Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ


Một cuộc đấu giá về bản phục chế cuộn thư họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ tại Trung Quốc đã gây xôn xao dư luận trong thời gian vừa qua.
Bức tranh được hoàn thành vào năm 1363 bởi họa sư Trần Giám Như, sau đó được các danh sĩ đời Minh viết nốt thêm lời bình dẫn, tôn vinh Trúc Lâm đại sĩ. Thư pháp đặc sắc của họ hợp cùng họa phẩm tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật thư – họa, có tổng chiều dài lên đến 3m.
Nhân vật chính trong bức họa là Phật hoàng Trần Nhân Tông. Bức họa miêu tả lúc Phật hoàng Trần Nhân Tông từ động Vũ Lâm xuất du xuống núi. Đại sĩ ngồi trên cáng, còn các tùy tùng đều khoác áo tăng. Voi trắng chở kinh đi ở sau cùng. Phía trước voi có người đội mũ vàng, cưỡi trâu, ấy hẳn là đạo sĩ Lâm Thời Vũ. Cung nghênh trên đường chính là con của Trúc Lâm đại sĩ, người nối ngôi, thay cha trị nước, tức là vua Trần Anh Tông.
Số phận của bức tranh chìm nổi theo thời gian. Từ  đời Minh sang đời Thanh nó vẫn được lưu giữ như quốc bảo. Năm 1922, hoàng đế cuối cùng nhà Thanh là Phổ Nghi tuy đã thoái vị nhưng vẫn ở trong Tử cấm thành, nhân đó bí mật “tuồn” ra ngoài hơn 1.300 bảo vật, trong đó có cả bức thư họa này. Lưu lạc trong chiến cuộc, đến năm 1949, số báu vật này mới được đưa vào Bảo tàng Đông Bắc (nay là Bảo tàng Liêu Ninh) lưu giữ, công chúng không mấy dịp được chiêm ngưỡng nữa. Bức Trúc Lâm đại sĩ cũng vì thế mà biệt tích. Năm 2004, Bảo tàng Liêu Ninh triển lãm và công bố các báu vật bị thất tán thời Phổ Nghi, nhưng cũng phải đến cuộc đấu giá vào tháng 4-2012 vừa qua, công chúng mới được thấy hình ảnh của Trúc Lâm đại sĩ đăng tải rộng rãi trên Internet.
Sau những phát hiện trên của nhà nghiên cứu Nguyễn Nam về bức tranh cổ quý giá này (phiên bản cao cấp) được bán đấu giá ở Trung Quốc vừa qua, nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Huy, một người cũng theo dõi về các cổ vật thời Trần, đã cung cấp thêm một số chi tiết về Trần Giám Như – tác giả bức tranh quý hiếm này. Trần Giám Như là họa sư đời Nguyên và cũng là người dòng tộc họ Trần, sang Trung nguyên sinh sống lâu dài.
Ngoài bức tranh nổi tiếng trên, Trần Giám Như  còn là tác giả một số chân dung các nhân vật người Việt và người Cao Ly  (TriềuTiên), phải sống lưu vong ở Trung Quốc thời kỳ đó.
Để độc giả có cơ hội tìm hiểu và chiêm ngưỡng các chi tiết cuả bức tranh quý, xin cung cấp thêm những hình ảnh trích đoạn từ bức thư họaTrúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, mà Trần Phước Huy gọi là một  "cuộn tranh” dài tới 3 mét này. Một số hình ảnh khắc họa rõ nét hơn như Đạo sĩ người Trung nguyên Lâm Thời Vũ cưỡi trâu đi trước, hình ảnh voi trắng chở kinh đi sau cùng, các nhà sư mặc y phục đặc trưng là người phương Nam, khác với sư ở Trung nguyên. Còn có hình ảnh nghiên mực bằng đá, xung quanh có khắc các trích đoạn tranh “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ”. Tác phẩm được chế tác vào đời Vĩnh Lạc nhà Minh ( 1402 – 1424), sau này còn được phỏng tác lại nhiều lần, đến tận đời Càn Long nhà Thanh còn được làm bằng gốm sứ.
Sau đây là một số ảnh trích đoạn:
Trúc Lâm đại sĩ ngồi trên cáng cùng các nhà sư và đồ đệ, đi dưới vòm tùng cổ thụ Yên Tử.
Voi trắng chở kinh đi sau cùng. Các nhà sư mặc y phục đặc trưng là người phương Nam, khác với sư ở Trung nguyên.

                               
                               Đạo sĩ người Trung nguyên Lâm Thời Vũ cưỡi trâu đi trước.

Vua Trần Anh Tông, con của Thượng hoàng Trần Nhân Tông cùng các tùy tùng cung nghinh Thượng hoàng, lúc này đã là Phật hoàng,  khi Người xuống núi (Vua Trần Anh Tông là người đứng ở giữa, chắp tay cung kính).


Nghiên mực bằng đá, xung quanh có khắc các trích đoạn tranh ” Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ”. Tác phẩm được chế tác vào đời Vĩnh Lạc nhà Minh ( 1402 – 1424 ), sau này còn được phỏng tác lại nhiều lần, đến tận đời Càn Long nhà Thanh còn được làm bằng gốm sứ…
Hoàng Lan (tổng hợp và sưu tầm)

Giả dối lên ngôi


Alan Phan

“Ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!”

Từ A đến Z

Qua bài “Lạm bàn về căn bệnh dối trá tại Việt Nam”, Giáo sư Trần Kinh Nghị từ Hà Nội đề cập tới điều có thể nói hài hước – nhưng chua chát – rằng “ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!”

Một nhà giáo dục luôn quan tâm cho vận nước, dân tộc là GS Hà Văn Thịnh từ Huế cảnh báo rằng tình trạng giả dối ở Việt Nam giờ lan tỏa từ “A đến Z”, khi cảnh nhiễu nhương, tự tung tự tác đang hoành hành xã hội Việt Nam:

Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được.

GS Hà Văn Thịnh
“Trong bản chất xã hội Việt Nam có sự giả dối, vô cảm, ích kỷ, sự tàn nhẫn. Đó là tất cả những gì biểu hiện của văn hóa Việt Nam hiện nay. Nói ra chẳng ai thích đâu. Nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được.”

Theo GS Trần Kinh Nghị, thì dối trá thoạt nghe qua cũng chỉ là một thói đời không mấy tốt đẹp vốn nhan nhản trong xã hội loài người, nên người ta dễ tưởng rằng “không có gì nguy hại lắm”. Nhưng, khi “Lạm bàn về căn bệnh dối trá ở Việt Nam”, GS Trần Kinh Nghị không khỏi lưu ý rằng “Ở Việt Nam bệnh dối trá có những đặc thù riêng”. Những “đặc thù riêng” ấy là như thế nào ?

Tác giả giải thích:
“Nó bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua nhiều biến cố lịch sử với những phong trào thi đua và những đợt cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, nhân văn giai phẩm v.v… khiến xã hội bị xáo trộn, lòng người đảo điên. Những thời kỳ kinh tế khắc khổ cũng khiến con người ta trở nên bon chen và thủ đoạn. Tất cả tạo nên lối sống và tư duy phức tạp, thường mang tính hai mặt, nói và làm không đi đôi với nhau.”

Căn bệnh trầm kha

Vẫn theo GS Trần Kinh Nghị, thói “làm thì láo, báo cáo thì hay” cùng thói “chạy theo thành tích” vốn phát xuất từ thời XHCN ở Miền Bắc đã góp phần làm trầm trọng thêm căn bệnh dối trá ở Việt Nam hiện nay, và đã trở thành “căn bệnh trầm kha bám sâu rễ trong toàn xã hội đến độ ai không biết nói dối, không biết làm ẩu và không biết ‘ăn theo nói leo’ thì không thể tồn tại”.

Và tác giả báo động rằng tệ nạn bè phái, tham nhũng nghiêm trọng tràn lan trên khắp quê hương hiện nay cũng có nguyên nhân sâu xa từ căn bệnh dối trá ấy, để từ đó, sinh sôi và dung dưỡng cho “những kẻ bất tài, vô đạo đức nhưng thích làm quan”.

Nhà văn Nguyên Ngọc qua bài “Cần một cuộc tự vấn” đã thẳng thắn đề cập tới “một trạng thái chán chường sâu sắc và mênh mông về đạo đức xâm chiếm mọi con người”. Theo cái nhìn của nhà văn Nguyên Ngọc thì tâm trạng chán chường trước sự sa sút về đạo đức ấy phát sinh từ một “căn bệnh” cứ “vây kín quanh mình”“va vào đâu cũng gặp” dưới “mọi kiểu trắng trợn hay tinh vi”, đó là sự giả dối.

 Nhà văn Nguyên Ngọc phân tích:
“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa. Câu hỏi thường trực bây giờ: Tốt để làm gì? Sạch để làm gì? Quên mình để làm gì? Xả thân chống lại cái xấu, cái giả để làm gì? Liệu rồi có ai, có cơ chế nào bảo vệ những nỗ lực đạo đức đó không? Hay thậm chí bị cả cơ chế quật đánh lại như vẫn thấy không hề ít?”


Đang thống trị xã hội

Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng không tránh khỏi âu lo khi căn bệnh giả dối ấy “đang thống trị xã hội” Việt Nam, mà chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng thiếu trung thực của nền giáo dục nước nhà: Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo
“Sự giả dối tồn tại ở xã hội Việt Nam lâu rồi. Ngay trong lãnh vực giáo dục, ông phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phụ trách các mặt văn hóa-giáo dục cũng khẳng định là tình trạng thiếu trung thực trong giáo dục là bệnh lớn nhất tại VN.

Mà giáo dục là gì? Giáo dục là dạy cho con người trở thành người. Nó dạy cho con người phải có đạo đức. Mà cái đầu tiên của đạo đức là chân thật. Giả dối thì trái ngược lại, là phản giáo dục. Vừa rồi nhà bác học toán học Hoàng Tụy cũng vừa viết một bài rất hay góp ý cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về tái cấu trúc xã hội.

Theo GS Hoàng Tụy thì không thể nào tái cấu trúc xã hội. Bởi vì tái cấu trúc là những bộ phận rời. Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.”


Cả một hệ thống

Cách nay chưa lâu – tức hồi cuối năm ngoái, vào một buổi chiều cuối năm, khi “giá rét và nỗi buồn… tràn ngập tâm hồn khiến nỗi lòng chùng xuống”, TS Nguyễn Xuân Diện đã phóng bút bài “Chiều cuối năm nhìn lại”, qua đó ông không quên lưu ý tới “những vụ giết người cướp của ngày càng táo bạo, kẻ thủ ác tuổi đời càng ngày càng trẻ và cách thức giết người càng ngày càng dã man, độc án, quyết liệt” hơn.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng có cái nhìn tương đồng về việc xã hội Việt Nam ngày nay – mà theo lời ông, “xuống cấp chưa từng thấy”:

“TS Nguyễn Xuân Diện nói thế là chính xác bởi vì điều đó có rất nhiều người đã khẳng định rồi. Ngay cả nghị viên Quốc hội Việt Nam Dương Trung Quốc cũng nói rằng thế hệ chúng ta là thế hệ mất gốc. Mà mất gốc là mất những giá trị tốt đẹp của Việt Nam.

Còn xã hội Việt Nam hiện nay, về mặt đạo đức, xuống cấp chưa từng thấy. Tình trạng này đầy tràn những mặt báo “lề phải”: Ngày nào cũng cướp, cũng giết, cũng có những tội phạm xã hội khủng khiếp. Nó tràn lan, không còn là hiện tượng riêng lẻ, mà cả hệ thống như vậy rồi.”
Nếu ngày xưa – cách nay hơn một thế kỷ – nhà thơ Trần Tế Xương than phiền và báo động tình trạng xã hội VN lúc đó suy đồi về đạo đức, khi:

Nhà kia lỗi đạo con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

thì ngày nay, tình hình đạo đức sa sút ngày càng trầm trọng trong nước đang gây bất an, trăn trở triền miên cho những người có tâm huyết với quê hương.

Lời bình của Alan:
Một bạn BCA gởi tôi bài viết trên đăng trên BBC cách đây vài tháng để xin tôi câu bình luận. Thực tình, tôi không chắc là mình có được sự hiểu biết sâu rộng về xã hội này cũng như một góc nhìn khách quan để đánh giá một vần nạn có thể nói là nghiêm trọng và căn bản trong sự vận hành của một quốc gia.
Tôi xin dành sân chơi này cho các bạn: những người con của tổ quốc đang trải nghiệm trong môi trường; đang có những băn khoăn bức xức (hay đang an hưởng hạnh phúc); muốn nhìn thấy một Việt Nam khác biệt (hay vẫn như thế); và có một tình yêu quê hương sâu đậm (hay makeno).
Tôi xin đề nghị vài câu hỏi.
  1. Sự giả dối có lan tràn từ A đến Z hay không? Hay chỉ là cục bộ và không trầm trọng đến vậy?
  2. Đây có phải là một vấn đề cơ chế cần tái cấu trúc toàn bộ? Hay có thể sừa sai từng phần?
  3. Nếu sự xuống cấp của xã hội quá tồi tệ thì bản thân và gia đình bạn sẽ chịu đựng và tốn tại như thế nào? Trong bao lâu?
  4. Yếu tố nào đã gây nên những hệ quả này: dân trí, kinh tế, lịch sử hay thể chế?
  5. Bạn có thể tạo cho mình một ốc đảo thanh bình giữa những nhiễu nhương?
Let the game begins…trong những ngày hè lười biếng và nóng nực.


Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

Trung Quốc: hiếu hòa hay hiếu chiến?



Năm ngoái, trong một cuộc họp về ngôn ngữ Á châu được tổ chức tại Úc, một đại diện của Trung Quốc lên phát biểu ý kiến. Ông không những khuyên sinh viên Úc nên học tiếng Tàu mà còn khuyên mọi người nên an tâm trước sự phát triển vượt bậc của Trung Quốc trong mấy thập niên vừa qua cũng như trước viễn tượng một ngày nào đó không xa, Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc kinh tế số 1 của thế giới. Tại sao mọi người nên an tâm? Ông giải thích: Vì Trung Quốc không hề đe doạ bất cứ ai cả. Tiếp ngay sau đó, ông nhấn mạnh: Trong lịch sử, Trung Quốc chưa hề xâm lược nước nào!
Nghe mấy câu ấy, nhiều người cười. Tôi cũng cười. Cứ cho như một kiểu nói của một người không được bình thường.
Có điều, sau đó, theo dõi báo chí, tôi nghe không ít người, từ trong chính quyền đến giới học giả thân chính quyền, cũng nói y như vậy. Cũng khẳng định dứt khoát như vậy. Cũng bằng giọng điệu nghiêm trang như vậy. Cũng đem cả lịch sử ra chứng minh như vậy.
Có thể nói, liên quan đến vấn đề quân sự, ở Trung Quốc có một hiện tượng nghịch lý:
Một mặt, về ngân sách, họ không ngừng tăng các chi phí quốc phòng. Theo các số liệu được chính thức công bố, từ năm 1999 đến 2008, chi tiêu về quốc phòng của Trung Quốc tăng trung bình 16.2% mỗi năm. Tính từ năm 2006 đến nay, số chi tiêu ấy tăng lên gấp đôi. Mới đây, vào đầu tháng 3, chính phủ Trung Quốc thông báo ngân sách quốc phòng của họ tăng 11.2%, tức lên đến 670 tỉ nhân dân tệ (tương đương 106.4 tỉ Mỹ kim), đứng hàng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ). Cần lưu ý: ở trên là các con số chính thức được chính quyền Trung Quốc đưa ra. Rất ít người tin vào các con số đó. Nhiều người, nhất là ở Mỹ, tin con số chi tiêu thực sự cho quốc phòng của Trung Quốc cao hơn con số họ đưa ra ít nhất là 50%. Hơn nữa, người ta còn nhấn mạnh: nếu quy ra đô-la Mỹ, chi tiết quốc phòng của Trung Quốc trên thực tế sẽ còn cao hơn nhiều vì vật giá và công lao động ở Trung Quốc rất thấp so với Mỹ. Ví dụ, với một triệu đô-la dùng để trả lương cho binh sĩ, Trung Quốc sẽ có một số lính nhiều hơn Mỹ gấp cả 5,10 lần.
Tất cả những con số ấy làm cho thế giới lo ngại.
Trung Quốc thừa hiểu những sự lo ngại ấy không có lợi cho mình. Do đó, họ ra sức trấn an thế giới.
Trấn an bằng nhiều cách.
Cách chính thức: thông qua các bản bạch thư của chính phủ. Gần đây nhất, vào tháng 9 năm 2011, họ tung ra bản bạch thư về “Phát triển hòa bình”, nhấn mạnh vào mấy điểm chính: một, Trung Quốc không bao giờ có ý đồ xâm lược hay bành trướng, không bao giờ nuôi mộng bá quyền; hai, Trung Quốc chỉ theo đuổi chính sách tự vệ, mọi chi tiêu quốc phòng đều nhằm mục đích tự vệ; ba, Trung Quốc không bao giờ can thiệp vào tình hình nội bộ của các quốc gia khác; và bốn, Trung Quốc tôn trọng các giá trị dân chủ và nỗ lực xây dựng một xã hội dân chủ thực sự.
Bên cạnh những văn kiện chính thức như vậy, bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc không ngừng tô vẽ hình ảnh một Trung Quốc hiền hòa và hiếu hòa, không phải bây giờ mà là trong suốt lịch sử mấy ngàn năm của mình. Ở đây, họ thường có một số luận điểm giống nhau. Ví dụ, trong lịch sử, Trung Quốc có hai biểu tượng quan trọng và tiêu biểu nhất: một, về văn hóa phi vật thể: Nho giáo; và hai, về văn hóa vật thể: Vạn lý Trường thành. Cả hai đều có ý nghĩa và đặc điểm giống nhau: hòa bình. Nội dung chính của Nho giáo là nhắm đến việc xây dựng một xã hội hài hòa và ổn định. Nho giáo không hề chủ trương chinh phục và chinh phạt. Vạn lý Trường thành cũng vậy: Nó được xây dựng, ròng rã cả mấy trăm năm, với công sức của cả hàng trăm triệu người, trong đó, theo ước tính của giới sử gia, có khoảng một triệu người bị mất mạng trong quá trình xây dựng, không phải để tấn công mà chỉ để phòng thủ.
Với hai biểu tượng ấy, giới học giả Trung Quốc lớn tiếng khẳng định bản chất của Trung Quốc, kéo dài trong cả lịch sử mấy ngàn năm của họ, là hiếu hòa. Dù là một nước phát triển sớm và đông dân, họ không hề có tham vọng làm bá chủ thế giới. Thời xưa, so với đế quốc La Mã, họ hiền lành hơn hẳn. Thời Trung đại, so với đế quốc Mông Cổ, họ cũng hiền lành hơn hẳn. Thời sơ kỳ hiện đại, họ cũng không hề giống các đế quốc thực dân ở Châu Âu đem quân đi đánh chiếm và cướp đoạt tài nguyên của các nước khác. Lúc nào họ cũng thu rút vào bên trong, lo giữ gìn trật tự ngay trong nội bộ nước họ. Với nước ngoài, họ không bao giờ gây hấn.
Ngay cả những người không sành về lịch sử Trung Quốc cũng thấy ngay luận điệu không đúng sự thật.
Thứ nhất, hầu như không ai không biết việc Trung Quốc xâm lăng Tây Tạng và áp đặt một nền cai trị hà khắc lên nhân dân Tây Tạng, một quốc gia Phật giáo hiền lành có lịch sử văn hóa rực rỡ kéo dài cả gần 3000 năm nay, và mới bị Trung Quốc lấn chiếm từ năm 1949, sáp nhập vào nước họ từ năm 1951. Từ đó đến nay, dân chúng Tây Tạng không ngừng tranh đấu giành độc lập, hoặc ít nhất, quyền tự trị. Và họ đã bị đàn áp khốc liệt.
Thứ hai, với riêng những người biết về lịch sử Á châu, đặc biệt với người Việt Nam, chúng ta không thể không nhớ mối đe dọa thường trực từ Trung Quốc đối với nền độc lập của Việt Nam. Không người Việt nào không nhớ những lần họ xâm lấn Việt Nam và những tội ác tày trời họ gây ra đối với nhân dân Việt Nam. Lần mới nhất, năm 1979, vẫn còn nóng hôi hổi trong ký ức mọi người.
Thứ ba, những hành động gây hấn ngang ngược trên biển của Trung Quốc gần đây nhất đối với một số nước láng giềng như Nhật Bản, Philippines và Việt Nam vẫn còn gây ồn ào trong dư luận thế giới.
Có thể nói, trong lịch sử, Trung Quốc không xâm lược các nước khác chỉ vì không đủ sức chứ không phải vì không có tham vọng bá quyền. Nước họ quá lớn, gồm nhiều sắc dân khác nhau, riêng việc trị an đã tốn quá nhiều thời gian và sức lực. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ hiếu hòa. Vấn đề, ở đây, chỉ là điều kiện. Trong tương lai, khi họ đã thực sự mạnh, không có gì bảo đảm họ sẽ không xâm lược các nước khác.
À, mà bạn có biết người Trung Quốc trả lời ra sao khi có người nêu lên vấn đề Việt Nam và Tây Tạng hay không? Họ đáp: Đó là vấn đề nội bộ của Trung Quốc. Xưa, Việt Nam là một phần của Trung Quốc và nay, Tây Tạng cũng là một phần của Trung Quốc. Đánh chiếm hai nước đó, bởi vậy, không phải là xâm lược. Mà là vấn đề trị an trong nội bộ Trung Quốc!
Bạn sẽ cãi với họ thế nào nhỉ?

TBT BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT COI THƯỜNG NGUYÊN TẮC ĐẢNG VÀ PHÁP LUẬT


Mai Thanh Hải - Mình lên tận biên giới Bảo Lạc, Bảo Lâm của miền phên dậu Cao Bằng heo hút - xa xôi.



Qua mạn Hà Giang, ngồi uống nước giữa trưa với mấy anh em làm việc trong tỉnh, cũng toàn khối Đảng - Đoàn thể, thấy ai ra cũng nhìn mình lắc đầu: "Cái Báo Đại Đoàn kết các ông bây giờ, nội dung đi xuống còn tai tiếng... đi lên!".

Mình cãi: "Tờ báo không có tội, các ông đừng kéo tên nó vào!", lập tức đội bạn phản ứng: "Tỉnh Hà Giang và chúng tôi cũng đâu có liên quan đến Chủ tịch Nguyễn Trường Tô, mà sao cứ nhắc đến tên ông ấy là nói đến dân Hà Giang?" và giải thích khiến mình cũng chịu cứng: "Cái thằng đứng đầu và bọn lâu la bên cạnh nguy hiểm lắm ông ợ!. Tỉnh tôi, may mà Trung ương sáng suốt lên rửa mặt rất sớm, mới dần lấy lại... phong độ. Chứ như các ông, cứ lùng bùng thế này, tập hợp được ai, thống nhất được ai, đoàn kết được ai và nói cho ai nghe?"...




Mình giận mấy ông bạn, tiếng là đầu phó ngành của tỉnh mà cứ đánh đồng cả măng séc Đại Đoàn kết, bao nhiêu người tâm huyết cùng tờ báo, với vài đống sâu mọt bẩn thỉu... nên mình chả uống thêm cốc nước, ngược Bắc Mê, sang thẳng đất Bảo Lạc - Cao Bằng cho đỡ mang tiếng bạn bè cơ quan cũ.

Cứ chắc mẩm là vậy, nhưng đúng là "tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa", đến ngay cái xứ Bảo Lạc gần xịch biên giới Trung Quốc, nhìn đâu cũng thấy đồng bào dân tộc vơ vẩn cùng núi đá - rừng xanh, mình cũng "bị" nghe chuyện Báo Đại Đoàn kết.

Đang ngồi tẩn rượu ở cái quán ven sông Gâm, chợt cả bàn bên ùa sang mời rượu. Uống xong, hỏi nhau mới biết đấy là các bác ấy "làm bên Mặt trận" (MTTQ huyện và tỉnh), rảnh rỗi nhiều nên thường lướt mạng xem tin tức - thời sự, nắm rất rõ câu chuyện của "Mặt trận trung ương" và Đại Đoàn kết bây giờ.

Mình tò mò: "Trên này cũng được nối mạng á?". Các bác cười lăn: "Cũng bỏ tiền túi ra sắm Dcom 3G để tiến kịp miền xuôi, về mặt tin tức. Trông vào cấp phát, trang bị có mà đến Tết Công gô!". 

Câu chuyện bên bàn rượu, tựu chung lại cũng là: Vai trò/ nhiệm vụ/ hiệu quả của Công tác Mặt trận dưới địa phương và những bức xúc của những người không liên quan, đến những tồn tại - xấu xí của 1 cơ quan Báo, làm nhiệm vụ tuyên truyền cho hệ thống Mặt trận từ trên xuống dưới...




Mình nghe các bác, thấy choáng luôn vì các bác phân tích, đánh giá qua lăng kính chính trị, toàn thấy "làm mất uy tín của hệ thống chính trị", "ảnh hưởng đến chức năng tập hợp của MTTQ" và "dung dưỡng, thối nát như thế thì nói được ai?"... nên xin được về nghỉ, hổng rượu chè gì nữa.

Bác "trưởng bàn", cũng cán bộ cốp to ở tỉnh vỗ vai: "Đọc của chú suốt, được lắm!" và nói thật: "Cái tờ Đại Đoàn kết cách đây mấy năm, anh em trên này đọc nhiều lắm. Nhưng 2-3 năm nay, thay cái cu Tổng Biên tập đang bị anh em phản ánh, tố cáo, báo chả có gì đọc, nên anh em chuyên môn cũng không đặt mua, đỡ tiền cho ngân sách!".

Bác cốp nói làm mình thấm thía: "Làm công tác dân vận mà có những người như thế, câu chuyện như thế thì nói chả ai nghe. Trên mình mà có như vậy, chắc mất đất - mất dân từ lâu rồi!"...

Chợt nhớ đến lời nhắc của bác Nguyễn Sự, Anh hùng Lao động, Bí thư Thành ủy Hội An dặn đi dặn lại mình: "Mi cứ đăng về mấy cái thằng giẻ rách ấy làm gì cho bẩn trang!".




Ừ! Biết là giẻ rách rồi đó, nhưng có đi đến những nơi khó khăn, vất vả, xa xôi, nghe những người tưởng như không quan tâm gì đến chính sự dưới xuôi, đưa câu chuyện "giẻ rách" ra để bàn luận, so sánh và rút cục đều bảo: "Dưới Trung ương còn bung bét như thế, sao cứ ra rả chỉ đạo - khuyên nhủ trên này?", mới thấy lo cho những người đang "cầm cân, nảy mực", bởi sự mất lòng tin, không chỉ ở những điều "đao to búa lớn" mà còn ở những chuyện tưởng bất công, đập vào mắt hàng ngày hàng giờ...

Dọc đường bấm chân dốc ngược lên chốt Biên phòng, lại chập chờn tin nhắn của những người bạn ở tít trên biên giới, hỏi chuyện "đoàn kết - kết đoàn" và bảo: "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã!".

Mình phì cười kể chuyện tin nhắn cho mấy anh em trong Đoàn công tác, cũng để mong hết mệt. Mọi người lắc đầu: "Ngưu tầm ngưu, cẩu tầm cẩu mới đúng. Chứ đưa mã vào đây, quá xúc phạm con ngựa, hay sao?"... Mà thật: Chó còn biết giữ nhà, trâu còn biết cày ruộng, giẻ còn dùng để lau súng... Còn có những loại, không biết "định danh sự vật - hiện tượng", thì dùng làm gì đây?..

-----------------------------------------------------------------------------

Đơn tố cáo của Nhà báo Hữu Nguyên về những hành vi vi phạm của Đinh Đức Lập, TBT Báo Đại Đoàn kết.
  


Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Những quyền lực của bóng tối hay một bóng tối đầy quyền lực


André Menras Hồ Cương Quyết
Nhà văn Nguyên Ngọc dịch
Vừa mới trở về Pháp, tôi nhận được tin buồn, gây sốc, đáng lo, trĩu nặng đe dọa đối với giai đoạn đang mở ra ở Việt Nam: bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của nữ blogger Tạ Phong Tần đang bị chế độ truy nã và bỏ tù, đã tự thiêu trước trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố.
Trước nay tôi đã quá biết ở Việt Nam có những lực lượng của bóng tối và đàn áp. Nhưng tôi không lường được hết tầm rộng lớn của chúng. Tôi cũng không lường được sức tàn phá của áp lực tâm lý hàng ngày mà một hay nhiều cơ quan công an được vài dân quân ở quận hay phường giúp sức, cùng một số phần tử gây rối gần với bọn lưu manh hơn là người lương thiện có thể tác động lên những công dân bình thường chỉ có mỗi cái tội duy nhất là muốn bảo vệ đất nước mình chống ngoại xâm, tham nhũng và đàn áp bạo tàn.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết - người  đã thay mặt toàn dân trao quốc tịch Việt Nam cho một công dân rất xứng đáng là André Menras Hồ Cương Quyết

Kinh nghiệm gắn liền với cuộc chiến đấu nhằm bảo vệ đất nước Việt Nam thân yêu của tôi chống Trung Quốc xâm lược đã cho tôi biết một cách trực tiếp và cụ thể cái nằm bên dưới đáng lo và đáng sợ của một hệ thống chính trị đầy những vùng tối. Ở đấy, người ta khủng bố một cách bí mật trong sương mù của tình trạng vô pháp luật, hay hại người công khai. Người ta cách ly về thể xác hay bằng sợ hãi những người dám nói lên và bày tỏ sự bất bình và lòng yêu nước của mình, ra khỏi gia đình, bạn bè của họ. Tôi đã khám phá ra những gì nằm bên dưới một hệ thống chính trị trong đó theo dõi về thể xác và thường xuyên những công dân lương thiện va bình thường, nghe lén điện thoại di động, kiểm soát liên lạc internet, tịch thu máy vi tính, điện thoại di động, cấm họ thuê nhà, bắt và bỏ tù một cách bí mật, kéo dài tùy thích thời gian giam giữ và chậm đưa họ ra trước “công lý”: tất cả những xâm phạm nghiêm trọng đến cá nhân, tài sản và tự do của họ ấy ngày càng trở thành tự nhiên, thậm chí là chuyện vặt. Trong mọi trường hợp luật pháp chân chính đều bị nhạo báng. Các vi phạm đó được thực hiện ngay tại chỗ, tùy tình huống, tùy ý thích của các nhà cầm quyền chính trị và các lực lượng gọi là “an ninh”. Không được phép có bất cứ sự kiểm soát nào và đòi hỏi một sự kiểm soát như vậy sẽ là nguy hiểm.
Việc cấm chiếu một cách thô bạo bộ phim của tôi bày tỏ tình đoàn kết với ngư dân bị tổn thương hồi tháng 11 năm 2011 (1), những ngăn trở lặp đi lặp lại mới đây không cho chiếu bộ phim hoàn toàn chính thức “André Menras: một người Việt” ở Sài Gòn (2), việc công khai theo dõi những người bạn của tôi: Cao Lập, Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn Mẫm, Hạ Đình Nguyên… và những uy hiếp bất thành văn nhưng rõ ràng mà các biện pháp ấy chứng tỏ: tất cả những cái đó nằm trong một hệ thống có mục tiêu chính là tìm mọi cách làm nản lòng cuộc kháng cự ái quốc chống lại xâm lược của Trung Quốc và việc tổ chức cuộc kháng cự ấy. Tôi nói rõ hai chữ ái quốc và tôi thách bất cứ kẻ nào trong các thế lực của bóng tối đã đàn áp chúng tôi, trong số những kẻ thậm chí đã không đủ can đảm xưng rõ danh tính dưới những văn bản công khai để biện hộ cho các lệnh cấm của họ, tất cả những kẻ ấy hãy thử chứng minh rằng chúng tôi không yêu nước. Tôi không cho phép họ dạy chúng tôi những bài học yêu nước. Chúng tôi đã là những người yêu nước, chúng tôi đang là những người yêu nước, và sẽ mãi mãi là như vậy! Mục đích duy nhất của chúng tôi là bảo vệ Việt Nam, bảo vệ đất nước này chống lại một cuộc xâm lược hiển nhiên.
Những lý lẽ chính thống lảm nhảm đã được dùng ngay từ đầu để chống lại chúng tôi và lấy làm lý do cho những cấm đoán, theo dõi và đàn áp có thể được diễn đạt như sau: “Chớ làm bất cứ điều gì có nguy cơ khiến lãnh đạo Trung Quốc không bằng lòng và tạo điều kiện cho họ có những hành động trả đũa mạnh mẽ và bành trướng đối với Việt Nam. Phản đối, biểu tình, kháng cự là đẩy Việt Nam vào chỗ nguy hiểm. Cần im lặng và chịu đựng! Hãy để cho các thế hệ mai sau giải quyết những vấn đề này. Đây không phải là việc của các người. Đừng làm phức tạp thêm việc của lãnh đạo. Hãy tin tưởng ở lãnh đạo. Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải có biện pháp chống lại các người để bảo vệ đất nước”. Chính bằng các lý lẽ quanh co đó và nhân danh “ổn định chính trị” mà một số nhà cầm quyền đã biến những người yêu nước chân chính thành mối uy hiếp đối với hòa bình và an ninh, khiến họ trở thành những phần tử phải kiểm soát, phải trấn áp, phải vô hiệu hóa hay, trắng trợn hơn, phải loại trừ khỏi đời sống xã hội. Cái vòng lẩn quẩn đã khép lại!
Nếu vào những thời đầu quan điểm đó có được một số người lãnh đạo yêu nước chia sẻ một cách lương thiện vì nó phù hợp với một tình thế khi Việt Nam còn tương đối bị cô lập, còn yếu, rất phụ thuộc Trung Quốc, thì ngày nay đã trở thành không thể biện minh, không thể bênh vực. Việt Nam không còn cô lập trước các tham vọng của Bắc Kinh. Một mặt trận chung chống bành trướng đã hình thành do phản ứng lại với các cuộc gây hấn của Trung Quốc ở Nhật Bản, ở Hàn Quốc, ở Philippines, ở Hoa Kỳ, ở Nga, ở Ấn Độ, ở New-Zealand, ở Úc. Khắp thế giới, và ngay cả ở Trung Quốc, dư luận công chúng đã nhận ra bản chất thật của chế độ Bắc Kinh và mối hiểm nguy nó gây ra cho hòa bình, an ninh và phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới. Dư luận công chúng ở Việt Nam bị khóa miệng quá lâu vẫn không bị khuất phục. Trái lại trên nhiều mặt nó đã gia tăng sức kháng cự nhờ có các phương tiện thông tin hiện đại, không thể kiểm soát. Luật Biển được thông qua ở Quốc hội là một trong những kết quả tốt đẹp nhìn thấy được của sự thúc đẩy trên tầm cỡ quốc gia và quốc tế ấy của nhân dân nhằm bảo vệ quyền của các dân tộc và quyền con người bị Bắc Kinh và những kẻ phục vụ chính sách của họ công khai uy hiếp.
Tôi đã nhiều lần nói và viết rồi: Chính sách cúi đầu và những tháo lui liên tục là một thất bại nặng nề, một trách nhiệm nặng nề và tội lỗi của những kẻ đã áp đặt nó trong nhiều năm ở Việt Nam. Năm này sang năm khác, đối với những phản đối một cách hình thức mà lại thụ động hoàn toàn trên thực tế của phía Việt Nam, lãnh đạo Bắc Kinh chỉ có lấn tới, sáp nhập, củng cố, tổ chức, khiêu khích và chuẩn bị những vụ sáp nhập hung bạo mới… Cho đến giai đoạn Scarborough mới đây, họ càng làm điều đó ngày càng dễ dàng vì không gặp bất cứ kháng cự nào, mà lại còn luôn được ban tặng “16 chữ vàng” với lại “4 tốt” ngay cả khi họ ngược đãi, bỏ tù và làm tan gia bại sản ngư dân của chúng ta. Một số lãnh đạo cấp cao của Việt Nam ngày nay vẫn tiếp tục cái trò diễn dối trá và thảm hại đó với các đồng sự Trung Quốc của họ trong khi một hải đội Trung Quốc gồm 23000 tàu bán vũ trang rời đảo Hải Nam đi xâm chiếm tài nguyên và không gian Biển Đông Nam Á!!! Những người từng thành thật tin tưởng ở thiện chí của Trung Quốc thì nay đã thấy rõ cái hố ngăn cách giữa lời nói hòa bình và hành động chiến tranh của họ. Những người ấy chẳng có chút lý do danh dự nào nữa để còn nấn ná mãi trong thụ động hay im lặng. Họ thấy rõ những người lãnh đạo Trung Quốc đã quyết định tiếp tục cuộc bành trướng hung bạo giày xéo lên luật pháp quốc tế, lên các quyền của các dân tộc láng giềng, và cả của chính dân tộc họ.
Bọn diều hâu Bắc Kinh đã quyết dấn tới. Họ đã tuyên bố rõ ràng điều đó với toàn thế giới. Họ sẽ còn dấn tới nữa, dù chiến lược được sử dụng của họ là gì (bằng lực lượng quân sự công khai hay bằng đặc công giả dạng ngư dân) và cuối cùng sẽ làm đổ máu những người vô tội, những công dân Việt Nam hay các nước khác, như họ đã làm hồi 1974 và 1988. Họ sẽ không bao giờ ký COC để bị cột chặt vào luật đàm phán đa phương trên cơ sở Công ước của Liên Hiệp Quốc về chủ quyền trên biển mà họ đã ký. Đạo luật duy nhất của họ là luật của kẻ mạnh hơn, mà họ nhầm to tưởng họ đã có. Tất cả đã quá hiển nhiên.
Chỉ có một cuộc kháng cự thích đáng và thống nhất mới có thể đánh bại các ý đồ đen tối của bọn chúng. Sức kháng cự đó nhất thiết phải xuất phát từ nhân dân Việt Nam, không có nhân dân ấy thì những người lãnh đạo chẳng là gì cả. Sức kháng cự ấy cũng phải đến từ dư luận công chúng quốc tế. Vậy mà hiện nay một số người lãnh đạo đang làm gì? Họ đã cho phép những lực lượng của bóng tối do họ hay không do họ điều khiển làm những gì? Họ đàn áp, truy nả những người yêu nước ưu tú nhất, có ý thức mạnh mẽ và dũng cảm nhất. Họ đập vỡ một sự thống nhất vừa hình thành duy nhất có thể cứu đất nước. Thay vì nuôi dưỡng lòng tin, họ thiết lập sự sợ hãi. Thay vì tổ chức một sự kháng cự đông đảo, họ khuyến khích sự chia rẽ. Thay vì làm sống lại quá khứ để phục vụ hiện tại, họ gợi lại quá khứ để càng vùi sâu nó hơn trong các bảo tàng phủ bụi.
Tôi nói điều này với niềm lo lắng và nỗi buồn sâu sắc: ở Việt Nam đang có cánh cộng tác thật sự với Trung Quốc. Tôi dùng từ “cộng tác” theo nghĩa tiêu cực nhất. Cái nghĩa mà những người yêu nước của Pháp đã dùng trong thời thế chiến thứ hai để chỉ những người Pháp đứng về phe bọn chiếm đóng phát-xít chống lại cuộc kháng chiến của Pháp. Cái cánh Việt Nam cộng tác với Tàu này khá mạnh. Nó không xưng danh. Hành động sau lưng luật pháp. Điên cuồng chống lại mọi cải cách dân chủ, mọi sự lên tiếng của dân chúng. Nó đánh lén. Nó không do dự dựa vào bọn côn đồ. Theo lối Tàu.
Thật khủng khiếp cho nhân dân Việt Nam khi không còn lựa chọn nào khác ngoài cách hoặc là co rúm lại trong sợ hãi và hổ thẹn, hoặc là bước vào kháng cự, một cuộc kháng chiến lần thứ ba sau hai cuộc chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới. Những người yêu nước dấn mình vào cuộc kháng chiến này và sẽ dấn mình vào ngày càng đông, theo gương tổ tiên và tự dọn mình cho những hy sinh mới chống lại kẻ thù bên ngoài và bên trong. Quả là tấn bi kịch của Việt Nam phải sống bên cạnh Trung Hoa!
Đàn áp chỉ làm cho kháng chiến thêm vững mạnh. Mưu đồ chia rẽ lại đưa đến kết đoàn mạnh bơn. Mưu đồ cô lập lại thúc đẩy công cuộc tổ chức. Bởi vì sự nghiệp của những người yêu nước Việt Nam là chính nghĩa, hợp pháp và đã là một tiến trình sống còn khắc sâu trong lịch sử và văn hoa Việt Nam. Không gì có thể ngăn cản nó lên tiếng. Cuộc kháng cự đó cũng quyết liệt chống lại những lực lượng của bóng tối đang tạo điều kiện cho xâm lược của ngoại bang: không thể có ổn định chính trị trong cộng tác! Không bao giờ! Các lực lượng của bóng tối rất đáng sợ đó cũng bị đại đa số nhân dân khinh bỉ. Chúng còn nặng tội hơn cả chính bọn xâm lược là những kẻ còn có thể viện cớ vì quyền lợi của đất nước chúng trong chính sách bành trướng; còn đám cộng tác Việt Nam chỉ có một biện minh duy nhất là lợi ích riêng đen tối của chúng, chống lại lợi ích của chính nhân dân mình.
Còn có cách gọi nào khác hơn là “bọn cộng tác” những kẻ chịu trách nhiệm về việc cho nhiều thế hệ các công ty nước ngoài, thường là Trung Quốc, thuê hàng nghìn hecta đất ở những khu vực chiến lược của đất nước; những kẻ đem bán tống tháo một cách đáng xấu hổ cho Trung Quốc các tài nguyên thiên nhiên và năng lượng quốc gia; những kẻ cho phép hàng hóa Trung Quốc tràn ngập và bóp chết, phá hoại thị trường nội địa; những kẻ đem dâng cho tuyên truyền của Bắc Kinh các phương tiện truyền thông của Việt Nam; những kẻ thêm một ngôi sao (Việt Nam) lên lá cờ Trung Quốc trong dịp các sự kiện chính thức, lén dời các cột mốc biên giới, xóa trọn những hàng chữ dài trên các tấm bia ghi nhớ các cuộc xâm lược của Trung Quốc; những kẻ lén lút ngăn cấm thô bạo việc tưởng niệm các anh hùng ngã xuống trên biển đối mặt với hải quân Trung Quốc hay trên đất liền đối mặt với quân đội của họ hay quân đội bù nhìn của họ; những kẻ để hàng chục nghìn công dân Trung Quốc xâm nhập và cư trú một cách bất hợp pháp, rồi không có bất cứ sự kiểm soát nào có thể tiến hành những hoạt động chẳng chút liên quan đến lợi ích của đất nước; những kẻ từ nhiều năm qua cho phép các tổ chức lưu manh của Trung Quốc làm giàu trên lưng nhân dân Việt Nam bất chấp luật pháp của Việt Nam, làm ô nhiễm môi trường, đe dọa sức khỏe công cộng (vụ nuôi trồng ở Cam Ranh, vụ “bác sĩ” Trung Quốc ở Thành phố Hồ Chí Minh) v.v. và v.v.
Đàn áp những người yêu nước, các lực lượng của bóng tối bảo vệ và nuôi dưởng căn bệnh ung thư chính trị, kinh tế và xã hội này. Cho phép nó duy trì và phát triển. Dù muốn dù không cuộc chiến đấu yêu nước hôm nay đã đi đến chỗ hòa làm một với cuộc chiến đấu chống tham nhũng và vì dân chủ, để một lần nữa cứu đất nước. Tất cả các cuộc chiến đấu đó gắn liền với nhau như môi với răng. Nếu thái độ của những người lãnh đạo Việt Nam xứng đáng với tên gọi đó, nếu các lực lượng trong sạch và yêu nước trong Đảng Cộng sản Việt Nam, công an, quân đội không tỉnh thức để nhổ tận rễ đám cỏ dại sinh ra từ cộng tác với Trung Quốc và được nó nuôi dưỡng, nếu lực lượng đó không gắn chặt với nhân dân để chặn đứng những hành xử gần như mafia đang tồn tại trên hàng chục khu vực vô pháp luật của lãnh thổ đất nước, thì Việt Nam sẽ đi vào một thời kỳ chia xé đau đớn. Đã dến lúc thực hiện cuộc cách mạng của sự tinh sạch và sáng tỏ dân chủ!
Để kết luận, tôi muốn trở lại trường hợp tự thiêu nhắc chúng ta đau đớn nhớ lại những năm đen tối và những năm then chốt của Lịch sử Việt Nam. Cuộc tự sát này không diễn ra ở một nơi bất kỳ nào, mà là ngay trước trụ sở của nhà cầm quyền địa phương. Rõ ràng qua đó người chết muốn nói rằng đây là kết quả cả một phẫn nộ, một bất công khổng lồ, một niềm tuyệt vọng mênh mông mà các nhà cầm quyền phải chịu trách nhiệm phần lớn. Cuộc tự sát này là một cuộc tự sát xã hội, chính trị, không phải là tự sát vì rối loạn tâm thần. Khi một hệ thống đẩy các công dân đến mút đường cùng như vậy thì phải hỏi: Hệ thống đó có thể tồn tại lâu dài như vậy chăng? Tôi nghĩ rằng khi một phong trào, dù không có tổ chức, bắt đầu có những người tử vì đạo, hệ thống đó phải thay đổi, hoặc là nó sẽ biến mất. Đấy là một quy luật của Lịch sử. Những người lãnh đạo hiện nay buộc phải thật sự dọn dẹp hàng ngũ của mình khi còn có thời gian bởi vì bầu không khí đã rất dễ bắt lửa và những tia lửa bi đát như ở Bạc Liêu sẽ có thể dẫn đến một đám cháy khổng lồ.
Hãy ngừng truy nã những người yêu nước, hãy thực sự bảo vệ ngư dân bị tấn công, hãy thực hiện các biện pháp đã được luật pháp quy định về biển, hãy bảo vệ nông dân và đất đai của họ, hãy thực sự kiểm soát các công ty và và công dân Trung Quốc không vì bất cứ cảm tình riêng nào, nhanh chóng xem xét lại hiến pháp một cách dân chủ trên cơ sở hiến pháp 1946, đưa quyền được biểu tình hòa bình, tập họp tự do vào luật, tiến đến một nền báo chí tự do và có trách nhiệm… tất cả các biện pháp sớm muộn phải thực hiện ấy sẽ đánh bại các lực lượng của bóng tối hung hãn và đã bắt rễ sâu nhất. Đấy không phải là kết liễu một chế độ xa dân mà là cơ hội sống còn duy nhất của nó, gần, rất gần với nó.
 Ngày 2 tháng Tám, năm 2012
A. M. H. C. Q.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
(1)    Hôm nay ngày 2 thâng Tám tôi được tin một nhân vật của quyền lực bóng tối thuộc Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã buộc Đài Truyền hình Quảng Ngãi, đang sẵn sàng chiếu bộ phim này, phải sửa cho nó có thêm “tính Đảng”.
(2)    Một ví dụ về sự tùy tiện trong việc áp dụng luật của nhà cầm quyền và về việc cấm chiếu, dù là trong chỗ riêng tư, bộ phim “Hoàng Sa – Việt Nam: Nỗi đau mất mát” và những cản trở việc chiếu, dù trong chỗ riêng tư, bộ phim “André Menras: Một người Việt”. Nên biết rằng hơn một năm nay Truyền hình cáp Quy Nhơn QCTV1 và QCTV 2 đã chiếu phim này, không có phép, không có “văn bản” nào cả. Tổ chức được quyền ưu tiên bất hợp pháp đó chính là Pisico, một tổ chức hợp tác với hiệp hội Nhân Bang, một hiệp hội… Trung Quốc, mà Chủ tịch chẳng là ai khác ngoài viên Phó Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư Trung Quốc ở Việt Nam 
(Tuổi Trẻ ngày 15/6/2012)

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

TBT Đinh Đức Lập xử lý đàn em như… phủi bụi, xúc phạm tập thể báo Đại Đoàn Kết và Lãnh đạo MTTQVN


Bị áp lực của công luận và sự chỉ đạo kiên quyết của lãnh đạo MTTQVN, Tổng biên tập Đinh Đức Lập buộc phải nhanh chóng xử lý kỷ luật ông Nguyễn Xuân Huy, người tự xưng là tiến sĩ, Phó tổng biên tập của báo Đại Đoàn Kết, cán bộ Cục Báo chí – Xuất bản (Bộ TTTT)…  Mặt khác, nhanh chóng xử lý  Nguyễn Xuân Huy cũng là một cách để TBT Đinh Đức Lập đổ hết tội lỗi lên đầu đàn em vốn rất được lòng của ông Đinh Đức Lập này, phi tang dấu vết.
                     
Đáng tiếc là, hành vi nhận hết tội lỗi của Nguyễn Xuân Huy dù được dàn dựng tính toán khá công phu song vẫn khiến mọi người dễ dàng nhận ra câu chuyện “Lê Lai cứu chúa” trong vụ này với hy vọng “bác cả” sẽ tìm cách xử lý nhẹ nhàng như … phủi bụi, để ngay sau đó ông Huy vẫn tiếp tục công tác, làm việc bình thường như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Có lẽ đây cũng là “giao kèo” giữa hai bên để ông Huy có thể chấp nhận “hy sinh”  nhận hết tội lỗi về mình.

Do vậy mà trong quyết định kỷ luật ông Nguyễn Xuân Huy, TBT Đinh Đức Lập đã khá nôn nóng khi thòng thêm cái điều 2: “Trong 12 tháng kể từ ngày ban hành quyết định kỷ luật, nếu ông Nguyễn Xuân Huy có tiến bộ, Hội đồng kỷ luật của cơ quan sẽ xem xét việc xóa kỷ luật nêu trên”. Nghĩa là với hàng loạt hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của ông Nguyễn Xuân Huy nhưng quyết định của ông Đinh Đức Lập vẫn nêu lên khả năng phục hồi chức vụ Trưởng ban TTQCPH cho ông Huy trong vòng 12 tháng. Mở ra cho Huy một con đường hy vọng tiếp tục phục hồi vị trí lãnh đạo của báo ĐĐK.

Thế nhưng sự đời không phải bao giờ cũng như mong muốn. Trường hợp vi phạm của ông Huy quá ồn ào và liên quan tới những vụ tiêu cực cũng ồn ào không kém ở trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Các cơ quan bảo vệ pháp luật hiện đang tiến hành các biện pháp cần thiết tại trường này để làm rõ các vi phạm tại đây và xử lý trước pháp luật. Nguy cơ ông Nguyễn Xuân Huy lộ tẩy việc đóng vai “Lê Lai hy sinh cứu chúa” vẫn chưa phải đã là kết thúc.

Hơn nữa, bản thân ông Huy cũng không ý thức được về mặt pháp luật khi tự nhận hết tội lỗi về mình khiến cho các hành vi sai phạm của ông càng tiến tới gần với nhiều hành vi vi phạm pháp luật hình sự được ghi trong Bộ Luật Hình sự của nước CHXHCNVN.  Mà đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì mọi việc không thể chỉ dừng lại trong vòng xử lý nội bộ, trong “bàn tay tưởng có thể che cả mặt trời” của ông Đinh Đức Lập được nữa rồi.



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------

ĐƠN TỐ CÁO KHẨN CẤP

(V/v Tổng biên tập Đinh Đức Lập bao che, xử lý kỷ luật ông Nguyễn Xuân Huy mang tính hình thức; không chấp hành chỉ đạo của cấp trên, của Đảng Đoàn; trù dập người tố cáo)
                                                                                    

Kính gởi:  Quý vị Lãnh đạo Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam


Tôi là Hữu Nguyên, hiện là Phó trưởng Ban Đại diện TP. Hồ Chí Minh của báo Đại Đoàn Kết, địa chỉ làm việc: 176 Võ Thị Sáu, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh, địa chỉ thư điện tử: huunguyenddk@gmail.com.

Nay tôi làm đơn này tố cáo khẩn cấp tới Quý vị Lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBTƯMTTQVN) một số hành vi sai phạm nghiêm trọng mới xảy ra có liên quan tới trách nhiệm và cách hành xử vô nguyên tắc, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phục vụ cho chủ nghĩa cá nhân của Tổng biên tập Đinh Đức Lập; coi thường kỷ cương pháp luật; nguyên tắc tổ chức của Đảng; bao che cho cán bộ trong phe nhóm của mình vi phạm pháp luật, xử lý kỷ luật mang tính hình thức, đối phó, qua mặt cơ quan chủ quản cấp trên, qua mặt Đảng Đoàn MTTQVN, làm ảnh hưởng xấu tới môi trường làm việc, tới sự phát triển lành mạnh của báo Đại Đoàn Kết cũng như uy tín chính trị của UBTƯMTTQVN.

Ngày 22/7/2012, TBT báo Đại Đoàn Kết Đinh Đức Lập đã ký Quyết định số 49-QĐ/BBT.ĐĐK  có nội dung ở Điều 1 là: “Cách chức Trưởng ban Tuyên truyền, Quảng cáo và Phát hành, kéo dài thời gian nâng bậc lương thêm một năm đối với ông Nguyễn Xuân Huy, vì lý do không báo cáo cơ quan, đã tự ý có việc làm vi phạm phẩm chất đạo đức người làm báo, không tự giác, giả mạo chữ ký để mạo danh Phó Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết, lừa nhân viên đóng dấu xác nhận làm hồ sơ thi tiến sĩ (mặc dù đã xin rút hồ sơ thi tiến sĩ)”. Quyết định này còn nhấn mạnh thêm ở Điều 2: “Trong 12 tháng kể từ ngày ban hành quyết định kỷ luật, nếu ông Nguyễn Xuân Huy có tiến bộ, Hội đồng kỷ luật của cơ quan sẽ xem xét việc xóa kỷ luật nêu trên”. Nghĩa là với hàng loạt hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của ông Nguyễn Xuân Huy nhưng quyết định của ông Đinh Đức Lập vẫn nêu lên khả năng phục hồi chức vụ Trưởng ban TTQCPH cho ông Huy trong vòng 12 tháng.

Quyết định này ra đời là do áp lực của công luận đã phanh phui vụ việc liên quan tới các sai phạm của ông Nguyễn Xuân Huy quá cụ thể, quá rõ ràng không thể bao biện chối cãi được nữa. Đồng thời, có sự chỉ đạo kiên quyết của Ban thường trực UBTƯMTTQVN phải xử lý nghiêm minh, đúng quy định trường hợp sai phạm của một trong những cán bộ chủ chốt làm mất uy tín báo Đại Đoàn Kết, cơ quan trung ương của  MTTQVN, khiến TBT Đinh Đức Lập không thể không xem xét để xử lý kỷ luật ông Nguyễn Xuân Huy.

Tuy nhiên, quá trình xử lý kỷ luật đưa tới việc ban hành Quyết định 49 cũng như những các hành xử sau đó của TBT Đinh Đức Lập càng khiến cho người ta nhận thấy rõ hơn thái độ bao che, tìm mọi cách để làm giảm nhẹ  mức độ sai phạm, dẫn tới việc xử lý mang tính hình thức, qua loa chỉ nhằm qua mặt cấp trên, che mắt công luận và xúc phạm tập thể những người làm báo Đại Đoàn Kết của ông TBT Đinh Đức Lập. Kết quả xử lý các vi phạm của ông Nguyễn Xuân Huy hoàn toàn không tương xứng với mức độ vi phạm cũng như hậu quả tai hại mà ông Huy đã gây ra cho báo Đại Đoàn Kết và xã hội.

Theo thông tin công khai trên báo Người Cao Tuổi, ông Nguyễn Xuân Huy bị phanh phui các sai phạm như sau:

1. Giả mạo chức vụ công tác (tự phong trong lí lịch trích ngang hồ sơ theo học tiến sĩ là Phó tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết) có xác nhận của Tổng biên tập (tức ông Đinh Đức Lập);

2. Mạo nhận học vị tiến sĩ trong việc xin cấp Thẻ Công chức của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân;

3. Mạo nhận là cán bộ Cục báo chí – Xuất bản của Bộ Thông tin – Truyền thông trong Quyết định số 1874/QĐ-ĐHKTQD của Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân;

4. Có liên quan trong một vụ tổ chức đưa hối lộ cho ông Kim Quốc Hoa, Tổng biên tập báo Người Cao Tuổi, nhằm vận động báo này chấm dứt việc đăng loạt bài về những tiêu cực của một số cán bộ lãnh đạo của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

Quyết định số 49 ngày 22/7/2012 của TBT Đinh Đức Lập chỉ mới đề cập tới duy nhất một vụ việc vi phạm trong bốn nội dung sai trái, vi phạm pháp luật của ông Nguyễn Xuân Huy mà công luận đã nêu công khai, đồng thời cơ quan chủ quản của báo là UBTƯMTTQVN cũng đã có văn bản yêu cầu Ban biên tập báo Đại Đoàn Kết phải làm rõ và xử lý nghiêm túc, đúng quy định đối với trường hợp này.

Mặc dù chỉ mới xử lý có một vụ việc sai phạm của ông Nguyễn Xuân Huy, nhưng cách thức xử lý, nội dung quyết định nói trên cho thấy sự bao che bất chấp các quy định pháp luật, bất chấp chỉ đạo của cấp trên của TBT Đinh Đức Lập trước mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng của ông Nguyễn Xuân Huy.

Nếu sự việc xảy ra đúng như ông Nguyễn Xuân Huy thừa nhận là ông có hành vi giả mạo chữ ký của Tổng biên tập Đinh Đức Lập trong bản lí lịch trích ngang đưa vào hồ sơ theo học tiến sĩ. Đồng thời ông Huy cũng thừa nhận việc đưa bản lí lịch giả mạo chữ ký của Tổng biên tập, giả mạo chức danh Phó tổng biên tập cho cán bộ giữ dấu để lấy dấu trong lúc người này bận rộn, không kịp quan sát, kiểm tra chữ ký để hoàn thành việc làm hồ sơ giả mạo phục vụ cho việc trục lợi cá nhân. Như vậy rõ ràng ông Nguyễn Xuân Huy có ý thức và biết cân nhắc tổ chức việc thực hiện làm giả hồ sơ  lí lịch vào thời điểm thích hợp. Do đó, không thể kết luận đây là hành vi bốc đồng, thiển cận, không kịp suy nghĩ.

Các hành vi có tính toán của ông Nguyễn Xuân Huy với động cơ lừa đảo cơ quan nhà nước nhằm vụ lợi cá nhân như: Giả mạo chức danh công tác là Phó tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết trong hồ sơ lí lịch theo học tiến sĩ; Giả mạo chữ ký của người có chức vụ quyền hạn (chữ ký của TBT Đinh Đức Lập)… Là những hành vi vi phạm pháp luật được ghi rõ trong Bộ Luật Hình sự của nước CHXHCNVN tại các Điều 265 (Tội giả mạo chức vụ cấp bậc: giả mạo chức danh Phó tổng biên tập); Điều 284 (Tội giả mạo trong công tác: làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn - giả mạo chữ ký của TBT Đinh Đức Lập).

Chưa kể, trong quá trình tự kiểm điểm để xem xét kỷ luật, ông Nguyễn Xuân Huy còn cho biết sau khi bị báo chí phanh phui vụ việc giả mạo này, ông đã xin rút lại bộ hồ sơ theo học tiến sĩ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân mà ông thừa nhận có bút tích do chính ông giả mạo chữ ký của TBT Đinh Đức Lập và đã tiêu hủy hồ sơ đó. Hành vi mang tính chất tiêu hủy hồ sơ này của ông Nguyễn Xuân Huy rõ ràng chứa đựng nhiều nghi vấn, khuất tất, có dấu hiệu phi tang bằng chứng, chứng cứ để phục vụ cho công tác điều tra khi cần thiết.

Ngoài ra, ông Nguyễn Xuân Huy còn bị báo chí phanh phui có hành vi giả mạo bằng cấp học vị Tiến sĩ; mạo nhận là cán bộ Cục Báo chí – Xuất bản Bộ Thông tin – Truyền thông; có liên quan tới vụ đưa hối lộ Tổng biên tập báo Người Cao Tuổi để vận động can thiệp báo này không đăng tiếp loạt bài về các vụ việc tiêu cực tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (nơi mà ông Nguyễn Xuân Huy có rất nhiều quan hệ phức tạp với một số lãnh đạo trường này đang bị báo chí phanh phui tiêu cực). Những hành vi này của ông Nguyễn Xuân Huy đều có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, nhưng đã được TBT Đinh Đức Lập bỏ quan không xem xét, cũng không báo cáo cho cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi người đứng đầu cơ quan tổ chức phát hiện cán bộ dưới quyền có những hành vi vi phạm pháp luật thì bên cạnh việc phải xử lý nghiêm minh bằng các biện pháp hành chính theo thẩm quyền còn phải báo cáo cho cơ quan điều tra các nội dung liên quan tới những hành vi phạm pháp của đương sự bằng văn bản.

Thế nhưng, mặc dù ngay trong Quyết định số 49 của TBT Đinh Đức Lập ký ngày 22/7/2012 kỷ luật ông Nguyễn Xuân Huy đã thừa nhận các hành vi vi phạm pháp luật hình sự như: “giả mạo chữ ký; mạo danh Phó tổng biên tập; lừa nhân viên đóng dấu…”; song người đứng đầu báo Đại Đoàn Kết là TBT Đinh Đức Lập đã không thực hiện trách nhiệm trước pháp luật của mình là phải làm văn bản thông báo về các hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật.

Ngược lại, ngay sau khi quyết định cách chức ông Nguyễn Xuân Huy, TBT Đinh Đức Lập còn tuyên bố tiếp tục giao cho ông Huy “phụ trách Ban Tuyên truyền, Quảng cáo và Phát hành” của báo Đại Đoàn Kết. Tức là trên thực tế ông Nguyễn Xuân Huy vẫn tiếp tục giữ vị trí chức vụ như cũ, vẫn tiếp tục thực thi công vụ với tư cách là “lãnh đạo Ban TTQCPH”. Hành xử này của TBT Đinh Đức Lập rõ ràng thể hiện sự thô bạo trong việc bao che trắng trợn cho ông Nguyễn Xuân Huy, vốn là người có quan hệ mật thiết và đặc biệt với ông Lập,  bất chấp các quy định của pháp luật cũng như bất chấp yêu cầu xử lý sự việc nghiêm túc, đúng quy định như chỉ đạo của Ban thường trực UBTƯMTTQVN về trường hợp này.

Diễn biến của việc xử lý kỷ luật ông Nguyễn Xuân Huy ở báo Đại Đoàn Kết cho thấy rõ thái độ đối phó, xử lý qua loa, mang tính hình thức của TBT Đinh Đức Lập nhằm lừa dối, qua mặt cấp trên, che mắt dư luận và coi thường tập thể báo Đại Đoàn Kết, coi thường cơ quan chủ quản cấp trên là UBTƯMTTQVN. Trên thực tế ông Nguyễn Xuân Huy vẫn ngang nhiên được TBT Đinh Đức Lập tạo điều kiện “bảo kê” để bám giữ vị trí công tác như cũ, vẫn tiếp tục là “lãnh đạo ban”, vẫn đại diện cho báo Đại Đoàn Kết trong các quan hệ công tác đối nội, đối ngoại như chưa hề có chuyện gì xảy ra, chưa hề có chuyện kỷ luật. Như vậy, ý nghĩa của việc xử lý kỷ luật cán bộ trong vụ việc này hoàn toàn không đạt yêu cầu, không đạt mục đích như chỉ đạo của Ban thường trực UBTƯMTTQVN, không đạt được mục tiêu răn đe, thể hiện tính nghiêm minh, khách quan, công bằng của các biện pháp chế tài nhằm giữ vững kỷ cương, pháp luật, đạo đức cán bộ trong các  hành vi thực thi công vụ của cán bộ viên chức, mà đặc biệt là cán bộ lãnh đạo có chức có quyền.

Nghiêm trọng hơn nữa là các hành vi sai trái của ông Nguyễn Xuân Huy đã bị công luận phanh phui và tất nhiên đang được dư luận xã hội giám sát, theo dõi toàn bộ quá trình xử lý cũng như kết luận của cơ quan trực tiếp có thẩm quyền giải quyết mà trước mắt là báo Đại Đoàn Kết và sau đó là UBTƯMTTQVN. Việc xử lý kỷ luật mang tính hình thức, bỏ qua nhiều hành vi vi phạm, nhằm bao che thô thiển cho ông Nguyễn Xuân Huy của TBT Đinh Đức Lập trực tiếp làm ảnh hưởng xấu tới uy tín của báo Đại Đoàn Kết nói riêng cũng như của MTTQVN nói chung. Các cơ quan thông tấn, cũng như mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội theo quy định của luật pháp hiện hành đều có quyền tố giác các hành vi vi phạm pháp luật trong vụ việc của ông Nguyễn Xuân Huy tới các cơ quan chức năng, khi đó báo Đại Đoàn Kết cũng như UBTƯMTTQVN sẽ phải chịu thêm nhiều hệ lụy tiêu cực khác.

Không chỉ phớt lờ chỉ đạo phải xử lý vụ việc ông Nguyễn Xuân Huy một cách nghiêm túc, đúng quy định theo chỉ đạo của Ban thường trực UBTƯMTTQVN, TBT Đinh Đức Lập còn coi thường các chỉ đạo khác của lãnh đạo MTTQVN. Cụ thể là ngày 29/6/2012 Kết luận của Đảng Đoàn MTTQVN  tại cuộc họp thường kỳ tháng 6/2012 đã chỉ đạo TBT báo Đại Đoàn Kết xem xét, điều chuyển vị trí công tác đối với ông Đinh Quang Sơn, kế toán – phụ trách Ban Tài chính Kế hoạch của báo Đại Đoàn Kết sau khi có nhiều ý kiến và dư luận về chuyện “cháu làm kế toán trình chú làm chủ tài khoản ký”, gây nên tình trạng thiếu kiểm soát về tài chính trong hoạt động của báo. TBT Đinh Đức Lập cho tới nay vẫn chưa chấp hành, không thực hiện nghiêm túc chỉ đạo này. Ngược lại, TBT Đinh Đức Lập lại ưu tiên, nhanh chóng ban hành các quyết định nhằm trù dập những người dám tố cáo các sai phạm, tiêu cực của ông cùng phe nhóm.

Điển hình nhất trong thời gian gần đây là trường hợp TBT Đinh Đức Lập ra Quyết định số 46-QĐ/BBT.ĐĐK ngày 20/7/2012 với nội dung: “Chuyển ông Nguyễn Mạnh Thắng, Phó trưởng ban Văn hóa – Nghệ thuật sang làm Phó trưởng ban Kỹ thuật Quản trị mạng từ ngày 23/7/2012”. Được biết, ông Nguyễn Mạnh Thắng là người đã từng nhiều lần làm đơn tố cáo TBT Đinh Đức Lập lợi dụng chức vụ Bí thư Chi bộ và lạm dụng danh nghĩa Chi ủy báo Đại Đoàn Kết để giải trình sai sự thật một số nội dung liên quan tới hồ sơ kết nạp Đảng của bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy (Trưởng Ban Chuyên đề báo Đại Đoàn Kết) lừa dối Ban Kiểm tra Đảng ủy TƯMTTQVN.

Ông Nguyễn Mạnh Thắng đã căn cứ vào các quy định về việc bảo vệ khẩn cấp người tố cáo tại nơi làm việc trong Luật Tố cáo để gởi đơn yêu cầu cơ quan có trách nhiệm theo luật định là UBTƯMTTQVN can thiệp với TBT Đinh Đức Lập nhằm bảo vệ quyền của người tố cáo. Thế nhưng, TBT Đinh Đức Lập dù đã nhận được các yêu cầu và chỉ đạo của cấp trên có thẩm quyền về việc bảo vệ người tố cáo nhưng vẫn khăng khăng bất chấp pháp luật, bất chấp yêu cầu xác đáng theo luật định của cấp trên vẫn ngang nhiên ban hành quyết định điều chuyển công tác ông Nguyễn Mạnh Thắng. Việc ra quyết định chuyển công tác ông Nguyễn Mạnh Thắng của TBT Đinh Đức Lập trong điều kiện này là vi phạm các quy định về bảo vệ người tố cáo trong Luật Tố cáo của nước CHXHCNVN. Quyết định này xét về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cũng không đúng đắn hay cần thiết vì ông Nguyễn Mạnh Thắng không có khuyết điểm hay bị xử lý kỷ luật gì trước đó trong việc thực hiện chức trách là Phó ban Văn hóa – Nghệ thuật của báo Đại Đoàn Kết. Ngoài ra, ông Thắng hoàn toàn không có chuyên môn nghiệp vụ về kỹ thuật quản trị mạng nên sẽ khó lòng thực thi tốt nhiệm vụ mới được giao theo quyết định sai trái này. Đây là cơ sở để chứng tỏ TBT Đinh Đức Lập mượn cớ điều hành công tác chuyên môn để trá hình trù dập ông Nguyễn Mạnh Thắng, và đó chính là động cơ quan trọng để ông Lập ban hành một cách thô bạo quyết định nói trên.

Hơn nữa, theo nguyên tắc tổ chức của cơ quan MTTQVN, các chức danh từ phó trưởng ban của báo Đại Đoàn Kết trở lên chỉ được bổ nhiệm, miễn nhiệm, thay đổi nhất thiết phải tuân theo quy trình và phải được sự phê duyệt của Ban thường trực UBTƯMTTQVN. Việc điều chuyển công tác Phó trưởng ban Nguyễn Mạnh Thắng chưa được TBT Đinh Đức Lập thực hiện theo đúng quy trình tổ chức cán bộ và cũng chưa hề được sự phê duyệt nào của cấp trên có thẩm quyền theo quy định. Việc này càng thêm minh chứng cho hành xử tùy tiện, vô nguyên tắc và bất chấp pháp luật của TBT Đinh Đức Lập. Trong trường hợp này dù đã có sự quan tâm của lãnh đạo cấp trên, chỉ đạo TBT Đinh Đức Lập phải tuân thủ các quy định của tổ chức, của luật pháp song ông Lập vẫn ngang nhiên phớt lờ, tự ý làm theo quan điểm của mình nhằm thực hiện hành vi trù dập cán bộ dưới quyền dám tố cáo các sai phạm của ông Đinh Đức Lập cùng phe nhóm.

Hành xử công vụ của TBT Đinh Đức Lập chỉ mới xét trong phạm vi xử lý kỷ luật ông Nguyễn Xuân Huy, việc không bố trí lại công việc thích hợp  đối với cháu ruột ông Lập là ông Đinh Quang Sơn và ra quyết định sai trái mang tính trù dập người tố cáo là ông Nguyễn Mạnh Thắng đã thấy rõ tính chất tùy tiện, vô nguyên tắc, coi thường cấp trên, coi thường kỷ cương, nguyên tắc tổ chức Đảng và các quy định pháp luật có liên quan. Các hành xử này của ông Đinh Đức Lập đã và đang gây hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển lành mạnh, làm ảnh hưởng xấu tới uy tín của báo Đại Đoàn kết cũng như của cơ quan chủ quản là UBTƯMTTQVN.

Vì hậu quả nghiêm trọng của các hành vi sai phạm nói trên, tôi làm đơn này tố cáo khẩn cấp lên Quý vị Lãnh đạo UBTƯMTTQVN là những người có trách nhiệm trực tiếp và đầy đủ thẩm quyền để giải quyết và cải thiện tình hình. Kính đề nghị Quý vị xem xét và xử lý một số vấn đề cụ thể có liên quan tới trách nhiệm của TBT Đinh Đức Lập như sau:

1. Đề nghị làm rõ trách nhiệm của TBT Đinh Đức Lập trong việc cố tình xử lý kỷ luật ông Nguyễn Xuân Huy thiếu nghiêm túc, không đúng quy định như yêu cầu của Ban thường trực UBTUMTTQVN; Đề nghị xem xét việc thiếu trách nhiệm trong xử lý cán bộ vi phạm pháp luật của TBT Đinh Đức Lập có dấu hiệu bao che, bỏ lọt các hành vi vi phạm pháp luật hình sự của ông Nguyễn Xuân Huy.

2. Đề nghị TBT Đinh Đức Lập nghiêm túc chấp hành chỉ đạo của Đảng Đoàn MTTQVN trong kết luận ngày 29/6/2012, cho tới nay đã không thực hiện việc điều chuyển công tác ông Đinh Quang Sơn cho phù hợp với yêu cầu công tác đảm bảo tính khách quan và năng lực kiểm soát của hệ thống tài chính – kế toán cơ quan báo Đại Đoàn Kết theo xu hướng tăng cường tính minh bạch.

3. Đề nghị Ban thường trực UBTƯMTTQVN có biện pháp kiên quyết, kịp thời và phù hợp với các quy định của pháp luật, quy chế tổ chức cơ quan để ngăn chận các hành vi trù dập người tố cáo của TBT Đinh Đức Lập tại báo Đại Đoàn Kết. Mà cụ thể là trường hợp của Phó trưởng ban Văn hóa – Nghệ thuật Nguyễn Mạnh Thắng và Phó trưởng ban Khoa Giáo Đặng Kim Ngân.

Cách hành xử ngày càng ngang ngược, vô nguyên tắc, coi thường chỉ đạo của cấp trên, coi thường kỹ cương, nguyên tắc tổ chức Đảng và pháp luật của TBT Đinh Đức Lập (vừa ra sức bao che một cách vô lối cho những sai phạm nghiêm trọng của cán bộ thuộc phe nhóm vừa thẳng tay trù dập, khủng bố người tố cáo) đang tạo ra dư luận rất xấu và một môi trường làm việc hết sức nặng nề tại báo Đại Đoàn Kết hiện nay. Điều này khiến cho nhiều cán bộ, phóng viên, nhân viên của báo Đại Đoàn Kết giảm sút tinh thần làm việc và đánh mất niềm tin với lãnh đạo của báo.

Kính đề nghị Quý vị quan tâm xem xét và sớm có biện pháp giải quyết tận gốc vấn đề một cách kiên quyết giúp cho báo Đại Đoàn Kết và tập thể những người lao động tại đây có được một sự thay đổi tốt đẹp, được sống và làm việc trong môi trường lành mạnh, để có thể cống hiến hết khả năng và tâm huyết của mình cho tờ báo có bề dày truyền thống hết sức hào hùng của MTTQVN.

Kính đơn.

                                                TP. Hồ Chí Minh, ngày  08 tháng 8 năm 2012
                                                                          Người làm đơn
                                                                            Hữu Nguyên