hiện sự vướng víu lượng tử giữa hai miền của lỗ đen. Người viết] Chúng tôi đã khám phá rằng điểu này đã tái lập một cách chính xác các định luật cơ bản của cơ học lượng tử cho một lỗ đen đơn độc.
(Một slide của bài diễn thuyết powerpoint của GS ‘t Hooft. Cám ơn GS.)
Lỗ đen là một không bào (vacuole): bên trong nó, không-thời gian không phải rỗng. Và cũng không có chút không-thời gian nào trong đó!
Nếu bạn có thể vượt qua đường chân trời với tốc độ lớn hơn ánh sáng, bạn sẽ xuất hiện lại bên kia lỗ đen! Bởi vì lỗ sâu (wormhole, như cầu ER) kết nối lỗ đen với chính nó. Nhưng bạn xuất hiện với sự đảo ngược-CP (CP-inverted; C phép biến đổi liên hợp điện tích (charge conjugation), P phép biến đổi chẵn lẻ điện tích (parity transformation), và đảo ngược-T (sự đảo ngược thời gian, time reversal). Lúc đó sẽ có “hệ quả quan sát được”: sự vướng víu lượng tử đối cực của các hạt Hawking [antipodal entanglement (EPR) of the Hawking particles]. Có thể các thăng giáng lượng tử dẫn đến các “lỗ đen ảo” (virtual black holes) khắp mọi nơi!
Ở đó kết thúc câu chuyện hành trình vật lý mà GS ‘t Hooft muốn trải lòng với thính giả Đà Lạt.
***
Tôi nghĩ, mọi người hôm đó “ngỡ ngàng” trước bức tranh của vũ trụ diễn ra trước mắt, và có nhiều điều không hiểu. Nhưng tôi tin chắc rằng thính giả Đà Lạt hôm nay hiểu nhiều hơn các thính giả thời Einstein đối với thuyết tương đối một trăm năm trước! Nhưng sự thu hút và truyền cảm hứng mãnh mẽ của mới là điều quan trọng hơn. Có nhiều câu hỏi, nhất là từ các bạn trẻ, đã được nói ra, cũng như chưa được nói ra. Tiếc thời gian đã không cho phép. Về câu hỏi làm sao để trở thành một nhà vật lý lý thuyết giỏi, GS ‘t Hooft cho rằng cần phải có đủ độ đam mê và hoài bão, nếu không muốn nói cháy bỏng, như những điều kiện tiên quyết. Và lao động cật lực. Điều hàm ý phải có một cuộc sống khác, nếu không muốn nói trong “cô đơn và tự do” của Humboldt. Ông đã và còn đang thiết kế một trang mạng “thích học vật lý” giúp sinh viên, người đam mê tự học thêm, và ở đó ông liệt kê những lãnh vực của vật lý hiện đại mà các sinh viên có hoài bảo có thể tham khảo (xem Giáo sư vật lý giải Nobel Gerard ‘t Hooft thăm Đà Lạt: Thông cáo báo chí)
Dường như sau Einstein, chúng ta đang di chuyển đến cột mốc Hawking quan trọng như một bản chỉ đường trong cuộc chinh phục vũ trụ. Trong chốc lát, khám phá của Hawking kết nối ba miền khoa học với nhau: lực hấp dẫn, hay thuyết tương đối rộng, cơ học lượng tử, và khoa học nhiệt. Lỗ đen có thể là viên đá rosetta của vật lý học như dấu hiệu nóng phục vụ cuộc săn lùng bản đồ của Chúa mà Einstein từng trăn trở.
Lỗ đen quả thật chất chứa rất nhiều bí ẩn, khiến các nhà vật lý hàng đầu tập trung vào đó. Bekenstein và Hawking khám phá rằng các bit thông tin chứa trong lỗ đen không hề tỷ lệ với thể tích như thông lệ, mà với diện tích (!), nghĩa là chúng được phân bổ bên trên bề mặt của lỗ đen! Điều đó cho thấy các độ tự do (degrees of freedom, tương ứng với entropy) trong trường hấp lực tỉ lệ với diện tích, khác với những trường hợp không có hấp lực thì tỉ lệ với thể tích. Điều đó có nghĩa là lỗ đen tuân thủ nguyên lý toàn ảnh (holographic principle, ‘t Hooft 93, Susskind 94). Năm 1997, Juan Maldacena chứng minh điều này cho cặp không gian đối ngẫu (duality) /hay tương ứng (correspondence) AdS/CFT. AdS (anti-de Sitter space) có thể hình dung là phần trong của một quả cầu nhiều chiều, một dạng của vũ trụ giới hạn, trong khi CFT (Conformal Field Theory) là bề mặt của nó. Đối ngẫu, hay tương ứng có nghĩa rằng cả hai là tương đương. Cho nên, nếu vũ trụ là một thực thể giới hạn, thì các quá trình vật lý diễn ra trên bề mặt của nó tương đương với những gì diễn ra trong lòng thể tích nó!
Nguyên lý toàn ảnh, hay là sự tương đương giữa bề mặt và không gian bên trong. Những sự kiện vật lý ở bề mặt có thể tái tạo tất cả mọi thứ diễn ra bên trong thể tích của không gian. (Courtesy of Jen Christensen & George Musser)
Đàm Thanh Sơn và các cộng sự nghiên cứu một loại nhớt, và tìm thấy lỗ đen có một độ nhớt vô cùng thấp. Do tính chất tương ứng toàn ảnh nói trên, các hạt quark và gluon tương tác mạnh ở nhiệt độ cao cũng sẽ có độ nhớt rất thấp. Kết quả lý thuyết này đã được kiểm tra là đúng tại phòng thí nghiệm Brookhaven, xác nhận nguyên lý toàn ảo và sự hữu ích của lý thuyết dây đã được sử dung ở đây. Kết quả này có tiếng vang rất lớn trong cộng đồng vật lý. Maldecena có nhắc đến kết quả này trong bài viết The Illusion of Gravity (Ảo giác Hấp dẫn) trên tạp chí Scientific American, 2007.
Tranh luận về thông tin của vật thể khi rơi vào còn hay mất vẫn còn tiếp diễn sôi nổi, cũng như về bản chất không-thời gian, mối quan hệ của nó và hiệu ứng EPR (vướng víu lượng tử Einstein-Podolsky-Rosen). Hệ thức ER=EPR giữa cầu nối Einstein-Rosen và vướng víu lượng tử EPR được Leonard Susskind và Juan Maldacena đề nghị năm 2013, là một tiên đoán nói rằng các hạt vướng víu được nối nhau bởi một cầu ER (hay lỗ sâu), và hệ thức đó có thể làm nền tảng để thống nhất thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử. Lỗ sâu có tác dụng phi cục bộ (nonlocality), nghĩa là có tác dụng như EPR. Người ta nghĩ rằng giữa các hạt vướng víu nhau có thể có một lỗ dâu bé tí nối liền để thực hiện hiệu ứng vướng víu phi cục bộ. EPR, gắn liền với các tên gọi “phi cục bộ”, hay “tác dụng ma quái từ xa” (spooky action at a distance) như Einstein gọi, một thời gian dài bị bỏ quên, rồi được khám phá có thể có những ứng dụng siêu cao cấp trong công nghệ lượng tử, giờ đây có thể trở thành một chìa khóa quan trọng để hiểu bản chất của không-thời gian và cơ học lượng tử! Trong mạch này, tiên đoán Ryu-Takayanagi của hai nhà vật lý Nhật Bản nói rằng entropy vướng víu (entanglement entropy) có một ý nghĩa hình học cho không-thời gian trong một trường hấp lực, cho thấy có mối quan hệ mật thiết giữa vướng víu và hình học của không-thời gian. Hy vọng qua entropy, các phương trình Einstein của thuyết tương đối rộng có thể được tìm thấy lại (Mark van Raamsdonk). Người ta tin rằng EPR sẽ tạo ra không gian. Không có vướng víu, sẽ không có không gian như chúng ta đang sống. Những điều vô cùng thú vị! Ở đây chúng ta nhớ lại rằng “tác dụng từ xa” của lực hấp dẫn Newton ngay từ đầu không thể giải thích được, đó là chỗ lúng túng của ông, làm cho nhiều người bán tín bán nghi. Giải pháp tạm bợ của ông là giả thuyết có một môi trường ether trong không gian làm trung gian cho lực truyền. Mãi 250 năm sau, lực huyền bí này mới được giải thích bằng độ cong của không-thời gian trong thuyết tương đối rộng của Einstein! Và tác dụng của lực không phải là tức thì như tác dụng ma quái từ xa của EPR, mà chỉ được truyền đi từ vật thể này đến vật thể khác theo vận tốc ánh sáng.
Nếu hai phần của vũ trụ vướng víu càng nhiều với nhau, chúng sẽ tiến gần hơn làm thành một khối. Và nếu ngược lại, không gian sẽ tan rã. Có lẽ cũng đúng cho xã hội, trong đó “vướng víu” là các sinh hoạt dân sự kết nối nhau dưới muôn vàn hình thức. Càng có nhiều vướng víu dân sự, quốc gia càng phát triển và vững bền. (Courtesy of Mark van Ramsdonk & George Musser)
Bức tranh ngộ nghĩnh của hai sumo khủng và bé hạt tiêu có thể minh họa cho sự khác biệt của lực hấp dẫn, gravity, thứ chuyển động những vật thể khổng lồ như hành tinh, thiên hà, đối lập với cơ học lượng tử, thứ chuyển động các vật thể nhỏ bé như nguyên tử và các hạt cơ bản. Sự kết hợp của chúng tạo ra bức tranh vũ trụ hôm nay. Người ta vẫn chưa hiểu giữ chúng có điểm chung nào, lại càng không thể thống nhất chúng.
Con người vẫn đi tiếp để thấu hiểu và thống nhất lực hấp dẫn và cơ học lượng tử. Nhưng bất chấp khó khăn, mặc cho lời “cảnh báo” của Wolfgang Pauli: không nên tìm cách thống nhất những gì Chúa đã tách ra, các bộ óc tài năng vẫn đi tìm cái mắc xích còn thiếu. Cái toàn thể, như Hegel nói, mới là chân lý tối hậu. Mục tiêu thống nhất có thể là chuyện thần thoại, nhưng chẳng phải chuyện thần thoại đã từng nuôi dưỡng khoa học hay sao? Và sự thống nhất bao giờ cũng đem lại những kết quả mới hoàn toàn ngạc nhiên, như sự thống nhất điện-từ, với sự tiên đoán sóng điện từ và giúp hiểu bản chất ánh sáng, hay sự thống nhất hai lực yếu và điện từ, gọi là lực điện-yếu, tiên đoán bốn hạt boson không khối lượng của lực, những thứ được tìm thấy sau đó. Chính lý thuyết mới quyết định cái gì có thể quan sát được, như quan điểm triết lý của Einstein!
***
Ngày hôm đó, tôi có cảm tưởng, trên bầu trời Đà Lạt xuất hiện một vì sao chổi, sao chổi của tri thức và ánh sáng. Nếu nhìn xa hơn, chỉ cách đó vài trăm cây số, người ta sẽ còn thấy một nơi mà các sao chổi xuất hiện từng chùm: Quy Nhơn. Hãy chiêm ngưỡng, và biến năng lượng bên trong thành tác phẩm. Khoa học nói cho cùng là tác phẩm của óc tò mò vô hạn.
Từ nghìn năm, người ta nhìn thấy sao chổi trên trời mà không lý giải được. Isaac Newton, người huyền thoại, đầu tiên lý giải được bằng thuyết sức hấp dẫn vạn vật, tính được chu kỳ thăm viếng của sao chổi. Và chính ông đã trở thành một sao chổi trên bầu trời khoa học thế giới. Khoa học đã tạo ra nhiều sao chổi, có những cái họp nhau từng chùm. Sao chổi Newton chiếu sáng cả bầu trời cho nhân loại hơn 250 năm, trước khi một vì sao chổi khác vĩ đại không kém xuất hiện: Albert Einstein. Thời đại Einstein là thời có lẽ xuất hiện nhiều sao chổi nhất trong lịch sử chỉ trong ba thập niên đầu thế kỷ 20, như một trận “sao băng”.
Để hiểu tầm quan trọng của GS ‘t Hooft, chúng ta hãy nghe Leonard Susskind, một nhà vật lý học lớn của Đại học Stanford nói về ông:
Gerard ‘t Hooft là một người Hà Lan. Nếu đo lường ở số lượng những đóng góp to lớn cho vật lý theo đầu người, thì người Hà Lan chắc chắn là những nhà vật lý lớn nhất của thế giới. Christiaan Huygens, Hendrick Antoon Lorentz, Willem de Sitter, Heike Kamerlingh Onnes, George Uhlenbeck, Johannes Diderik van der Waals, Hendrik Gerhard Casimir, Martinus Veltman, Gerard ‘t Hooft, họ chỉ là một số ít những tên tuổi lịch sử lớn nhất. Lorentz và ‘t Hooft có thể nói là những khuôn mặt lịch sử lớn nhất của vật lý. Đối với tôi, ‘t Hooft, hơn cả một nhà vật lý đương thời nào, tượng trưng cho tinh thần của Einstein, Lorentz, và Bohr. Mặc dù ông trẻ hơn tôi sáu tuổi, tôi luôn luôn kính sợ (in awe) ông.
Tôi vui mừng mà nói rằng ‘t Hooft không chỉ là một trong những anh hùng của tôi nhưng còn là một người bạn quý. Mặc dù ông giỏi hơn tôi nhiều về phương diện toán học, tôi luôn luôn cảm nhận trong những đồng nghiệp của tôi, ông là một người mà tôi thấy gần gủi nhất về mặt quan điểm. Trải qua năm tháng, chúng tôi cùng làm việc về những bài toán khó, bị khổ sở vì cùng những nghịch lý, và có những dự đoán tương tự về giải pháp cho những bài toán này. Tôi nghĩ, cũng như tôi, Gerard là một nhà vật lý rất bảo thủ, người không chịu chấp nhận một giải pháp triệt để nào cho một bài toán trừ khi ông cảm thấy tất cả những con đường khác đều vô ích. Và khi đó, ông không biết sợ hãi là gì.
Trong Susskind, The Cosmic Landscape, tr. 326
***
Chiều hôm đó, rời Đà Lạt chúng tôi lên đường QL27C để đưa ông bà ‘t Hooft đi xuống thành phố biển Nha Trang. Con đường này được viền hai bên bằng núi và vách đá, thỉnh thoảng có những con suối rất dốc, trông rất ngoạn mục. Mùa mưa chắc còn ngoạn mục hơn nhiều lần. Tối đó chúng tôi có một bửa cơm do bạn bè của anh chị Tiêu Như Phương thếch đãi trong không khí hết sức vui vẻ và cơi mở. Sáng hôm sau tại Nha Trang chúng tôi đưa ông bà đến thăm viện bảo tàng Bác sĩ Yersin nằm trong Viện Pasteur do ông thành lập một thế kỷ trước, một cuộc tham quan rất thú vị, một con người sống vị khoa học, khám phá – cho Việt Nam. Sau đó chúng tôi đi Quốc lộ 1A thẳng ra Quy Nhơn. Đường tương đối tốt, cảnh quang thú vị. Trên đường chúng tôi ghé thăm “Ghềnh đá đĩa” nằm sát biển, một cái tên nghe lạ, nhưng là nơi hàng vạn cọc đá dài hình khối xếp san sát nhau thành một cảnh quan rất lạ mắt. Ông bà ‘t Hooft dừng lại và thưởng ngoạn rất lâu. Tại cầu Bình Phú, nơi rẽ vào thành phố Quy Nhơn khoảng 30 km, đoàn chúng tôi ngạc nhiên được một đoàn xe đặc biệt của thành phố gửi ra để dẫn đường và hộ tống, vừa chạy vừ kéo còi, đèn hiệu chớp chớp, công an ra dấu để xe giao thông phải tránh! Quả là thành phố Quy Nhơn đã dành cho GS ‘t Hooft một cuộc tiếp đón hết sức trọng thể như một chính khách. Khi xuống xe trước khách sạn, nơi các vị khách sẽ ở trong hai ngày tới, nhiều phóng viên báo đài đã trực sẵn. Hai ông bà được một vị Phó chủ tịch UBND Quy Nhơn và GS Lê Kim Ngọc đón tiếp và trò chuyện thân mật, xen lẫn với những cuộc phỏng vấn của báo đài.
***
Ở tuổi 72, GS ‘t Hooft có thể nghỉ ngơi và “gác kiếm”, “vui thú điền viên”, như người Việt Nam quen nói. Nhưng không, ông vẫn miệt mài theo đuổi những vấn đề vật lý ở biên giới tri thức, giống như Einstein cho đến những ngày tháng cuối cùng. Ông không xem khoa học như một nghề để sống, mà xem khoa học như một tiếng gọi, một sứ mệnh ông có nhiệm vụ khám phá và truyền bá. Ông xem khoa học như một lý tưởng sống, đúng như tinh thần của Humboldt, và ông cũng sống “cô đơn và tự do”. Ông là người đi gieo hạt, như hình ảnh trong bức tranh Người gieo hạt buổi sáng của danh họa Vincent van Gogh, một đồng hương của ông cuối thế kỷ 19. Ông cũng không phải là trường hợp riêng lẻ, mà cả nền văn hóa của phương Tây là như thế. Họ sống với khoa học cho đến trọn đời. Khoa học chính là lẽ sống. Họ nghiêm chỉnh với khoa học, điều cần thiết như GS ‘t Hooft nói, cho nên họ mới có khoa học. Khoa học quá thú vị, và “thiêng liêng” để “gác kiếm”, hay hưởng nhàn. Con mắt của các nhà khoa học kết nối với “con mắt của Chúa” như nhà thần học Đức Meister Eckhart thế kỷ 13 diễn tả khi ông bàn về bản chất của quan hệ con người với Chúa: “Con mắt mà qua đó tôi nhìn Chúa cũng là cùng con mắt mà qua đó Chúa nhìn tôi. Mắt của tôi và mắt của Chúa là một, và cùng một cái nhìn, và một tri thức, và một tình yêu.” Phải có con mắt sâu sắc như thế mới nhìn thấy Chúa, thấy vũ trụ. Làm sao không “thiêng liêng”, đầy cảm hứng và thôi thúc được?
Bức tranh Người gieo hạt khi mặt trời lên, năm 1888, của danh họa Vincent van Gogh
Xin mở ngoặc: chúng ta nhớ rằng năm 1925 Einstein có một chuyến viếng thăm ba nước châu Mỹ La tinh Brazil, Uruguay và Argentina kéo dài hai tháng, đặc biệt tại Rio de Janeiro, Brazil và Buenos Aires, Argentina. Mục đích của chuyến đi là truyền bá các ý tưởng khoa học, quan điểm hòa bình, và tranh thủ các cộng đồng Do Thái ủng hộ Đại học Hebrew. Ông có một chương trình làm việc dày đặc. Ông được các tổng thống và bộ trưởng tiếp đón. Ông diễn thuyết về thuyết tương đối cho các nhà khoa học cũng như những người-không khoa học. Ở những nơi cho đại chúng, có cả các quan chức tham dự, đưa cả gia đình con cái theo. Hiểu khoa học không quan trọng bằng nhìn thấy và nghe con người đặc biệt này để được truyền cảm hứng. Thời điểm đó, Argentina đã có những sinh viên được đào tạo tại Đức, nên một số nhật báo đã đưa lên trang của mình toàn bộ bài nói chuyện mà sinh viên ghi lại được cho công chúng. Argentina là quốc gia có nền khoa học phát triển nhất ở châu Mỹ La tinh. Cuộc thăm viếng tại Argentina cũng đã được chuẩn bị từ nhiều phía, từ nhà triết học José Ortega y Gasset, chuyên gia thuyết tương đối và bạn thân của Einstein, Paul Langevin, và nhà toán học Rey Pastor, người đã quen Einstein tại Berlin và hết lòng vận động cho chuyến thăm của ông. Tại Buenos Aires, ngoài buổi nói chuyện trước cộng đồng Do Thái, Einstein có 7 hội nghị tại phân khoa các khoa học tự nhiên, vật lý và chính xác, và một bài diễn văn về “chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa duy tâm: hình học và không gian hữu hạn và vô hạn của Thuyết tương đối rộng” tại khoa triết và văn chương.
Chuyến đi của Einstein đã có những tác động đặc biệt lên cộng đồng đại học Argentina, lên các giới chính trị có trách nhiệm thiết kế các chính sách văn hóa, làm cho họ hiểu rằng nghiên cứu trong các ngành khoa học cơ bản, toán học, vật lý lý thuyết cũng là một bộ phận cấu thành của văn hóa, cái đã bị sao lãng trong quá khứ. Các khoa học cơ bản chính là cỗ máy dẫn đến những thay đổi cơ bản về hiểu biết của con người đối với thế giới và tự nhiên. Các ý tưởng khoa học của Einstein cho thấy cần phải tư duy lại mới về bản chất của tri thức khoa học, và thực tại vật lý. Những điều trên diễn ra sau Phong trào cải cách Đại học năm 1918 nhằm làm cho đại học có quyền tự chủ, một phong trào có ảnh hưởng lên toàn khu vực. Ngày nay, Argentina, đất nước không phải chỉ nổi tiếng về bóng đá với Maradona và Messi, đã có người khổng lồ Juan Martín Maldacena (sinh năm 1968) trên tuyến đầu của vật lý lý thuyết thế giới. Ở độ tuổi ba mươi, ông đã có ảnh hưởng lớn nhất lên ngành vật lý lý thuyết hơn bất cứ ai cùng thế hệ ông. Chính ông là người đã biến Nguyên lý toàn ảnh trở thành một khoa học hữu ích. Ông có nhiều đóng góp toán học cho vật lý, như Witten, và có ảnh hưởng lớn lên sự diễn giải vật lý của toán học, như Polchinski (Susskind). Ông được trao tặng các huân chương dang giá Dirac, Lorentz và các giải thưởng Fundamental Physics, Pomeranchuk. Người ta tính đến nay, trong 21 người được giải Lorentz có 11 người được giải Nobel. Chắc chắn đến lược mình, ông sẽ tác động mạnh mẽ lên sự phát triển vật lý hiện đại ở Argentina và châu Mỹ La Tinh nói chung. Phải chăng đã có một “vướng víu lượng tử” nào đó qua nhiều thế hệ giữa Einstein và Maldecena? Và chúng ta có quyền mơ một vướng víu như thế cho Việt Nam?
***
Trước khi từ giả Việt Nam, GS ‘t Hooft nhắn gửi GS Trần Thanh Vân những lời sau đây:
“Chuyến thăm Đà Lạt và lộ trình khám phá VN Đà Lạt−Nha Trang−Quy Nhơn ngắn ngủi quá, nhưng tôi biết đây không phải là lần duy nhất vợ chồng tôi đến những nơi tuyệt diệu này. Cho tôi gởi lời biết ơn đến tất cả mọi người đã lo cho chúng tôi, nhất là những người đã khởi xướng việc này, các bạn của tôi: Vân-Kim Ngọc!”
Trước đó, tại Hội nghị khoa học Quy Nhơn, một GS Nobel kinh tế Na Uy (Finn Kydland) sau cuộc trò chuyện với GS ‘t Hooft về chuyến viếng thăm Đà Lạt, đã thốt lên: “Không biết vợ chồng tôi cũng sẽ có được diễm phúc này không?” Điều đó xác nhận chuyến thăm Đà Lạt của GS ‘t Hooft là một sự thành công! Được như thế là nhờ sự ủng hộ hết nhiệt tình của UBND tỉnh, TS Phạm S, của hiệu trưởng Đại học Đà Lạt, GS Nguyễn Đức Hòa, và sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, của vợ chồng doanh nhân Tiêu Như Phương và Bạch Mai đã hết lòng vì một trái tim cho khoa học và tri thức.
Dưới đây là một chùm ảnh của chuyến thăm
Đà Lạt Edensee resort thơ mộng bên bờ Tuyền Lâm, một “thiên đường nghỉ dưỡng”
Ảnh lưu niệm với nhân viên của Edensee resort
Với tập thể nhân viên của Edensee resort
Nhà thờ con gà (xây dựng 1931, xong 1942)
Ảnh trước nhà thờ con gà
Ga xe lửa Đà Lạt (xây dựng 1932, hoàn tất 1938)
Trường cao đẳng sư phạm (Petit Lycée Dalat, 1927, sau đó Grand Lycée de Dalat Lycée Yersin)
Ngạc nhiên và thich thú trước các loài hoa (Ảnh Mai Vinh)
Ảnh chụp trong nhà ga trước một đầu máy xe lửa còn lại. Bên trái ngoài cùng là chị Bạch Mai, còn người cầm nón là anh Tiêu Như Phương,
những người tổ chức cuộc tiếp đón nồng hậu và hết mình cho vợ chồng GS. (Ảnh: Mai Vinh)
Với các trẻ mồ côi tại làng SOS. Ông bà vui mừng và xúc động.
Đốt lửa khai mạc đêm nhạc dân tộc
Với đoàn nhạc cồng chiêng; bên phải là vợ chồng TS Phạm S.
Cùng uống rượu cần truyền thống của người dân tộc; bên phải là TS Phạm S.
Ảnh chụp với ban lãnh đạo của Đại học Đà Lạt. Bên trái GS ‘t Hooft là hiệu trưởng Nguyễn Đức Hòa. Kế tiếp là vợ chồng anh chị Trần Hà Anh; tiếp nữa là GS Phù Chí Hòa. Bên phải ông là Phó hiệu trưởng Nguyễn Văn Kết, cạnh là cô Tú Anh, người thông dịch và trưởng phòng quan hệ quốc tế. (Ảnh: Minh Đạo)
C:\Users\HP\AppData\Local\Microsoft\Windows\INetCacheContent.Word\17-Dalat-Uni.jpg
Hiệu trưởng Nguyễn Đức Hòa giới thiệu và khai mạc buổi diễn thuyết
Diễn thuyết
Đặt câu hỏi
Phát biểu cuối cùng
Ăn tối với các bạn Việt Nam tại Nha Trang
Thăm Viện bảo tàng Yersin Nha Trang
Tại Ghềnh đá đĩa
Tại Quy Nhơn

Thứ Tư, 6 tháng 2, 2019

“Lý thuyết hạnh phúc” của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục

Nguyễn Xuân Xanh

Tại sao không ai hiểu tôi và mọi người lại thích tôi.
Albert Einstein
Thứ Ba ngày 24, tháng 10, 2017, sau câu chuyện sóng hấp dẫn, một sự kiện mới đầy ngạc nhiên xảy ra: Một trang giấy với một dòng chữ vỏn vẹn bằng tiếng Đức mà Einstein đã viết tay để làm quà tặng cậu bé phục vụ (bellboy) của Khách sạn Hoàng gia Tokyo – sau gần 100 năm – đã được bán đấu giá với mức giá có lẽ ngoài sức tưởng tượng mọi người: 1.56 triệu đô la Mỹ! “Chúng tôi hoàn toàn bị sốc, chúng tôi không tin điều đã xảy ra”, Avi Blumenthal, phát ngôn viên của Cty Bán đấu giá và Triển lãm Winner ở Jerusalem, tuyên bố. Nó cho thấy bức thư đã có sức hấp dẫn đặc biệt và hết sức bất ngờ không ai lường tới.
Sóng hấp dẫn của Einstein quả đã không thua kém sóng của hấp dẫn của vũ trụ mà ông đã tiên đoán. Nhưng nói cho cùng, điều đó không lạ lắm, bởi Einstein là con người đã từng tạo ra nhiều câu chuyện ngoài sức tưởng tượng. Nói đúng hơn, Einstein là một “con người ngoài sức tưởng tượng”, có thể tạo ra những cái “khùng điên” mà người đời không hình dung nổi.
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Albert Einstein, nhà vật lý huyền thoại của thế kỷ 20.
***
Số là, tháng 11, năm 1922, Einstein được mời đến diễn thuyết ở Nhật Bản. Trên đường đi ông nhận tin được trao giải Nobel vật lý. Đến Tokyo, khi cậu bé đồng phục của khách sạn lên phòng để trao cho ông một cái gì đó, Einstein cảm ơn và muốn biếu cậu bé tiền tip, nhưng lại không có tiền. Ông bèn nghĩ ra một món quà hết sức độc đáo: Viết tặng ý tưởng đơn sơ sau đây trên tấm giấy có tiêu đề của khách sạn:
Cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn mang lại nhiều hạnh phúc hơn là theo đuổi sự thành công đi kèm với bất ổn thường xuyên
[Stilles und bescheidenes Leben gibt mehr Glück als erfolgreiches Streben, verbunden mit beständiger Unruhe]
Trên mảnh giấy trắng thứ hai tặng cho cậu bé, Einstein ghi thêm dòng chữ:
Ở đâu có ý muốn, ở đó cũng có con đường
[Wo der Wille ist, da ist auch der Weg].
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Bức thư Einstein được bán với giá siêu kỷ lục $1.560.000.
Theo lời thuật của Cty bán đấu giá, Einstein đã nói với cậu bé rằng, “hãy giữ chúng, giá trị của những những dòng này trong tương lai sẽ có thể cao hơn rất nhiều lần so với số tiền típ bình thường”. Sau gần 100 năm, quả đúng như thế, và đúng thất kinh luôn. Còn tấm giấy thứ hai cũng bán được 240.000 đô la với giá ước tính ban đầu là $6.000. Đó cũng là một giá rất cao so với giá bán cao nhất đạt được trước đó của bức thư Einstein gửi cho nhà vật lý học David Bohm là $84.000.
Chủ nhân của hai bức thư Einstein là người chắt trai của cậu bé đưa tin năm xưa, hiện đang sống tại Đức. Mấy tháng trước đó, khi nhìn thấy giá bán khá hấp dẫn của bức thư Einstein gửi cho Bohm đăng trên báo Đức – giá cao nhất cho đến thời điểm đó – ông bèn nghĩ đã có thể bán được di sản mà ông hằng lưu giữ.
***
Báo chí thế giới đưa tin khá nhiều, nhưng chưa có bình luận. Chúng ta muốn biết thêm: Einstein muốn gửi một thông điệp gì qua câu nói đó, và tại sao ông lại viết tặng cho cậu bé kia?
Nhưng trước tiên, vì sao có những giá bán cao như thế? Đó là kết quả của một sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: Sự ngưỡng mộ và tình yêu thế giới một trăm năm qua dành cho ông không suy suyển; Ảnh hưởng của mùa sóng hấp dẫn đã hâm nóng lại tên tuổi của Einstein. Khắp nơi người ta biết và bàn về sóng hẫp dẫn. Một thế kỷ trước, Thuyết tương đối đã từng trở thành một từ cửa miệng trong văn hóa đại chúng. Sự khám phá sóng hấp dẫn cực kỳ yếu làm người ta nhớ lại sự kiểm tra độ lệch ánh sáng rất nhỏ ở gần mặt trời vào năm 1919. Einstein nổi tiếng đến nỗi ông từng nói: Mỗi tiếng bíp ở tôi đều trở thành một bản độc tấu kèn trompet.1 Ông không biết rằng, sau 100 năm, một dòng chữ viết tay đơn sơ của ông lại đáng giá cả triệu đô la, gây sửng sốt hơn cả bản tấu kèn trompet! Có phải thế giới “khùng” không? Không. Thế giới đang cần một vĩ nhân gần gũi với con người để ngưỡng mộ, một con người tuy yếu đuối như cây sậy của Pascal nhưng không biết cúi đầu trước những cơn gió bạo, đại diện cho chân lý, tự do, chính trực, và cho tình yêu hòa bình vĩnh cửu. Không ai thích hợp hơn Einstein, nhà khoa học cô đơn trên đỉnh cao tháp hải đăng, là một phần của vũ trụ, và cũng của đời thường.2
Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn hết: Câu nói đó là viên ngọc bích của triết lý sốngcủa Einstein. Nếu là một nội dung khác, chưa chắc nó được cao giá như thế.
Chỉ còn yếu tố thị trường là ẩn số. Cũng như hai bức thư đó đi về đâu, không ai biết. Tương lai mới giúp trả lời.
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Ảnh Einstein lúc đến Kobe, 43t, tay cầm ống điếu, 
không biết tay kia có xách cây đàn violin như lệ thường hay không.
***
Thông điệp nào Einstein muốn nhắn gửi, và tại sao cậu bé kia lại là người có diễm phúc được chọn làm “sứ giả”?
Hạnh phúc đơn sơ là quan niệm sống suốt đời của Einstein. Các phát biểu của ông từ thời trẻ cho đến những năm gần mất đều cho thấy nội dung bút tích về một cuộc đời “tĩnh lặng và khiêm tốn” là hoàn toàn nhất quán với triết lý sống của ông. Cho nên câu nói trên mảnh giấy chính là thông điệp về quan niệm cuộc sống hạnh phúc của ông chứ không phải một câu nói bình thường. Vì vậy nó có sức hút.
Cả đời, Einstein chỉ muốn có một cuộc sống đơn giản. Lúc còn là học sinh, ông đã từng viết trong một bài essay bằng tiếng Pháp:
Một người hạnh phúc sẽ quá hài lòng với hiện tại để nghĩ nhiều về tương lai. Nhưng mặt khác, bao giờ thanh niên cũng chính là những người bận rộn với những dự định táo bạo. Ngoài ra, cũng là một điều tự nhiên đối với một thanh niên nghiêm túc, rằng anh ta nên hình thành cho mình một ý tưởng rõ ràng như có thể về mục tiêu của những mơ ước của mình.3
ADVERTISEMENT
Được hạnh phúc quá sẽ làm cho con người dễ quên đi những lý tưởng tương lai. Em gái Maja của Einstein đã từng kể về sự thờ ơ của Einstein đối với của cải vật chất mà những người khác thường coi trọng. Bà kể: “Khi còn trẻ anh tôi thường nói: ‘Tất cả những gì anh sẽ muốn có trong phòng ăn của anh là một cái bàn gỗ thông, một cái ghế dài, và vài chiếc ghế dựa.’” Thế thôi. Khi nổi tiếng rồi, Einstein vẫn còn “mơ” về một “vị trí của người giữ hải đăng” cho những người hoạt động khoa học, xem đó là nghề lý tưởng nhất. Ông chẳng màng vật chất lẫn danh vọng. “Mỗi sở hữu đều là một cục đá ở dưới chân. Không có gì tôi không từ bỏ được, bất cứ lúc nào” như ông viết.
Người ta có thể tìm thấy rải rác những câu nói khẳng định quan niệm hạnh phúc đơn sơ của ông. Vào những năm cuối đời, khi được hỏi về sự tự do của giới khoa học gia tại Mỹ trước chủ nghĩa McCarthy, ông đã trả lời: “Nếu tôi còn trẻ và đứng trước sự lựa chọn trong việc kiếm sống thì tôi sẽ không làm một nhà khoa học, bác học hay sư phạm, mà muốn trở thành một thợ ống nước hay một người bán hàng rong, trong hy vọng để giữ được sự độc lập khiêm tốn có thể còn tìm thấy được trong những điều kiện xã hội hiện nay.” Ông không hề biết sợ. Hay chẳng hạn những lần phát biểu khác của ông dưới đây:
Ở đâu mà thế giới thôi là sân khấu của hy vọng, mong ước và ham muốn cá nhân, ở đâu chúng ta đối diện với thế giới với tư cách là những con người tự do của tạo hoá để chiêm ngưỡng, tìm hiểu, và quan sát, ở đó chúng ta bước vào vương quốc của nghệ thuật và khoa học.
Tôi tin chắc rằng không tài sản nào trên thế giới có thể đưa nhân loại đi xa hơn, cho dù từ bàn tay của một người thật tận tụy với mục đích. Chỉ có tấm gương của các nhân cách vĩ đại và trong sáng mới có thể đưa đến những suy nghĩ và hành động cao cả. Tiền bạc chỉ thu hút cái vị kỷ và luôn dẫn tới sự lạm dụng không cưỡng lại được.
Nhà sử học Fritz Stern, bằng ngòi bút sắc bén, đã vẽ lên tính cách của Einstein rất sinh động:
Thực tế, chính tính đơn giản của ông, sự thanh thoát, gây ấn tượng lên con người. Quần áo ông đơn giản, diện mạo ông đơn giản đến từng chi tiết. Sự khiêm tốn ở ông là nổi tiếng – và đích thực, cũng như tính không vị kỷ. Có bao nhiêu nhà khoa học, hàn lâm (chỉ) yêu cầu một tiền lương thấp hơn lương được đề nghị? Ông là con người cô đơn, dửng dưng với các sự vinh danh, “vô gia cư” như chính ông thú nhận, lo lắng cho số phận của nhân loại… . Có lúc, ông xuất hiện như thánh Francis ở Assisi – một vị thánh cô đơn – lái thuyền buồm với vẻ ngây thơ, đôi mắt đượm buồn đăm chiêu và bối rối nhìn xa xăm.4
Có lẽ chính trong “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” ông mới thấy khao khát chân lý, và đi tìm, một cách kiên trì: Thuyết tương đối hẹp ông tìm 10 năm, Thuyết tương đối rộng 8 năm, thuyết trường thống nhất 30 năm vẫn chưa kết thúc, nhưng trở thành di chúc mãi mãi cho nhân loại. Một người đầy những ham muốn vật chất và danh vọng giống như một tách nước đầy, sẽ khó có thêm chỗ cho chân lý. Nghe giống như chuyện thiền. Thực tế, làm khoa học là một dạng thiền với những mantra khoa học, cho nên cần một cuộc sống “tĩnh lặng và khiêm tốn”. Cuộc sống khác đi sẽ che lấp đi tầm nhìn đích thực, đưa ta đi xa khỏi cội nguồn sáng tạo bên trong.
Nhưng tại sao Einstein lại viết ra câu đó tại khách sạn sang trọng cho cậu bé? Có lẽ vì hình ảnh cậu bé sống hồn nhiên với cái nghề đơn sơ đã truyền cảm hứng cho ông, phù hợp với quan niệm một cuộc sống đơn giản của ông, nên khiến ông đã chọn cậu bé làm “sứ giả”.
Có lẽ còn thêm một nhân tố nữa. Bản thân Einstein đã gặp vô số bất ổn, ngay cả sự đe dọa tính mạng ông, chỉ vì sự nổi tiếng của ông – ngoài ý muốn – chứ không phải do ông đi tìm. Walther Rathenau, bộ trưởng ngoại giao của Cộng hòa Weimar, gốc Do Thái và là bạn thân ông, đã bị bắn chết ngay trên đường phố tháng 6 cùng năm. Đó là một sự báo động cho ông. Sau đó ông bỏ đi chu du để tránh sự chú ý ở Berlin, như nhiều người đã khuyên ông. Có lẽ sự bất ổn đã góp phần khiến ông lập lại triết lý về một cuộc sống đơn giản trên mảnh giấy?
***
Nhưng xa hơn, đằng sau “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” có điều gì quan trọng mà Einstein muốn đạt tới không? Có, đó chính là hai chữ tự do – khát vọng sâu thẳm và cao cả xuyên suốt cuộc đời ông. Vâng, tự do đối với ông là mệnh lệnh cho cuộc sống. Einstein sẵn sàng đánh đổi tất cả để có cuộc sống tự do. Tự do để có nhân phẩm, để phát triển những phần thiên phú trong con người mà tạo hóa đã ban cho. Tự do để có khoa học, có nghệ thuật, để có chân, thiện, mỹ. Tự do là thiêng liêng. Ông là “người tự do nhất”, như nhà vật lý Mỹ Gino Segrè viết. “Chính tự do này đã đưa ông đến vị trí vinh dự và kính trọng mà thế giới dành cho ông như nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi và một trong những con người vĩ đại. Ông thực ra là chủ nhân của số phận ông, cũng như là một lực lượng định dạng số phận của chúng ta”. Đúng như thế, “Không có tự do kia, sẽ không có Shakespeare, không có Goethe, Newton, không có Faraday và Pasteur. […] Vì chỉ con người tự do mới làm ra những khám phá và giá trị tinh thần, những thứ làm cho cuộc sống chúng ta, những con người hiện đại, trở nên đáng sống” như Einstein viết năm 1933.
Chúng ta sẽ không hiểu Einstein nếu không cảm nhận được tầm quan trọng của hai chữ tự do đối với Einstein là thiết yếu dường nào cho cuộc sống tinh thần – bao gồm tự do nội tâm và tự do đối với bên ngoài xã hội:
Để phát triển khoa học và hoạt động sáng tạo nói chung cần phải có một thứ tự do khác, người ta có thể gọi là tự do nội tâm. Đó là cái tự do của tinh thần thể hiện qua sự độc lập của tư duy trước các trói buộc của thành kiến, của quyền lực và xã hội, cũng như trước những trói buộc của suy nghĩ lệ thường và thói quen không phê phán. Tự do nội tâm này là một món quà hiếm có của thiên nhiên ban cho và là một mục tiêu đáng giá cho cá nhân. Cộng đồng cũng có thể đóng góp rất nhiều vào việc giáo dục tự do nội tâm này, bằng cách cộng đồng ít nhất không ngăn cản sự phát triển của nó. Trường học, bằng ảnh hưởng gia trưởng và bằng gánh nặng trí óc thái quá cho những cá nhân trẻ, có thể ngăn cản sự phát triển của tự do nội tâm, hoặc ngược lại bằng khuyến khích tư duy độc lập, sẽ tạo thuận lợi cho nó. Chỉ khi tự do nội tâm và tự do bên ngoài được vun xới một cách có ý thức và lâu dài thì mới có được điều kiện cho sự phát triển tinh thần, cho sự hoàn thiện và cải thiện đời sống nội tâm và bề ngoài.5
Cuộc sống đơn giản là đi liền với tự do nội tâm. Nhưng để có tự do bên ngoài, xã hội cần phải có khoan dung, và không được gây không khí sợ hãi:
Loại khoan dung quan trọng nhất vì thế là sự khoan dung của xã hội và nhà nước đối với cá nhân. Nhà nước dĩ nhiên là cần thiết, để bảo đảm cho cá nhân sự an toàn cho sự phát triển của nó, nhưng nếu nhà nước trở thành chính yếu, và từng cá nhân trở thành công cụ mù quáng của nó, thì những giá trị tinh túy hơn sẽ mất đi. Như ghềnh đá trước hết phải dạn dày sương gió để cây có thể mọc trên đó, cũng như miếng đất canh tác trước nhất phải được làm xốp đi, để nó có thể tạo nên sự mầu mỡ, thì tất cả những thành tựu giá trị chỉ đâm chồi từ một xã hội con người, khi nó đủ thông thoáng để tạo điều kiện cho từng con người sự phát triển tự do cho những khả năng của nó.6
Cho nên Einstein mới chấp nhận cuộc sống cô đơn, sự cô đơn có thể làm ông đau khổ trong thời trai trẻ, nhưng “trong những năm tuổi về chiều lại ngọt ngào”, như ông tự nói.
***
Chốc chốc Einstein lại lên tiếng như muốn nhắc nhở con người về ý nghĩa của một “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn”, và để cảnh báo trước sự ám ảnh và cám dỗ của sự thành công, quyền thế và vật chất, những thứ giết chết tự do, kềm hãm sự phát triển lành mạnh. Không có tự do nội tâm, con người sẽ cằn cỗi; và không có tự do đối với bên ngoài, con người sẽ èo ọt tinh thần. Xã hội, thế giới, không thể phát triển lành mạnh với những con người mà tâm thức bị sụp đổ, hay khô héo.
Nếu như khoa học của Einstein giống như một “nghi thức truyền tâm ấn, khoa học như một sự thỏa mãn tâm linh”, như nhà vật lý học Marcelo Gleiser nhận xét7, thì câu nói “cuộc sống tĩnh lặng và khiêm tốn” có lẽ cũng có thể được xem như một dạng “truyền tâm ấn” cho một cuộc sống hạnh phúc đích thực.
Einstein không muốn làm một người “truyền giáo”, nhưng thông điệp toát ra từ những gì ông viết, gần như có tính “truyền giáo”, cho một “tôn giáo” của đời thường. Ông không sống khổ hạnh như Thánh Francis, mà sống một cuộc đời “tĩnh lặng và khiêm tốn” bình thường. Có lẽ trong cậu bé, ông nhìn thấy một tâm hồn hồn nhiên và đơn giản, chưa bị che lấp bởi sương mù dục vọng. Chỉ có những đứa trẻ hồn nhiên mới dễ là những nhà triết học thơ ngây, mới dám đặt những câu hỏi táo bạo mà chưa cần những câu trả lời. Einstein đã từng đặt câu hỏi về ánh sáng lúc 16 tuổi mà chưa biết câu trả lời cho đến mãi mười năm sau ông tìm thấy nó trong thuyết tương đối hẹp. Người lớn đã mất đi tính hồn nhiên và tự phát. Họ đã trở thành những người “tuân giáo”, conformist, thuần thục của xã hội, mất đi con mắt tò mò để nhìn vượt khỏi khuôn khổ xã hội họ đang sống.
Einstein là một người sống đơn giản nhưng phong phú, như một “người nghèo mà rất giàu có”. Gandhi, người Einstein ngưỡng mộ suốt đời, cũng từng cổ xúy cho “đạo sống đơn giản”: “Hãy sống đơn giản để cho những người khác sống đơn giản.” Thánh Francis là người cũng từng dạy cho con người sống giản đơn bằng kinh thánh: Tôi kể cho quý vị chân lý, trừ khi quý vị thay đổi và trở thành những đứa trẻ nhỏ, quý vị sẽ không bao giờ bước vào vương quốc của Trời. Với Einstein, giữ được sự hồn nhiên và nhạy cảm của tâm hồm để ngưỡng mộ thế giới là điều kiện để bước vào vương quốc của vũ trụ, của “đạo vũ trụ”. Đối với ông, ai không biết rằng cái đẹp nhất là cái bí ẩn nhất của tạo hóa, nếu ai “không còn khả năng ngạc nhiên, sửng sốt trước nó, người đó coi như đã chết, ánh mắt đã tắt lịm đi.” 8
"Lý thuyết hạnh phúc" của Einstein được bán với giá siêu kỷ lục
Ảnh chụp phơi sáng hệ Ngân Hà phía trên Biển Đen. 
(Ảnh: Jasmine K, Shutterstock)
Ngân Hà là mái nhà của 400 tỉ vì sao, trong đó có mặt trời và thái dương hệ chúng ta. Nó là môt thiên hà có hình xoắn ốc (spiral) với đường kính khoảng 120.000 năm ánh sáng. Ngân Hà thu hút không biết bao nhiêu sự chú ý của con người, từ nhà thơ đến các nhà thiên văn học và nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp hay tài tử.
Chúng ta nhớ lại, cái gì cuối cùng đã khai sáng con người? Cái gì đã tạo nên lý tính? Cái gì đã tạo ra khoa học hiện đại? Cái gì đã giải phóng chúng ta khỏi u mê? Cái gì đã tạo ra hình hài của con người? Đó chính là các tinh tú trên trời và vũ trụ. Chúng ta là một phần của vũ trụ, hay nói vui như một nhà hóa học ví dí dỏm, “sản phẩm tái chế từ bụi tinh tú”, nhưng biết tư duy. Ngạc nhiên, sửng sốt, wonder, là mở rộng trái tim trước vũ trụ, để học, suy ngẫm, nhìn thấy. Ngạc nhiên là con đường để thành người của chúng ta. Thế giới không phải để cho chúng ta tiêu pha, mà để chúng ta giải các bài toán, như ý tưởng tuyệt vời của Kant. Ngạc nhiên là mở rộng trái tim để nhận thêm năng lượng trí tuệ của vũ trụ, như cây cỏ, sinh vật nhận ánh sáng mặt trời, và để đánh thức trong chúng ta ý thức về một sự liên thông của đại gia đình vũ trụ mà con người là một thành viên. Và ngạc nhiên để chúng ta khỏi quên làm “những vị khách tốt, đi nhẹ nhàng trên hành tinh như các sinh linh khác của nó cùng sống chung trên đó” (Chỉ một trái đất của Hội nghị Môi trường Stockholm năm 1972).
***
Tại Hội chợ Thế giới New York tháng 8, năm 1938, tại Thành phố New York, Einstein được mời viết một thông điệp để đưa vào một “Capxun thời gian” (time capsule) chứa đựng nhiều hiện vật của thế giới loài người được chôn cất sâu xuống 15 mét cẩn thận, và sẽ chỉ được đào lên năm 6939, nghĩa là sau đúng 5.000 năm kể từ khi được niêm phong. Không biết lúc đó thế giới sẽ ra sao, con người vẫn còn là con người, văn hóa con người vẫn còn tồn tại, và người ta vẫn còn biết Einstein là ai? Hoa vẫn còn nở, chim vẫn còn hót, nhạc Bach, Mozart vẫn còn được yêu thích?
Những điều được trình bày trên đều có tính tư biện, phỏng đoán, nhằm cố gắng “giải mã” một bí ẩn của Einstein. Chúng ta chờ xem có thêm những nỗ lực khác hay không.
Nguyễn Xuân XanhCuối tháng 10, 2017
Đăng lại từ Rosetta.vn
Mời độc giả ghé thăm để tìm hiểu thêm các bài viết của tác giả.
Chú giải:
1. Xem Albert Einstein, Mặt Nhân Bản, nxb Tổng hợp Thành phố HCM
2. Xem thêm EINSTEIN của Nguyễn Xuân Xanh, nxb Tổng hợp Thành phố HCM
3. Xem thêm Mặt Nhân Bản
4. Mặt Nhân Bản trong Lời dẫn nhập
5. Xem thêm EINSTEIN
6. Trong EINSTEIN, hay Mặt Nhân Bản
7. Xem Mặt Nhân Bản, Lời dẫn nhập
8. Xem thêm EINSTEIN
Nguồn Trithucvn