Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Tinh thần trào phúng

Các dòng văn chương trào phúng, tranh biếm họa hầu như thời nào, dân tộc nào cũng có, chính thống cũng như truyền miệng. Cho thấy nhu cầu rất căn bản của con người và xã hội trong việc tự nhận chân ra chính mình nhất là các thói hư tật xấu, cái chưa tốt để tiến bộ.

Nếu chúng ta đòi hỏi trào phúng cũng nghiêm nghị, khô khan như chính luận, thì còn gì là tính đa dạng, khác biệt của tự nhiên nữa? 

Cuộc sống xã hội suy cho cùng phải tuân theo các quy luật tất yếu, trong đó có sự tôn trọng tính đa dạng và khác biệt, có cái nhìn rộng mở về thế giới, nếu không muốn bị đào thải. Khoa học đã chứng minh những người có tính hài hước cao đều sở hữu trí thông minh và khả năng sáng tạo lớn. Người Việt cũng có câu, một tiếng cười bằng mười thang thuốc bổ. Hài hước giúp phá tan đi những bức tường ngăn cách trong nhận thức, trong giao tiếp xã hội, khiến người ta dễ gần nhau hơn, cởi mở hơn, dễ dàng giải quyết các mâu thuẫn trong sự thoải mái (trong hòa bình).

Châm biếm cũng là một dạng thức của tính hài hước với xu hướng đả kích. Trong trường hợp này, người Việt lại có câu “thuốc đắng đả tật” . Châm biếm cũng là một dạng thuốc đắng có màu sắc trào phúng giúp mọi người dễ tiếp cận hơn với bản chất sự việc được đả kích, tự nhận ra thói hư tật xấu của chính mình, của người khác hay của cộng đồng.

Các dòng văn chương trào phúng, tranh biếm họa hầu như thời nào, dân tộc nào cũng có, chính thống cũng như truyền miệng. Cho thấy nhu cầu rất căn bản của con người và xã hội trong việc tự nhận chân ra chính mình nhất là các thói hư tật xấu, cái chưa tốt để tiến bộ.

Tôn giáo cũng như các ý tưởng cũng cần phải được phê bình, không có vùng cấm, trong đó có hình thức châm biếm. Trào phúng biến tất cả những thứ cao ngạo, đạo đức giả trở thành lố bịch, dân dã để giúp mọi người dễ dàng nhận chân ra sự thật hơn. 

“Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư 
Sư về, sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lốc nên sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sư sầu
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây…”


Tín đồ Phật giáo có bao giờ lên án hay nã súng vào những ai từng sáng tác hay ngẫu hứng ê a các câu ca dao như thế này chưa nhỉ? 

Có thể nói, trào phúng hay châm biếm giúp chúng ta làm thay đổi thế giới một cách hòa bình và vui vẻ nếu mọi người cũng đều có óc hài hước, sự thông minh cần thiết để tiếp cận nó.

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

"Không thể bịt miệng một dân tộc"

Đầu năm 2008, một cơ duyên đưa đường dẫn lối khiến tôi có dịp đến viếng người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí của ông tại Yên Bái. Chứng kiến nơi mà cách đây 78 năm (nếu tính tới 2015 thì đã là 85 năm) các vị anh hùng bị thực dân Pháp đưa ra xử chém. Thắp cho các vị nén tâm hương và bồi hồi nghĩ về số phận của dân tộc ta...


Bia ghi dấu nơi Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị xử chém tại Yên Bái. Trên tấm bia có khắc nội dung như sau:

YÊN BÁI
Đây là điều nhắc nhở ta rằng không thể bịt miệng một dân tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ.
6-1930      Louis Aragon
Nhà thơ Cộng sản Pháp

Ngày đó, trong khi mọi người còn bận rộn chuẩn bị được lãnh đạo tỉnh tiếp đón và chiêu đãi tiệc buổi trưa trước khi về Hà Nội, tôi kéo tay CN lặng lẽ bắt taxi tách khỏi đoàn đến viếng khu tưởng niệm người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí bị thực dân Pháp xử chém sau khởi nghĩa Yên Bái thất bại ngày 9/2/1930.

Mặc dù đã giữa trưa, Yên Bái vẫn chìm trong làn sương mù khá đậm cùng với một ít mưa phùn khiến cho trời đất như cũng như hoà cùng tâm trạng miên man của chúng tôi trên suốt quảng đường đi. Không nói ra, nhưng tôi và CN đều hiểu rằng, đây chính là thời gian mà chúng tôi sử dụng hữu ích nhất trong chuyến công tác hai ngày lần đầu tiên đến Yên Bái này. Tất cả các cuộc tiếp xúc và làm việc khác hầu như chỉ mang tính hình thức, xả giao và …lãng phí đến bực bội trong người, dù cả đoàn đang là khách của chính quyền tỉnh.

Khu tưởng niệm không một bóng người. Cánh cửa chính đóng im ỉm, một cửa phụ nho nhỏ khép hờ. Chúng tôi nhẹ nhàng bước vào và ngay lập tức cảm nhận một cái gì đó thật thiêng liêng, thành kính đang dâng lên trong lòng mình. Không hoa, không hương, nhưng tôi nghĩ rằng các vị anh hùng sẽ cảm nhận được lòng thành kính của chúng tôi.

“Không thành công cũng thành nhân”, câu nói bất hủ của vị đảng trưởng trước giờ khởi nghĩa và gần như tiên đoán được số phận bi thảm của mình cùng các đồng chí, tôi đã nghe thấy từ khi còn ngồi trên ghế trường tiểu học ở một tỉnh lỵ miền Nam nay hiện ra trước mắt sừng sững uy nghi như hồn phách của những người anh hùng vẫn còn đọng lại đó.

Thầy tôi giảng: nước chúng ta là một nước vinh quang, bao anh hùng thuở trước của giang san, đã đổ máu vì quyền lợi dân tộc…Ngày nay, những vị anh hùng đó hồn như còn vương vấn đâu đây và vẫn còn như đang chờ đợi thế hệ sau, những người đương thời phải làm gì để chứng tỏ và xứng đáng với máu xương đã đổ xuống để làm nên giang sơn này. “Chết vì Tổ quốc chết vinh quang” dòng chữ vàng trên nền đá đen tạc trên một ngôi mộ không chỉ cho thấy dân tộc này đã ghi công những liệt sỹ của mình một cách trân trọng như thế nào mà còn là lời truyền lại cho các thế hệ mai sau một quan niệm về sống và chết xứng đáng với tổ tiên, xứng đáng với những người mở cõi, gìn giữ giang sơn cũng như nhắc nhở về nghĩa vụ và trách nhiệm với muôn đời sau.

Tôi bất ngờ bắt gặp mấy dòng thơ của thi sỹ cộng sản Pháp - Louis Aragon, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Bài thơ có tên “Yen Bai”, được trích và lập bia bởi Sở VHTT tỉnh Yên Bái, trong đó có đoạn:

Yên Bái
Đây là điều nhắc nhở ta rằng
Không thể bịt miệng một dân tộc
Mà người ta không thể khuất phục
Bằng lưỡi kiếm của đao phủ.

Bài thơ được viết vào tháng 6/1939 đăng trên tờ La Commune (Công xã) tại Paris, Pháp. Theo nhà báo Danh Dức, 80 năm sau, bài thơ bất hủ này vẫn còn trên website forum-unite-communiste (Diễn đàn – Đoàn kết - Cộng sản) của Pháp trong mục “Tư liệu Cộng sản” (Documents Communistes). Ý nghĩa của những dòng thơ trích trên bia đá ở Yên Bái làm chúng tôi ngạc nhiên nhận thấy vẫn còn là thời sự của thời đại mà chúng ta đang sống.

Lặng lẽ viếng những bậc anh hùng của dân tộc. Chúng tôi trở về nhà khách và buổi tiệc liên hoan vừa mới khai mạc, mọi người đang ồn ào ăn uống và cụng ly. Lặng lẽ bước vào sảnh chính, hình như ai đó đã dọn cho chúng tôi một bàn tiệc ngay đúng vị trí trung tâm và còn bỏ trống. Xung quanh đầy tiếng cười nói ồn ào như bao nhiêu cuộc nhậu nhẹt linh đình khác, chỗ chúng tôi vừa ngồi vào tuy vị trí trung tâm nhưng lại có vẻ rất yên tĩnh, lặng lẽ và có đôi chút trầm mặc. Bàn tiệc còn nguyên chưa ai đụng vào, thức ăn còn nóng, lạ thật sao không ai ngồi vào đó nhỉ? Hay là các cụ đã dành cho chúng tôi một mâm cỗ đặc biệt chờ chúng tôi trở về. Kính lạy các cụ, chúng tôi ngồi vào mâm và dùng cỗ một cách trân trọng, khe khẽ trò chuyện với nhau mặc kệ tất cả sự náo nhiệt, ồn ào đang diễn ra xung quanh...

8-2-2010

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

Cải cách giáo dục: sứ mệnh và nguyên lí

Sau khi đã nhận ra những tín hiệu, vấn đề, căn cơ, và những "căn bệnh" của nền giáo dục, câu hỏi logic là "phải làm gì"? Câu trả lời là phải thay đổi, hay nói theo ngôn ngữ “lớn” là cải cách. Ngay cả những người bảo thủ nhất cũng phải thú nhận rằng nền giáo dục VN cần cải cách. Không chỉ cải cách, mà còn là đổi mới toàn diện giáo dục “xứng tầm là một cuộc cách mạng" (20).

Bất cứ một nền giáo dục nào cũng cần phải có sứ mệnh, và những phát biểu về giá trị cốt lõi. Tuy nhiên, hiện nay, chúng ta không biết sứ mệnh của giáo dục là gì! Tìm trong tài liệu in cũng như trên mạng đều không có phát biểu nào về sứ mệnh, chỉ thấy những phát biểu chung chung mang tính khẩu hiệu. Chẳng hạn như trong đề cương “Chiến lược Phát triển giáo dục 2011 – 2020” (21), người ta đề ra 4 “Quan điểm chỉ đạo” ngành giáo dục:

1. Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
2. Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện đại, xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
3. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
4. Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong 4 quan điểm, mà đã có đến 3 lần đề cập đến “xã hội chủ nghĩa”! Và, chúng ta cũng không thấy xác định sứ mệnh và mục tiêu của giáo dục là gì. Do đó, việc đầu tiên trước khi bàn về cải cách là phải đề ra sứ mệnh và những mục tiêu mà nền giáo dục muốn đạt được. Trong phần này, tôi thử đề ra sứ mệnh, mục tiêu, và nguyên lí giáo dục. Những điểm đề ra không phải là suy nghĩ sau cùng của tôi, mà chỉ là những điểm để thảo luận và “framework” để khai triển tiếp.
Sứ mệnh và mục tiêu
Tôi đề nghị sứ mệnh của nền giáo dục VN như sau:
Tương lai của Việt Nam tuỳ thuộc vào mỗi công dân được trang bị đầy đủ kiến thức, kĩ năng, và đạo đức cho một cuộc sống phong phú và trọn vẹn trong một xã hội dân chủ, tự do, công bằng, và bác ái. Giáo dục học đường đóng vai trò trung tâm cho lí tưởng đó. Giáo dục học đường cung cấp cho giới trẻ những nền tảng để phát triển về tri thức, thể chất, tinh thần, xã hội, đạo đức, và thẩm mĩ.
Mục tiêu của nền giáo dục hiện đại VN là giúp cho công dân trẻ phát huy hết tiềm năng của họ, và chuẩn bị cho họ trở thành những công dân toàn cầu xuất sắc. Mục tiêu cụ thể là đào tạo sao cho khi học sinh rời nhà trường, họ sẽ có:
• phẩm chất tự tin, lạc quan, lòng tự trọng, và lí tưởng dấn thân để phụng sự vì phúc lợi xã hội, đạt được tiềm năng cá nhân, đóng góp cho gia đình, cộng đồng, và nền kinh tế;
• năng lực phán xét và trách nhiệm trước những vấn đề liên quan đến đạo đức, luân thường đạo lí, và công bằng xã hội, tự "giải phóng" mình khỏi những giáo điều; và
• năng lực cảm nhận và có trách nhiệm với môi trường chung quanh, có trí phán xét để đi đến những quyết định sáng suốt cho cuộc sống của họ, và nhận trách nhiệm trước những quyết định đó.

Mười nguyên lí chỉ đạo của hệ thống giáo dục

Để thực hiện sứ mệnh và mục tiêu trên, cần phải phát triển một số nguyên lí chỉ đạo cho hành động. Các nguyên lí chỉ đạo có thể thay đổi theo thời gian, tuỳ theo bối cảnh thế giới. Trước đây (trước 1975 ở miền Nam), nền giáo dục dựa vào 3 nguyên lí là Dân tộc, Khai phóng, và Nhân bản. Tuy những nguyên lí đó vẫn còn tính thời sự, nhưng sẽ không đủ trong thời đại toàn cầu hoá. Tôi đề nghị nền giáo dục VN nên dựa vào 10 nguyên lí sau đây. Thật ra, 10 nguyên lí này có thể tóm tắt trong 3 nguyên lí cơ bản: Bác ái, Khoa học, và Phụng sự.
1. Bác ái
Tình yêu thương giữa con người có thể giúp cho xã hội và cộng đồng làm nên những kì tích. Nền giáo dục dựa trên tinh thần bác ái có nghĩa là tập cho học sinh thói quen quan tâm và chăm nom phúc lợi của người khác một cách bất vị lợi. Nói theo cách nói thông thường, đó là tinh thần làm ơn cao thượng, hay nói như Nguyễn Đình Chiểu là "làm ơn há dễ trông người trả ơn". Hệ thống giáo dục nhà trường, do đó, phải giúp học sinh hiểu biết và ứng dụng tinh thần bác ái trong cuộc sống.
2. Dân tộc
Giáo dục học đường phải truyền đạt đến giới trẻ các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, nguồn gốc dân tộc dựa trên cơ sở khoa học, và lịch sử hình thành dân tộc. Cần phải nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam tồn tại độc lập với dân tộc Hán, rằng người Việt Nam không xuất phát từ dân tộc Trung Hoa. Trong thời đại toàn cầu hóa, việc duy trì bản sắc dân tộc và những nét tinh hoa của văn hóa dân tộc là điều hết sức cần thiết để duy trì “căn cước tính” Việt Nam. Cần phải nhấn mạnh rằng nguyên lí dân tộc không có nghĩa là theo đuổi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi hay khuyến khích suy nghĩ thói dân tộc ưu việt.
3. Bình đẳng
Nền giáo dục bảo vệ các mục tiêu bình đẳng xã hội, dạy cho học sinh cư xử với mọi người một cách công bằng, không phân biệt giới tính, tuổi tác, thành phần xã hội. Bình đẳng trong giáo dục cũng có nghĩa là nhà trường là môi trường bình đẳng, tất cả học sinh đều có những cơ hội như nhau, không phân biệt giai cấp và giới tính.
4. Tự do
Nền giáo dục phải xiển dương tinh thần tự do học thuật. Tạo điều kiện để học sinh tận hưởng các quyền và đặc quyền của công dân, và bảo về quyền lợi của người khác. Chương trình giáo dục cần phải được thiết kế để nuôi dưỡng và coi trọng giáo dục hoà bình, và xiển dương quyền con người. Học sinh nên có cơ hội học tập về hiến chương quyền con người của Liên Hiệp Quốc, và học cách tránh xung đột và biện pháp để đạt công bằng xã hội.
5. Tư duy khoa học
Học sinh phải hiểu được ý nghĩa của khoa học và làm việc dựa vào chứng cứ (thực chứng). Nền giáo dục phải dạy học sinh tiếp thu kiến thức qua phát biểu giả thuyết, quan sát, thí nghiệm, và phân tích những gì xảy ra chung quanh. Học sinh tập thói quen nêu câu hỏi, thu thập thông tin, và lí giải các thông tin. Học sinh tập tư duy phản biện và chất vấn ý tưởng của chính mình và của người khác, thực hành cách hỏi "rồi sao nữa", "tại sao", và "làm sao chúng ta biết điều đó".
6. Thành thật và uy tín
Nền giáo dục phải dạy học sinh tôn trọng sự thật. Phải thành thật, thành tâm, và theo đuổi chân lí. Hành động theo các nguyên lí đạo đức, đảm bảo nhất quán giữa lòi nói và hành động. Học trò phải luôn luôn khiêm tốn, và nên nhớ rằng có nhiều điều về vũ trụ và chung quanh mà chúng ta không biết. Còn rất nhiều điều cần phải học. Khoa học sẽ giúp chúng ta, nhưng thỉnh thoảng các nhà khoa học phát hiện những điều mới cho thấy niềm tin của chúng ta sai. Do đó, chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận thay đổi niềm tin khi kiến thức của chúng ta thay đổi.
7. Tôn trọng
Cư xử với người khác với cân nhắc cẩn thận, tôn trọng quan điểm của người khác. Giáo dục đạo đức là hình thức giáo dục liên tục, và có thể không thể hiện rõ trong chương trình giảng dạy, vì học sinh có thể học qua truyền thông, gia đình, và cộng đồng. Các giá trị đạo đức có thể được giảng dạy qua thảo luận, làm gương, và kể chuyện, hoặc các hoạt động khác nhằm chỉ ra cái sai trái và đúng đắn.
8. Trách nhiệm
Tập thói quen chịu trách nhiệm đạo đức (giúp người khác gặp trở ngại, hay thực hiện những gì đã hứa), chịu trách nhiệm trước luật pháp (tuân thủ theo luật pháp và những yêu cầu của một công dân). Học sinh phải học trách nhiệm chăm sóc cho gia đình, cộng đồng, và thế giới. Có trách nhiệm trước hành động cá nhân, giải quyết các khác biệt giữa cá nhân một cách xây dựng và hoà bình, đóng góp vào xã hội và cuộc sống công dân.
9. Ý thức toàn cầu
Chúng ta sống trong một thế giới giàu văn hoá, xã hội đa dạng, một thế giới mà mỗi người phải tuỳ thuộc vào nhiều người khác. Do đó, bất cứ một biến cố nào xảy ra ở bất cứ nơi nào đều có thể gây tác động ở vùng khác. Do đó, mỗi công dân phải có trách nhiệm không chỉ ở địa phương mình mà còn có trách nhiệm toàn cầu.
10. Phụng sự và dấn thân
Một cá nhân chỉ có một cuộc sống trọn vẹn khi người đó tham gia vào việc phụng sự xã hội vì lí tưởng nhân bản. Do đó, chương trình giảng dạy cùng với dịch vụ xã hội sẽ cung cấp cho học sinh năng lực nhận dạng những vấn đề lớn trong cuộc sống. Qua những nỗ lực này, mỗi chúng ta có thể giúp người khác và chính chúng ta.
Trong Bản Ý Kiến gửi cho giới lãnh đạo vào năm 2012 (22), chúng tôi nhận định rằng: nền “giáo dục của Việt Nam trong những năm qua thiếu một tầm nhìn chiến lược tổng thể; thiếu kiên quyết theo đuổi một triết lí giáo dục xác định; … ở rất nhiều nơi, sự cứng nhắc và áp đặt của hệ thống chính trị đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động giáo dục." Thiết nghĩ nhận định đó cho đến nay vẫn đúng. Hi vọng rằng những phát biểu trong note này sẽ làm tiền đề để chúng ta thảo luận đi đến một sứ mệnh, mục tiêu và những nguyên lí của nền giáo dục VN.
====

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

Về bốn họa sĩ vừa bị thảm sát tại tòa soạn Charlie Hebdo

Phát Tưởng tổng hợp và dịch
Theo tin từ AFP, bốn trong số những nhà hí họa nổi tiếng nhất nước Pháp vừa bị sát hại hôm thứ Tư, 7. 1. 2015, khi ba tay súng đồ đen bịt mặt tấn công tòa soạn tờ báo biếm Charlie Hebdo.
Bốn họa sĩ gồm: tổng biên tập Stephane Charbonnier, còn gọi là Charb; Jean Cabut, còn gọi là Cabu; Georges Wolinski; và Bernard Verlhac, hay được gọi là Tignous.
Từ trái qua: Georges Wolinski, Cabu, Charb, Tignous
Vụ thảm sát này làm nước Pháp sốc nặng. Từ hàng chục năm nay, trí tưởng tượng của người đọc Pháp vẫn quen với quen thuộc với những bình luận hóm hỉnh, sâu cay (và cả quá đà) của các họa sĩ này trước những sự kiện hàng ngày.
Có 12 người bị giết cả thảy. Trong số đó có cả nhà kinh tế học Bernard Maris, 68 tuổi, tuy không vẽ hí họa nhưng cũng rất nổi tiếng vì những thư tòa soạn trên Charlie Hebdo và các bình luận trên đài phát thanh quốc gia.
Sau đây là một số chi tiết về các nhà hí họa bị giết:
Charb: Stephane Charbonnier, 47 tuổi
Charb gia nhập ban biên tập tờ Charlie Hebdo hồi 1992, đến 2009 thì tiếp quản việc quản lý tờ báo. Những hí họa báng bổ của ông về các chính trị gia và các gương mặt nổi tiếng khác chủ yếu xuất bản trên báo nhà, nhưng cũng có khi đăng trên các tờ cánh tả và chuyên san hí họa khác.
Charb làm một áp-phích về ứng viên tổng thống Le Pen tranh cử, ví Le Pen như cái bãi này
Lâu nay Charb phải sống dưới sự bảo vệ của cảnh sát sau khi nhận được những lời dọa giết do tờ Charlie Hebdo đã in một hí họa về Mohammed hồi 2011. Bản thân tòa báo cũng từng bị đánh bom và website bị hack.
Tổng biên tập Charb sau vụ tòa báo bị đánh bom, 2011

Cabu: Jean Cabut, 76 tuổi
Cabu đã dùng cọ để dõi theo dòng thời sự suốt gần 60 năm, không chừa một ai, một thứ gì: tổng thống cũng không từ, quân đội cũng không, tôn giáo cũng không sợ. Hình thức thể hiện của ông là sách mỏng hí họa theo truyền thống Pháp. Một trong những series dài kỳ nhất của Cabu là “Beaufs”, vẽ những thói xấu của người Pháp (hay than van, phân biệt chủng tộc, sô-vanh hiếu chiến).
Cabu nhại theo câu “Etre ou ne pas être?” của Hamlet

Một tiểu phẩm hí họa của Cbu giễu đệ nhất phu nhân Carla Bruni trên tờ “Con vịt mắc xiềng”
Nhưng đùa với người Pháp thì không sao, đùa với dân tộc khác, tôn giáo khác thì có chuyện: chính Cabu là người đã vẽ bức hí họa Nhà tiên tri Mohammed cho Charlie Hebdo, từ đó kéo theo liên miên những lời dọa giết ông và ban biên tập báo.
“Nhà hí họa là sống nhờ những thứ ngu xuẩn, và điều đó sẽ vĩnh viễn không trở ngược lại được,” Cabu từng nói.
Một bức ảnh chụp ngày 15. 3. 2006 tại Paris với họa sĩ biếm Jean Cabut (còn gọi là Cabu) của tờ Charlie Hebdo trong căn hộ ông sống. Ảnh: Joet Saget

Wolinski: Georges Wolinski, 80 tuổi
Wolinski là một huyền thoại hí họa Pháp, tác phẩm của ông bền bỉ, liên tục, từ trước cả thời bắt đầu có Charlie Hebdo hồi đầu những năm 1970s.
Một bức ảnh chụp ngày 23. 4. 1991 với Georges Wolinski tại Paris. Ông cũng đã bị giết hôm thứ Tư, 7. 1. 2015 trong cuộc tấn công bằng súng máy của ba kẻ bịt mặt vào tòa soạn báo Charlie Hebdo. Ảnh: AFP
Sinh năm 1934 ở Tunisia, có cha là người Ba Lan bị giết khi ông mới 2 tuổi, mẹ là người Ý; Georgie (như ông được bà nội gọi), phát hiện ra môn hí họa là nhờ những cuốn sách hí họa của đám lính Mỹ được điều đến Bắc Phi.
Tới Paris khi kết thúc Thế Chiến II, Georges Wolinski khởi đầu minh họa cho báo của trường trung học, sau đó đến năm 1961 làm cho một ấn phẩm có tên Hara Kiri. Và khi tờ này bị nhà chức trách yêu cầu đóng cửa, ông cùng ban bệ kéo đi lập nên tờ Charlie Hebdo.
“Chúng tôi dùng hí họa để nói về cái thời chúng ta đang sống, về xã hội, về phụ nữ,” ông nói.
Vào những năm 1980s và 1990s, Wolinski có lúc bỏ ra ngoài làm cho nhiều tờ cánh tả của Pháp. Đến năm 1992 ông quay lại Charlie Hebdo và song song đó xuất bản sách hí họa riêng của ông.
Georges Wolinski hay vẽ phụ nữ cởi truồng. Trong hí họa này, hai anh thổ dân bàn bạc. Một anh nói, có nên “thịt” ả trước khi ăn không? Anh kia bảo, không nên, làm thế thịt mất ngon. Cô nàng thì hoan hỉ muốn được “thịt”.

Tignous: Bernard Verlhac, 57 tuổi
Ít nổi tiếng hơn những người kia, nhưng vẫn rất được yêu mến trong giới vì năng lượng, vì cách tiếp cận hóm hỉnh, Tignous đã vẽ hí họa cho báo chí Pháp từ những năm 1980s, làm việc cùng lúc cho nhiều tờ khác bên cạnh Charlie Hebdo. “Vẽ hí họa báo sao cho đúng là cực kỳ khó vì bạn phải tống mọi thứ vào trong chỉ một cái khung. Mà đó là đi ngược lại với hí họa,” Tignous từng nói.
Tignous ở gian của Charlie Hebdo trong một hội chợ

Tignous nhại khẩu hiệu của phong trào sinh viên hồi 1968 của Pháp: “Dưới gạch lát đường là bãi biển”.

“Sau mùa xuân Ả Rập là tới mùa hè Ả Rập”

Cái chết thương tâm của các họa sĩ này cũng như những người khác trong tờ Charlie Hebdo là một tổn thất vừa to lớn vừa kinh hoàng, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều điều phải suy nghĩ cho những người nắm truyền thông, đặc biệt trong thời đại này: về giới hạn của tự do ngôn luận, về sự tôn trọng những tôn giáo khác, về sự trả thù câm lặng mà tàn khốc của cực đoan…



Thứ Ba, 6 tháng 1, 2015

Vẻ đẹp của hoa lan đen trong rừng Việt Nam

Trong hơn 1.000 loài hoa lan được phát hiện ở Việt Nam, bên cạnh những loài có màu sắc rực rỡ, còn có loài mang màu sắc đen tuyền hoặc tím đen rất quý hiếm trong thiên nhiên hoang dã.
1. Lan lọng đen Bulbophyllum nigrescens Loài lan có cánh hoa rất nhỏ này chỉ được nhìn thấy cánh môi và lông trên hoa của nó dưới ống kính macro. Thường mọc trên độ cao từ 1500m trở lên với những chiếc lá thuôn hình dải, tù ở đỉnh, thuôn ở gốc tạo thành cuống ngắn. Cụm hoa mảnh,nhỏ dài 30  40mm có phấn trắng xếp đều đặn phía đỉnh, mọc chúc xuống, màu đen sậm, cành đài gần giống nhau, có lông mảnh. Cánh tràng có lông nhiều hơn. Cánh môi dạng lưỡi, cong lên và có lông ở mép như một kiệt tác ban tặng của tự nhiên.
Lan lọng đen Bulbophyllum nigrescens. Loài này thường mọc trên độ cao từ 1.500m trở lên với những chiếc lá thuôn. Cụm hoa của loài mảnh, nhỏ dài 30 - 40 mm và có phấn trắng xếp đều đặn phía đỉnh, mọc chúc xuống, màu đen sậm.
Lan lọng bông mo Bulbophyllum spadiciflorum Với cụm hoa bông mọc từ gốc củ giả, cuống chung mập, phình rộng, dài đến 50cm và tô điểm bằng nhiều những bông hoa nhỏ, màu lục vàng có sọc tía, cánh đài bên rộng, cong, cánh môi hình lưỡi màu tím đen. Loài hoa lan nở vào tháng 5 này thường sống phụ sinh trên các thân cây ở độ cao gần 2000 mét quanh năm sương mù bao phủ. Nếu không phải là người nghiên cứu về hoa lan, bạn khó có thể nhận biết được chúng trong tự nhiên
Lan lọng bông mo Bulbophyllum spadiciflorum. Cụm hoa bông của loài mọc từ gốc củ giả, phình rộng và dài đến 50 cm. Loài này còn được tô điểm bằng nhiều bông hoa nhỏ, màu lục vàng có sọc tía, cánh đài bên rộng, cong, cánh môi hình lưỡi màu tím đen. Loài hoa lan nở vào tháng 5 này thường sống phụ sinh trên các thân cây ở độ cao gần 2.000 m quanh năm sương mù bao phủ. 
Lan đại bao hoa đen Sunipia nigricans Vào khoảng tháng 3-4 hàng năm những bông hoa màu tím đen với mùi hôi rất khó chịu này lại khoe sắc ở vùng Phong Thổ - Lai Châu. Với những chiếc lá thuôn hẹp, dài 4 - 10cm, rộng 1cm, đỉnh nhọn, gốc thuôn có cuống dài 1cm, cụm hoa khá dài, màu tím đen kể cả cánh môi. Đây là loài lan mới được các nhà nghiên cứu về hoa lan phát hiện tháng 12 năm 2007 và là loài lan rất hiếm trong thiên nhiên hoang dã Việt Nam.
Lan đại bao hoa đen Sunipia nigricans. Cứ vào khoảng tháng 3-4 hàng năm, những bông hoa màu tím đen với mùi hôi rất khó chịu này lại khoe sắc ở vùng Phong Thổ - Lai Châu. Đặc điểm của chúng là lá thuôn hẹp, dài 4 - 10 cm, rộng 1 cm. Chúng mới được các nhà nghiên cứu  phát hiện tháng 12/2007 và là loài rất hiếm trong thiên nhiên hoang dã Việt Nam.
Lan nhung đà lạt Trichotosia dalatensis Lan sống phụ sinh, nhỏ, thân dễ dài, có rễ ở gốc và thân mọc thẳng là loại đặc hữu hẹp chỉ phát hiện có vùng phân bố ở Lâm Đồng Viết Nam . Với những chiếc lá mọc cách, hẹp dày, dài 1cm, phủ đầy lông xám, cụm hoa ở đỉnh và bên ngoài cánh hoa phủ đầy lông, màu đen đậm tối. Cánh môi có 2 đốm sẫm màu và vạch nâu, mép răn reo. Vì là loại đặc hữu và hoa rất nhỏ nên để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của loài hoa lan này là một khó khăn ngay cả đối với những nhà nghiên cứu hoa lan.
Lan nhung đà lạt Trichotosia dalatensis. Loài này sống phụ sinh và là loài đặc hữu chỉ được phát hiện ở Lâm Đồng. Lá của chúng mọc cách, hẹp dày, dài 1 cm và phủ đầy lông xám. Bên ngoài cánh hoa phủ đầy lông, màu đen đậm tối.  Vì là loại đặc hữu và hoa rất nhỏ nên để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của loài rất khó khăn, ngay cả với các nhà nghiên cứu hoa lan.
Lan lọng chùm dài Bulbophyllum lemniscatoides Xứng đáng là một kiệt tác của tạo hóa lan lọng chùm dài thoạt nhìn như chiếc khăn chùm đầu nhiều tua màu của các thiếu nữ Arab. Cụm hoa nhỏ xếp sát nhau, màu tím đen, có lông. thuôn, dài, nở xòe ra 3 góc. Cánh môi màu đỏ tía đen, uốn cong. Và có mùi thơm ngào ngạt đáng để cho chúng ta chiêm ngưỡng món quà tặng quí giá của thiên nhiên Việt Nam .
Lan lọng chùm dài Bulbophyllum lemniscatoides. Loài này thoạt nhìn như chiếc khăn trùm đầu nhiều tua màu của thiếu nữa Arab. Cụm hoa của loài nhỏ xếp sát nhau, màu tím đen, có lông và nở xòe ra ba góc. 
Lan san hô nhện Luisia antennifera Cánh môi gần như chuyển sang màu đen nhìn giống như phần lưng của loài nhện và mọc ở trên thân. Loài lan san hô nhện có thân và lá đều hình trụ. Lá cách xa nhau, nhọn đều, dài hơn 10cm, có đốt trên than. Cánh tràng hẹp dài, cong ra trông giống như những chiếc chân nhện rất đáng để cho chúng ta ngắm nhìn vẽ đẹp thanh khiến của một trong những nữ hoàng đen của rừng xanh .
Lan san hô nhện Luisia antennifera. Cánh môi của loài gần như chuyển sang màu đen nhìn giống như phần lưng của loài nhện và mọc ở trên thân. Chúng có thân và lá đều hình trụ. Lá của loài cách xa nhau, nhọn đều, dài hơn 10 cm.
Lan lọng lệch Bulbophyllum secundum Không lộng lẫy khoe sắc như các loài hoa lan khác vì chùm hoa quá nhỏ để mắt thường của chúng ta thưởng lãm. Lan lọng lệch sống phụ sinh, thân rễ mềm. Củ giả dẹt, nhẵn, đỉnh mang 1 lá. Lá hình giảI, thuôn ở gốc thành cuống ngắn. Cụm hoa mảnh, dài, cao hơn lá. Hoa nhiều, nhỏ, xếp về 1 phía. Hoa màu hung đỏ tím đen. Cánh hoa có lông. Cánh môi dạng lưỡi màu đen, có lông ở gờ và thời gian nở hoa của nó quá ngắn để chiêm ngưỡng loài hoa lan này nở hoa và lụi tàn là thước đo sự kiên nhẫn của bạn.
Lan lọng lệch Bulbophyllum secundum. Lan lọng lệch sống phụ sinh và có thân rễ mềm. Cụm hoa của chúng mảnh, dài, cao hơn lá. Hoa của loài có đặc điểm là nhiều, nhỏ và xếp về một phía. Hoa của chúng còn có màu hung đỏ tím đen và cánh hoa có lông. 
Theo VnCreatures
Ảnh: Nguyễn Thị Liên Thương

Nguồn Vnexpress

TẢN MẠN CUỐI NĂM

Tương Lai
Những ngày cuối năm 2014 dồn dập những tin gợi nhiều suy ngẫm. Cuộc chiến giá dầu đã làm thay đổi những toan tính chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới. Chỉ riêng việc áp dụng kỹ thuật mới trong cách khai thác dầu mỏ, Mỹ đã giành thế chủ động chiến lược trong đối phó với những đối thủ như Iran, Nga, và rồi sẽ là Trung Quốc. Xin chép lại đây một bình luận sắc sảo nhặt được trên mạng:
Nước Nga mạnh lên trong 10 năm nhờ khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ, vì chỉ biết bán tài nguyên dầu hỏa, khí gas để ăn. Nước Nga mạnh lên thì Hoa Kỳ và Trung Cộng cũng khốn khổ vì giá dầu tăng, vì họ là những quốc gia đứng thứ nhất và thứ hai sử dụng dầu nhiều nhất thế giới. Ông Putin đã gặp thời khi lên nắm quyền ngay lúc giá dầu tăng, thực ra ông không có tài năng gì, ngoài tư tưởng và hành động độc tài được nuôi dưỡng từ thời cộng sản Liên Xô. Nay giá dầu xuống. Nước Nga khốn đốn. Ông Putin quen là lãnh đạo ăn bám của để dành của tổ tiên. Nay không có sáng kiến gì để vực nước Nga, vì hơn 200 ngàn tài năng khoa học Nga đã bị chảy chất xám sang phương Tây và Hoa Kỳ trong 12 năm cầm quyền của ông. Quanh ông không còn ai biến nước Nga trở thành một quốc gia hùng mạnh nhờ vào trí tuệ, mà chỉ là những kẻ ăn bám như ông.
Oil dollar đã làm mưa, làm gió suốt 10 năm qua. Giờ đã đến lúc mưa tạnh, gió hòa. Cũng là lúc Hoa Kỳ hùng mạnh trở lại. Cũng là lúc Trung Cộng chật vật với bong bóng đầu tư. Cũng là lúc mà nếu ông Putin muốn trợ giá đồng Rub của mình thì, 400 tỷ dollar dự trữ từ bán dầu và khí gas của nước Nga chỉ có thể dùng trong 60 ngày!
Và rồi sự kiện Ukraine, một nhà xã hội học ở Matscơva phang một câu gọn thon lỏn: “Nước Nga giống như một chiếc máy bay: chỉ có một phi công điều khiển, phần còn lại thì nôn oẹ .Cuộc xung đột ở Ukraine có thể là chết người đối với chế độ Putin giống như Thế chiến I cho Sa hoàng Nicholas I, hay sự can thiệp của Liên Xô ở Afghanistan cho chế độ Xô Viết. Putin có lẽ sẽ không rút quân khỏi Lugansk và Donetsk. Nhưng để đóng băng cuộc xung đột sẽ rất tốn kém về tài chính và chính trị. Putin nói rằng cuộc khủng hoảng ở Nga sẽ kéo dài nhiều lắm là hai năm. Đây không phải là sự dối trá lần đầu tiên hay cuối cùng. Ông ta thuyết phục mọi người rằng cho mọi thứ là do người Mỹ, và có vẻ như ông ta cũng tin vào điều vô nghĩa này.
Có những người Nga tiếp nhận những lời nói này trong đức tin - phòng thủ chống lại phương Tây cần phải tập trung xung quanh nhà lãnh đạo. Nhưng cũng những người này cuối cùng sẽ hỏi, giá trị của nhà lãnh đạo là gì khi khuấy lên rắc rối với cả thế giới. Và sau đó, khi nói về Ukraine, họ sẽ lặp lại những lời của Andrei Sakharov về cuộc chiến ở Afghanistan – “một cuộc chiến đáng xấu hổ”. Thiếu suy nghĩ và độc ác. Nỗi bất hạnh của nước Nga.
Nhưng có lẽ điều bất ngờ lớn lại là sự xuất hiện và lan tỏa ảnh hưởng đáng sợ của IS, điều chưa ai hình dung nổi trước đây một năm. IS liệu có phải là một chương mới kể từ ngày 11.9. 2001, bọn khủng bố quốc tế biến những chiếc máy bay thành những quả bom tự sát lớn nhất trong lịch sử để đánh vào tòa tháp đôi ở New York, biểu tượng của nước Mỹ, gây nên một chấn động toàn cầu và kéo theo nó những sự kiện mà diễn biến của nó ngày càng khó lường cho đến hôm nay và chắc sẽ không chỉ hôm nay. Cùng với những hiện tượng chưa có tiền lệ đó là biết bao những sự kiện xảy ra mà các bình luận gia nổi tiếng của thế giới xem ra bất lực trong những gì họ đã cố gắng đưa ra những kiến giải.
Có thể còn phải kể nhiều nữa những hiện tượng, những sự kiện của những ngày cuối năm 2014, nhưng với trình độ hạn hẹp của người ĐIỂM TIN như tôi thì sự kiện tác động mạnh đến cảm nhận và dòng tư duy của người điểm tin chính là sự kiện diễn ra vào ngày thứ Tư 17.12.2014, ngày Tổng thống Obama lẫn Chủ tịch Cuba Raul Castro đồng thời loan báo bình thường hóa mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cuba, một “quyết định lịch sử”.
Là quyết định lịch sử vì nó cho ta thấy tầm quan trọng của việc theo đuổi thế giới như nó phải là, chứ không chịu bằng lòng với một thế giới như nó hiện là. Đây là lời của Obama trong phát biểu cám ơn Đức Giáo hoàng Phanxicô về vai trò của Giáo hoàng trong diễn trình bình thường hóa dẫn đến kết quả mà nhân dân Cuba khắc khoải chờ đợi cũng như nhân dân Mỹ mong muốn.
Tuy vậy, theo giáo sư François Durpaire, tác giả tập biên khảo “Lịch sử nước Mỹ”, thì “Một trong những lý do thúc đẩy việc chuẩn bị bình thường hóa quan hệ giữa Cuba và Hoa Kỳ là hậu thuẫn của công luận Mỹ: 67% người Mỹ ủng hộ xu hướng bình thường hóa bang giao. Tóm lại dư luận Mỹ đã chuyển biến. Và trong vụ này, Barack Obama đã thúc đẩy công luận Mỹ thay đổi, với hai động thái trong năm 2014 này. Đầu tiên là hình ảnh Tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay Chủ tịch Cuba Raul Castro tại sân vận động Soweto ở Nam Phi nhân lễ tưởng niệm cố lãnh đạo Nam Phi Nelson Mandela. Sau đó là lời khen của Ngoại trưởng John Kerry đối với Cuba, về vai trò của nước này trong cuộc đấu tranh chống dịch Ebola tại Sierra Leone và Guinéee.
Tóm lại, công luận Mỹ rốt cuộc đã dần dần thay đổi cái nhìn, và trong công chúng Mỹ, có các công dân Mỹ gốc Cuba. Bộ phận kỳ cựu nhất thuộc các hiệp hội chống Castro và luôn luôn giữ một lập trường cực kỳ cứng rắn chống lại việc bình thường hóa, nhưng con cháu của họ, các công dân Mỹ, lại đã thay đổi cách nhìn vấn đề và tương tự như đa số người Mỹ khác, mong muốn quan hệ Mỹ-Cuba được bình thường hóa.
Thế là sau hơn nửa thế kỷ thù địch và cấm vận, sư vận động của cuộc sống đã bác bỏ những cái như nó hiện là để dẫn đến cái như nó phải là đúng với quy luật. Nhưng có lẽ cũng cần nhớ rằng, những người thích nói và hay nói đến cái gọi là quy luật ấy nên hiểu về tính phức tạp của những biến động với những bước đột phá đôi khi nhìn bề ngoài có vẻ ngẫu hiên, rất khó lường, nhưng chính là thông qua vô vàn những ngẫu nhiên ấy mà tính tất nhiên biểu hiện ra.
Chẳng thế mà nhiều chuyên gia và nhà ngoại giao tại La Habana đều cho rằng việc xích lại gần với Mỹ không thể có được nếu Fidel Castro còn lãnh đạo. Là khuôn mặt của cuộc chiến tranh lạnh, ông đã thách thức được 11 đời Tổng thống Mỹ khác nhau, thoát chết qua rất nhiều âm mưu ám sát...Những lời lẽ đả kích chủ nghĩa đế quốc Mỹ của ông vẫn còn được tất cả mọi người ghi nhớ, và ngay cả trước khi chinh phục được quyền lực năm 1959 còn thổ lộ rằng cuộc chiến chống Mỹ là “định mệnh” thực sự của mình.
Nhà ngoại giao phương Tây trên đây nhận định: “Fidel tuyệt đối chống Mỹ, trong khi Raul có tầm nhìn thực dụng hơn, đặt lên hàng đầu những gì có lợi nhất cho đất nước”. Trên thực tế, với những cải cách của mình, với các tuyên bố hòa dịu và chính sách ngoại giao, Raul đã chuẩn bị cái nền cho mối quan hệ mới với người láng giềng khổng lồ, có thể mang lại các tác động có lợi cho người dân Cuba.
Chính vì vậy mà, trên thực tế, Gabriel Molina, khuôn mặt kỳ cựu của báo chí Nhà nước Cuba và là cựu chủ nhiệm nhật báo lớn Granma khẳng định: “Fidel không thể ra mặt, nhưng đây là thành tựu của nỗ lực ngoại giao trong đó ông ấy có nhúng tay vào, chắc chắn là như thế.
Năm nay đã 88 tuổi, lần cuối cùng Fidel xuất hiện trước công chúng là vào tháng 1/2014. Theo một viên chức Mỹ, Fidel Castro không tham gia các cuộc thương thảo được tiến hành vô cùng bí mật từ tháng 6/2013 dưới sự bảo trợ của Canada, và sự ủng hộ mang tính quyết định của Đức Giáo hoàng Phanxicô.
Nhưng đa số các nhà quan sát ở Cuba cho rằng việc xích lại gần người láng giềng bị phỉ nhổ trước đây đã được Fidel tán thành, vì Raul không bao giờ muốn qua mặt người anh nổi tiếng. Khi lên nối ngôi năm 2006, Raul đã khẳng định: “Fidel là người không thể thay thế được. Tất cả những quyết định quan trọng đều sẽ tham khảo ý kiến của ôngHôm thứ Tư, Raul đã nhiều lần nêu tên Fidel, nhắc lại lời hứa năm 2001 và nhấn mạnh rằng mặc cho tiến trình hòa giải, Cuba không hề nhượng bộ trong những vấn đề chủ chốt… như Fidel Castro đã tuyên bố trước đây.
Đương nhiên, làm sao mà không tuyên bố như thế được. Và cũng không lạ là ngay trong tiến trình đầy hân hoan với nhiều viễn ảnh ngoạn mục như: sau việc trả tự do cho các gián điệp bị tù lâu năm của cả hai phía, trên 50 nhà dân chủ Cuba bị tù do phía Hoa Kỳ đưa ra, các sứ quán sẽ được mở lại, rồi du lịch, rồi buôn bán, rồi ngân hàng sẽ được mở ra... Tổng thống Obama sẽ đến La Habana và Chủ tịch Raun Castro sẽ đến Mỹ thì ngày 30/12/2014, chính quyền Cuba đã câu lưu 51 nhà đối lập để ngăn cản họ tổ chức một cuộc tập họp công khai. Ngay lập tức, Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 31/12 đã ra thông cáo lên án việc chính quyền La Habana “tiếp tục sách nhiễu, bắt giữ tùy tiện, đôi khi rất thô bạo, để bịt miệng những người chỉ trích.
Bất chấp thông cáo nói trên, hôm qua, đúng ngày đầu năm 2015, cảnh sát Cuba lại câu lưu hàng chục nhà đối lập, khi họ kéo đến một nhà tù ở La Habana để đòi trả tự do cho những nhà đối lập khác. Chiến dịch đàn áp này sẽ càng khiến cho những người chỉ trích việc Hoa Kỳ Cuba xích lại gần nhau có thêm lý lẽ để phản đối. Những người này, mà trong đó có nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ, vẫn cho rằng lẽ ra Washington trước hết nên đòi La Habana có những nhân nhượng về mặt nhân quyền, trước khi cam kết sẽ bình thường hóa bang giao giữa hai nước. Mặc dù chủ tịch Raul Castro đã tuyên bố sẵn sàng thảo luận về mọi chủ đề với Tổng thống Barack Obama, nhưng ông đã nói ngay là sẽ không thay đổi chính sách và sẽ không nhân nhượng trên những vấn đề mà ông cho là thuộc chủ quyền quốc gia, trong đó dĩ nhiên là có vấn đề nhân quyền.
Sẽ hiểu hơn những diễn biến đó nếu lưu  ý đến bình luận của George Friedman trên Stratfor Global Intelligencengày 23.12.2014: “Quan hệ HK-Cuba đã giá băng trong nhiều thập kỷ, với không bên nào sẵn sàng nhượng bộ đáng kể hoặc thậm chí có những buớc đi đầu. Nguyên nhân một phần là do chính trị nội bộ của mỗi nước mà nó làm cho việc lạnh nhạt được khuyến khích. Về phía HK, liên minh của người Mỹ gốc Cuba, các nhóm bảo thủ và các nhóm bảo vệ nhân quyền chỉ trích sự vi phạm nhân quyền của Cuba và ngăn chặn nỗ lực. Về phía Cuba, sự thù nghịch với Hoa Kỳ đóng một vai trò then chốt trong việc duy trì chính đáng tính cho chế độ cộng sản. Không chỉ chính quyền được sinh ra để chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ, mà Havana cũng còn sử dụng lệnh cấm vận của HK để giải thích cho những thất bại kinh tế của Cuba. Không có áp lực bên ngoài để thúc đẩy hai bên tuơng nhuợng nhau, và có nhiều lý do nội bộ đáng kể để duy trì tình trạng ngưng đọng như vậy.
Người Cuba bây giờ đang bị một số áp lực để chuyển dịch chính sách của họ. Họ đã tìm cách để tồn tại sau sự sụp đổ của Liên Xô với những khó khăn. Bây giờ họ phải đối diện với một vấn đề cấp bách ngay trước mắt: sự bất ổn của Venezuela. Caracas cung cấp dầu cho Cuba với sự giảm giá rất lớn. Thật khó có thể nói nền kinh tế của Cuba gần bờ vực như thế nào, nhưng rõ ràng là dầu của Venezuela đã tạo ra một sự khác biệt đáng kể. Chính quyền của Tổng thống Venezuela, Nicolas Maduro, đang phải đối mặt với tình trạng bất ổn đang tăng tốc cho những thất bại về kinh tế. Nếu chính phủ Venezuela sụp đổ, Cuba sẽ mất đi một trong những trụ cột nền móng để chống đỡ chế độ. Số phận của Venezuela vẫn còn chưa biết được như thế nào, nhưng Cuba phải đối mặt với khả năng của một kịch bản xấu nhất có thể xảy ra này, và phải tạo điều kiện cho việc mở cửa. Mở cửa sang Hoa Kỳ thì hợp lý trong việc duy trì chế độ... Không ai biết được tương lai. Cuba muốn duy trì chế độ và tìm cách giải tỏa áp lực từ Hoa Kỳ. Tại thời điểm này, Cuba thực sự không quan trọng. Nhưng khi thời gian đi qua, không ai có thể đảm bảo rằng nó sẽ không trở nên quan trọng. Cho nên, chính sách của HK nhấn mạnh vào sự thay đổi chế độ trước khi giải tỏa áp lực. Với việc Cuba quyết định duy trì chế độ, thì Cuba có gì để cho? Họ có thể hứa trung lập vĩnh viễn, nhưng cam kết như vậy không có giá trị nhiều.
Cuba cần quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là nếu chính quyền Venezuela sụp đổ. Với nền kinh tế nghèo nàn của Venezuela thì có thể, về mặt lý thuyết, Cuba buộc phải thay đổi chế độ do từ áp lực nội bộ. Hơn nữa, Raul Cátro đã già và Fidel Cátro đã rất già. Nếu chính quyền Cuba cần phải duy trì, nó phải được bảo đảm ngay từ bây giờ, bởi vì hiện giờ không được rõ là những gì sẽ nối tiếp khi hậu Castros. Nhưng Hoa Kỳ có yếu tố thời gian, và mối quan tâm về Cuba là một phần trong DNA của HK. Không có sự lo lắng trong hiện tại, thì duy trì áp lực là điều không có ý nghĩa. Nhưng Washington cũng không có sự khẩn cấp để chấm dứt nó cho Havana. Obama có thể muốn có một di sản, nhưng logic của tình hình là Cuba cần điều này hơn HK, và cái giá của HK cho việc bình thường sẽ cao hơn khi nó xuất hiện ở thời điểm này, cho dù được thiết lập bởi Obama hay người kế nhiệm ông”.
Sự kiện Cuba khiến người điểm tin này quan tâm không phải chỉ vì ai đó từng phởn lên mà nhắc lại câu nói ngô nghê của một thời duy  chí về chuyện “anh thức tôi ngủ”! Mà vì, những bình luận nói trên của George Friedman gợi lên những ý tưởng cũng hao hao giống với ý tưởng của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski:
Hiện có một cơ hội lịch sử để xây dựng một mối quan hệ gần gũi hơn nhiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhưng chúng tôi không muốn đó là một mối quan hệ đổi chác, tức là chúng tôi đến với Việt Nam khi chúng tôi cần họ vì một cái gì đó và phía Việt Nam đến với chúng tôi khi họ cần chúng tôi vì một cái gì đóTrước đó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đã từng tuyên bố rằng phía Mỹ muốn mối bang giao với Hà Nội “sâu sắc và bền vững hơn như các mối quan hệ đối tác của Mỹ với các bạn hữu và các đồng minh thân thiết nhất ở châu Á, châu Âu cũng như những nơi khác”.
Nên hiểu Hoa Kỳ không muốn “quan hệ đổi chác” với Việt Nam theo hướng nào đây? Đài VOA bình luận: “Trong bối cảnh Trung Quốc có nhiều hành động mạnh mẽ khẳng định chủ quyền trên biển Đông, Việt Nam cũng củng cố quan hệ, nhất là về quân sự, với Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ. Vào những tháng cuối năm 2014, Washington dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Hà Nội nhằm tăng cường an ninh và trinh sát trên biển.
Theo các nhà quan sát, quyết định của Washington cho thấy sự tin cậy chiến lược giữa hai nước trong khi Mỹ theo đuổi chính sách xoay trục về châu Á giữa lúc Trung Quốc đang trỗi dậy. Ngoại trưởng John Kerry cũng nói, một đất nước Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng, độc lập, tôn trọng pháp luật và nhân quyền đã, đang và sẽ là người bạn đồng hành không thể thiếu được của Hoa Kỳ. Chúng ta sẽ sớm kỷ niệm 20 năm quan hệ hữu nghị Mỹ – Việt. Còn trợ lý Ngoại trưởng Mỹ thì nhấn mạnh rằng mối quan hệ Hà Nội – Washington cần phải “dựa trên những giá trị chung”, và đó là lý do vì sao Hoa Kỳ “nhấn mạnh rất nhiều tới vấn đề nhân quyền”. Tân Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Ted Osius, cũng tuyên bố rằng ông sẽ “thẳng thắn và trực tiếp nói với các lãnh đạo ở Hà Nội rằng việc chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền sẽ làm cho họ mạnh hơn, chứ không phải yếu đi, đồng thời tiềm năng của mối quan hệ đối tác cũng sẽ phát triển”.
Đề cập đến những sự kiện liên quan đến chủ đề này, đài BBC bình luận về việc Việt Nam có nên “tin tưởng hay không”vào những tuyên bố được cho là “ngoại giao hòa hoãn”, “hạ giọng,mềm dẻo” của nhà cầm quyền Trung Quốc qua chuyến thăm Việt Nam ba ngày diễn ra vào cuối tuần trước của Du Chính Thanh, BBC dẫn lời Giáo sư Vũ Minh Giang mà họ lưu ý ông này là “nguyên thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương, cơ quan tư vấn đường lối chiến lược cho Bộ Chính trị và Ban bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam”:
Đối với Trung Quốc, có lẽ kinh nghiệm từ xa xưa cho đến bây giờ nó vẫn không thay đổi bao nhiêu. Đó là cố gắng hết sức trong quan hệ ngoại giao, nhưng thực tế như thế nào thì phải là câu chuyện phải chờ […] Chứ không thể tin ngay vào những cử chỉ của quan chức, cho dù là cao cấp đến đâu, của Trung Quốc. Đó là thực tế lịch sử, chứ không phải là muốn hay không muốn, thích hay không thích. Vì vậy cho nên tôi không kỳ vọng nhiều lắm vào chuyến thăm của ai đó, cho dù là thứ mấy của Trung Quốc, sang Việt Nam...”Đối với Trung Quốc, tôi vẫn có một cách nghĩ. Đó là hãy quan sát họ làm trên thực tế, chứ những gì họ nói thì quá hay rồi, phải nói là không thể nói hay hơn được […] Việc Trung Quốc họ thực hiện từng bước mục tiêu của họ thì mình cũng không ngăn cản được, đó là mục tiêu của họ dồn toàn lực họ làm, thế nhưng họ làm được hay không là phụ thuộc rất nhiều vào phía Việt Nam.
Theo Giáo sư Giang, nhận thức của lãnh đạo Việt Nam đã thay đổi rõ rệt vào đầu năm 2015 so với thời điểm một năm về trước khi bước vào năm 2014, sau khi diễn ra vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên Biển Đông.
Nhà nghiên cứu sử học và địa chính trị nói: “Tôi nghĩ rằng Trung Quốc - Việt Nam vào thời điểm bước vào năm 2015 nó khác xa với bước vào 2014 trước khi có vụ Hải Dương 981, khác xa rồi”. Không có một “bật đèn xanh” nào đó, chắc là vị giáo sư nguyên là... như BBC nhấn mạnh, sẽ không có được khẩu khí kiểu này cho dù đã cố đưa ra một câu rất chi là lạc quan đáng ngờ: “Trước kia còn có người nói thế này, người nói thế kia, bây giờ ở Việt Nam, tôi thấy chỉ là sách lược thế này, thế kia, chứ trên dưới đồng lòng về nhận thức về Trung Quốc”.
Phải chăng chính vì vậy, khi được hỏi Việt Nam nên tiếp tục chiến lược ngoại giao như cũ, hay cần đổi mới khác đi, Vũ Minh Giang lại cho rằng Việt Nam vẫn cần tiếp tục kiên định với chính sách “đa phương” quan hệ và “ba không” để giữ “độc lập” và tránh “đối đầu” với Trung Quốc. Ông nói: “Kinh nghiệm của Việt Nam cho hay, cho đến nay Việt Nam có được những thành công trong quá trình phát triển của mình, là ở chỗ phải giữ được độc lập”.
Khác với ông Giang, một nhà nghiên cứu về quan hệ quốc tế và khu vực từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Tiến sĩ Khoa học Lương Văn Kế khẳng định với BBC cho rằng tham vọng và chính sách chiến lược của Trung Quốc về Biển Đông là không thay đổi. Và do đó, ông đặt vấn đề Việt Nam cần điều chỉnh chính sách “ba không” của mình, mà theo đó Việt Nam cam kết “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.”.
Bình luận mới đây về khả năng Trung Quốc lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Đông cùng các động thái được cho là đe dọa chủ quyền khác với Việt Nam, Tiến sĩ Kế nói: “Trong sự cạnh tranh với Trung Quốc, hay tìm kiếm một sự cân bằng với Trung Quốc, thì tôi nghĩ Việt Nam không thể chỉ dựa vào sức mình mà phải dựa vào các lực lượng khác. Mà tôi hoàn toàn tán thành một chủ trương là cần phải lựa chọn các đối tác an ninh ở khu vực để cân bằng sức mạnh, hay để vô hiệu hóa sự đe dọa hay là mối nguy từ phía Trung QuốcVà Việt Nam không thể nào một mình thực hiện theo chủ trương tôi gọi là “tuyệt đối ba không” được.Bởi vì nếu thực hiện “ba không” như vậy, thì mối nguy an ninh là rất rõ và tiềm chứa một nguy cơ là Trung Quốc sẽ ỷ thế vào và yêu cầu Việt Nam không được làm trái với điều mà Trung Quốc nói là “hoàn toàn nói ngược”.
Chúng ta tuyên bố “ba không”, thì không có lý do gì chúng ta liên minh với các nước khác để cân bằng với Trung Quốc, cho nên tôi nghĩ đến lúc chúng ta phải xét lại để hiểu thế nào là “ba không”. Trong trường hợp Tổ quốc lâm nguy hoặc toàn bộ không gian Biển Đông bị đe dọa, thì tôi nghĩ Việt Nam phải triển khai một chiến lược an ninh kết hợp các quốc gia khác. Chúng ta không phải liên minh nước này chống nước kia, nhưng chúng ta rõ ràng cần phải có sự hỗ trợ quốc tế và các thế lực có sức mạnh thực sự, có thể ủng hộ Việt Nam đảm nhiệm được sứ mệnh đảm bảo hòa bình và an ninh ở Biển Đông.
Xem ra, từ những thông tin và bình luận vừa dẫn ra thì cái câu ngô nghê dẫn ra ở trên lại có thể vận dụng dưới cái dạng phản đề của nó ở chỗ: chuyện người anh em “thức-ngủ” đang “xoay trục” kia không khỏi khiến ai đó giật mình. Thì chẳng phải là Trung Quốc đang rất sợ Việt Nam tuột khỏi vòng kiềm tỏa của họ đó sao? Chẳng thế mà tìm mọi cách ngăn cản Việt Nam gia nhập TPP là việc Trung Quốc đang ra sức xúc tiến.
Điều mà ngài Du Chính Thanh phải vội vã “sang thăm” Việt Nam vừa rồi đã được cụ Nguyễn Trọng Vĩnh kịp thời vạch rõ:
Chừng hơn một tuần trước đây báo, đài đưa tin: Theo lời mời của Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội nghị chính trị hiệp thương TQ sắp sang thăm nước ta, nhưng khi ông ta đến thì tối ngày 26/12 TV lại đưa tin là: Theo lời mời của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.
Theo cách đưa tin trên thì ông Du Chính Thanh sang thăm, gặp và làm việc với các nhà lãnh đạo quan trọng Việt Nam là chính... dù trước đó có hội đàm với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức tương đương chỉ là phụ và cho phải phép ngoại giao.
Ông Du Chính Thanh thăm Việt Nam trong bối cảnh: Đảng Cộng sản Việt Nam đương khẩn trương chuẩn bị Đại hội XII; nhân dân Việt Nam bất bình về việc TQ lấp đất đá trong cụm bãi đá Gạc Ma cướp của Việt Nam năm 1988 và sắp hoàn thành một căn cứ quân sự có đường băng, có cảng nổi, uy hiếp quần đảo Trường Sa của Việt Nam; Tổng tham mưu trưởng báo cáo trước Quốc hội cảnh giác đối với mưu đồ chiếm trọn biển Đông của nhà cầm quyền TQ; Việt Nam tổ chức những cuộc triển lãm đầy đủ tư liệu lịch sử, pháp lý về quyền sở hữu của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, còn đưa ra cả bản đồ cũ của TQ xác định biên giới tận cùng của họ chỉ đến đảo Hải Nam; Việt Nam đã nộp hồ sơ lên Tòa án trọng tài quốc tế, đề nghị Tòa án trú trọng đến quyền và lợi ích của Việt Nam khi xét xử vụ Philipine kiện TQ, Tòa án, chấp nhận xem xét đề nghị của Việt Nam và cho biết đương xem xét đề nghị của Hà Nội yêu cầu bảo vệ các quyền lợi của họ trong vụ việc; Việt Nam thăm Philipine, quan hệ tốt với Nga, hợp tác đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ. Mỹ đã đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam…
Bối cảnh trên đây thôi thúc nhà cầm quyền TQ phải hành động. Họ cử một Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị sang thăm nhằm thực hiện nhiều mục đích....” Vì thế, cụ Vĩnh quyết liệt cảnh báo:
Cần tỉnh táo, chớ vội tin vào những lời hữu nghị giả dối, phải xem những việc nhà cầm quyền TQ làm.
Mọi người Việt Nam có lương tri, có lòng yêu nước luôn phải cảnh giác với chủ nghĩa bành chướng Đại Hán chưa bao giờ từ bỏ ý đồ thôn tính Việt Nam.
Thực hiện dân chủ!
Xiết chặt khối đại đoàn kết các dân tộc!
Mọi quyết định của Đại hội đều vì nước, vì dân Việt Nam không cho thế lực nào chi phối!
Phát huy tình thần tự chủ tự cường!
Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền của tổ quốc Việt Nam!.
Rõ ràng là, chỉ điểm xuyết một vài thông tin nhặt nhạnh từ trên mạng về những hiện tượng nổi bật vào những ngày cuối năm 2014 bước sang 2015, những dữ kiện làm điểm tựa cho những suy ngẫm về thời cuộc đã thấy có quá nhiều vấn đề phải suy ngẫm. Đó là những dữ kiện có ý nghĩa lớn lao thôi thúc những cái đầu biết tư duy phải tự nhìn lại sự hạn hẹp của nhận thức đã có, rà soát lại, nhặt ra những thô thiển, những ngộ nhận, những sai lầm để tự bổ sung cho mình những tri thức mới, giúp thay đổi cách nhìn, cách nghĩ sát với sự vận động của cuộc sống.
Thời điểm mà chúng ta đang sống quả là một thời điểm đặc biệt, là một sự dồn nén về không gian và thời gian được bộc phát trong tư tưởng, trong nhận thức. Có người cho rằng chúng ta đang tiếp cận với một thế giới mà độ phức tạp của nó đã vượt quá năng lực trí tuệ phán đoán của con người. Hệ thống lớn với những tầng cấu trúc cực kỳ phức tạp như xã hội loài người lại đang ở trong một thời kỳ mà các quy luật của lượng biến thành chất và phủ định của phủ định bột phát, tác động đa trùng ở nhiều tuyến, nhiều diện, cộng hưởng trong không gian và hội tụ trong thời gian.
Người ta hiểu ra rằng, dường như quá khứ dừng lại ở đây, tương lai không còn là sự nối tiếp giản đơn theo tuyến tính của cái đã xảy ra. Sự biến đổi chính là một hằng số trong thế giới đầy bất định khó mà tiên liệu trước. Năm 2014 với những biến động dữ dội của chúng, trong đó, có những hiện tượng cừa dẫn như sự xuất hiện và lan tỏa ảnh hưởng đáng sợ của IS chẳng hạn, điều chưa ai hình dung nổi, là một ví dụ. Cùng với những hiện tượng chưa có tiền lệ đó là biết bao những sự kiện xảy ra đã thực sự đang “phá vỡ nguyên trạng” với nghĩa đen và nghĩa bóng mà các bình luận gia nổi tiếng của thế giới xem ra vẫn bất lực trong những gì họ đã cố gắng đưa ra. Đó là thế giới mà tôi đang sống và đang suy ngẫm về nó.
Trong kỷ nguyên của những biến động dữ dội ấy, một sự chậm đổi mới nào cũng đều phải trả giá. Không thể đi mãi trên một con đường mòn đã được vạch sẵn mà chặng đường 40 năm qua đã đưa đất nước chúng ta đến cái kết quả không tương xứng với xương máu đã đổ ra trên đất nước thân yêu của chúng ta cho dù đã có không ít những cố gắng, những thành tựu không thể và không được phủ nhận. Đó là một sự thật.
Cách nay đã 15 năm, khi bước vào thiên niên kỷ mới mở đầu với thế kỷ XXI, về “con đường mòn” ấy tôi có viết trên một bài báo Tết: Quen với con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước, sẽ dẫn đến thảm hoạ vì con đường mòn đó không có lối ra trong một thế giới đầy biến động với những bước đột phá mà mọi sự dự đoán đều không chắc chắn. Giờ đây nhìn lại, những “thảm họa” đã diễn ra còn khủng khiếp hơn suy nghĩ của tôi vào buổi ấy. Chỉ sau đấy 1 năm, ngày 11.9. 2001, thế lực khủng bố quốc tế đã biến những chiếc máy bay thành những quả bom tự sát lớn nhất trong lịch sử để đánh vào tòa tháp đôi ở New York, biểu tượng của nước Mỹ, gây nên một chấn động toàn cầu và kéo theo nó những sự kiện mà diễn biến của nó ngày càng khó lường cho đến hôm nay và chắc sẽ không chỉ hôm nay. Hiện tượng IS, rồi sự kiện Ukraine khiến châu Âu đang trở thành đấu trường của các biến động chính trị, cạnh tranh phạm vi ảnh hưởng và xung đột quân sự, đẩy thế giới đến gần một cuộc chiến tranh lạnh mới là minh chứng.
Trong phút giao thừa, lúc cũ mới giao thoa, năm cũ chuyển mình bước vào năm mới trong đầu tôi cứ lẩn thẩn với ý tưởng của Hégel vốn đọng lại trong đầu óc và chi phối cách nhìn nhận, phân tích về thế cuộc “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá”.
Trong sự “nổi loạn chống lại trạng thái cũ” thì sẽ không thiếu những cực đoan, quá khích nhân danh “cái mới”, thậm chí tự huyễn như vậy mới thật sự là “mới”. Còn “trạng thái cũ, đang suy đồi” thì thông thường vẫn giữ được cái vẻ bên ngoài là ổn định, thậm chí vững chãi, cho dù về bản chất thì đã mục ruỗng, thối nát. Nhất là khi cái “trạng thái cũ, đang suy đồi” ấy lại được “tập quán thần thánh hóa” thì sức chống trả của “cái cũ” thường rất dữ dằn bởi lẽ sức mạnh vang bóng một thời của nó vẫn còn lưu lại khá đậm trong tâm lý đám đông. Ấy thế mà nhiều khi với đám đông, cái vô thức thường tác động như một lực tiềm ẩn, mà trong hành động của con người thì phần vô thức lại hay chiếm một tỷ lệ lớn hơn phần lý trí.
Vì vậy, coi thường sức mạnh của “trạng thái cũ” hiện tồn hoặc khiếp sợ trước nó đều dẫn đến những sai lầm. Tốt hơn cả là nghĩ kỹ về khuyến cáo của Roosevelt: “Điều duy nhất mà ta phải sợ là chính là nỗi sợ hãi”. Vượt lên chính mình, đó là chuyện khó nhất. Khi viết những dòng này chính là lúc tôi đang cố vượt lên chính mình đây. Để vượt được, phải tự động viên bằng lời của Nobert Wiener, cha đẻ của ngành điều khiển học, “Chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó”.
Những diễn biến của cuộc sống với những sự kiện đã và đang diễn ra mà ĐIỂM TIN [một tài liệu do nhà nghiên cứu Tương Lai tập hợp, gửi cho bạn bè hàng tuần – BVN], một cố gắng nhỏ nhoi nhằm đẩy tới những chuyển biến để tạo ra một đột phá đẩy cuộc sống đi tới. Vâng, đúng là nhỏ nhoi, một hạt cát trong dòng chảy cuồn cuộn của cuộc sống. Trong dòng chảy ấy, triệu triệu hạt cát mới tạo thành phù sa, và từ phù sa bồi đắp mà cây cối đâm chồi nảy lộc. Cũng từ phù sa ấy những hạt giống tư tưởng được gieo trồng và hình thành nên tư tưởng của thời đại chúng ta sống đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!

T.L
Tp. Hồ Chí Minh ngày 4.1.2015