Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014

Những Con Lừa Của Thời Đại Mới

Alan Phan

shrek-donkey
7 Sep 2014
(Có 2 cách để bị lừa dối. Một là tin vào những điều không thực; hai là không chịu tin vào những điều thực – There are two ways to be fooled. One is to believe what isn’t true; the other is to refuse to believe what is true – Soren Kierkegaard)
Những năm đầu tiên khi làm cho Eisenberg, tôi thường được đi gặp những đại gia nổi tiếng của châu Á và Nam Mỹ. Thậm chí cả vài vị nguyên thủ quốc gia. Những lần như vậy, tôi rất phấn khích, tự hào và có thể nói là thích khoe khoang…cùng các bạn đồng nghiệp, gia đình và đối tác. Một lần, ông boss kéo tôi đi ăn trưa và kể cho tôi nghe một câu chuyện.
Có khu miền núi hẻo lánh ở Peru nơi một linh mục cai quản một giáo phận khá rộng nhưng chỉ có một nhà thờ nhỏ. Địa thế hiểm trở, các làng cách nhau quá xa, nên muốn thu hút con chiên, ông làm lễ sáng chú nhật sớm tại nhà thờ trung ương, rồi chất tượng Chúa, thánh giá…lên lưng một con lừa và cùng đi bộ qua một làng khác cho lễ trưa, rồi một lễ tối tại một làng khác nữa.
Dọc đường, giáo dân đều cúi rạp người khi tượng Chúa đi qua. Con lừa rất khoái trá mỗi khi nhận được những thờ phụng và sùng bái. Cho đến một ngày, anh hàng xóm mượn con lừa của nhà thờ để qua một làng khác mua sắm. Vẫn con đường cũ, vẫn những giáo dân xưa…nhưng không ai buồn nhìn con lừa chứ đừng nói đến chuyện chấp tay lạy. Con lừa vỡ lẽ rằng không phải “con lừa” mà là hào quang của “tượng Chúa” đã tạo nên sự khác biệt.
Tôi tỉnh người…và còn tỉnh hơn nữa, khi hết làm cho Eisenberg. Những cú phone gọi đến các đại gia đã từng ca tụng và tiếp đãi thân thiết tôi trong những bữa tiệc không bao giờ qua khỏi screening của các trợ lý.  Con lừa lại trở thành …con lừa.
Một điểm yếu của tuổi trẻ là hay lầm lẫn những gì mình thực sự làm chủ và những gì do người khác nhờ mang dùm.
Trong một nền kinh tế mà mọi chuyện của xã hội đều được vận hành bởi “quan hệ với quyền lực” thì phần lớn con lừa đều mang chung một ảo tường về giá trị và thực chất của con người mình. Với ngôn ngữ phương Tây, con lừa thường tượng trưng cho sự ngu xuẩn. Ở Việt Nam, chữ “lừa” còn mang thêm vài thâm ý: mong là cái bề ngoài nhờ quyền lực có thể làm mù mắt người ngoài hay “lừa” chính mình về sự giá trị thực sự của bản thân.
Một thí dụ gần đây là Chu Vĩnh Khang hay Bạc Hy Lai của Trung Quốc. Với tài sản thâu tóm khoảng 25 tỷ đô la cho 2 gia đình và một vị thế chánh trị gần như tuyệt đối vì nắm bộ máy công an và tuyên truyền, hai ông là hai đỉnh cao của xã hội lừa. Bây giờ, con lừa lại trở thành …con lừavà sắp bị hy sinh.
Gần đây, vì tuổi tác mình  đã cao, nên tôi hay gặp những cựu quan chức về hưu sau một thời lừng lẫy. Họ vẫn còn nhiều hoang tưởng về quyền lực, về trí khôn, về ảnh hưởng…Cũng may là phần lớn đã “hạ cánh an toàn”, giấu diếm được ít nhiều tiền bạc và tài sản, nên cũng còn điếu đóm vây quanh. Mất đi những thứ này thì họ sẽ chỉ biết cam phận…như hàng chục triệu con lừa họ đã sinh sản ra suốt vài chục năm qua.
Doanh nghiệp cũng không khác gì hơn con người. Lợi nhuận tạo ra từ những phi vụ dựa trên quan hệ với quyền lực thì không thể nào bền vững hay đem ứng dụng vào một môi trường kinh doanh khác. Tôi gặp vài đại gia Trung Quốc và Việt Nam, sau khi bị thất sủng và mất tài sản, thu góp vài chục triệu đô la qua Mỹ tìm đường làm ăn. Họ cũng năng động và cố gắng nhưng họ nhận rõ rằng kỹ năng và kinh nghiệm của họ không thích hợp (nói nôm na là không có quan chức Mỹ nào chịu chống lưng để cùng đi đường tắt); nên cuối cùng, họ đem tiền quay về nước hay tìm đến những xứ xa xôi tận châu Phi hay Trung Đông nơi “phong bì” vẫn là một văn hóa.
Cái giá trị thực của một doanh nghiệp (như con người) là những tài sản mềm: sáng tạo, thương hiệu, uy tín, thị phần, cách phục vụ khách hàng, sản phầm chất lượng, công nghệ know-how, đội ngũ quản lý. Không phải vài miếng đất cướp từ nông dân hay nhà máy xây bằng tiền OPM của ngân hàng qua các định giá giả tạo.
Một quốc gia cũng có những giá trị tương tự. Nếu một chế độ không đặt nền tảng dựa trên hạnh phúc thực của người dân, đo lường bằng thu nhập và tự do; nếu một chế độ không coi trọng danh dự, trung thực và minh bạch; mà chỉ dựa trên quyền lực đán áp, nhất là từ chỉ thị của nước ngoài…thì con lừa quốc gia sẽ tụt hậu lần lần cho đến một ngày “tượng… lãnh đạo” không còn chất thánh.  Và… con lừa lại trở thành …con lừa (nghĩa đen và trắng).

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

Mối hận của vua Gia Long với nhà Tây Sơn: Tấn bi kịch lịch sử

Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát. Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Bài viết của nhà nghiên cứu lịch sử Võ Hương An

Lời người viết: Mùa Vu lan năm Canh dần 2010, tự nhiên tôi nhận được nhiều email của thân hữu gởi đến – có ngày nhận hai ba cái — kèm theo truyện ngắn “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, viết về sự tàn ác và hèn hạ của vua Gia Long trong việc hành hình vợ chồng Trần Quang Diệu & Bùi Thị Xuân — hai dũng tướng của Tây Sơn — và gia đình (mẹ già và con gái). Nội dung của các điện thư hoặc có ý hỏi tôi sự thật có đúng như vậy không, hoặc tỏ ra đồng ý với tác giả, chê trách vua Gia Long tàn ác. Bài viết này xin xem như một câu trả lời, sự thật lịch sử là một kinh nghiệm chung ở đời…
Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn. Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này ( mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó — vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước. (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long )
Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).
Sau khi chiếm được Bắc hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn. Sau lễ,
“Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài.” (Thực lục I, tr.531)
Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu : “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu …” và kết thúc bằng câu “Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân.” (Thực lục I, tr.532,533)
Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyện Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem “giả nát rồi vất đi”.
 
Xem thêm:

Phẩm bình của lịch sử
Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?
Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết:
“Vậy mà Nã [Phá Luân, Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm ; còn Quang Trung : mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’”
Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc:
“Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘ nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc.” (tr.240)
Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao :
Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.
Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.
Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã.
Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, Vùng An Khê. Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.
…Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.
Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc.
Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?
Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam. Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.
Trăm năm bia đá thời mòn
Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.
Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết, Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:
“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65) (He showed no mercy to his beaten adversaries, dead or alive. His soldiers exhumed the bones of a deceased Tayson leader and his wife and urinated on them before the eyes of their son, whose limbs were then bound to four elephants and ripped apart.)
Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra. Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại). Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hổ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiễu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong. Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.
Câu hỏi đặt ra
Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.
Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4)[1] .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời.” (Thực lục I, tr.508) Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).
Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…). Khi Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh
“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta.’ [người viết in đậm]. Bèn sai quan quân đưa về (Thực lục I,tr.445)
Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẻ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẻ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544)
Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt , chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?
Sự thật là đây
Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:
“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790.” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445)
Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.
Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo lễ hiến phù: “ Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” * (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ : thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẻ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.
* “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời.” Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532.
Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng. Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn? Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):
“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.
“Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy. Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên. Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho.” (Thực lục I, tr.466)
Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:
-Thứ nhất, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông.
Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.
Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);
4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)
5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
8.Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);
Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tình sổ.
Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cọng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!
-Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.
Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!
Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho biết thêm một chi tiết khác:
“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người). (tr.193)
Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.
Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.
Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay). Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.
Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác. Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.
Phải chăng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.
Một vài cảm nghĩ
Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.
1/Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ,tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen. Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.
2/Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?
Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam, biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời. Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.
“Chiêu hồn nạp táng là gì?
“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”.
Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.
Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.
Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành. Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân.
Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.
3/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời.”
Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên. Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sữ dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.
Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).
Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao
Người trồng cây hạnh người chơi,
Ta trồng cây đức để đời về sau
Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!
Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?
Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.
Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).
Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.
------------------------------------
Chú thích:
(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính dần) vua mới chánh thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.
(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 tronghttp://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up
(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo “Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn” được phóng viên ghi nhận là “một hội thảo lịch sử”, có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận :
“Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”.
“Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa” (http://www.thethaovanhoa.vn/133N20081020034945468T0/danh-gia-lai-chua-nguyen-va-vuong-trieu-nguyen-mot-hoi-thao-lich-su.htm
(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thóat ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu).

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Đồi Cù Đà Lạt

Mai Thái Lĩnh

Đây chỉ là câu chuyện của một thành phố nhỏ trên cao nguyên. Nhưng cũng như việc tìm hiểu một tế bào hay một bộ phận có thể giúp ta hiểu được tình trạng chung của một cơ thể, câu chuyện này có thể giúp độc giả hình dung được diện mạo của cái gọi là “chủ nghĩa xã hội” trên đất nước ta trong gần ba thập kỷ vừa qua, nghĩa là trong giai đoạn được mệnh danh “đổi mới”.

Sân golf Đà Lạt trong các đồ án thời Pháp thuộc:

Mặc dù người Pháp đã có ý định xây dựng một sân golf tại Đà Lạt từ rất sớm, mãi đến đầu thập niên 1920 công việc này vẫn chưa được tiến hành. Trong đồ án đầu tiên của Đà Lạt do kiến trúc sư Ernest Hébrard thiết kế vào năm 1923, địa điểm xây dựng sân golf nằm ở phía đông-bắc của hồ nước lớn nhất (tức hồ Xuân Hương ngày nay). Địa điểm này không nằm sát bờ hồ, như chúng ta thấy trong hình sau đây:

image
Hình 1 : Trích đồ án Hébrard 1923

Nhìn vào bản đồ, chúng ta thấy địa điểm xây dựng sân golf (Golf Links) nằm trong Khu đất dành cho thể thao (Terrain de sports), giữa Câu lạc bộ Thể thao (Club sportif) và khu dành cho Bơi lội (Natation) - Chạy bộ (Courses). Đối diện phía bên kia suối là Trường trung học dành cho nam sinh (Collège de garçons). So sánh với các bản đồ sau này, chúng ta thấy vị trí này hầu như không thay đổi; nhưng do hồ lớn ở trung tâm thành phố (tức hồ Xuân Hương ngày nay) được mở rộng hơn so với ban đầu cho nên dòng suối chảy giữa sân golf và trường Trung học Yersin (Grand Lycée) không còn là một dòng nước hẹp mà đã trở thành một phần của hồ trung tâm.

Điều đáng nói là nếu dựa theo đồ án Hébrard, trên khu đất phía bắc của hồ (hướng tây-nam của sân golf) sẽ chỉ có một công viên (jardin public) nhỏ, phần còn lại được dành để chia lô làm nhà (lotissements). Nói cách khác, nếu thực hiện đúng đồ án của Hébrard, phần lớn khu vực Đồi Cù hiện nay đều là biệt thự hay nhà dân, và Đà Lạt sẽ không có một thắng cảnh được gọi tên là Đồi Cù.

Trái với ý kiến của nhiều người (kể cả một số chuyên gia trong ngành kiến trúc – xây dựng ở nước ta), đồ án Hébrard không phải là đồ án duy nhất định hình cho Đà Lạt trong nửa đầu của thế kỷ 20. Trong thực tế, công tác quy hoạch của Đà Lạt trong giai đoạn này đã chịu ảnh hưởng của hai đồ án quan trọng: đồ án Hébrard 1923 và đồ án Pineau 1932-33 (tên gọi đầy đủ là Đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt 1932-33).

Louis Georges Pineau (1898-1987) tốt nghiệp bằng thiết kế đô thị (urbanisme) năm 1927, tốt nghiệp bằng kiến trúc sư vào năm 1928. Ông đến Đông Dương vào năm 1930, là kiến trúc sư hạng nhất của Nha Công chánh Đông Dương (Travaux publics de l'Indochine) từ 1930 đến 1945, và từ 1941 đến 1944 là Phó giám đốc của Trung tâm Kiến trúc và Thiết kế đô thị Hà Nội (Service central d'architecture et d'urbanisme de Hanoï). Vào lúc được giao trách nhiệm quy hoạch lại đô thị Đà Lạt, ông cho biết “chỉ có một phần nhỏ của đồ án (Hébrard) được thực hiện – bao gồm cả việc phân lô và con đường tản bộ xung quanh hồ.”

Trong đồ án mới, Pineau đặc biệt phê phán việc phân lô để làm nhà ở phía bắc hồ lớn. Ông viết: “Đồ án Hébrard – được dự kiến cho một thành phố lớn, đã có một khuyết điểm là chuyển đổi nhiều địa điểm thuận lợi cho việc cư trú thành các lô đất làm nhà khá dày. Thắng cảnh biến mất giữa các công trình kiến trúc; những khu đất phân lô đó bao quanh toàn bộ hồ; nếu sử dụng một cách diễn đạt của kiến trúc sư, có thể nói hồ đã đánh mất kích thước (perdait son échelle) của mình do nằm cạnh các công trình kiến trúc và trở thành một vũng nước hẹp và bị thu nhỏ.”

Ông đề ra giải pháp như sau : “Để chống lại nguy cơ đó, phần đất dành cho sân golf hiện nay được gia tăng và nối liền với hồ bởi một công viên. Tất cả phần còn lại của vùng đất phía bắc hồ (rất may là bao gồm các khu đất công của thị xã, lại gặp khó khăn trong việc xây dựng) được bao gồm trong một vùng bất kiến tạo rộng lớn (une vaste zone non œdificandi). Vùng đó tạo thành một góc lớn hơn 90 độ - có đỉnh là trung tâm của trạm nghỉ dưỡng và kéo dài đến tận các đỉnh của dãy Langbian – nghĩa là đến chân trời. Đó là khởi đầu của một công viên quốc gia – nơi bảo vệ hàng loạt các loài phong lan đa dạng đang biến mất nhanh chóng nếu chúng ta không chú ý giữ gìn, cũng như các loài thú như Nai cà-tông[1] và gấu – đang chịu cùng chung số phận.”[2]

Ý tưởng độc đáo của Pineau về một công viên quốc gia ở phía Bắc Đà Lạt về sau đã không thể trở thành hiện thực. Nhưng chính giải pháp “nối liền sân golf với hồ bằng một công viên” đã tạo ra khu vực Đồi Cù nổi tiếng về sau này.

Trong đồ án cuối cùng của người Pháp tại Đà Lạt (tức đồ án Lagisquet năm 1943), phần đất phía bắc Hồ Lớn (Grand Lac – tức hồ Xuân Hương hiện nay) được ghi chú số 24 (espaces libres, khoáng địa) và 19 (sports-stades, thể thao-sân vận động). Viễn cảnh nhìn về phía núi Lang-Bian vẫn được bảo tồn như dự kiến của Pineau. Tuy đồ án này không nói rõ về sân golf nhưng chúng ta có thể hiểu phần đất dành cho sân golf không có gì thay đổi so với đồ án Pineau, vì phía bắc của Hồ Lớn vẫn là một công viên tự nhiên. Cần lưu ý là vào thời điểm này (1943), sân golf đã được xây dựng xong và đã trải qua 10 năm hoạt động.

image
Hình 2 : Trích đồ án Lagisquet 1943

Việc xây dựng gân golf trong thực tế đã thể hiện đúng ý tưởng của Pineau: khu vực phía bắc Hồ Lớn bao gồm một sân golf và một công viên nằm sát cạnh bờ hồ, như chúng ta thấy trên tờ bản đồ dưới đây – được vẽ vào cuối thời Pháp thuộc:

image
Hình 3 : Trích bản đồ Đà Lạt (khoảng cuối thập niên 1940)

Quá trình xây dựng sân golf Đà Lạt:

Trong một cuốn sách hướng dẫn du lịch Đà Lạt viết bằng tiếng Pháp - xuất bản vào năm 1930, có đoạn ghi: “Sân golf đang được xây dựng sẽ có 18 lỗ (…). Khai trương vào tháng 2 năm 1931.”[3]

Trong thực tế, sân golf Đà Lạt không hoàn thành đúng kỳ hạn nói trên, bởi lẽ trong các tháng 4 và 5 năm 1931, một số báo ở Hà Nội và Sài Gòn vẫn còn bàn cãi xung quanh kinh phí dành cho việc xây dựng sân golf này. Vd: báo L’Éveil économique de l’Indochine chỉ trích Toàn quyền Pasquier về việc lãng phí một số tiền quá lớn (750 ngàn francs) để xây dựng một sân golf chỉ dành cho những “vị khách quý tộc” (nguyên văn: “les nobles visiteurs”).[4] Mặt khác, chi tiết “sân golf gồm có 18 lỗ” là không chính xác, vì trong thực tế sân golf Đà Lạt dưới thời Pháp thuộc chỉ là “sân golf với 9 lỗ” (golf à neuf trous), như đã được nói rõ trong bài viết về Đà Lạt của Munier đăng trên tạp chí Indochine [5]. “Sân golf 9 lỗ” này tồn tại mãi cho đến tháng 4 năm 1975 và chỉ trở thành “sân golf 18 lỗ” khi bắt đầu được “thương mại hóa” vào đầu thập niên 1990.

Sân golf Đà Lạt hoàn thành vào năm nào?

Trong Tập san hành chính Trung kỳ (Bulletin administratif de l’Annam) số 2 năm 1933 (ngày 21 tháng 2 năm 1933) có ghi trích đoạn từ một quyết định ngày 20-1-1933 cho phép thành lập một hội có tên là “Câu lạc bộ Golf Đà Lạt” (Golf Club de Dalat).

image
Hình 4 : Trích đoạn từ quyết định cho phép thành lập Câu lạc bộ golf Đà Lạt 20-1-1933

Như vậy, chúng ta có thể ước đoán sân golf Đà Lạt hoàn thành trong năm 1932. Và mặc dù chưa tìm ra bản điều lệ kèm theo quyết định nói trên, với nội dung của đoạn trích (giấy phép có thể bị thu hồi, mọi sửa đổi về điều lệ về sau buộc hội phải xin giấy phép mới), chúng ta cũng có thể hiểu : sân golf Đà Lạt không phải là tài sản của tư nhân hay của một hiệp hội mà là một tài sản công được giao cho một hiệp hội (Câu lạc bộ Golf Đà Lạt) để sử dụng, nhưng hoạt động của hội này phải dựa trên một bản điều lệ do chính quyền phê duyệt.

Tóm lại, khu vực về sau được người dân gọi tên là “Đồi Cù” thật ra bao gồm hai bộ phận: một sân golf 9 lỗ được giao cho Câu lạc bộ Golf Đà Lạt sử dụng (mà người dân thường gọi là “sân cù”) và một công viên (jardin public) dành cho toàn thể nhân dân thành phố và khách du lịch. Vì công viên này không được đặt tên, lại gắn liền với sân cù (sân golf), cho nên người dân gọi tên là “Đồi Cù”. Như vậy, “Đồi Cù” có thể được hiểu bằng hai nghĩa: toàn bộ khu vực Đồi Cù - bao gồm cả công viên và sân golf (nghĩa rộng) hoặc chỉ bao gồm công viên “Đồi Cù” (nghĩa hẹp).

Sự sống chung giữa một sân golf (một tài sản công được giao cho một tập thể sử dụng) và một công viên (tài sản công phục vụ lợi ích chung) đã được tuân thủ suốt thời Pháp thuộc. Những người tham gia Câu lạc bộ Golf Đà Lạt có quyền chơi golf – một môn thể thao của giới thượng lưu, nhưng không gây trở ngại gì cho người dân Đà Lạt cũng như khách du lịch trong việc sử dụng công viên “Đồi Cù”. Đồi Cù không hề bị rào lại để dành cho những người có tiền, toàn bộ hai tài sản quý giá ấy cũng không trở thành tài sản để kinh doanh của bất cứ “đại gia” hay tập đoàn tư bản nào cả.

image
Hình 5 : Trích bản đồ Đà Lạt tỷ lệ 1 : 10.000 phát hành năm 1960

Từ khi Đà Lạt được giao trả lại cho nhà Nguyễn với quy chế “Hoàng triều cương thổ” (Domaine de la Couronne) - vào năm 1950, cho mãi đến tháng 4 năm 1975, không có một đồ án thiết kế nào của Đà Lạt được chính thức phê duyệt - do biến động về chính trị và do tình trạng chiến tranh. Quy chế của khu vực Đồi Cù được coi như kế thừa từ các đồ án thiết kế thời Pháp thuộc, như chúng ta có thể nhìn thấy trên tấm bản đồ của Nha Địa dư Quốc gia Đà Lạt phát hành năm 1960 (hình 5). Trên tấm bản đồ này, sân golf Đà Lạt (được ghi là Sân Cù) nằm ở phía bắc con lạch nhỏ chảy theo hướng tây-bắc – đông-nam, đổ nước vào hồ Xuân Hương tại địa điểm được đặt tên là “Vườn Bích Câu”. Sân Cù không hề bao gồm khu đồi phía bắc hồ Xuân Hương.

Tuy nhiên, vì ranh giới giữa sân golf và công viên Đồi Cù không được xác định rõ ràng cho nên trong một số tấm bản đồ khác, đã có sự nhầm lẫn về phần đất dành cho sân golf. Vd: trên tấm bản đồ Đà Lạt tỷ lệ 1:12,500 do Quân đội Hoa Kỳ phát hành năm 1963, chữ Golf course (Sân Cù) được ghi hai lần - cả trên phần đất của sân golf lẫn trên phần đất của công viên.[6]Sự nhầm lẫn này có lẽ là do những người lập bản đồ đã không hiểu rõ cách thức quy hoạch của các kiến trúc sư người Pháp. Mặt khác, cũng có thể sự nhầm lẫn bắt nguồn từ chỗ người dân gọi cả hai phần đất là “Đồi Cù”.

Dẫu sao thì sự nhầm lẫn này vẫn chưa gây phương hại một khi cả hai còn là tài sản công của “thị xã Đà Lạt”. Sự nhầm lẫn chỉ trở nên tai hại khi toàn bộ khu vực Đồi Cù bị “thương mại hóa” vào đầu thập niên 1990, như chúng ta sẽ thấy ở phần sau.

Khi toàn bộ Đồi Cù biến thành sân golf:

Sau tháng 4 năm 1975, tất cả những tài sản quan trọng (nhất là đất đai) đều lọt vào tay “Nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Cả sân golf lẫn công viên “Đồi Cù” đương nhiên cũng thuộc quyền quản lý của “Nhà nước xã hội chủ nghĩa”. Nhưng trong giai đoạn thường được mệnh danh là “tập trung quan liêu-bao cấp”, chỉ có những nhu cầu căn bản như “ăn, mặc, ở, đi lại” mới được coi là nhu cầu thiết thân, còn môn đánh golf dành cho người có tiền đương nhiên bị xếp vào loại xa xỉ. Hơn thế nữa, vào lúc đó kinh tế thị trường còn bị xếp vào phạm trù “kinh tế tư bản chủ nghĩa”, khái niệm ”tấc đất tấc vàng” chưa phát huy tác dụng; do đó khu vực Đồi Cù chưa trở thành miếng mồi béo bở của các nhà đầu tư, và cũng chưa trở thành tâm điểm chú ý của những người có thẩm quyền.

Trong giai đoạn đó, sân golf trở thành hoang vắng, còn cái công viên “trời cho” ấy tuy không được chăm sóc nhưng vẫn còn là tài sản công, chưa trở thành sở hữu của riêng ai. Người dân Đà Lạt và du khách vẫn có thể đến Đồi Cù để ngoạn cảnh, chụp ảnh; thanh thiếu niên có thể đến đó để cắm trại, những cặp trai gái yêu nhau vẫn còn có chỗ để tự tình, trẻ con có thể đến đó để chạy nhảy, thả diều, v.v…

Chỉ đến đầu thập niên 1990, nghĩa là sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự bước vào giai đoạn “đổi mới kinh tế”, thì Đồi Cù mới bắt đầu trở thành một miếng mồi ngon để thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.

Vào hạ tuần tháng 4 năm 1992, một cách hết sức đột ngột, toàn bộ khu vực Đồi Cù bị rào lại và sau đó các xe cơ giới rầm rộ san ủi mặt bằng, đào đắp để biến toàn bộ khu vực này (bao gồm cả sân golf cũ và công viên Đồi Cù) thành một sân golf hiện đại. Hành động vội vã và thiếu minh bạch này đã gây ra một làn sóng phản đối thể hiện trên báo chí – nhất là các báo phát hành ở miền Nam. Một bài viết đăng trên báo Phụ nữ TP.HCM có nhận xét như sau : “Như vậy, có thể nhận thấy việc khởi công xây dựng tại Đồi Cù không những đã tỏ ra vội vàng, thiếu cân nhắc trước dư luận khá tập trung và rất chính đáng của quần chúng mà còn được thực hiện trước khi có các thủ tục pháp lý cần thiết. Dư luận tại Lâm Đồng cho rằng, việc thực hiện cập rập công trình này có liên quan đến chuyến đi thăm Thái Lan của 6 vị chức sắc của tỉnh Lâm Đồng vào tháng 12/1991, mọi chi phí do Công ty DANAO LTD đài thọ. Trong số đó có những vị là chủ tịch tỉnh và phó chủ tịch tỉnh… ”[7]

Trong một bài báo đăng trên báo Lao động Chủ nhật ngày 6-9-1992, nhà báo Phạm Thái đã phỏng vấn một số nhân vật như : Chủ tịch Hội đồng Nhân dân TP. Đà Lạt Trần Trọng Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Đà Lạt Hoàng Đức Long, bà Đặng Việt Nga - Chủ tịch Hội kiến trúc sư tỉnh; v.v… Tất cả đều cho biết họ không nắm được thông tin gì về công trình “nâng cấp sân golf” trước khi công trình này được khởi công.[8]

Việc thi công hấp tấp đó lại càng tỏ ra thiếu minh bạch khi về sau, người ta được biết giấy phép đầu tư đã được Ủy ban Nhà nước về Hợp tác Đầu tư ký từ ngày 8-8-1991 và giấy phép rào Đồi Cù đã được Ủy ban Nhân dân Tỉnh ký từ ngày 31-1-1992. Hơn thế nữa, chủ trương tiến hành thương mại hóa toàn bộ khu vực Đồi Cù hoàn toàn không thông qua Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt – cơ quan được mệnh danh là “đại biểu của nhân dân” tại địa phương. Trong một kỳ họp của Hội đồng Nhân dân TP. Đà Lạt diễn ra vào hạ tuần tháng 5 năm 1992, nhiều đại biểu đã phát biểu ý kiến bày tỏ sự phản đối trước việc triển khai dự án xây dựng sân golf 18 lỗ mà không thông qua cơ quan đại biểu của nhân dân thành phố, và những người có thẩm quyền của cấp Tỉnh đã tỏ ra hết sức lúng túng trước các câu chất vấn này. Mặc dù vậy, bất chấp sự phản đối từ phía quần chúng địa phương, từ các đại biểu dân cử cũng như từ phía báo chí, dự án “sân golf 18 lỗ” vẫn được tiến hành; bởi lẽ dưới chế độ cộng sản, một khi dự án đã được lãnh đạo Đảng quyết định - lại được sự hỗ trợ của đồng đô-la từ nước ngoài, thì không ai có thể ngăn cản, cho dù dự án đó mang tính phiêu lưu hay điên rồ.

Vào lúc đó, khái niệm “sân golf hiện đại” vẫn còn khá xa lạ đối với người Việt trong nước. Người dân chưa hình dung được sự khác nhau giữa một sân golf tự nhiên với một sân golf “nhân tạo” kiểu hiện đại, cũng như sự khác biệt giữa một sân golf hoạt động theo kiểu “câu lạc bộ” thời Pháp thuộc với một sân golf “thương mại hóa”. Do đó, khi Đồi Cù bị xới lên để đào đắp thành một sân golf tuy đẹp đẽ hơn nhưng không giấu được vẻ “giả tạo”, nhất là khi toàn bộ khu vực này bị rào lại như một lãnh địa riêng, mọi người dân Đà Lạt “chính cống” đều cảm thấy như chính mình bị xúc phạm. (Nói người dân Đà Lạt “chính cống” là để phân biệt với những người tuy sống ở Đà Lạt nhưng không hề có tâm hồn của người Đà Lạt, hoàn toàn thờ ơ, vô cảm trước sự tàn phá những nét đẹp thiên nhiên hay những giá trị văn hóa.)

Để che giấu việc “chiếm công viên để mở rộng sân golf”, biến toàn bộ 65 hecta của khu vực Đồi Cù thành một cơ sở làm ăn về kinh tế, công trình này được mệnh danh là “công trình nâng cấp sân cù Đà Lạt”. Theo thông tin do nhà cầm quyền địa phương cung cấp cho báo chí, công trình này nằm trong một kế hoạch “liên doanh” (joint venture) giữa chính quyền tỉnh Lâm Đồng với một công ty có tên gọi là Công ty Danao Ltd. British Virgin Islands có trụ sở tại Hong Kong. Phạm vi liên kết kinh doanh bao gồm sân golf rộng 65 hecta, và hai khách sạn nổi tiếng nhất của Đà Lạt trước năm 1975 – khách sạn Dalat Palace và khách sạn Du Parc; ngoài ra còn có biệt điện số 1 (Dinh I) và một số biệt thự ở đường Trần Hưng Đạo. Về sau, phạm vi liên doanh bị thu hẹp lại, chủ yếu chỉ bao gồm sân golf Đà Lạt và hai khách sạn: Dalat Palace (được đặt tên lại là Sofitel) và Hotel Du Parc (đặt tên lại là Novotel).

Vào tháng 9 năm 1992, giải thích với báo chí để phủ nhận luồng dư luận cho rằng “Đồi Cù đã bị bán”, ông V.L. - Giám đốc Công ty Du lịch Lâm Đồng (một trong hai thành viên của Liên doanh DRI) cho biết : “Về dự án đầu tư theo hình thức góp vốn, mỗi bên 50%. Tổng giá trị công trình là 40 triệu USD, trong đó Công ty Du lịch Lâm Đồng góp vốn bằng nhà, đất hiện có trị giá 20 triệu USD và đầu tư nước ngoài 20 triệu USD bằng tiền mặt và nguyên vật liệu. Trong 10 năm đầu chúng ta thu lợi nhuận qua tỷ lệ doanh thu từ 5-7%, và số thấp nhất bên đối tác bảo kê là 400.000 USD/năm. Mười năm sau, ăn chia theo thực lãi, mỗi bên năm mươi phần trăm. Sau 20 năm, bên đối tác phải bàn giao toàn bộ tài sản cho phía Việt Nam. Sau mỗi năm giá trị thương mại của cơ sở du lịch sẽ tăng lên. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã có ý kiến: “Tham gia dự án liên doanh này, chúng ta không có gì để mất!”.

Vị giám đốc này (đồng thời cũng là một tỉnh ủy viên) còn long trọng hứa: “Riêng về sân Golf Đà Lạt chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm trong việc gìn giữ cảnh quan thiên nhiên, khí hậu và môi trường. Cũng cần nói thêm : khi sân Golf hoạt động, mọi du khách và nhân dân Đà Lạt được quyền vào tham quan, xem đánh golf hoặc đi dạo chơi ngắm cảnh thoải mái. Dĩ nhiên, du khách phải tuân theo nền nếp văn minh, lịch sự hơn. Chúng tôi luôn mong muốn mang lợi ích đến cho nhiều người chứ chúng tôi không biến Đồi Cù trở thành một biệt khu – chỉ dành riêng phục vụ cho một giới thượng lưu.” [9]

Thân phận trôi nổi của Đồi Cù:

Đồi Cù với tư cách là một công viên tự nhiên đã tồn tại trong phần lớn thế kỷ 20. Thế nhưng kể từ khi bị “thương mại hóa”, thân phận trôi nổi của nó chẳng khác gì số phận của nàng Kiều.

Người chủ đầu tiên của sân golf Đà Lạt từ năm 1992 là công ty DRI (Dalat Resort Incorporation) – một hình thức liên doanh giữa Công ty Du lịch Lâm Đồng (một công ty quốc doanh) và công ty Danao Ltd. British Virgin Islands có trụ sở tại Hong Kong. Nhưng Danao thực ra chỉ là một tấm bình phong để “lách” lệnh cấm vận của Hoa Kỳ . Người chủ thực tế của Danao là một nhà tỷ phú người Mỹ tên là Larry L. Hillblom (1943-1995) – người đồng sáng lập công ty vận chuyển bưu kiện nổi tiếng DHL. Sân golf Đà Lạt khánh thành chưa được bao lâu thì Hillblom mất tích trong một tai nạn máy bay ngoài khơi Thái Bình Dương – gần đảo Saipan[10], nơi ông ta cư trú từ thập niên 1980. Trong thời gian sau đó, báo chí đăng vô số những bản tin và bài báo xung quanh việc chia gia tài của Hillblom. Vấn đề gây tranh cãi là vì lúc còn sống, ông tỷ phú không có ý định giao gia tài cho bất cứ ai trong gia đình, nhưng lại có di chúc hiến tặng tài sản cho một viện đại học nhằm mục đích nghiên cứu về y tế - đặc biệt là các nghiên cứu do Viện Đại học California (University of California, UC) tiến hành. Mặc dù không có vợ con chính thức, ông tỷ phú này lại có sở thích “mua dâm” đối với các cô gái còn trinh của vùng Đông Nam Á – nhất là gái vị thành niên. Vì thế sau khi ông ta qua đời, đã xảy ra một vụ kiện tụng kéo dài khoảng hai năm tại Tòa án Saipan, trong đó 8 người phụ nữ thuộc nhiều nước ở Đông Nam Á đòi quyền thừa kế cho 8 đứa trẻ được “khẳng định” là con của Larry Hillblom trong lúc ăn nằm với họ.

Theo một bài báo trên tờ Chicago Tribune vào cuối tháng 5 năm 1999, vụ kiện kết thúc vào cuối năm 1997 bằng một sự dàn xếp, qua đó 60% tài sản được giao cho bốn đứa con được công nhận qua xét nghiệm DNA (trong đó có một đứa bé là con của một cô hầu phòng người Việt ở Phan Thiết), còn 40% được giao cho Quỹ Larry L. Hillblom (Larry L. Hillblom Foundation) - quỹ từ thiện được thành lập năm 1996 dựa theo di chúc của Hillblom. Điều đó có nghĩa là bốn đứa con rơi của Hillblom được nhận tổng cộng 300 triệu đô-la – nghĩa là 180 triệu đô-la sau khi trừ thuế. Quỹ Hillblom được nhận 200 triệu đô-la miễn thuế. Số tiền còn lại thu được do bán các tài sản của Hillblom – bao gồm các sân golf và các khách sạn ở Đông Nam Á, sẽ được tiếp tục phân chia giữa những đứa con rơi và Quỹ Hillblom.[11]

Những tin tức rất ít ỏi cho chúng ta biết Công ty Danao Ltd. British Virgin Islands (tức công ty sở hữu 50% vốn trong Công ty liên doanh DRI) vẫn tiếp tục hoạt động tại Việt Nam dưới cái tên Danao International Holdings, Ltd. Do kinh doanh thua lỗ, phía Việt Nam đã bán toàn bộ cổ phần trong DRI cho Danao; do đó số tài sản mà Công ty du lịch Lâm Đồng góp vốn (bao gồm sân golf Đà Lạt, khách sạn Dalat Palace và khách sạn Du Parc) trở thành tài sản riêng của Danao. Theo một số nguồn tin thông thạo, để tạo điều kiện cho việc sang nhượng tài sản cho nước ngoài, phía Việt Nam đã ký giấy phép nâng thời hạn sử dụng sân golf Đà Lạt từ 20 năm lên 40 năm!

image
Hình 6 : Sân golf hiện nay – một cảnh đẹp nằm ngoài tầm tay của người dân Đà Lạt (nguồn: Dalat Palace Golf Club)

Vào năm 2007, báo chí đưa tin Indochina Land Holdings– một chi nhánh của tập đoàn Indochina Capital (Hoa Kỳ) đã nắm được đa số cổ phần của công ty Danao. Và đến tháng 6 năm 2010, một bản tin của báo Tuổi Trẻ cho biết : sau cùng thì sân golf Đà Lạt cùng với hai khách sạn Sofitel (tức Dalat Palace) và Mercure (tức Hotel du Parc) đã được Indochina Capital bán lại cho một tập đoàn kinh doanh bất động sản của người Việt có tên là Vina Properties Development Group (VPD) – chủ tịch là Phạm Trịnh Phương. Người ta không rõ sân golf 18 lỗ được định giá bao nhiêu, chỉ biết trị giá của toàn bộ tài sản nhượng lại cho Công ty VPD (bao gồm sân golf và hai khách sạn) là 47 triệu USD.[12]

Như vậy là một chu trình chuyển đổi quyền sở hữu đã hoàn tất : từ chỗ là một tài sản công, Đồi Cù Đà Lạt biến thành một loại tài sản “hỗn hợp” dưới danh nghĩa “liên doanh” (nửa công - nửa tư, nửa quốc nội - nửa ngoại quốc), sau đó biến thành tài sản 100% của các nhà tư bản ngoại quốc và cuối cùng lại được “Việt Nam hóa” để trở thành tài sản riêng của các “đại gia” Việt Nam. Khi nói đến “đại gia”, chúng ta phải hiểu đây là các nhà “tư bản đỏ” hoặc ít nhất cũng là các nhà “tư bản thân hữu”, vì dưới sự chi phối của chủ nghĩa tư bản thân hữu (crony capitalism), các nhà đầu tư bình thường không có mối quan hệ gắn bó với các quan chức trong Đảng rất khó lòng chiếm hữu các tài sản quan trọng này. Điều đáng nói là : toàn bộ quy trình chuyển đổi hình thức sở hữu này đều diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, và đều nhân danh “chủ nghĩa xã hội”, “vì lợi ích của nhân dân”.

Điều mà các nhà lãnh đạo cộng sản đã hứa trước đây hai mươi năm (tức là: toàn bộ khối tài sản sẽ được bên đối tác bàn giao lại cho phía Việt Nam) đã trở thành một lời hứa rỗng tuếch, bởi vì khối tài sản đó đã được “bán lại” cho tư nhân người Việt chứ không phải “bàn giao” cho phía chính quyền Việt Nam để trở lại thành một công viên như xưa.

image
Hình 7 : Hàng rào bao quanh Đồi Cù biến công viên thành tài sản của tư nhân (ảnh NVP)

Thay lời kết:

Ngày nay, sau hơn 20 năm kể từ khi Đồi Cù bị thương mại hóa, du khách đến Đà Lạt khi đi trên con đường vòng quanh hồ Xuân Hương có thể nhìn thấy một hàng giậu bao quanh sân golf, biến toàn bộ khu vực này thành môt lãnh địa riêng biệt. Các thế hệ người Đà Lạt sinh ra từ thập niên 1990 trở về sau không hề biết Đồi Cù như một công viên, nơi đã từng chất chứa những kỷ niệm của các thế hệ người Đà Lạt trước đó. Đồi Cù ngày nay - cho dù mượt mà hơn vì được phủ một lớp cỏ nhân tạo xanh mướt để thay cho lớp cỏ tự nhiên ngày xưa, đã không còn là tài sản chung của nhân dân thành phố. Hàng rào bao quanh thắng cảnh này trở thành một niềm đau, một nỗi ô nhục mà người dân Đà Lạt phải gánh chịu trong suốt hai thập niên và còn kéo dài không biết đến bao giờ…

Cuối cùng là một câu hỏi được đặt ra cho tất cả những người dân Đà Lạt và cả những người yêu Đà Lạt trên khắp thế giới : Đến lúc nào thì Đồi Cù được hoàn trả về cho người dân Đà Lạt, nghĩa là trở lại thành một công viên?

Câu hỏi nhức nhối này còn có liên quan đến một câu hỏi khác – còn nhức nhối hơn nữa: Đến khi nào người Đà Lạt mới trở thành người chủ thật sự ngay trên quê hương mình?

Đà Lạt, những ngày cuối năm Quý Tỵ chờ đón Xuân Giáp Ngọ 2014,

MAI THÁI LĨNH (tức HOÀNG THÁI LĨNH, THĐ 1964)

(Bài viết dành riêng cho đặc san Thông Reo, Đại hội Cựu học sinh Bùi Thị Xuân – Trần Hưng Đạo, San Jose, California, tháng 6 năm 2014)

[1] Nai Cà-tông (Cerf d’Eld, tên khoa học là Cervus eldii hay Panolia eldii) là một động vật của vùng Đông Nam Á, ngày nay trở thành quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng.
[2] Louis-Georges Pineau, “Le plan d’aménagement et d’extension de Dalat”, La vie urbaine, Numéro 49 (Nouvelle série), Janvier-Février 1939, Paris, p.42.
[3] Petit Guide illustré de Dalat - Indochine française, Hanoi 1930, p. 33
[4] “Chez nos confrères”, L’éveil économique de l’Indochine, n° 684, 3 Mai 1931.
[5] P. Munier, “Dalat”, Indochine Jeudi 13 Mars 1941, page 8. Nguyên văn: “(A Dalat on a prévu le besoin de sport des hivernants: grenouillère, cercle sportif, cercle nautique, tennis, golf à neuf trous, etc…”)
[6] Map of Dalat 1:12,500, Edition 1-AMS, Series L909, U.S. Army Map Service, 1963 (12MB):http://www.lib.utexas.edu/maps/world_cities/txu-pclmaps-da_lat-1963.jpg
[7] Nguyễn Hùng, “Đồi Cù sẽ trở thành sân golf?”, Phụ nữ TP.HCM số 59, ngày 8-8-1992.
[8] Phạm Thái, “Đà Lạt hôm nay”, Lao động Chủ Nhật, ngày 6-9-92.
[9] Tích Lộc, “Phải chăng Đồi Cù đã bị bán?”, Đại Đoàn Kết số 17 (tháng 9-1992).
[10] Saipan là hòn đảo lớn nhất và là thủ đô của Quần đảo Northern Mariana (Northern Mariana Islands), nằm trong vùng biển Tây Thái Bình Dương, cách căn cứ hải quân Guam 190 km về phía bắc. Là lãnh thổ ủy trị của Liên Hiệp Quốc (United Nations trust territories) giao cho Hoa Kỳ quản lý, từ năm 1976 quần đảo này từng bước trở thành một lãnh thổ tự trị nằm trong một “liên hiệp chính trị” (political union) với Hoa Kỳ.
[11] Vincent J. Schodolski, “Estate Of Courier Tycoon Finally Delivers For 4 Heirs”, Chicago Tribune May 31, 1999:
[12] “Đà Lạt: Sân golf Đồi Cù thuộc về một công ty trong nước”, Tuổi Trẻ 1-6-2010: