Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Vua bịp Pháp xưng vương trên cao nguyên đất Việt

Hoàng Đế Marie Đệ Nhất của xứ Mọi Sédang.
Hoàng Đế Marie Đệ Nhất của xứ Mọi Sédang.
Triệu Phong
Trong khoảng thời gian từ 1888 đến 1890, khi nước ta đang xảy ra các biến cố như vua Hàm Nghi bị Pháp bắt lưu đày sang Algeria thuộc Pháp, Đồng Khánh băng hà và Thành Thái lên thay, một người Pháp nhờ thuyết phục được các bộ lạc dân thiểu số sống rải rác ở vùng cao nguyên, tự xưng làm hoàng đế, lấy vương hiệu là Marie Đệ Nhất. Câu chuyện bấy giờ gây rúng động không những đối với chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam mà còn gây náo động đến cả dư luận bên Âu Châu.
* * *
Con người kỳ lạ này tên thật là David Auguste-Jean-Baptiste-Marie-Charles. Ra đời vào ngày 31 Tháng Giêng năm 1842 tại Toulon, Var, thuộc vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur nước Pháp. Charles là con trai thứ trong gia đình có bốn người con của ông Léon-Jacques-Albert-David, một sĩ quan hải quân và bà Marie-Anne-Marguerite Baptiste Thunot, con gái một đại tá chỉ huy lực lượng phòng vệ quốc gia. Người anh đầu tên Romaric mất năm 1915, hai người em trai kế là Henri và Raymond đều mất lúc còn trẻ. Bốn anh em từ nhỏ đã theo cha lên Paris sinh sống và được giáo dục tại đây.
Năm 1859, Charles gia nhập quân đội, ngành kỵ binh, bốn năm sau làm đội trưởng một đội thiết giáp ở Versailles. Thấy đời sống quân ngũ ở đây không thích hợp với bản tính phiêu lưu của mình, Charles ghi danh vào đoàn kỵ binh Nam Kỳ mới được Đô Đốc Bonnard thành lập. Đại đội này gồm lính kỵ binh Pháp đang đóng trên các thuộc địa. Trong thời gian ở Nam Kỳ, Charles từng tham dự một vài cuộc hành quân rồi trở về Pháp vào năm 1868 và được giải ngũ. Năm sau tại Toulon, ông kết hôn với cô Marie Francisca Avron, con gái của một cựu đại tá. Chiến tranh Pháp Đức bùng nổ, Charles gia nhập một tiểu đoàn lính cơ động ở Var. Nhờ quá trình binh nghiệp trước đây, ông được thăng làm đại úy chỉ huy một trung đoàn cơ động, rồi về bộ tham mưu quân đoàn. Ông được huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh là huy chương cao nhất của Pháp, nhờ chỉ huy một trận đánh ở cầu Conlie vào Tháng Hai, 1871, mà phía ông chỉ có ba lính bị thương. Hết chiến tranh, mặc dù rất muốn lưu lại trong quân đội nhưng ông vẫn bị buộc phải giải ngũ. Không chức tước, không khả năng chuyên môn, Charles không còn chi ngoài cái mã cao ráo, đẹp trai. Cuộc chiến kết thúc cũng chấm dứt luôn cuộc sống phẩm giá và lương thiện. Charles David trở thành một con người khác.
Cuộc đời mới
Sau vài lần vật lộn mưu sinh, năm 1874, ông mở một ngân hàng nhỏ nhưng được một thời gian phải tuyên bố phá sản vì bị kiện tội lừa bịp. Cuối cùng, mặc dù được miễn tố nhưng ông vẫn tìm cách chuồn ra nước ngoài cho chắc ăn. Vào cùng năm, Charles đáp tàu thủy trực chỉ Java, một đảo lớn của Indonesia. Trên tàu, ông gây được niềm tin của một thanh niên người Pháp đang trên đường sang Java tìm gia đình. Ông tả oán rằng ông bị mất sạch hết tiền bạc đem theo. Mủi lòng, khi đến nơi vào Tháng Chín 1883, người thanh niên này dẫn ông đến gặp cha, một công chức hỏa xa ở Probolingo. Tại đây ông được cho lưu trú và mọi chi phí đều do những người đồng hương tốt bụng này đài thọ. Hai tháng sau, chính quyền Java trục xuất Charles David vì có nhiều đụng chạm với cư dân địa phương và bị họ khiếu nại. Ông được bố thí cho một vé tàu thủy hạng ba để trở về cố quốc. Thế là một lần nữa ông lại lang thang trên thành phố Paris.
Vào thời gian này, Âu Châu đang trong giai đoạn cách mạng kỹ nghệ, cần tìm kiếm cao su để khai thác. Đi đâu, gặp ai, Charles cũng khoe mình đã từng trông thấy những cánh rừng có cây cao su. Cuối cùng ông được Bộ Trưởng Bộ Công Cộng Pháp ủy thác cho việc nghiên cứu khoa học tại vương quốc Hồi Atchem trên đảo Sumatra, hòn đảo lớn nhất của Indonesia. Nam Tước Sellière cấp cho ông ngân khoản 2,000 đồng franc. Từ Toulon, ông lên đường cùng với em trai là Henry và ông Vésine-Larue trên một chiếc tàu vận tải. Nửa chừng, Larue tách riêng khỏi đoàn sau khi nghe một số người vạch trần bản chất không tốt của Charles. Lúc tàu dừng ở bến Sài Gòn vào ngày 23 Tháng Năm 1885, hai anh em cũng xuống bến luôn. Từ đây Charles David tự xưng mình là Nam Tước David de Mayréna.
Nam Tước de Mayréna
Vừa xài hết số tiền, Mayréna nghe tin Hội Đồng Thuộc Địa Đông Dương loan báo cấp thưởng nhiều ngàn franc cho kiều dân nào có ý định khai thác loại cây có mủ cao su. Mayréna khai đã từng thử dùng dao rạch lên thân cây và trông thấy thứ mủ này chảy ra tại vùng đất của người Mọi ở Bà Rịa. Thế là ông được giao cho việc hướng dẫn một toán khảo sát gồm 15 tay súng đi đến đó bằng tàu sà lúp, để kiểm tra lại. Dĩ nhiên sau chuyến đi, phái đoàn trở về tay không, vì thực sự có bao giờ Mayréna đã đến nơi này đâu mà tìm cho thấy những cây này. Mayréna mua một mảnh đất ở Thuận Biên, Bà Rịa, đặt tên là đồn điền Sainte-Marguerite. Mayréna gửi thư cho Hội Đồng Thuộc Địa khoe đã gieo trồng được 2,000 hột giống cây cao su và đang tiếp tục tìm kiếm thêm ở vùng đất Mọi, đồng thời phản bác những lời cho là đồn đại nói xấu về ông. Trong khi đó ở Pháp, Bộ Trưởng Bộ Công Cộng ký giấy giải tán đoàn thám hiểm ở Atchem, vì chính quyền Sumatra xác nhận ông Mayréna chưa hề đi đến đây. Tới lúc này người em trai là Henry đã tỏ ra quá chán ngán cái xứ Nam Kỳ nên một mình lên tàu trở về Pháp.
Tháng Năm 1887, tỉnh Bà Rịa gửi giấy thông báo cho lệnh lục soát nhà của Mayréna vì nghi ngờ ông buôn lậu vũ khí. Tại đây toán thanh tra gặp một phụ nữ bản xứ tên Lê Thị Bền, trước đây làm nghề bán hột vịt lộn ở Chợ Cũ, Sài Gòn, đang sống trong căn nhà. Mayréna đi vắng chỉ để lại giấy, dặn bà vợ Việt này phải tuân theo lời của các thanh tra. Kết quả khám xét họ chỉ tịch thu được 12 cây súng và một số đạn. Biên bản ghi, có thể đây là những vũ khí dùng cho cuộc khảo sát trước đây.
Tháng Giêng 1888, Mayréna lại gửi thư cho tân Toàn Quyền Constans lá đơn xin đi khảo sát tại vùng người Mọi sống độc lập ở phía Bắc tỉnh Bình Định, nằm giữa An Nam (tên gọi miền Trung Việt Nam dưới thời nước ta bị Pháp chiếm làm thuộc địa) và sông Mê Kông, khoe rằng đã từng sống hai năm ở trong rừng với người Malaysia. Đơn này nhờ được ông phó toàn quyền chuyển đi nên chấp thuận. Sự việc sở dĩ dễ dàng vì ai ở Nam Kỳ lúc bấy giờ cũng muốn tống khứ ông đi đâu đó cho khuất mắt. Ông được cấp mấy trăm đồng franc và 15 lính mã tà. Ngoài ra cùng đi còn có một kiều dân Pháp tên Alphonse Mercurol, hai phụ nữ Việt (có thể là vợ lẻ của hai ông Tây), cùng bốn nhà buôn người Hoa. Mercurol cũng từng đi lính và đã được giải ngũ, đương sự là một người hung bạo, không việc gì lại không dám làm. Lần này đi theo Mayréna vì chưa xoay xở được cách sinh nhai nào khác. Tháng Ba 1888, đoàn người đáp chiếc Hải Phòng đi ra hướng Bắc. Vận may cho Mayréna, trên tàu có sự hiện diện của ông Toàn Quyền Constans và ông bí thư Klobukowski. Tàu dừng ở vịnh Quy Nhơn vào ngày 16 Tháng Ba. Trước khi xuống tàu, Mayréna được ông Klobukowski trao cho bức thư gửi gấm và giới thiệu. Mayréna biết sẽ làm gì với nó sau này, mặc dù đây chỉ là lá thư tầm thường mà bất kỳ công chức nào cũng có thể tiến cử cho bất kỳ ai để họ đi mạo hiểm vào các rừng già của vùng Mọi vào năm 1888. Xứ Mọi ở dãy Trường Sơn vẫn còn là vùng đất bí ẩn (terra incognita), chỉ mới được các giáo sĩ Pháp khám phá vào năm 1849 và lập nên các vùng đất của người theo đạo Thiên Chúa. Ông E Navelle, quản trị vùng bản địa, đã từng đi xuyên qua vùng Mọi này vào năm 1884 và có viết lại một bài ký sự. Hai năm sau, Trung Úy Metz cũng đi lại theo sơ đồ của ông Navelle. Từ đó trở đi, ngoài các nhà truyền giáo, không người Âu nào khác thám hiểm vào vùng Mọi.
Người Mọi trên vùng thượng du.
Người Mọi trên vùng thượng du.
Mayréna được ông Crochet, nhân viên chuyển vận đường biển đón tiếp niềm nở, kể cả ông Charles Lemire, Công Sứ tỉnh Bình Định, người bị tài nói phét của Mayréna đánh lừa. Cũng có thể do ông Lemire thấy được thư giới thiệu của ông Klobukowski nên mới nhiệt tình giúp đỡ cho cuộc thám sát của Mayréna. Với bộ vó cao ráo (1m82), bộ râu bạch kim rất đẹp, hai vai rộng và tài bẻm mép, cùng với mớ thư giới thiệu, đến đâu Mayréna cũng gặp mọi sự dễ dàng. Ngoài Mercurol, Mayréna còn tuyển được ông Paoli và ban cho chức hỏa đầu vụ. Ông này bán hết sản nghiệp gồm một tiệm ăn ở Qui Nhơn để đi theo. Mayréna cũng chiếm được cảm tình của Đức Ông Van Camelbeke khi đến thăm giáo xứ của ngài ở Long Sông và được ngài viết cho một thư giới thiệu đến các cha thuộc Hội Truyền Giáo Người Man Di (Mission des Sauvages). Vũ khí Mayréna có gồm 18 súng trường, 3 cạc bin, 4 súng lục và 2,500 viên đạn. Ngoài ra ông còn xin thêm được một thùng thuốc súng cũ thấy ở nhà một nhân viên quan thuế tại Qui Nhơn.
Ngày 21 Tháng Tư, 1888, đoàn thám hiểm khởi sự lên đường. “Nam Tước de Mayréna” mang súng colt ngồi trên con ngựa Ả Rập to lớn, theo sau là đoàn ngựa của toán kỵ binh gốc Phi Châu, rồi đến Mercurol, Paoli, hai phụ nữ Việt, bốn người Hoa, một thông dịch viên tên Phạm Văn San thuộc Sở Mật Thám Pháp, 18 lính mã tà từ Sài Gòn và 80 người phu khiêng vác hành lý. Mayréna còn được chính phủ thuộc địa cấp bốn trăm đồng franc. Ông Lemire, công sứ Qui Nhơn gửi Mayréna một lá thư cho biết ông vừa viết cho quan tổng đốc thuộc triều đình Huế để giới thiệu về công tác thám hiểm của ông Mayréna, yêu cầu quan tổng đốc ra lệnh cho quan phủ An Nhơn và quan kinh lý cai quản các vùng lãnh thổ khai thác thuộc địa đang trú tại An Khê, giúp ông Mayréna được mọi sự dễ dàng. Số 80 cu li đều do ông Lemire đích thân trưng tập. Đoàn người gặp rắc rối đầu tiên khi đi đến An Khê vào ngày 26 Tháng Tư. Tại đây một thiếu tá người Pháp chỉ huy quân đội, giữ an ninh tỉnh Bình Định không cho phép ông hỏa đầu vụ Paoli đi tiếp vì không có giấy thông hành. Đồng thời đám cu li bỏ mặc đồ khuân vác đi trở về vì bị đối xử tàn bạo và không được trả công. Cuối cùng đoàn người cũng đến được những làng Mọi đầu tiên. Họ tạm tá túc tại làng Kon Jari Tul của tù trưởng Pim. Ông này được sự hợp tác của các nhà truyền giáo và các sĩ quan ở Bình Định đã đi điều đình lập liên minh giữa các bản làng người Bahnar, Rơn Gao, Bahnam và Hadrong. Mục đích để ngăn chặn sự chống đối của người Giarai, vốn đang là vấn đề ở vùng cao nguyên thời bấy giờ.
Quốc kỳ nước Sédang.
Quốc kỳ nước Sédang.
Vương quốc xứ Mọi Sédang
Tại bản làng này, vì thiếu người khuân vác, “Nam Tước de Mayréna” viết cho cha Guerlach một lá thư xin được hỗ trợ, không quên kèm theo hai thư giới thiệu của Đức Ông Van Camelbeke. Vào lúc này Mayréna bắt đầu treo lên trước túp lều của mình lá cờ hiệu màu xanh có hình các con chuồn, đồng thời vào ngày 28 Tháng Tư, ký với các tù trưởng Hmot và Pim hai hiệp ước liên minh và thân hữu, trong đó ghi rõ người Mọi hoàn toàn tự do sống theo phong tục tập quán và tín ngưỡng của họ. Họ chỉ vâng phục người Pháp chứ không tuân theo người An Nam. Họ không phải nạp thuế gì cho chính phủ An Nam. Bù lại họ sẽ được người Pháp bảo vệ trong mọi trường hợp bị tấn công. Hiệp ước xác nhận có sự chứng kiến của ông Mercurol, thông dịch viên Phạm Văn San, ông Huỳnh Văn Tư, một người An Nam nói được tiếng Mọi tên Gambier. Trước sự kinh ngạc của Cha Guerlach và các nhà truyền giáo khác, Mayréna giải thích việc làm của mình chỉ là giữ danh dự cho nước Pháp. Ông nói ông sẽ tập hợp tất cả dân tộc thiểu số sống độc lập mãi đến tận bờ sông Mê Kông. Khi không có tuyên bố nào của các thế lực Âu Châu, ông sẽ trao quyền lại cho nước Pháp, bù lại ông sẽ đòi quyền thừa hưởng các mỏ vàng. Để Cha Guerlach yên lòng, Mayréna khoe thêm thư giới thiệu của các ông Klobukowski, Lemire, nào là kể về chuyến hải hành trên chiếc Hải Phòng cùng với Toàn Quyền Constans, khoe về số tiền trợ cấp ông nhận được, việc Hội Đồng Thuộc Địa Nam Kỳ đề cử ông đi tìm cây cao su…
Bản đồ Đông Dương do ông E Stanford vẽ năm 1889. “Vương quốc Sédang” nằm trên cao nguyên Việt Nam và lấn sang Lào đến tận sông Mê Kông.
Bản đồ Đông Dương do ông E Stanford vẽ năm 1889. “Vương quốc Sédang” nằm trên cao nguyên Việt Nam và lấn sang Lào đến tận sông Mê Kông.
Ngày 13 Tháng Năm, đoàn quân đến đất thuộc giáo xứ của Cha Guerlach ở Kon Djéri Kong và nghỉ lại đây 10 ngày. Sau đó đoàn quân tiếp tục đi, lần này có sự tháp tùng của Cha Guerlach và đến giáo xứ của Cha Vialleton ở Kontoum ngày 23 Tháng Năm. Ngày hôm sau đến Kong Trang, thuộc giáo phận của Cha Irigoyen. Cha này vì thấy người đồng hương, quá mừng đến nỗi thưởng cho đoàn một con bò, mà người Mọi ở đây hạ thịt nó và đánh phèn la nhảy múa. Ngày 25, Cha Guerlach cùng Mayréna và đoàn người đến Polé Tebâu, rồi hôm sau thì đến Kon Trang Mené. Tại đây các chức sắc trong hội đồng bản tộc đồng ý bầu Mayréna làm trưởng và ký bản thỏa ước có ký nhận của Cha Guerlach và ông Mercurol. Ngày 28, họ đến Pekô, chi nhánh của sông Bla và được người bản địa đưa qua sông bằng bè, rồi tiếp tục thẳng đến làng Kon Gung Sui. Dân thiểu số ở đây cũng đồng ý ký giấy bầu Mayréna làm “sếp” mới, đồng thời yêu cầu “sếp” bắn những phát súng cạc bin vì họ thích nghe tiếng nổ. Không những vậy, các vỏ đạn được họ dùng làm đồ trang sức. Ngày 3 Tháng Sáu, 1888, Mayréna lập bản “Hiến Pháp của Vương Quốc Sédang,” mà tù trưởng của các làng đều ký tên. Mayréna bắt đầu nghĩ đến việc thành lập một vương quốc. Cuộc khảo sát lần thứ hai được thực hiện vào ngày 15 Tháng Sáu ở vùng đất Hamong Ketou, một làng rộng lớn nằm ở triền sông Pekô, bên dưới làng Kon Gung Jé.
Hoàng Đế Marie de Mayréna oai vệ trong bộ triều phục do ông tự vẽ lấy.
Hoàng Đế Marie de Mayréna oai vệ trong bộ triều phục do ông tự vẽ lấy.
Lên ngôi hoàng đế
Vào ngày 20 Tháng Sáu, tất cả tù trưởng đồng chấp nhận bản hiến pháp và ông Mayréna được công nhận là vua của họ. Mayréna nghiểm nhiên xưng đế lấy vương hiệu là Marie Đệ Nhất của xứ Mọi Sédang. Tháng Sáu 1888, ông lập triều đình Mọi và ký một loạt sắc lịnh, ban chức phẩm cho hoàng gia và các quan, phong bà Lê Thị Bền làm hoàng hậu, Mercurol làm bá tước và được quyền khai thác mỏ vàng, chỉ định kiểu quân phục, cử hai chúa Mọi làm thủ hiến hai nơi, chia nước ra làm 5 tỉnh, mỗi tỉnh có tỉnh trưởng, cấm người ngoại quốc không được vào xứ nếu không có phép của hoàng đế, cấm săn bắn voi vì voi thuộc sở hữu của hoàng đế, ấn định kiểu y phục của vua. Sau cuộc thám sát trở về, Mayréna ngã bệnh nặng nhưng vẫn nhờ Cha Guerlach viết giúp lá thư gửi cho toàn quyền, rồi ông sẽ ký tên. Thư do ông Mercurol mang đi gửi, trong đó có kèm bản sao bản hiến pháp cùng với bản tuyên bố mà báo Le Courrier d’Haiphong cho đăng tải. Lúc này, Cha Guerlach cũng yêu cầu cho mấy người Trung Hoa, người thông dịch và mấy người lính mã tà trở về theo vì không còn cần đến họ, hơn nữa Cha không đủ sức nuôi ăn tất cả trong thời gian quá lâu.
Khi đã hồi phục, Mayréna lại mở cuộc thám sát thứ ba ở vùng đất của người Sédang. Lần này chỉ có Cha Irigoyen đi theo vì Cha Guerlach đang bị sốt. Tại làng Kong Gung, Mayréna sửa đổi hiến pháp bằng cách thêm một số điều khoản và được những người Mọi công nhận, với sự chứng kiến của Cha Irigoyen. Lúc trở về, Mayréna nhờ Cha Guerlach dịch bản hiến pháp ra tiếng Pháp và tiếng Sédang, đồng thời làm hai bản sao, một gửi cho ông toàn quyền và một gửi cho bộ trưởng thuộc địa. Mayréna mang hai bản sao này đi trở xuống Qui Nhơn. Vào lúc này, bà vợ đầm của Mayréna ở Pháp gửi thư qua xin tiền. Ông liền ký đạo dụ tuyên bố ly dị bà Marie Francesca Avron, tôn con trai là Albert lên làm hoàng tử và con gái là Marie Louise làm công chúa nhưng phải ở lại bên Pháp, không được đi sang Sédang. Đạo dụ khác nói nếu bà Bền sinh con trai thì đứa đó sẽ là thái tử. Tuy nhiên bà Bền qua đời vì sốt rét rừng vào Tháng 9, 1888. Cạn túi, ông nghĩ đến việc du hành ra ngoại quốc để vận động người bỏ vốn mở mang kinh tế.
Hoàng thượng đi ra ngoại quốc vận động ngoại giao
Mayréna gửi thư đến tổng thống và thủ tướng Pháp, toàn quyền Đông Dương, khâm sứ các nơi Trung, Bắc Kỳ, Lào, Cao Mên, báo tin ông đã lên ngôi vua xứ Sédang, một nước độc lập liên minh với Pháp. Ông đặt làm nhiều huy chương tại Sài Gòn rồi dùng chúng để ban tặng cho nhiều người, kể cả chức tước. Ở Hồng Kông, Thái, Pháp, Bỉ, Hòa Lan, nhiều người cũng được ông tặng huy chương, và họ cũng mang trên áo để lấy le.
Các loại huy chương do vua Marie Đệ Nhất tự thiết kế và dùng chúng để ban tặng một cách hào sảng ở khắp nơi.
Các loại huy chương do vua Marie Đệ Nhất tự thiết kế và dùng chúng để ban tặng một cách hào sảng ở khắp nơi.
Mayréna có biệt tài là tất cả công việc, như tổ chức quốc gia, quân đội, luật lệ, vẽ bản đồ, đặt cơ quan hành chánh đều do tay ông cả. Ông cũng kiêm nhiệm luôn các chức bộ trưởng, cảnh sát, người thâu thuế heo, trâu, vì người Mọi không hiểu gì về những công việc này. Đến nỗi có nhà báo không ngại gọi ông là “Napoléon xứ Sédang.” Mặc dù không được chính phủ thuộc địa ở Đông Dương công nhận, đến đâu Mayréna cũng vẫn xưng mình là vua. Được cho tiền và huy chương, một số tờ báo ở Sài Gòn viết bài ngợi khen. Báo Le Courrier d’Haiphong ở Hải Phòng, báo L’Avenir du Tonkin ở Hà Nội cũng có bài nhắc đến “Quốc Vương Marie Đệ Nhất. Nhờ đó mà dư luận quốc tế chú ý tới. Một phần vì lúc đó Anh, Đức, Hòa Lan đang ganh tỵ Pháp có thuộc địa ở Đông Dương, họ quay sang chú ý đến vùng cao nguyên. Mayréna ghé đến Qui Nhơn gặp Công Sứ Lemire và nói, nếu nước Pháp công nhận quốc gia Sédang thì ông sẽ ký hiệp ước thân thiện với Pháp và cho đặt một tòa lãnh sự ở xứ Mọi. Bằng không ông sẽ ký kết với Anh hoặc Đức. Ông Lemire vội điện cho ông toàn quyền ở Hà Nội, ông này gửi điện qua Paris chờ chỉ thị. Các báo Pháp đem chuyện này ra bàn tán, tên Marie Đệ Nhất được đăng trang trọng trên trang nhất nhưng với lời lẽ châm biếm. Cũng chính những tờ này sau khi được ban tặng huy chương liền đổi giọng điệu ngay.
Mayréna với tư cách là vua Marie Đệ Nhất đáp tàu của Đan Mạch đi Hồng Kông, ông mặc y phục nhà vua ngực đeo đầy huy chương và cho treo cờ hiệu trên cột cờ tàu. Xuống bến, ông được thống đốc Anh tiếp kiến, các báo đều phỏng vấn và xin hình. Mayréna tổ chức buổi tiếp kiến nhiều nhân vật và nhà tư bản Anh cũng như Tàu tại Hong Kong Hotel để thuyết phục họ bỏ vốn khai khẩn xứ sở của ông. Nhiều người Tàu, Pháp, Nhật, Anh,… được trao tặng huy chương. Lãnh Sự Pháp H Verleye đánh điện cho toàn quyền Đông Dương nói rằng nếu không nhìn nhận Marie Đệ Nhất, thì người Anh sẽ bỏ vốn giúp vua xứ Sédang mở mang biên giới, khai thác mỏ vàng và các rừng cao su, mà ai cũng đồn là có rất nhiều ở vùng rừng núi cao nguyên. Hơn nữa Anh cũng manh tâm muốn hất cẳng Pháp. Ngày hôm sau lãnh sự Pháp cũng mở tiệc mời Mayréna tham dự, năn nỉ ông đừng để nước Anh mua chuộc. Mayréna nói nếu ông không được nhìn nhận là vua xứ Mọi Sédang thì ông sẽ tuyên chiến với Pháp và kéo 10,000 quân xuống đánh tỉnh Bình Định. Toàn Quyền Constans biết rõ thủ đoạn lừa bịp của Mayréna, liền đánh điện cho lãnh sự Pháp và thống đốc Anh ở Hồng Kông biết rõ lai lịch của Mayréna, thêm rằng xứ Mọi Sédang chỉ là đất cao nguyên của vua An Nam do Pháp bảo hộ chứ không hề có quốc gia này. Thống đốc Anh bắt đầu hoài nghi Marie Đệ Nhất. Mayréna xoay qua tiếp xúc với lãnh sự Đức nhưng ông này cũng được lệnh tổng lãnh sự ở Bắc Kinh không được tiếp Mayréna. Dần dần ở Hồng Kông không còn ai tin Mayréna nữa, nhất là từ khi tờ Le Courrier d’Haiphong đăng liên tiếp nhiều kỳ các bức thư của Cha Guerlach, tố cáo Mayréna về những hành vi bịp bợm.
Trong số những người bị Mayréna gạt có một người Hoa Chợ Lớn tên A Kong, ông này bỏ ra nhiều tiền ủng hộ Mayréna với hy vọng được quyền khai thác mỏ vàng. Ông này cho Mayréna mượn tiền, trả chi phí đi tàu đến Hồng Kông, thuê khách sạn, may triều phục, 10,000 bộ quân phục và nhiều thứ lặt vặt khác. Nhờ vậy A Kong được phong làm bộ trưởng tài chánh nhưng chưa hề được vua bồi hoàn cho đồng nào. Khi Mayréna hỏi mượn thêm tiền thì A Kong chán nản bỏ về và kiện Mayréna tại Qui Nhơn. Trong lúc túng thiếu, Mayréna gặp một lái buôn người Pháp tên Henri de la Rousselière, ông vận động người này giúp đỡ tiền bạc, bù lại người này được phong làm thủ tướng. Nhờ xoay xở, Mayréna có tiền mua vé tàu sang Pháp với dự tính thuyết phục Paris công nhận ngôi vua của ông và kiếm thêm tiền trong khi chờ đợi kết quả. Ở Paris, ông được một số người Pháp giúp đỡ tiền bạc và họ đều được ông phong tước và ban tặng huy chương. Mayréna cưới Marie Julie Rose Lyeuté và phong bà này làm hoàng hậu. Sau khi không được tổng thống, bộ trưởng ngoại giao Pháp tiếp kiến, ngay cả xin thuyết trình tại Hàn Lâm Viện Thuộc Địa về vấn đề Sédang cũng bị từ chối, vua Marie Đệ Nhất cùng hoàng hậu và đoàn tùy tùng đi qua nước Bỉ vào ngày 20 Tháng Bảy, 1889. Tại Brussels, Mayréna lập triều đình, ký sắc lệnh cho hoàng hậu được quyền hạn ngang hàng với các bà hoàng ở Âu Châu. Ông cũng cho phát hành tem thư, đặt trụ sở tổng giám đốc bưu chính và một văn phòng lãnh sự ở đây nhưng tất cả đều từ tiền vay mượn hoặc thiếu chịu. Cuối cùng hoàng hậu bị bỏ rơi. Trước khi ra đi, hoàng hậu được tặng một hộp nữ trang mà liền sau đó bà mới biết là toàn đồ giả.
Tem thư nước Mọi Sédang.
Tem thư nước Mọi Sédang.
Giữa lúc nguy khốn, Mayréna được một triệu phú tên Somsy ở Brussels, vì ham danh vọng nên tình nguyện giúp ông về “nước” mở mang bờ cõi. Lập tức Somsy được Mayréna ký sắc lệnh phong làm quận công xứ Mọi Sédang. Quận công Somsy còn mộ thêm được năm sĩ quan toàn là người Bỉ đi theo. Cả năm, người thì được phong đại tướng, người thì thiếu tướng hoặc đại tá. Mọi người xuống tàu vào ngày 13 Tháng Giêng 1890. Tám ngày sau tàu cập bến ở Port Said, Ai Cập. Tại đây Mayréna mở một buổi tiệc vương giả, có sự tham dự của 23 nhân vật chức sắc địa phương, đồng thời cử người mở văn phòng lãnh sự. Ngày 2 Tháng Hai, tàu ghé bến Singapore, Mayréna đòi toàn quyền Anh cho nổ 21 phát súng đại bác chào đón ông theo nghi lễ một quốc vương nhưng bị từ chối. Lãnh sự Pháp tại đây báo tin cho toàn quyền Pháp ở Sài Gòn biết việc Mayréna đang trên đường trở về Đông Dương, dẫn theo đạo quân trong đó có ba trung tướng và hai đại tá, dự tính đổ bộ xuống Qui Nhơn. Ông toàn quyền liền cử một tàu chiến và nhiều tàu nhỏ đến Qui Nhơn sẵn sàng ngăn chận không cho tàu của Mayréna vào bến. Thấy vậy Mayréna thong thả sống cuộc đời đế vương ở Singapore rồi cưới một phụ nữ bản xứ tên Aisa và ký lệnh phong làm hoàng hậu. Mayréna gửi thư cho vua Xiêm xin mượn đường để về xứ Mọi, đồng thời đề nghị làm chư hầu của Xiêm để chống lại Pháp ở Đông Dương nhưng vua Xiêm không trả lời. Ở được ba tháng, tiền hết mà kết quả thì chưa thấy gì, hoàng hậu bỏ trốn đi, lần lượt đoàn tùy tùng ai nấy mỗi người đi mỗi ngã, chỉ còn một người tên Harold Scott chịu ở lại theo hầu và được phong làm bộ trưởng hải quân. Cả hai đáp tàu ra Pulau Tioman, một hòn đảo nhỏ xíu với vài trăm cây dừa và vài túp lều lá của ngư dân Mã Lai.
Ngày 11 Tháng Mười Một, 1890, vào lúc ba giờ chiều, trong lúc Mayréna vào rừng bắn chim không may bị một con rắn độc cắn. Ông cố trở về đến lều thì qua đời. Bộ trưởng hải quân của Mayréna gửi thư về Singapore báo tin. Tờ báo Daily Press phát hành ở Singapore, số ra ngày 28 Tháng Mười Một, có loan mấy dòng: “Một người Pháp tên Marie de Mayréna cư ngụ ở cù lao Tioman vừa bị rắn cắn chết trong Tháng Mười Một.”

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Các bằng chứng lịch sử về QĐ Hoàng Sa cần được kiểm tra kỹ lưỡng

Tác giả:  Bill Hayton | Biên dịch: Lê Hoàng Giang
Những lời bình luận của Giáo sư Li Dexia về quần đảo Hoàng Sa đã tóm gọn một cách hữu ích những luận điểm ủng hộ “tuyên bố chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với quần đảo này. Tác giả biết rõ về những luận điểm đó; bài viết của bà vào năm 2003, Đường 9 Đoạn trên Bản đồ biển Nam Trung Hoa của Trung Quốc  (The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea) là một trong những tài liệu đầu tiên nói về quan điểm này của Trung Quốc được viết bằng tiếng Anh.
Tuy nhiên, bài bình luận trên RSIS có tiêu đề Quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa): Vì sao chủ quyền của Trung Quốc là “không thể tranh cãi” (Xisha (Paracel) Islands: Why China’s Sovereignty is ‘Indisputable’) được đăng vào ngày 20 tháng 6 năm 2014 không đưa ra được những bằng chứng nào có thể xác minh được. Sẽ là rất có lợi cho cộng đồng nghiên cứu Biển Đông nếu tác giả hay những bên khác có thể khắc phục được tình trạng này.
Không có bằng chứng thuyết phục
Tác giả cho rằng: “Dựa trên rất nhiều những ghi chép lịch sử của Trung Quốc, có từ ít nhất là thời kỳ Bắc Tống (960-1127 SCN), Trung Quốc đã thực thi chủ quyền và quyền tài phán đối với các quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) một cách hiệu quả”.
Những người ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông thường dẫn ra những tài liệu cổ trong đó nhắc đến “vùng biển” hay “quần đảo”. Theo tôi được biết, không dẫn chứng nào trong số này xác định rõ một đảo hay quần đảo cụ thể nào. Không có cách nào để biết được những đảo được nhắc đến thuộc quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, hay chỉ đơn thuần là một trong hàng trăm hòn đảo nằm cách bờ biển Trung Quốc chỉ vài hải lý.
Tác giả liệu có thể cung cấp dẫn chiếu tới những dòng chữ cụ thể trong những ghi chép lịch sử này hay không? Những ghi chép này có xác định rõ “Tây Sa” và “Nam Sa” bằng tên hay không? Dựa trên những nghiên cứu của mình, tôi tin không có bất kỳ tài liệu chính thức nào của Trung Quốc được ban hành trước năm 1909 mà có sử dụng những cụm từ đó.
Trên thực tế, tôi chưa bắt gặp bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào cho thấy Trung Quốc có quan tâm đến quần đảo Hoàng Sa từ trước năm 1909. Như nhà nghiên cứu người Pháp Francois-Xavier Bonnet đã đưa ra, một tấm bản đồ tỉnh Quảng Đông được phát hành năm 1897 chỉ kéo dài về phía Nam đến đảo Hải Nam. Tình trạng này thay đổi vào năm 1909 khi chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc, vốn đang trỗi dậy, đã bị kích động mạnh mẽ khi phát hiện ra một doanh nhân người Nhật đang khai thác phân chim biển trên quần đảo Đông Sa (Pratas Islands) – nằm giữa Hồng Kông và Đài Loan.
Giai đoạn quan trọng trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa đã bị lược bỏ
Sau khi phát hiện ra sự việc đó, một cuộc thám hiểm tới quần đảo Hoàng Sa đã được Tổng đốc tỉnh Quảng Đông là Zhang Yen Jun tổ chức. Theo lời một ông chủ công ty hàng hải người Pháp, P. A. Lapicque (được ghi lại trong một cuốn sách xuất bản 20 năm sau đó), cuộc thám hiểm của vị tổng đốc được dẫn đường bởi 2 người Đức từ hãng buôn Carlowitz and Company.
Rõ ràng là không có người địa phương nào đảm nhiệm được công việc dẫn đường đó. Đoàn thám hiểm dừng chân tại đảo Hải Nam trong vòng 2 tuần để chờ thời tiết thuận lợi rồi sau đó đi tới Hoàng Sa vào ngày 6 tháng 6 trước khi trở lại Quảng Đông vào ngày hôm sau. Chuyến đi này được coi là cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này.
Lapicque đã tỏ ra nghi ngờ về việc chuyến thám hiểm ngắn ngủi này đã giúp vẽ ra được 15 bản đồ quần đảo Hoàng Sa rất chi tiết. Việc có khả năng đã xảy ra hơn là chính quyền Quảng Đông chỉ đơn thuần sao chép lại những bản đồ của người Châu Âu rồi đặt tên địa danh bằng tiếng Trung Quốc. Đây có thể là nguồn gốc của cái tên “Tây Sa”: dịch lại từ tên tiếng Anh của một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa là West Sand (Bãi cát phía Tây).
Chuyển đến gần thời điểm hiện tại hơn, Giáo sư Li đã sai lầm khi khẳng định rằng, “Tuy nhiên sau khi Nhật Bản đầu hàng [quân Đồng minh] vào năm 1945, quần đảo đã được trao trả lại cho Trung Quốc theo Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Postdam”. Trong cả 2 Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Postdam đều không nhắc gì đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cả. Điều này là bởi vì Pháp khi đó đã vận động hành lang để các nước khác công nhận 2 quần đảo này là lãnh thổ của Pháp, do đó các nước đồng minh đã không đưa ra cam kết gì về chủ quyền của họ trong tương lai.
Giáo sư Li cũng đã bỏ qua một giai đoạn đặc biệt quan trọng trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa. Như chuyên gia người Na Uy Stein Tonnesson đã minh họa một cách đầy thuyết phục, các lực lượng của cả Trung Hoa Dân Quốc và Pháp đã chiếm đóng các đảo khác nhau trên quần đảo Hoàng Sa sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2. Người Trung Quốc đã đến trước, trên đảo Phú Lâm thuộc Nhóm đảo An Vĩnh vào đầu tháng 1 năm 1947. Người Pháp đến vào vài tuần sau đó và, sau khi thấy đảo Phú Lâm (Woody) đã bị chiếm đóng, đã chuyển quân sang đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc Nhóm đảo Lưỡi Liềm.
Tuyên bố chủ quyền lịch sử mơ hồ cần được thẩm định độc lập
Các lực lượng của người Pháp, và sau đó là người Việt Nam tiếp tục nắm quyền kiểm soát đảo Hoàng Sa cho đến khi Trung Quốc chiếm đóng đảo này vào tháng 1 năm 1974. Quân Trung Hoa Dân Quốc đã rời bỏ đảo Phú Lâm vào ngày 4 tháng 5 năm 1950 và phải đến năm 1955 hoặc 1956 các lực lượng Trung Quốc Cộng sản mới thay thế chiếm đóng.
Có rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng cuộc xâm chiếm đảo Hoàng Sa và Nhóm đảo Lưỡi Liềm của Trung Quốc vào năm 1974 đã được lên kế hoạch từ nhiều tháng trước đó, chứ không phải là kết quả không mong đợi của một cuộc va chạm giữa các ngư dân.
Ngày nay, tình hình biển Đông đang rất căng thẳng và để giải quyết được những vấn đề tranh chấp, tất cả các bên cần phải chuẩn bị tham gia thảo luận cởi mở và nghiêm túc. Những dẫn chứng mơ hồ từ những tài liệu cổ xưa là không đủ thuyết phục. Tất cả các bên cần phải cho phép đánh giá độc lập các bằng chứng của mình.
Ngay lúc này, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đang tuyên bố chủ quyền đối với những nhóm đảo lớn như thể chúng là những đơn vị đơn nhất. Nếu từng bên tranh chấp có thể đưa ra bằng chứng chủ quyền cụ thể cho từng cấu tạo riêng lẻ – thay vì cho những nhóm đảo lớn liên quan – thì sẽ có thể xem xét, đánh giá từng cấu tạo một một cách riêng biệt. Khi đó mới có thể bắt đầu giải quyết các tranh chấp.

Bill Hayton là tác giả của cuốn sách Biển Đông: Cuộc đấu tranh giành quyền lực tại châu Á (The South China Sea: the struggle for power in Asia) sẽ được NXB Yale University Press xuất bản vào tháng 9 năm 2014. Ông đóng góp bài viết này riêng cho mục bình luận của RSIS.
http://nghiencuuquocte.net/2014/07/04/cac-bang-chung-lich-su-ve-qd-hoang-sa-can-duoc-kiem-tra-ky-luong/#sthash.TP1LzQ0J.dpuf

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Tàu Trung Quốc tấn công làm chìm tàu của ngư dân Việt Nam

(AP 15/10/2015) Việt Nam hôm nay 15/10/2015 tố cáo Trung Quốc đã đánh chìm một trong những tàu cá Việt Nam đang đánh bắt gần quần đảo tranh chấp tại Biển Đông. Sự cố mới nhất này có thể làm gia tăng căng thẳng giữa hai nước.

 

Ông Phan Huy Hoàng, một viên chức ở Quảng Ngãi cho biết một tàu Trung Quốc đã đâm thẳng vào một tàu đánh cá trên đó có 10 ngư dân gần quần đảo Hoàng Sa hôm 29/9, làm chiếc tàu bị chìm. Các ngư dân được một tàu đánh cá Việt Nam cứu vớt, và vụ này được báo cho chính quyền sau khi các ngư dân trở vào bờ cách đây hai ngày.

 

Ông nói với AP qua điện thoại : « Các hành động tấn công vào ngư dân Quảng Ngãi của Trung Quốc ngày càng hung hăng và tàn bạo hơn ». Trên 20 ngư dân Việt đã bị tàu Trung Quốc tấn công trong năm nay, trong đó có một vụ đánh đắm một tàu cá hồi tháng Bảy.

 

Từ Quảng Ngãi, ông Đặng Dũng, thuyền trưởng chiếc tàu kể lại qua điện thoại, ông cùng với chín thuyền viên đang ngủ sau một đêm thả lưới, thì bị chiếc tàu Trung Quốc đâm vào bên hông con tàu, rồi năm người Trung Quốc nhảy lên tàu. Những kẻ này vũ trang bằng dao, cướp đi các máy móc định vị hàng hải, thiết bị ngư nghiệp và số hải sản đã đánh bắt được. Không rõ những người này có phải từ tàu của chính phủ Trung Quốc hay không.

 

Ông Dũng nói chiếc tàu bị rò rỉ, đến 12 tiếng đồng hồ sau đã bị chìm. Thủy thủ đoàn đã phải trôi nổi nhiều giờ trên biển với áo phao cứu hộ, sau đó được một tàu đánh cá khác của Việt Nam đến cứu.

 

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh tuyên bố : « Chính phủ Trung Quốc có quyền thực thi luật pháp phù hợp với quy định về những tàu thuyền xâm nhập bất hợp pháp » vùng biển – vốn bị Bắc Kinh cho là thuộc chủ quyền của mình.

 

Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết đang điều tra về những cáo buộc của ngư dân, và nhắc lại Hà Nội cực lực phản đối cách đối xử vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam trong bất kỳ tình huống nào. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố : « Nếu có trường hợp như thế - việc hành xử luật nước ngoài gây cản trở cho các hoạt động bình thường và hợp pháp của ngư dân Việt Nam trong khu vực này, chúng tôi sẽ có phản ứng chính thức phù hợp ».

 

Việt Nam và Trung Quốc đều khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Quần đảo này đã bị Trung Quốc chiếm đóng sau trận hải chiến với quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1974, một năm trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.





Tàu Trung Quốc tấn công làm chìm tàu của ngư dân Việt
Việt Nam hôm nay tố cáo một tàu Trung Quốc tấn công làm chìm một tàu cá Việt gần quần đảo Hoàng Sa trong vụ va chạm mới nhất làm căng thẳng thêm tranh chấp chủ quyền giữa hai nước.

Giới hữu trách tỉnh Quảng Ngãi cho hay vụ việc xảy ra hôm 29/9 khi nhóm người có vũ trang phía Trung Quốc cho tàu lao vào hông tàu Việt Nam, tràn qua cướp sạch ngư cụ và máy móc định vị rồi bỏ chạy khiến con tàu Việt bị ngập nước và chìm.

10 ngư dân trên con tàu mắc nạn may mắn kịp mặc áo phao và phát tín hiệu cầu cứu nên không có thiệt hại nhân mạng.

Theo thống kê chưa chính thức đây là vụ tấn công lần thứ 20 của tàu Trung Quốc nhắm vào tàu cá Việt Nam trong năm nay mà phần đông được báo chí nhà nước gọi là các vụ tấn công của ‘tàu lạ.’


Vụ vừa rồi không phải là đâm chìm mà người ta nhảy lên cướp phá và làm phá tàu để tàu bị ngập nước. Sau đó, nó rút lui, tàu mới bắt đầu bị phá nước và chìm. Trong quá trình bị phá nước, tàu Quảng Ngãi đó đã gọi điện và các tàu cá của Việt Nam ở xung quanh tới cứu, chia làm hai tàu, mỗi tàu chở 5 người về đất liền. Chúng tôi đã có văn bản phản đối vụ này.

Như vậy bình quân mỗi tháng có 2 trường hợp tàu Việt bị tàu Trung Quốc tấn công trên biển.  

Việt Nam cần có biện pháp ứng phó thế nào để bảo vệ ngư dân trước đe dọa ngày càng tăng từ Trung Quốc ở Biển Đông? Chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn, Nguyễn Việt Thắng, đã dành cho VOA Việt ngữ cuộc trao đổi về đề tài này.

Ông Nguyễn Việt Thắng: "Vụ vừa rồi không phải là đâm chìm mà người ta nhảy lên cướp phá và làm phá tàu để tàu bị ngập nước. Sau đó, nó rút lui, tàu mới bắt đầu bị phá nước và chìm. Trong quá trình bị phá nước, tàu Quảng Ngãi đó đã gọi điện và các tàu cá của Việt Nam ở xung quanh tới cứu, chia làm hai tàu, mỗi tàu chở 5 người về đất liền. Chúng tôi đã có văn bản phản đối vụ này."

VOA: Vụ việc xảy ra hôm 29/9 vì sao tới hơn nửa tháng sau Việt Nam mới lên tiếng?

Ông Nguyễn Việt Thắng: Chậm là do thông tin của địa phương. Người ta phải báo cáo, xác định cho chính xác rõ ràng vì muốn phản đối cái gì cũng phải chính xác. Thông tin từ địa phương chậm nên chúng tôi phản ứng theo thời gian đó.

VOA: Những lần trước hay nghe nói ‘tàu lạ’ tấn công. Lần này gọi là tàu Trung Quốc nghĩa là đủ chứng cứ xác định rõ ràng?

Ông Nguyễn Việt Thắng: Ngư dân người ta nói rõ là tàu Trung Quốc, nhưng không thấy nói tàu có dấu hiệu, ký hiệu gì.

VOA: Theo phản ánh của ngư dân, dấu hiệu nào giúp họ khẳng định đó là tàu Trung Quốc?

Ông Nguyễn Việt Thắng: Ngư dân có rất nhiều kinh nghiệm, dựa vào hành vi đập phá, đánh người và ngôn ngữ nói chuyện thì họ biết đó là tàu Trung Quốc.


VOA: Đây là lần thứ 20 trong năm tàu Việt bị tàu Trung Quốc tấn công. Hội Nghề cá dự kiến ứng phó thế nào?

Ông Nguyễn Việt Thắng: Chúng tôi kêu gọi bà con đánh cá tập họp theo đoàn, theo đội, thường xuyên liên lạc với đất liền để ứng cứu lẫn nhau. Tuy nhiên, tàu đánh cá không thể đi gần nhau được, và có những ngư trường rộng cho nên việc ứng phó phải có thời gian. Về phía nhà nước, chúng tôi vẫn luôn luôn đề nghị các cơ quan hữu quan như Kiểm ngư và cảnh sát biển, các lực lượng bảo vệ hải phận Việt Nam, có việc gì thì tiếp ứng cho chúng tôi.

VOA: Đề nghị này cho tới nay được đáp ứng thế nào?



Ông Nguyễn Việt Thắng: Chúng tôi kêu gọi bà con đánh cá tập họp theo đoàn, theo đội, thường xuyên liên lạc với đất liền để ứng cứu lẫn nhau...Về phía nhà nước, chúng tôi vẫn luôn luôn đề nghị các cơ quan hữu quan như Kiểm ngư và cảnh sát biển, các lực lượng bảo vệ hải phận Việt Nam, có việc gì thì tiếp ứng cho chúng tôi.

VOA: Biện pháp cụ thể nhất mà Hội Nghề cá mong muốn có trong việc bảo vệ ngư dân là gì?

Ông Nguyễn Việt Thắng: Phải tăng cường sự hiện diện thường xuyên trên các vùng biển nhất là các vùng biển quan trọng như Hoàng Sa-Trường Sa, đặc biệt là các ngư trường lớn như Nam Hoàng Sa, Bắc Trường Sa ra Biển Đông. Phải tăng cường hơn nữa các lượng lượng này. Chúng tôi không nắm được cụ thể lực lượng có bao nhiêu, nhưng mong muốn có sự hiện diện thường xuyên để khi có vấn đề có thể xuất hiện kịp thời hỗ trợ ngư dân và ngăn tàu nước ngoài vào vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Mong muốn là như thế nhưng đáp ứng thì có lẽ số lượng cũng chưa được nhiều.

Nguồn VOA

Trung Quốc lúng túng tìm đối sách chống "tuần tra tự do hàng hải" của Mỹ tại Biển Đông



Báo Thanh Niên đưa tin ngày 15-10-2015, truyền thông nhà nước Trung Quốc đã chỉ trích mạnh mẽ “những hành động khiêu khích không ngừng” của Mỹ ở Biển Đông và cảnh báo Trung Quốc sẽ dùng vũ lực để bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại đây.

<- Nhóm tác chiến tàu sân bay USS Nimitz của Mỹ tham gia một đợt diễn tập ở Biển Đông - Ảnh: US Navy

Trên thực tế, từ chỗ là hoàn toàn thuộc chủ quyền và quản lý của Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc bất ngờ đánh úp chiếm quần đảo Hoàng Sa, đến năm 1989 đánh úp chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam. Khoảng 10 năm gần đây, đặc biệt hai năm qua, Trung Quốc bất ngờ tăng tốc cực kỳ nhanh chóng, ào ạt xây hàng loạt đảo nhân tạo, sân bay, cầu cảng ... ở những khu vực đã chiếm được của Việt Nam trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó, Trung Quốc ngang nhiên công bố đây là khu vực "lợi ích cốt lõi" của mình.

Trong chuyến thăm Mỹ đầu tháng 10/2015, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngang nhiên tuyên bố Hoàng Sa và Trường là của Trung Quốc từ thời ... cổ đại!

Trước tình thế đó, với vai trò (tự nhận) là "lãnh đạo thế giới", dĩ nhiên Mỹ không thể khoanh tay ngồi nhìn Trung Quốc muốn làm gì thì làm, ăn hiếp các nước nhỏ như Việt Nam, Philippine ...

Ngày 12/10/2015, Mỹ chính thức công bố kế hoạch sẽ điều tàu chiến đi vào khu vực 12 hải lý quanh những đảo nhân tạo mà Bắc Kinh xây dựng phi pháp ở quần đảo Trường Sa.

Ngày 13/10/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter khẳng định Mỹ sẽ đưa tàu, máy bay và hoạt động “ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép”, đồng thời khẳng định Biển Đông “chưa và sẽ không là ngoại lệ”.

Tất nhiên, Trung Quốc vô cùng tức giận trước hành động "phá đám" của Mỹ, vì cứ tưởng ngon xơi rồi. Thế mà ...

Trong bài xã luận hôm 15/10/2015, tờ Hoàn Cầu thời báo, ấn phẩm của Nhân Dân nhật báo - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã lên án điều mà họ mô tả là “sự áp bức” của Mỹ, đồng thời nhấn mạnh Trung Quốc sẽ “không dung thứ những vi phạm tràn lan của Mỹ đối với vùng biển kế cận và vùng trời bên trên những hòn đảo đó”.

Bài xã luận “lớn giọng” tuyên bố Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) “sẵn sàng tung những biện pháp trả đũa tùy theo mức độ khiêu khích của Washington”. “Nếu Mỹ vận dụng một cách tiếp cận hung hăng, đó sẽ là sự vi phạm lằn ranh cuối cùng, và Trung Quốc sẽ không ngồi yên. Trung Quốc vẫn bình tĩnh và tự kiềm chế trước các hành động khiêu khích leo thang của Washington nhưng nếu Mỹ xâm phạm những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, quân đội Trung Quốc sẽ không đứng yên và sẽ sử dụng vũ lực để ngăn chặn”.

Trong một bài báo khác đăng cùng ngày, Hoàn Cầu thời báo dẫn lời ông Ngô Sĩ Tồn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải, vạch ra những biện pháp đối phó mà Trung Quốc có thể thực hiện nếu Mỹ bắt đầu tuần tra gần các đảo nhân tạo của Bắc Kinh.

Theo ông này, biện pháp mà Trung Quốc nên thực hiện sẽ theo các nấc thang như sau:

- Đầu tiên là cảnh báo về ngoại giao và quân sự.

- Nếu tình hình leo thang, Trung Quốc có thể điều máy bay bám đuôi máy bay Mỹ để xác định xem có “ý định thù địch” gì hay không ? Sau đó sẽ đẩy đuổi tàu và máy bay Mỹ ra khỏi khu vực.

Bài báo cũng dẫn lời ông Hồ Ba, giáo sư tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược biển thuộc Đại học Bắc Kinh, bình luận rằng cả Trung Quốc lẫn Mỹ vẫn sẽ phải kiềm chế để ngăn ngừa đối đầu bùng phát thành “cuộc chiến toàn diện”. “Trung Quốc nhiều khả năng không để Mỹ yên ổn. Hậu quả khả dĩ sẽ là một cuộc đối đầu quân sự lâu dài tại Biển Đông”.

Tuy nhiên, những lời tuyên bố hùng hồn và có "lửa" như trên chẳng qua cũng chỉ là từ những con người, những nguồn tin không nắm giữ vai trò quyết định gì trong hành động ứng phó thật sự của Trung Quốc. Nói một cách ngắn gọn, phải là từ Tập Cận Bình thì mới "đáng tin cậy". Nhưng nhiều khả năng lãnh đạo Trung Quốc sẽ im lặng một cách khôn khéo, thâm hiểm.

Tuy vậy, qua những gì mà truyền thông và chuyên gia của Trung Quốc đã đưa ra ở trên, đã cho thấy rất rõ là Trung Quốc thực sự e ngại (nếu không muốn nói là sợ) trước uy lực quân sự của Mỹ. Trong tất cả mọi khả năng và tình huống, đều cho thấy tối đa là Trung Quốc sẽ "đuổi", "đẩy" tàu chiến máy bay Mỹ - chứ hoàn toàn không có khả năng nổ súng.

Đặc biệt, Trung Quốc tuyệt đối muốn tránh đối đầu với Mỹ trong một cuộc chiến toàn diện - dù là chỉ ở khu vực Biển Đông.

Trung Quốc cũng đã phải nghĩ tới và buộc lòng chấp nhận một cuộc "đụng độ" liên tục, lâu dài với Mỹ trong tương lai tại khu vực Biển Đông.

Trong khi đó, Mỹ tiếp tục tỏ ra kiên quyết với kế hoạch điều tàu chiến tuần tra gần đảo nhân tạo ở Biển Đông. Theo Reuters, tham mưu trưởng hải quân Mỹ John Richardson hôm 15/10/2015 một lần nữa bảo vệ quan điểm về quyền tự do hàng hải ở vùng biển mà Washington từng tuyên bố có “lợi ích quốc gia” dù không phải là một bên tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. “Việc chúng tôi thực thi quyền tự do qua lại ở nơi luật pháp quốc tế cho phép như Biển Đông không phải là điều ngạc nhiên với bất kỳ ai. Tôi không cho rằng điều này có thể được diễn dịch thành hành động khiêu khích”, ông nhấn mạnh.

Có thể nói, với tinh thần cương quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, Philippine ..., cùng với sự can thiệp của Mỹ trong khu vực, Trung Quốc hầu như không có khả năng chiếm được Biển Đông trong nhiệm kỳ của Tập Cận Bình - dự kiến trong 8 năm tới.

Tuy nhiên, khu vực Biển Đông đã và vẫn sẽ tiếp tục không yên tĩnh, căng thẳng chừng nào mưu đồ bá quyền nước lớn của lãnh đạo cộng sản Trung Quốc vẫn còn.


Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Nhà nước yếu kém khiến đất nước nghèo

Angus Deaton

angusdeaton
Nguồn: Angus Deaton, “Weak States, Poor Countries,” Project Syndicate, 24/09/2013.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Ở Scotland, tôi lớn lên với suy nghĩ về cảnh sát như những người bạn có thể nhờ giúp đỡ khi cần. Cứ tưởng tượng xem tôi đã ngạc nhiên đến thế nào khi trong chuyến đi đầu tiên tới Mỹ năm 19 tuổi, tôi được đón tiếp bằng cả một tràng quát tháo tục tĩu từ một viên cảnh sát New York đang điều khiển giao thông ở Quảng trường Thời đại khi tôi hỏi anh ta đường đến bưu điện gần nhất. Trong cơn bối rối sau đó, tôi đã bỏ tài liệu khẩn của sếp vào một thùng rác mà tôi cứ ngỡ là hòm thư.
Người châu Âu có xu hướng nhìn nhận về chính phủ của mình tích cực hơn so với người Mỹ, những người mà với họ thì sự thất bại và mất lòng dân của các chính trị gia liên bang, tiểu bang, và địa phương là chuyện thường tình. Nhưng cũng chính những cấp chính quyền khác nhau đó của người Mỹ đã thu thuế và, đổi lại, cung cấp những dịch vụ mà nếu không có chúng thì người dân không thể có được một cuộc sống dễ dàng.
Cũng như nhiều công dân của các nước giàu, người Mỹ coi hệ thống pháp lý và hành chính, các trường công lập, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội cho người già; hệ thống đường sá, quốc phòng và ngoại giao, và các khoản đầu tư lớn của nhà nước cho nghiên cứu, nhất là trong y học, là lẽ đương nhiên. Chắc chắn, không phải tất cả những dịch vụ đó đều tốt như mong đợi, hoặc được tất cả mọi người đánh giá cao như nhau; nhưng người dân đa phần vẫn nộp thuế, và nếu tiền của họ bị chi tiêu một cách không làm hài lòng một số người thì một cuộc tranh luận công khai sống động sẽ diễn ra, và rồi các cuộc bầu cử định kỳ cho phép người dân thay đổi các ưu tiên của họ.
Tất cả những điều kể trên là rất rõ ràng đến nỗi gần như không cần phải nói ra – ít nhất là với những ai đang sống ở các nước giàu với một chính phủ hiệu quả. Nhưng với phần lớn dân số thế giới thì không phải vậy.
Ở phần lớn châu Phi và châu Á, các nhà nước thiếu năng lực để thu thuế và cung cấp dịch vụ (hiệu quả). Khế ước giữa chính phủ và người dân – vốn không hoàn hảo ở các nước giàu – thường hoàn toàn vắng bóng ở các nước nghèo. Cảnh sát New York quả là bất lịch sự (và bận rộn hoàn thành nhiệm vụ); nhưng ở nhiều nước trên thế giới, cảnh sát đang cưỡi lên đầu những người mà đáng ra họ phải bảo vệ, bòn rút tiền của của họ hoặc hành hạ họ thay mặt những ông chủ quyền lực của mình.
Ngay cả ở một nước thu nhập trung bình như Ấn Độ, các trường công lập và các bệnh viện công cũng đang phải đối mặt với hàng loạt sự thiếu trách nhiệm (mà không bị trừng phạt). Các bác sĩ tư cung cấp cho mọi người những gì (họ nghĩ là) người dân muốn – tiêm thuốc, truyền tĩnh mạch, và kháng sinh – nhưng nhà nước không quản lý các bác sĩ tư, rất nhiều người trong số đó đang hành nghề mà hoàn toàn không đủ tiêu chuẩn.
Trên khắp các nước đang phát triển, trẻ em tử vong vì chúng được sinh ra sai chỗ – không phải do những căn bệnh quái ác vô phương cứu chữa, mà là do những bệnh nhi phổ biến mà chúng ta đã biết cách điều trị từ gần một thế kỷ nay. Nếu không có một nhà nước có khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em thường xuyên, đám trẻ đó sẽ tiếp tục chết.
Tương tự, nếu chính phủ không có năng lực, việc đưa ra và thực thi các quy định sẽ không có hiệu quả, từ đó các doanh nghiệp sẽ khó hoạt động. Nếu không có các tòa án dân sự hoạt động đúng chức năng, sẽ không có gì đảm bảo các doanh nhân sáng tạo có thể gặt hái được thành quả từ những ý tưởng của mình.
Sự thiếu vắng năng lực nhà nước – nghĩa là thiếu những dịch vụ và sự bảo hộ mà người dân ở các nước giàu coi là lẽ đương nhiên – là một trong những nguyên nhân chính gây ra nghèo đói và thiếu thốn trên thế giới. Nếu không có các nhà nước hiệu quả cùng làm việc với các công dân tham gia tích cực, sẽ có rất ít cơ hội cho sự phát triển vốn cần thiết để xóa bỏ nghèo đói trên toàn cầu.
Thật không may, các nước giàu của thế giới đang làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Viện trợ nước ngoài – các khoản chuyển giao ngân sách từ các nước giàu sang nước nghèo – đáng được ghi nhận, đặc biệt là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, với nhiều người đang sống ngày nay sẽ chết nếu không có nó. Nhưng viện trợ nước ngoài cũng làm suy yếu sự phát triển của năng lực nhà nước địa phương.
Điều này thể hiện rõ nhất ở các nước – chủ yếu ở châu Phi – nơi chính phủ nhận được viện trợ trực tiếp và các dòng viện trợ là tương đối lớn so với chi tiêu ngân sách (thường là nhiều hơn một nửa tổng chi). Những chính phủ như vậy không cần một bản khế ước với công dân của họ, không quốc hội, không có cả hệ thống thu thuế. Nếu họ có trách nhiệm với bất cứ ai, thì đó là những nhà tài trợ; nhưng ngay cả điều này cũng thất bại trong thực tế, bởi những nhà tài trợ, dưới áp lực từ công dân của chính họ (những người muốn giúp đỡ người nghèo một cách chính đáng), cũng cần giải ngân tiền hệt như chính phủ các nước nghèo cần nhận nó, nếu không nói là nhiều hơn.
Nếu bỏ qua các chính phủ và trao viện trợ trực tiếp đến tay người nghèo thì sao? Chắc chắn, những tác động tức thì nhiều khả năng sẽ tốt hơn, nhất là ở những nước nơi viện trợ liên chính phủ rất ít tới tay người nghèo. Và chỉ cần một khoản tiền nhỏ đến kinh ngạc – khoảng 0,15 USD/ngày từ mỗi người lớn ở các nước giàu – là đủ để đưa tất cả mọi người lên ít nhất là ngưỡng nghèo cùng cực, tức 1 USD/ngày.
Nhưng đây không phải là giải pháp. Người dân nghèo cần chính phủ để dẫn dắt họ tới một cuộc sống tốt hơn; đưa chính phủ ra khỏi vòng tròn tương tác có thể cải thiện tình hình trong ngắn hạn, nhưng như vậy các vấn đề nền tảng vẫn chưa được giải quyết. Dịch vụ y tế của các nước nghèo không thể mãi hoạt động từ nguồn vốn nước ngoài. Viện trợ làm suy yếu những gì người nghèo cần nhất: một chính phủ hiệu quả cùng làm việc với họ cho ngày hôm nay và cho mai sau.
Một điều mà chúng ta (người dân các nước giàu) có thể làm là vận động chính phủ thôi làm những điều khiến các nước nghèo khó khăn hơn trong việc thoát nghèo. Giảm viện trợ là một cách, nhưng cũng cần hạn chế buôn bán vũ khí, cải thiện các chính sách thương mại và trợ cấp của các nước giàu, cung cấp tư vấn kỹ thuật không ràng buộc với viện trợ, và phát triển những loại thuốc tốt hơn cho các căn bệnh không ảnh hưởng tới người giàu. Chúng ta không thể giúp người nghèo bằng cách khiến chính phủ vốn đã yếu của họ trở nên yếu hơn.
Angus Deaton, chủ nhân giải Nobel Kinh tế năm 2015, là Giáo sư ngành Kinh tế và các vấn đề quốc tế tại Viện Đại học Princeton, Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốn The Great Escape: Health, Wealth, and the Origins of Inequality.
Copyright: Project Syndicate 2013 – Weak States, Poor Countries
Nguồn Nghiên cứu Quốc tế