Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Người đàn bà hóa đá


Minh Diện
               
 Trích lá thư từ Cali“Lần này không đạt được ước nguyện, chắc má con chết mất chú ơi, con lo quá! Con hy vọng chú  giúp được má con. Chú cố lên chú nghe! Con cảm ơn chú nhiều! Con Đoàn Mai Hương”.
               Tôi nhận được lá thư ấy trước khi chị Ba Ninh, má của Mai Hương về nước hơn chục ngày. Tôi cảm thấy như có cục đá đè nặng lên ngực làm tôi nghẹn thở. Ứớc nguyện chị Ba Ninh đeo đuổi ba chục năm nay là tìm được hài cốt anh Lê Hưng, nay vẫn chưa thành, dù chị đã  từ Mỹ vế Việt Nam hết lần này lần khác.
              Ra đón chị ở sân bay Tân Sơn Nhất, tôi càng cảm thấy áp lực đè nặng hơn. Vừa nhìn thấy tôi chị đã hỏi đồn:
             - Chú nhận được thư con Mai Hương chưa? Mai mình đi Bắc được chưa?
              Tôi nhìn chị Ba Ninh bỗng giật mình, chị già đi nhanh quá. Mới năm kia tóc còn xanh, nay đã bạc gần hết, gương mặt  khô héo, hai mắt thâm quầng như bị thiếu ngủ. Tôi nói với chị:
              - Chị nghỉ vài bữa lại sức rồi tính!
              Chị Ba Ninh phẩy tay:
              - No! phải đi liền! Bây giờ ‘búc’ vé mai bay luôn!
               Trên xe về thành phố chị Ba Ninh cứ nhắc đi nhắc lại như vậy, vợ tôi trêu tuần sau mới đi, chị  khóc òa như một đứa trẻ khiến vợ chồng tôi bối rối.
              Chị Ba Ninh không có họ hàng gì với gia đình tôi mà chỉ là hàng xóm với nhau. Năm 1979 tôi cưới vợ, mua căn nhà nhỏ ở đường Trương Vĩnh Ký, đối diện với nhà chị. Mấy ngày đầu tôi dọn đến ở, chị Ba Ninh tránh mặt không muốn tiếp xúc. Có hôm tôi mở cửa nhìn ra, thấy chị định chào, chị kéo nón chụp mặt bước nhanh không ngoái lại. Có lần đứa con trai út của chị đứng thẩn thơ ngoài đường, tôi vừa cầm tay cháu làm quen, chị từ trong nhà chạy ra nói với tôi:
             - Xin lỗi  cháu làm phiền ông!
             Tôi nói:
            - Tôi chỉ muốn làm quen với cháu thôi chị ạ !
              Chị Ba Ninh không nghe tôi nói, lặng lẽ kéo con vào nhà.
              Hai gia đình đối diện nhau, ngày ngày nhòm thấy nhau mà lạnh lùng thế này thì buồn quá! Người phụ nữ này đối với tôi vừa e dè, vừa sợ vừa khinh thường, tôi tự thấy như vậy! Tôi mới tới đây chưa đầy một tuần đã làm gì gây nên ác cảm như vậy?
            Tôi đang băn khoăn thì ông tổ trưởng dân phố tìm đến. Đó là một lão già ngoài sáu chục tuổi, gầy đét, mặt lưỡi cày nhọn hoắt, dáng đi khòng khòng, mặc quần tây áo sơ my đóng thùng cẩn thận, tay cầm cuốn sổ bìa đen dày cộm. Ông nói với tôi:
               -Tôi biết đồng chí về đây một tuần rồi, nhưng phải tìm hiểu xác đính nhân thân của đồng chí, hôm nay mới sang nói chuyện!
               Ô hay, cái ông già này là gì mà tìm hiểu nhân thân mình? Tôi ngạc nhiên nhìn xoáy vào cái mặt vênh váo vẫn hay  gặp ở  chốn công quyền. Tôi hỏi:
              - Chú nói gì, tôi nghe đây?
              - Vội gì? Uống nước đã chưa?
               Trong khi tôi pha trà, ông tổ trưởng đưa cặp mắt ti hí soi mói khắp nơi, như tìm kiếm và định giá từng thứ đồ vật trong nhà tôi. Tôi đưa mời ly nước, ông  uống ực, rồi nói:
              - Ta xưng hô đồng chí cho đúng mực! Trước tiên tự giới thiệu tôi là Hồ Khóa, cán bộ miền Nam tập kết về, trước khi nghỉ hưu làm phó bí thư chi bộ kiêm thư ký công đoàn cừa hàng rau quả chợ Mơ Hà Nội, hiện nay là tổ trưởng an ninh khu phố này. Qua điều tra xác minh, được biết đồng chí  là sỹ quan quân đội chuyển ngành làm phóng viên nhà báo, là đảng viên của đảng, nên tôi rất mừng, vì tổ dân phố ta có thêm lực lượng nòng cốt, nên hôm nay sang đây trao đổi mang tính chất nội bộ với đồng chí!
                Ông Khóa không đợi tôi mời, cấm ly nước thứ hai uống ực. Hình như cái thân hình gầy quắt kia lúc nào cũng thèm ăn, thèm uống và thèm nói? Ông  lấy cặp kính lão đeo lên mắt, mở quyển sổ  đen ra, tôi liếc nhìn thấy ghi đặc kín. Giọng nói của ông rít trong cổ họng vừa có vẻ bí mật vừa khoe khoang:
               - Trước hết tôi quán triệt cho đồng chí hiểu là tổ dân phố chúng ta hiện nay có 30 hộ, 155 khẩu, trong đó 30% thành phần nòng cốt đáng tin cậy, 30% trung gian còn 40% là người của chế độ cũ, tư sản có thâm thù với cách mạng vả giai cấp , là đối tượng rất nguy hiểm …
                Ông Khóa  uống một ly nước nữa rồi tiếp:
               - Về biểu hiện hàng ngày, quá trình theo dõi, tôi trao đổi cụ thể với đống chí như sau: Ở cách nhà đồng chí một căn là nhà  đồng chí Thế, đại úy hậu cần Bộ tư lệnh thành phố, hay uống rượu với mực khô nướng, thỉnh thoảng đưa bạn bè về nhậu, hay chửi thề. Cách nhà đồng chi hai căn là nhà ông Khuê, trước giải phóng làm ở ngân hàng, có con vượt biên, có thái độ bất mãn ngầm, mấy lần gặp tôi không chào cứ khinh khỉnh, sáng nào cũng uống cà phê sữa.  Cách nhà đồng chí ba căn là nhà ông Thái, hay ăn thịt gà, mới hôm qua tôi phát hiện giết một con gà mái gói lông vào tờ báo bỏ vào túi quần mang ra vứt xuống ống cống. Cách nhà đồng chí bốn căn là nhà bà Nhưng có cô con gái mặc áo hở ngực, nghi làm gái điếm…
                Tôi phì cười cắt lời ông Khóa:
               - Chú đã đọc truyện “Nhũng người khốn khổ” của Victor Huygo chưa? Tôi thấy chú giống y như Giave !
                Ông Khóa hỏi:
                - “Đồng chí  Ca ve” ấy thế nào?
                Tôi nói:
               - Đi rình !
               - Tốt!
                Ông Khóa hạ giọng nói vừa đủ cho tôi nghe:
               - Tôi đang theo dõi cái đối tương trước mặt nhà đồng chí kia! Con mụ Ba Ninh đó. Chồng mụ là thiếu tá pháo binh ngụy đang đi học tập cải tạo, mụ ở nhà với hai đứa con, một gái một trai, đứa con gái năm nay 16 đang học lớp 12, thằng con trai mới lên 4. Mụ này vượt biên ba lần không thoát, hiện nay đang chuẩn bị vượt biên lần thứ 4, mụ này hay thức khuya, rất khinh thường chế độ ta, có biểu hiện chống đối ra mặt…
               Tôi rùng mình sởn gai ốc vỉ kinh tởm lão Khóa và cái bộ máy sử dụng lão. Thật đê tiện bẩn thỉu! Chúng  theo dõi từ miếng ăn giấc ngủ của người khác. Chúng soi mói vào đời tư từng con người. Mỗi ngóc ngách cuộc sống, từ vật chất đến tinh thần của  công dân đều không thoát khỏi con mắt cú vọ của chúng! Tôi mới tới đây có một tuần mà đã lọt vào trong vòng ngắm của chúng rồi!
              Tôi nói với lão Khóa:
              - Ông đúng là một tên Gia ve bẩn thỉu ! Mời ông  khỏi nhà tôi, từ giờ phút này, cấm ông bén mảng tới đây!
              - Mày dám!
               Lão Khóa tự ái, nổi khùng ngay lập tức.
               Tôi túm cổ áo lão kéo ra đường, nói to:
               - Cút!
               Hành động của tôi hôm đó lọt vào mắt chị Ba Ninh. Gặp tôi chị không khinh khỉnh cúi mặt mà mỉn cười chào hỏi thân thiện. Thỉnh thoảng chị ghé qua nhà tôi nói chuyện với vợ tôi.
               Giáp tết năm ấy chị Ba Ninh  mang cho nhà tôi một đĩa bánh thuổn do chị tự làm. Đây là loại bánh nguyên liệu gồm  bột mỳ đánh thật nhuyễn với trứng gà, đổ vào những chiếc khuôn bằng gang, đậy vung thật khít, đặt trên bếp than củi, khi bánh chín nở bung đầu phía trên, có mùi thơm  ngậy, rất ngon. Bánh thuổn là đặc đặc sản của người Quảng Nam mỗi khi tết đến xuân về. Dù giàu hay nghèo, dù bận bịu đến đâu, tết đến cũng phải đúc bánh thuổn cúng ông bà. Người ta còn đoán hên xui khi đúc bánh thuổn. Nhà nào cuối năm  đúc bánh thuổn nở đều,  hy vọng  mọi việc sang năm tốt đẹp, ngược lại bánh không nở mọi việc thất bại.
                 Hôm ấy chị Ba Ninh mang cho nhà tôi đĩa bánh chị vừa đúc còn nóng hổi, cái nào cũng nở bung như bông hoa. Chị cười rất tươi nói với vợ chồng tôi:
               - Tôi hy vọng năm nay mình sẽ gặp hên!
                Vợ tôi nói:
               - Em chúc chị thuận buồm xuôi gió!
                 Chị Ba Ninh ngồi thừ ra suy nghĩ một lúc lâu, rồi nói với tôi:
                 - Nói thực với chú, tôi đã tâm sự với thím ấy. Nhân dịp tết này tôi cho hai cháu vượt biên. Tôi biết chú thím là người tốt nên tôi không giấu, trong khi tôi giấu hết cha mẹ tôi cũng như bên chồng tôi. Tôi phải cho con tôi đi vì tương lại của chúng nó. Ở lại đây suốt đời không ngóc đầu được với cái lý lịch bố thiếu tá ngụy đi học tập cải tạo chú ạ! Con Mai Hương giỏi nhất lớp môn Anh văn mà không được chọn đi thi toàn trường, tương lai không được thi vào đại học chú ơi…
                Chị Ba Ninh nói xong mặt tái mét như không còn hạt máu. Chị run bắn lên biu vào cái bàn, nhưng vẫn gục xuống. Hình như chị hoảng loạn vì đã trót mang điều bí mật sống còn ra nói với một người mới quen, hơn nữa lại là một cán bộ như tôi. Nhìn người phụ nữ yếm thế trước mặt mình, nghĩ tới những lời miệt thị cùa lão Khóa, tôi cảm thấy thương chị, lo cho chị và hai đứa nhỏ. Tôi nói với chị:
                 - Tôi không khuyên chị nên đi hay nên ở. Chỉ khuyên chị hết sức thận trong! Và tôi chúc chị may mắn!
                 Nghe tôi nói thế, chị Ba Ninh bình tĩnh lại, trên môi nở một nụ cười héo hắt. Chị nắm chặt bàn tay tôi:
                 - Vậy là chú?
                 - Vâng, chị hãy tin tôi không bao giờ làm hại chị !
                  Đêm ba mươi năm ấy, chị Ba Ninh và hai đứa con ra đi,  và lần này họ đến được đảo Pradong của Malaysia, rồi 6 tháng sau được định cư ở Mỹ.
                   Mười năm sau chị Ba Ninh về Việt Nam lần đầu tiên. Ngôi nhà chị ở đường Trương Vĩnh Ký nhà nước đã tịch thu giao cho một cán bộ. Tôi cũng không ở con đường đó nữa mà chuyển lên Bàu Cát cách đó vài khu phố. Chi Ba Ninh tìm được nhà tôi, báo tin buồn  anh Lê Hưng chồng chị chết năm 1979, chị về làm các thủ tục lấy hài cốt của chồng chị.
                   Cuộc tìm kiếm ấy  kéo dài đã hơn hai mươi năm. Cứ hai năm chị Ba Ninh gom góp tiền từ Mỹ về một lần, có lấn ở cả hai ba tháng nhưng vẫn như mò kim đáy bể.
                   Anh Hưng chồng chị  bị bắt đi cải tạo từ ngày 25-7-1975 , lúc đầu giam ở  Bố Lá , rồi đưa ra Đồng Nai, rồi Hà Nam và cuối cùng  chuyển lên Lạng Sơn. Phần lớn hồ sơ lưu ở trại cải tạo Lạng Sơn, đã bị thất lạc trong cuộc chiến tranh năm 1979 khi  quân Trung Quốc tràn sang xâm lược nước ta nên đến đây gần như bế tắc.


Lạng Sơn bị lính Trung Quốc tàn phá trong cuộc  chiến tranh xâm lược 1-1979

               Cách đây mấy tháng một người tên Vũ Trần Tuấn, ở bang Wasington đã lặn lội tới Califonia tìm chi Ba Ninh. Người này cùng bị cải tạo với Lê Hưng  ở Lạng Sơn, năm 1995 được tha và năm 1998 đi Mỹ theo diện HO. Ông Tuấn đã kể lại  trường hợp đặc biệt của ông và Lê Hưng.
                 Khi quân Trung Quốc tràn biên giới đánh sang Việt Nam , Lạng Sơn là một mặt trận nóng bỏng. Trại cải tạo sỹ quan chế độ Viêt Nam cộng hòa nằm trong vùng xung đột , không sơ tán kịp,   nhiều sỹ quan đang cải tạo tại đây đã trở thành đồng đội của bộ đội cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Hưng và anh Tuấn là hai trong số những  người đó.
               Ông Tuấn kể: “Trong đêm chúng tôi nghe tiếng pháo nổ ở Chóp Chài vọng tới rồi hôm sau xe tăng Trung Quốc ào ạt tấn công vào Lạng Sơn. Trại cải tạo cũng bị tấn công, anh em bảo vệ hy sinh rất nhiều. Chúng tôi nói với người chì huy, hãy tin chúng tôi, cho chúng tôi cầm súng chiến đấu bên cạnh anh em bộ đội. Trong giờ phút ấy, chúng tôi quên hết quá khứ, quên hết mặc cảm, chỉ nghĩ mình là người Việt Nam, phải đoàn kết lại chống quân xâm lươc Trung Quốc. Lòng căm thù bộng trào lên trong lòng. Cùng với lòng căm thù, và lòng tự hào, kiêu hãnh tưởng như đã bị vùi lấp trong những năm qua bỗng trỗi dậy. Người lính điều khiền cự ly pháo hy sinh anh Hưng thay thế vị trí anh ấy, tôi tiếp đạn. Khi bọn Trung Quốc sáp dzô chúng tôi bắn Ak, loại vũ khí trước đó anh em bộ đội mới hướng dẫn cho chúng tôi…Anh Hưng theo đơn vị pháo và mấy ngày sau tử trận ở khu vực sông Kỳ Cùng chân dãy núi Mẫu Sơn” .
               Ông Tuấn còn giữ được mảnh giấy viết tay như sau: “ Tôi Nguyễn Đức Minh đại đội phó đại đội 1 tiều đoàn 3 Trung đoàn 12 ghi nhận anh Lê Hưng và Vũ Trần Tuấn đã tham gia chiến đấu với đơn vị, anh Lê Hưng đã tử trận ngày 28-2-1979 tại mặt trận Lạng Sơn”.
               Tôi cùng chị Ba Ninh ra Hà Nội và ngược đường lên Lạng Sơn. Tìm vào Trung đoàn 12 , được tin đại đội phó Nguyễn Đức Minh đã hy sinh mấy ngày sau ông Lê Hưng. Những người chỉ huy mới của Trung đoàn hiện nay không biết sự kiện sảy ra ba mươi năm trước, chính họ cũng đang day dứt vì hàng trăm liệt sỹ cùa đơn vị bây giờ vẫn  nằm rải rác đâu đó quanh dãy núi Mẫu Sơn, Chóp Chài, Lộc Bình hoặc những nơi Trung Quốc còn chiếm đóng.
               Dù biết là vô vọng, tôi vẫn chiều theo chị Ba Ninh, đi hết nghĩa trang này tới nghĩa trang khác. Tới nghĩa trang nào chị cũng bày hoa trái trước đài Tổ Quốc Ghi Công khấn vái rồi đi thắp nhang từng ngôi mộ liệt sỹ. Chị dán mắt vào từng hàng tên liệt sỹ, và đứng thẫn trước những tấm bia ghi liệt sỹ vô danh.
              Từ Lạng Sơn chúng tôi lên Cao Bằng, Hà Giang. Hết ngày này qua ngày khác, rồi lại quay về Lạng Sơn. Hết nghĩa trang liệt Sỹ đến nghĩa trang nhân dân.
              Một buổi chiều chúng tôi  đến một nghỉa trang trên bờ sông Kỳ Cùng. Nghĩa trang nhỏ, thưa thớt vài chục nấm mộ , hầu hết không có bia, đã xác xơ, tàn phế theo thời gian. Nghiã trang nhìn xuống dòng sông Kỳ Cùng, phía bên kia  lả vùng đất Việt Nam hiện còn đang bị Trung Quốc lấm chiếm, nhấp nhóa những lá cờ đỏ chót như máu tươi  trên những mái nhà lô xô như đồn bốt.
              Chúng tôi lần mò tìm kiếm trong vô vọng , bên này sông và chảy máu mắt nhìn qua bên kia sông. Ngày xưa ông cha ta đã dặn con cháu đừng bao giờ để mất một tấc đất của tổ tiên vậy mả bây giờ ta để mất. Những chừ đề trên ải Mục Nam Quan làm cho giặc phương Bắc kinh hồn giờ đâu rồi?
Tôi tự hỏi, không ai trả lời mà chỉ nghe tiếng gió.
             Gió! Gió hất ngược từ lòng sông Kỳ Cùng lên, ào ào tràn vào cái nghĩa trang hoang vắng, hất tung những bụi cỏ cuối thu xác xơ. Gió lùa vào những hốc mộ hoang rít lên tiếng kêu hu hu như tiếng khóc.
            Chị Ba Ninh ngồi lặng câm bên ngôi một vô danh, không có mộ bia, chỉ có một tảng đá tự nhiên như một người đàn ông đứng vươn ngực ra phía dòng sông. Hôm nay  người quắt lại sau gần một tháng trời bươn bà tìm hài cốt chồng, không đạt được ước nguyện. Chi lấy kéo cắt từng lọn tóc của mính thả xuống dưới chân tảng đá hình người đàn ông. Chị cắt hết mái tóc đã bạc qua những năm tháng đớn đau cùng số phận của dân tộc!
           Gió! Gió từ lòng sông Kỳ Cùng cuồn cuộn tràn vào, cuốn mái tóc của người đàn bà thủy chung và khốn khổ lên vách núi, rồi hất ngược ra, dội lên thành tiếng thét gào! Chị Ba Ninh bấu chặt tay vào tảng đá, gương mặt chị không vui, không buồn, như hóa đá giữa hoàng hôn!

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Xấu hổ với giấy phép lái xe mới của Bộ ông Thăng


Với một mẫu giấy phép lái xe in song ngữ để có thể xuất trình ở nước ngoài, kích cỡ chỉ nửa bàn tay và có vài chục ký tự mà Bộ GTVT còn để lọt những lỗi Anh ngữ ngô nghê đến như vậy thì thật là... xấu hổ.



Ngoài ra, tùy vào điều kiện tình hình địa phương, các sở GTVT sẽ trang bị hệ thống máy móc in ấn GPLX mới. CSGT khi tuần tra trên đường nếu phát hiện nghi ngờ về GPLX giả có thể nhắn tin, gọi điện về tổng đài trung tâm dữ liệu GPLX đặt tại TCĐB là kiểm tra được.Mẫu GPLX mới dự kiến được Bộ GTVT triển khai cấp trên phạm vi cả nước từ đầu năm 2013. Theo ông Nguyễn Thắng Quân - Vụ trưởng Vụ Quản lý phương tiện người lái - Tổng cục Đường bộ, đề án cấp GPLX mới đã được xây dựng từ rất nhiều năm trước. Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ 1 triệu USD để trang bị hệ thống máy chủ và máy in đặt tại tổng cục. Bộ GTVT trang bị thêm phần mềm quản lý thông tin khoảng 7 tỉ đồng.
Tuy nhiên, một công dân tên là Lê Văn Thịnh vừa đề nghị Bộ Tư pháp xem xét lại các quy định liên quan đến đề án cấp Giấy phép lái xe (GPLX) mới của Bộ GTVT. Theo ông Thịnh, GPLX mới được ủy nhiệm cấp sai thẩm quyền, phần tiếng Anh có nhiều lỗi, không phù hợp với các khái niệm trong thông lệ quốc tế.
Ông Thịnh đã chỉ ra hàng loạt bất hợp lý, sai sót trong GPLX mới. Chẳng hạn, trên góc trái GPLX ghi "Bộ GTVT" nhưng người cấp lại là Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Sở GTVT. Hiện nay, các sở GTVT không thuộc sự quản lý trực tiếp về mặt hành chính của Bộ GTVT. Các sở này thuộc sự quản lý của UBND cấp tỉnh, TP nên việc Bộ GTVT ủy quyền cho họ cấp GPLX là sai về thẩm quyền. Góc trái GPLX phải in tên cơ quan cấp là Tổng cục Đường bộ hoặc sở GTVT và dịch ra tiếng Anh.

Về nội dung song ngữ, ông Thịnh chỉ ra lỗi thiếu nhất quán khi Quốc hiệu Việt Nam trong GPLX mới không được dịch sang tiếng Anh. Tiếp theo, ông Thịnh cho rằng việc dịch "Giấy phép lái xe" thành Driver's License là không chuẩn xác, mà phải dùng cụm từ Driving Licence. Mẫu này Bộ GTVT từng sử dụng phụ lục 30 tại Thông tư 07.2009 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp GPLX của Bộ GTVT.

Ngoài ông Thịnh, nhiều chuyên gia ngôn ngữ cũng đã tham gia phân tích về mẫu GPLX mới dạng song ngữ Việt - Anh. Có vài điểm mà hầu hết mọi người đều chú ý và kết luận là sai sót không thể chối cãi, ví dụ từ "Ngày" dịch thành "Day" mới chính xác, còn từ "Date" dùng trong GPLX mới tức là đã bao gồm cả Tháng và Năm rồi, nên chữ "Month" và "Year" bị thừa. Lỗi này thể hiện trình độ ngôn ngữ và tư duy thiếu chặt chẽ. Tương tự, phần chữ ký không nên dùng từ Signed và Sealed, chính xác phải là Signature, Seal.



Ngoài ra, xét về ý nghĩa và bố cục, đa số phản hồi cho rằng GPLX mới bố trí không cân đối. Trong khi chữ ký, con dấu của người thừa ủy quyền cấp giấy phép quá to, thì Quốc hiệu Việt Nam trên GPLX lại "không được dịch ra tiếng Anh là bởi không đủ chỗ" - theo giải thích của ông Nguyễn Thắng Quân.

Trao đổi với báo giới, ông Quân cho rằng ông Lê Văn Thịnh "bắt bẻ" câu chữ. "Chúng tôi áp dụng dịch theo tiếng Anh - Mỹ. Còn việc Quốc hiệu nước ta không được dịch ra tiếng Anh là bởi không đủ chỗ", ông Quân giải thích.

Ngoài việc không thừa nhận và sửa các lỗi hiển nhiên về từ ngữ như Date - Day, Signed/Sealed - Signature/Seal, cách ông Quân lý giải về phương pháp "dịch thuật" của Bộ GTVT cũng sai ngay từ nhận thức ban đầu. Vấn đề là với GPLX mới, cũng như trong các văn bằng, chứng chỉ song ngữ khác của Việt Nam, người ta không "dịch sang tiếng Anh" các khái niệm mang đặc thù của tiêu đề Việt ngữ.

Với các giấy tờ này, cách làm đúng là đặt các khái niệm tương ứng bằng tiếng Anh - được sử dụng rộng rãi theo thông lệ quốc tế, vào bên cạnh (dưới hoặc sau) các tiêu đề Việt ngữ thể hiện cùng một nội dung. Ví dụ: Giấy phép lái xe/Driving Licence là một cặp khái niệm tương đồng, trong đó từ driving được dùng theo nghĩa của động từ điều khiển phương tiện. Nhưng trong tiếng Việt thì từ lái xe vừa có thể là danh từ - người điều khiển phương tiện, vừa có thể là động từ - lái xe, cho nên tên GPLX mới của Bộ GTVT cũng có thể dùng song song với cụm từ tiếng Anh tương ứng là Driver's License như hiện nay. Nhiều bang ở Mỹ cũng đặt tên bằng lái xe như vậy.
Trong nhiều trường hợp khác, có những tiêu đề Việt ngữ đặc thù quá phức tạp nên khó tìm cụm khái niệm tương đồng đầy đủ bằng tiếng Anh, ví dụ: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, cho nên có thể dùng từ Place of Residence, hoặc Address cho ngắn gọn cũng được.

Với một mẫu GPLX áp dụng toàn quốc, in song ngữ để có thể xuất trình ở nước ngoài, kích cỡ chỉ nửa bàn tay và có vài chục ký tự... thế mà Bộ GTVT còn để lọt những lỗi Anh ngữ ngô nghê đến như vậy thì thật là... xấu hổ. 

Người Việt đứng gần cuối bảng hạnh phúc


Lạ thật, ở Việt Nam từ chuyện lớn như chủ quyền đất nước, tới chuyện nhỏ như nghĩ gì, cảm thấy gì rồi viết ra trên blog cá nhân... đều được Đảng và Chính phủ lo hết, vậy mà dân chúng lại thấy ít hạnh phúc nhất, nhì hành tinh?

Việt Nam 'gần cuối bảng về độ hạnh phúc'


Một khảo sát vừa công bố của Gallup nói người Việt Nam xếp thứ 121/148 nước và lãnh thổ về độ hạnh phúc, ngang với Nga, Iran và Palestine nhưng trên Singapore, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. 
Trong số 10 nước đứng đầu về chỉ số hạnh phúc có hai nước trong khối ASEAN - Thái Lan và Philippines xếp thứ sáu và thứ tám.
Bảy trong số tám nước còn lại trong top 10 nằm ở Mỹ Latin với Panama, Paraquay, El Salvador, Venezuela chiếm các vị trí nhất, nhì, ba, tư.
Gallup nói họ đã hỏi 1000 người dân tại mỗi trong số 148 nước và vùng lãnh thổ được khảo sát trong năm 2011.
Các câu hỏi chính bao gồm:
  • Bạn có nghỉ ngơi thoải mái ngày hôm qua không?
  • Bạn có được đối xử một cách tôn trọng trong suốt cả ngày hôm qua không?
  • Bạn có mỉm cười và bật cười nhiều trong ngày hôm qua không?
  • Bạn có học hay làm điều gì thú vị ngày hôm qua không?
  • Thế còn các thú vui thì sao?
Các nước công nghiệp hàng đầu thế giới thuộc khối G8 nằm ở các vị trí khác nhau trong bảng xếp hạng: Canada - 11, Anh -30, Hoa Kỳ - 35, Đức - 50, Pháp - 51, Nhật Bản - 59, Ý - 90 và Nga - 118.
Các nước đứng cuối bảng theo thứ tự từ đáy lên là Singapore, Armenia, Iraq, Georgia, Yemen, Serbia, Belarus, Lithuania, Madagascar và Afghanistan.

'Việt Nam là sướng'

Tin Việt Nam đứng gần cuối bảng về chỉ số hạnh phúc cũng được trang tin 
Bấm
VnExpress của Việt Nam đưa lại với tít 'Người Việt ít hạnh phúc'.

Còn một nhà báo tại Sài Gòn bình luận trên mạng xã hội: "Tin hay không thì tùy nhưng theo kết quả khảo sát vừa công bố của Viện Gallup, dân Việt hài lòng với cuộc sống hơn dân Singapore nhưng bất hạnh hơn dân Lào, Cam bốt và tất cả các nước ASEAN còn lại."
Trong khi đó một số độc giả của 
Bấm
BBC trên Facebook, hầu hết là những người trẻ tuổi, cũng có những bình luận của riêng mình.

"Ngày hôm qua là ngày tồi tệ của mình, hỏi hôm khác thì hầu hết là mình cười và hạnh phúc" - đó là lời của Nguyễn Thùy Linh.
William Truong viết: "Người Việt Nam ít khi nào thú nhận điều không tốt về họ, hoặc trả lời đại cho qua - chẳng trách cái Viện Gallup này nhầm lẫn."
Nguyen Thanh Hung nhận xét: "Có đi nước ngoài học tập và làm việc mới hiểu, ở Việt Nam tâm lý hưởng thụ còn nặng.
"Các bạn đang quen sáng ăn bún phở, trưa cơm văn phòng, chiều bia bọt, tối cà phê?
"Ai sang nước ngoài học tập và làm việc mới hiểu ở Việt Nam là sướng, tất nhiên là trong trường hợp phải có đồng ra đồng vào, chứ không có tiền thì ở Việt Nam lại nhục hơn."
Hồi giữa năm nay 
Bấm
báo chí Việt Nam dẫn một khảo sát khác nói người Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới về hạnh phúc, chỉ sau Costa Rica.

Một số độc giả BBC cũng chỉ ra điều này và Trần Hùng bình luận: "Hạnh phúc là đúng rồi, sáng làm, chiều cà phê, tối nhậu, zô zô thế sao không vui, bia tiêu thụ nhiều mà không hạnh phúc sao được?"

'Con đường nguy hiểm'

Hãng tin AP của Hoa Kỳ dẫn lời một số chuyên gia nói rằng sự thịnh hành của chỉ số hạnh phúc có thể là "con đường nguy hiểm vốn có thể cho phép các chính phủ dùng cảm nhận tích cực của công chúng như cái cớ để phớt lờ các vấn đề".
Một số người trả lời phỏng vấn AP nói lý do các nước ở khu vực này lọt vào top 10 có thể do tính cách lạc quan của họ chứ không nhất thiết phản ánh mức sống hay tình trạng kinh tế.
"Phản ứng tức thời của tôi là điều này [độ lạc quan] bị ảnh hưởng bởi thiên lệch văn hóa" - đó là nhận xét của Eduardo Lora, người từng nghiên cứu thước đo thống kê về hạnh phúc khi còn là kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ.
Ông Lora cũng nói: "Các tài liệu thống kê cho thấy một số nền văn hóa thường phản ứng trước bất kỳ dạng câu hỏi nào theo cách tích cực hơn."
AP cũng hỏi người dân tại Panama, Paraguay, hai nước đầu bảng và Singapore, đứng cuối bảng.
Công nhân xây dựng Carlos Martinez nói ông không vui vì tội phạm gia tăng nhưng hạnh phúc về gia đình:
"Nhìn chung tôi hạnh phúc vì đây là đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên, một đất nước có vai trò quan trọng trên thế giới.
"Chúng tôi là người Caribbe, chúng tôi thích ăn mừng, ăn ngon và sống càng lành mạnh càng tốt. Ở đây có nhiều cơ hội, chỉ cần phải hy sinh hơn một chút thôi."
Còn Richard Low, một doanh gia ở Singapore nói: "Chúng tôi làm như chó mà được trả lương chết đói. Gần như chẳng có thời gian để đi nghỉ hay nghỉ ngơi nói chung vì người ta luôn phải lên kế hoạch - khi nào thì thời hạn chót hay cuộc gặp tiếp theo sẽ đến."
Trong khi đó Maria Solis, người bán hàng rong ở Paraguay nói: "Cuộc sống thật ngắn ngủi và chẳng có lý do gì để buồn vì nếu chúng ta giàu thì chúng ta cũng vẫn có vấn đề.
"Chúng ta phải tự cười chính bản thân thôi."




Bấm

Sổ hưu


Xuân Thọ
Bài thuyết trình của đại tá PGS-TS Trần Đăng Thanh đang là đề tài nóng trên mạng khiến tôi phải vào Ba Sàm để đọc, chứ lâu nay tôi chẳng bao giờ màng đến các bài nói chuyện, các buổi phổ biến nghị quyết kiểu đó. Về tất cả những điều bỉ ổi kiểu: „Tầu xâm lược nước ta, nhưng ta phải nhớ ơn Tầu“, hay „Ta phải học tập Triều Tiên, tuy để dân chết đói, nhưng đủ sức làm cho các cường quốc mất ăn mất ngủ“ thì tôi không cần phải bàn vì chúng không đáng để nói.
Nhưng việc ông Đăng Thanh lấy chuyện sổ hưu của cán bộ ra để hô hào họ phải „chiến đấu“ để bảo vệ nó, rồi ông lại lôi chuyện Đông Âu ra để dọa họ thì tôi buộc phải nêu vài ví dụ chính tôi chứng kiến để chứng minh là ông đại tá này cố tình bịa đặt, xuyên tạc lịch sử.
Tôi có rất nhiều thầy cô giáo cũ ở CHDC Đức (đều từ 70 đến 80 tuổi), đã về hưu từ ngày nước Đức thống nhất, nhưng vẫn có cuộc sống yên lành. Bà Inge L., hồi đầu là giáo viên tiếng Đức của chúng tôi. Sau năm 1971, chúng tôi về Việt Nam làm việc thì được biết bà đã chuyển sang làm công tác đảng SED (như đảng CSVN bây giờ) ở huyện Königs Wusterhausen, gần Berlin. Tuy không phải viên chức nhà nước, nhưng sau ngày thống nhất, chính quyền mới vẫn cho bà lĩnh lương hưu và bà có một cuộc sống thanh đạm, nhưng không thiếu thốn. Hiện nay bà sống cô đơn nên được xếp vào ở nhà xã hội, được bảo hiểm sức khỏe đàng hoàng. Chúng tôi thường xuyên điện thoại thăm hỏi nhau.
Năm 2006 và năm 2011 tôi có mời một số anh chị em bạn học cũ từ Việt Nam sang Đức chơi, (có thể có người đang đọc bài này). Cả hai lần chúng tôi đều kéo nhau về trường cũ, bỏ tiền ra làm một bữa liên hoan, có cả âm nhạc Việt Nam, mời toàn bộ các thầy cô đến dự. Họ rất mừng và nói: „Các học sinh Đức cũ không ai nhớ đến chúng tôi, nhưng người Việt các anh chị quả là rất ơn nghĩa, 40 năm rồi vẫn nhớ đến chúng tôi“.
Nhờ chúng tôi tổ chức họp mặt họ mới có dịp gặp nhau, vì trường cũ đã giải tán và nội bộ của họ có nhiều vấn đề: mất đoàn kết, thù hận nhau, do chính quá khứ của đảng SED để lại, nên họ không bao giờ chủ động gặp nhau.
Trong số phận của các thầy cô, tôi chỉ xin kể 2 sự việc:
1- Bà Magdalena M. vốn là một bà giáo rất đẹp gái, tóc bạch kim, cao ráo, dáng rất sang, dạy kỹ thuật truyền tin. Sau 40 năm gặp lại bà vẫn như vậy và lái xe BMW mui trần đến dự liên hoan. Trước kia tôi không quan tâm đến cuộc sống của bà, nay thấy bà nổi bật lên giữa các vị giáo già nua thanh đạm. Bà bảo: Lương hưu giáo viên của bà thì tạm đủ, nhưng ông chồng bà là đại tá không quân Quân đội Nhân dân Quốc Gia CHDC Đức. Sau khi thống nhất ông được lương hưu tương đương như ông quan ba Tây Đức nên khá lắm! Bà buồn là ông mới mất và nay bà chỉ còn sống bằng lương hưu của bà và 1 phần lương hưu bà góa của ông (Witwenrente).
Bà M. than phiền với tôi là: So với ông đại tá ở phía Tây Đức thì cái tỷ lệ lương hưu để lại cho bà góa có ít hơn.
Tôi không biết điều bà M. nói đúng hay sai, nhưng tôi an ủi bà: Ngày trước ông nhà chỉ lo mỗi việc là tiêu diệt người ta, sau này người ta trả lương hưu hậu như vậy, lúc ổng qua đời, bà còn được lương bà góa của ông nhà thì chắc là sự bất công không bằng đồng bào tôi ở Sài Gòn đã chịu, họ không những không có lương hưu mà còn phải đi cải tạo, có người chết mất cả xác.
Bà M. không phản đối điều tôi nói và trầm ngâm hẳn. Từ đó đến nay, bà vẫn hay gửi email trao đổi chuyện chính trị với tôi.
2- Ông bà Joseph và Gundela GL. là hai người tôi coi như bố mẹ nuôi. Bọn con trai, mấy thằng Erwin, Peter, Michael vẫn chơi bóng đá với đám thanh niên Việt Nam chúng tôi, con bé Martina suốt ngày quấn quít với các bạn gái Việt. Suốt mấy chục năm xa cách tôi vẫn thư từ cho bà. Đùng một cái, từ năm 1990, sau thống nhất đất nước Đức, tôi mất liên lạc với bà. Tôi dò hỏi các thầy cô cũ thì biết cả hai ông bà từng là mật vụ chìm cho STASI (An Ninh CHDC Đức) nên khi chế độ sụp đổ, mọi việc vỡ lở, ông bà xấu hổ quá, đưa cả gia đình đi xa.
Từ khi sang Đức, tôi đã cất công tìm tung tích của ông bà, vì tôi vẫn nhớ đến tình cảm của họ đối với đám thanh niên Việt chúng tôi khi xưa. Là người Việt Nam, tôi thừa hiểu cái bi kich “cá chìm” mà hàng triệu người Đông Đức hồi đó phải gánh chịu, dù là nạn nhân hay là thủ phạm. Đối với tôi tình cảm con người là trên hết.
Nhờ có Internet và hệ thống sổ điện thoại điện tử, tôi đã tìm được gia đình ông bà GL. Ông bà có một căn nhà nhỏ trên đảo Usedom, nằm trên biển Baltic, gần Ba-lan. Ông bà rút vào cuộc sống ẩn dật để tránh mọi quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp cũ. Câu con cả Erwin làm giám đốc trung tâm điều dưỡng trên đảo và vẫn chăm nom ông bà. Ông bà cảm động lắm và nói là họ đã mất hết bạn bè người Đức, nhưng may mà tôi đã đến với họ.
Điều làm ông bà ân hận nhất là cái „sổ hưu“. Vì là nhân viên mật vụ STASI nên ông bà có quyền cao chức trọng hơn các đồng nghiệp khác trong trường, mặc dù họ có trình độ hơn ông bà. Nhờ vậy ngày nay ông bà lĩnh lương hưu cao hơn họ, những nạn nhân của ông bà.
Đó là ở nước Đức, nơi mà một nhà nước pháp quyền phương tây tiếp quản chính quyền từ tay những người cộng sản. Nhưng ở nuớc Tiệp, nơi người dân tự chuyển đổi xã hội của mình từ độc tài sang dân chủ, vấn đề „sổ hưu“ cũng không khác gì.
Cô tôi là một kiều nữ Hà Nội đầu những năm 60, lại nói tiếng Pháp giỏi nên đuợc tuyển đi làm phiên dịch cho đoàn chuyên gia địa chất Tiệp Khắc. Ông Tây Tiệp Vladimir phải lòng cô tôi và họ yêu nhau, như ở mọi nơi trên đời này. Nhưng chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa không cho phép một phụ nữ Việt Nam yêu một đồng chí Tiệp. Cuối năm 1961, Tổng cục Địa chất buộc chú tôi phải chấm dứt công tác, quay về Tiệp, để lại cô tôi bụng mang dạ chửa.
Chú Vladimir về Praha, nhờ bạn bè trong trung ương đảng CS Tiệp Khắc, nhờ cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng can thiệp, để rồi năm 1963 cô tôi được ôm con gái xuất ngoại. Chỉ riêng nhưng đau khổ quanh câu chuyện tình này cũng có đủ chất liệu cho một cuốn tiểu thuyết.
Khi sang Tiệp, cô chú tôi đều đi làm cho nhà nuớc Tiệp, chú là kỹ sư địa chất, cô là kế toán. Sau cuộc cách mạng nhung, cô chú tôi đều đuợc chính quyền mới trả lương hưu trí đầy đủ, nghe đâu hơn 20.000 Kcs/tháng.
Mùa hè vừa qua, sang thăm cô chú tôi tại Praha, tôi đem chuyện các thầy cô Đông Đức ra kể. Chú Vladimir bảo, các nhân viên STB cũ (Mật vụ An ninh Tiệp Khắc) nếu không vướng tội hình sự (tra tấn, giết người v.v) thì cũng được lãnh lương hưu. Rồi ông kết luận một câu hiền khô:
- Phải thế chứ, không thì họ sống bằng gì!
Một suy nghĩ cực kỳ nhân bản của một con người bình thường.
Xuân Thọ
20.12.2012 Cologne

Nguồn: Dân luận

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

HOÃN NGÀY TẬN THẾ



Theo tin giờ chót thì ngày tận thế định diễn ra vào ngày mai 21.12.2012 vào lúc 0h giờ Mexico đã được hoãn lại vô thời hạn. Nguyên nhân của việc trì hoạn ngày tận thế là phái đoàn đại diện Việt Nam đã thuyết phục thành công Xa tăng về đề án "Ngày tận thế mới". 




Các chuyên gia kinh tế của Xa tăng đã xem xét tính khả thi của đề án "Ngày tận thế mới" qua các đề án Văn Giang, thủy điện sông Gianh, Bau xít Tây Nguyên và nhà máy điện nguyên tử Ninh Thuận. Họ đã rút ra kết luận là Việt Nam hoàn toàn có khả năng thực thi những công trình vĩ đại như vậy và việc thi công Ngày Tận Thế trên mặt đất sẽ rẻ hơn rất nhiều xo với thi công dưới lòng đất.

Một yếu tố quan trọng khiến đại diện của Xa tăng chấp nhận hoãn ngày tận thế là lần đầu tiên các vị đại diện lãnh đạo: đồng chí X, Tổng Bí Tất và Đại Tư Chơi Sang đã cùng cam kết sẽ hoàn thành tốt đề án đúng thời hạn, không để tình trạng lãng phí thời gian, nhân vật lực như Vinashin, Vinaline. Khác với vấn đề Trung Quốc và Biển Đông, đề án "Ngày tận thế mới" của Việt Nam đã được sự đồng thuận rộng lớn của rất nhiều nhân sĩ, trí thức và những người đã tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc. Nhà thơ Đỗ Trung Quân tuy đang đang phải chiến đấu một tay cũng cương quyết tuyên bố sẽ không nhảy vào cùng vạc dầu với bọn "nị, ngộ". Điều này sẽ gây ra một khó khăn rất lớn cho các cán bộ của Xa tăng vì lượng vạc dầu có hạn và nguồn dầu mỏ đã cạn kiệt. Nhà báo Hồ Ly Tiên thì kiện Xa tăng bất công vì ông mới nghỉ hưởng lương hưu được có mấy tháng thôi. Nhiều người cũng như ông sẽ cương quyết bảo vệ sổ hưu đến hơi thở cuối cùng, chứ nhất quyết không cho Xa tăng ném sổ hưu của họ vào vạc dầu. Thẩm phán Vũ Phi Lông, người đã chủ trì phiên tòa xử các thành viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, thì nói về thắng lợi này của Việt Nam như bước tiến tất yếu của lịch sử. "Chúng tôi đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc trì hoãn các phiên tòa cho nên việc trì hoãn này chỉ là việc vặt."

Nghe nói tại Hà Nội, Huế, Sài gòn và nhiều thành phố khác của Việt nam sẽ diễn ra ăn mừng trong ngày mai. Xin chúc mừng thành công của Việt Nam đã trì hoãn được ngày tận thế cho thế giới!

Việt Nam và Mỹ

Nếu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc bùng nổ, mặt trận đầu tiên chắc chắn là trên Biển Đông; ở đó, nước có vị trí chiến lược quan trọng nhất chính là Việt Nam. Có thể nói một cách đơn giản thế này: Mỹ sẽ thua trận ở Biển Đông nếu Việt Nam, một cách tự nguyện hay bị cưỡng bức, để mất Trường Sa và vùng biển của mình.

Ngay cả khi chính quyền Việt Nam đã chuẩn bị tinh thần để bán mình cho Trung Quốc, họ cũng vẫn cần Mỹ. Để ít nhất có lý do cò kè giá cả trong cuộc bán mình ấy.


Nguyễn Hưng Quốc

Trên nguyên tắc, có lẽ không có nước nào hân hoan chào đón chính sách trở lại châu Á của Mỹ cho bằng Việt Nam.

Hân hoan vì đó là điều Việt Nam cần nhất hiện nay. Để đương đầu với âm mưu bành trướng của Trung Quốc, Việt Nam cần nhất ba điều kiện: một là lòng dân, hai là tiềm lực quân sự và ba là đồng minh. Chính quyền Việt Nam đã hy sinh điều kiện thứ nhất vì không dám chấp nhận rủi ro dẫn đến xu hướng dân chủ hoá và cũng không dám chống lại các sức ép từ phía Trung Quốc. Việt Nam chỉ cố gắng tập trung vào điều kiện thứ hai, nhưng do ngân sách giới hạn, các thứ vũ khí Việt Nam có thể mua sắm được chỉ là một phần rất khiêm tốn so với Trung Quốc; hơn nữa, do nhiều ràng buộc từ Mỹ, Việt Nam cũng không thể mua sắm được những trang thiết bị hiện đại nhất mà họ đang cần. Bởi vậy, điều kiện thứ ba trở thành thiết yếu.


Trong mấy năm qua, Việt Nam đã nỗ lực rất nhiều trong việc tìm kiếm đồng minh, từ các quốc gia trong khối Đông Nam Á đến Nga, Ấn Độ và Úc. Tuy nhiên, rõ ràng không có quốc gia nào trong số đó thực sự là đối thủ của Trung Quốc. Và cũng không có nước nào vì Việt Nam sẵn sàng chấp nhận đối đầu với Trung Quốc trừ phi họ nhận được sự đồng ý và hỗ trợ từ một nước thứ ba: Mỹ. Do đó, có thể nói, với Việt Nam, đồng minh duy nhất có thể giúp đỡ trên thế trận với Trung Quốc chính là Mỹ. Không có nước nào khác.


Ngay cả khi chính quyền Việt Nam đã chuẩn bị tinh thần để bán mình cho Trung Quốc, họ cũng vẫn cần Mỹ. Để ít nhất có lý do cò kè giá cả trong cuộc bán mình ấy.


Dĩ nhiên, Mỹ cũng cần Việt Nam.


Ở vùng châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ đã có sẵn một số đồng minh chiến lược: Úc, Nhật, Hàn Quốc và Philippines. Trong các nước này, nước được Mỹ tin cậy nhất chắc chắn là Úc, kế tiếp là Philippines; nước có tiềm lực kinh tế mạnh nhất là Nhật. Riêng Hàn Quốc, tuy có quan hệ rất gần gũi với Mỹ, có lẽ sẽ không đóng được vai trò gì quan trọng trong trận chiến Mỹ - Trung, nếu trận chiến ấy xảy ra, lý do là, trong trường hợp đó, Trung Quốc đã có sẵn một lá bài vô cùng hữu hiệu để ngăn chận, thậm chí, phá hoại Hàn Quốc: Bắc Hàn. Mỹ đang ráo riết tìm kiếm một số đồng minh khác. Ấn Độ, một nước lớn, ngay bên cạnh Trung Quốc, vốn là đối thủ của Trung Quốc, chắc chắn sẽ là mục tiêu đầu tiên. Có điều, Ấn Độ, một mặt, lúc nào cũng ở tình trạng bị phân hóa trầm trọng, mặt khác, vốn có truyền thống phi liên kết từ lâu; lại bị lấn cấn bởi quan hệ giữa Mỹ và Pakistan, ít có hy vọng nhiệt tình đi với Mỹ trừ trường hợp họ bị Trung Quốc trực tiếp đe dọa. Trong các nước thuộc khối Đông Nam Á, Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan khá lừng chừng. Chỉ có Indonesia, Malaysia và Việt Nam là còn để ngỏ khả năng hợp tác với Mỹ.


Tuy nhiên, nếu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc bùng nổ, mặt trận đầu tiên chắc chắn là trên Biển Đông; ở đó, nước có vị trí chiến lược quan trọng nhất chính là Việt Nam. Có thể nói một cách đơn giản thế này: Mỹ sẽ thua trận ở Biển Đông nếu Việt Nam, một cách tự nguyện hay bị cưỡng bức, để mất Trường Sa và vùng biển của mình. Việt Nam, do đó, dù muốn hay không, cũng trở thành một tiền đồn của Mỹ ở vùng châu Á - Thái Bình Dương trong các thập niên sắp tới. Như thời Chiến tranh lạnh.


Tuy nhiên, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ sẽ là một thứ quan hệ đầy oái oăm và trắc trở. Oái oăm: đó là thứ quan hệ giữa hai cựu thù. Người ta hay nói: Mỹ không có bạn hay thù vĩnh viễn. Tất cả đều có tính giai đoạn. Bởi vậy, các xung đột đẫm máu trước năm 1975 sẽ không có ảnh hưởng gì nhiều đến các nỗ lực xây dựng quan hệ đồng minh mới giữa hai nước. Nhưng vấn đề giữa hai nước chủ yếu là vấn đề tâm lý và ý thức hệ. Về tâm lý: người ta có thể không còn thù nghịch với nhau, nhưng cũng chưa sẵn sàng để tin cậy nhau. Về ý thức hệ, người ta vẫn còn đối nghịch nhau. Sự đối nghịch ấy trở thành trầm trọng hơn ở những bảng giá trị mà hai quốc gia theo đuổi, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến nhân quyền.


Ai cũng biết, trong nhiều trường hợp, chính phủ Mỹ sẵn sàng bất chấp vấn đề nhân quyền trong quan hệ quốc tế. Nhưng trường hợp đó có lẽ sẽ không xảy ra đối với Việt Nam. Lý do, bất cứ quan hệ nào đối với Việt Nam cũng đều trở thành mối quan tâm của đại đa số dân chúng nước Mỹ, nơi những vết thương về tâm lý vẫn chưa lành lặn hoàn toàn. Dân chúng Mỹ có thể làm ngơ trước các quan hệ bất thường giữa chính phủ Mỹ với nhiều quốc gia độc tài khác, ví dụ như Pakistan hiện nay. Nhưng họ sẽ không thể làm ngơ nếu nước ấy là Việt Nam, nơi 58.000 lính Mỹ đã bỏ mạng và hàng trăm ngàn người khác bị thương cho lý tưởng dân chủ. Chính phủ Mỹ chắc chắn sẽ không thể bất chấp các vết thương tâm lý ấy. Điều đó sẽ trở thành một khó khăn lớn cho Việt Nam.

Có thể nói, một cách tóm tắt, hai khó khăn lớn nhất để Việt Nam có thể trở thành đồng minh của Mỹ trong trận chiến chống lại Trung Quốc là:

Thứ nhất, Việt Nam phải thuyết phục được phần lớn dân chúng Mỹ là họ chấp nhận một số bảng giá trị chung của loài người văn minh hiện nay, nghĩa là, ít nhất, tôn trọng nhân quyền và bảo đảm các điều kiện tối thiểu của dân chủ.


Nhưng chấp nhận nhân quyền và dân chủ, dù một cách chừng mực, cũng có nghĩa là chấp nhận nguy cơ mất sự độc quyền của đảng và cùng với nó, vô số các quyền lợi khác của họ.


Thứ hai, trong mối quan hệ lịch sử đặc biệt giữa Việt Nam và Mỹ, như đã phân tích ở trên, con đường tiến tới liên minh không thể chỉ giới hạn giữa hai chính phủ, mà phải mở rộng ra cả hai dân tộc, nghĩa là phải công khai. Nhưng công khai thì sẽ bị Trung Quốc phá. Phá bằng ngoại giao và kinh tế không được thì họ dùng biện pháp quân sự trước khi Mỹ có bất cứ cam kết nào với Việt Nam.