Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Người nghèo bất an

Một “đại gia” bất động sản ở TP.HCM mới đây đã phát biểu: “người nghèo sống với nhau vui hơn, chứ người nghèo ngồi gần ông nhà giàu đi xe xịn, ăn mặc xịn thì mặc cảm. Chúng ta nên cách ly ra, có một khu vực riêng cho người thu nhập thấp...”.  Phát ngôn gây sốc này ngay lập tức đã bị dư luận phê phán. Song cũng hé lộ nhiều vấn đề quan ngại trong xã hội dẫn tới tình trạng phân hóa giàu nghèo đang ngày càng trở nên gay gắt,  bất chấp các nỗ lực của chính quyền thực hiện mục tiêu giảm nghèo.

Các con số thống kê chính thức gần đây cho thấy thu nhập bình quân đầu người  (GDP) ở Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015 đã tăng lên gấp đôi. Cụ thể năm 2015, ước tính thu nhập bình quân là 2.228 USD, gần gấp đôi con số 1.168 USD/người của năm 2010. Năm 2020, dự tính con số này sẽ là 3.750 USD. Điều này có nghĩa là vào năm 2020, người Việt Nam trung bình sẽ giàu lên gấp ba lần so với 10 năm trước.

Nếu đơn giản chỉ là chuyện so sánh sự phát triển theo chiều tăng lên của những con số thì quả là thành tích đáng vui mừng. Song, sau gần 30 năm đổi mới, chúng ta đã có quá nhiều trải nghiệm cũng như tư duy thực tiễn tới mức bắt đầu nhận ra rằng GDP chưa hẳn đã là thước đo duy nhất và đầy đủ để đánh giá chất lượng của sự phát triển. Chúng ta dần dần đã nhận ra rằng mọi thứ phức tạp hơn vẻ đẹp đơn giản của cái đồ thị GDP đang ngày càng đi lên kia. Có thể so sánh việc chỉ dùng GDP làm thước đo cho hiệu quả hoạt động của chính quyền và nền kinh tế thì cũng giống như dùng duy nhất trọng lượng cơ thể để đánh giá về sự phát triển của một đứa trẻ, bao gồm cả phát triển thể lực, tinh thần, trí tuệ, kỹ năng xã hội.

Chúng ta không thể đảo ngược quá trình hội nhập đã và đang mang lại những cơ hội rất lớn cho sự phát triển của đất nước. Đồng thời cũng không thể phủ nhận một nguy cơ thực tế sẽ đồng hành cùng quá trình đó:  sự phân hóa ngày càng gay gắt của nền kinh tế – xã hội, trong đó có sự  phân hóa giàu – nghèo. Trên bình diện quốc gia, để thúc đẩy kinh tế phát triển, rõ ràng phải chấp nhận một mức độ bất bình đẳng trong thu nhập mới tạo động lực cho mọi người đua tranh làm giàu. Nhưng cái làm nên tính chính đáng của nhà nước là những nỗ lực không ngừng nghỉ để làm sao mọi người dân có cơ hội thoát nghèo,  làm giàu chính đáng như nhau. Đồng thời cũng có quyền thụ hưởng một cách công bằng những thành quả của phát triển.

Thống kê từ nguồn điều tra lao động của Ngân hàng Thế giới cho biết năm 2014, trong toàn bộ lực lượng 52,6 triệu lao động của Việt Nam, có 22,5 triệu (chiếm 43%) lao động nông nghiệp, 18,7 triệu (chiếm 36%) lao động làm công ăn lương và 11 triệu (chiếm 21%) tự doanh trong khu vực phi nông nghiệp.  Trong suốt ba mươi năm từ ngày đổi mới, nông nghiệp, dù được coi là bệ đỡ, là tấm đệm của mọi khủng hoảng và suy giảm kinh tế, vẫn là khu vực tăng trưởng chậm nhất. Tệ hơn nữa, trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng của khu vực này còn tiếp tục “giảm dần đều” khi trung bình giai đoạn 2011-2014, tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 3,3 % và chín tháng đầu năm 2015 còn 2,08%. Chiếm gần phân nửa lực lượng lao động, trong khi tốc độ tăng trưởng ngày càng giảm sút, không khó để nhận ra, thu nhập, và theo đó là mức sống của khu vực nông thôn đã tụt lại như thế nào so với đà tăng chung của cả nước.

 Vì thế, con số tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người theo báo cáo, chưa hẳn là đã đáng vui mừng nếu nhìn sâu vào đằng sau con số đó. Phần chuyên đề về “Bất bình đẳng” trong Báo cáo cập nhật về phát triển kinh tế Việt Nam 2014 của Ngân hàng Thế giới chỉ rõ mức độ bất bình đẳng đang gia tăng đến mức đáng lo ngại trong thu nhập của các nhóm người dân. So sánh mức tăng thu nhập giữa 40% dân số nhóm dưới, và 60% dân số thuộc nhóm trên, có thể nhận thấy khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm đang giãn rộng ra. Điều này càng được khẳng định bằng số xe siêu sang, xe sang nhập về Việt Nam đã không ngừng tăng thêm, kể cả trong những thời điểm nền kinh tế được xem là khó khăn nhất.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan mới đây cũng cho rằng khoảng cách giàu - nghèo ở Việt Nam đang tăng lên, tốc độ tăng không kém so với việc giảm nghèo. Cũng theo bà Lan, có một thứ tạo nên bức tranh chênh lệch giàu - nghèo kinh khủng mà thước đo về bình quân thu nhập đầu người (GDP) hoàn toàn vô nghĩa. Đó là tài sản của công chức. Thu nhập chính thức của công chức không lớn, nhiều khi không đủ sống. Nhưng thực tế biết bao công chức ở trung ương, địa phương có nhà lầu, xe hơi, có con đi học nước ngoài tự túc... Và vấn đề là tiền ở đâu ra?

Bà Phạm Chi Lan thẳng thắn nhận định: “Làm sao tăng trưởng bền vững được nếu trong xã hội còn tình trạng như vậy? Người nghèo bị dồn vào thế cùng cực, có những người nghèo truyền kiếp không thoát ra được. Trong khi một số ít lại hưởng lợi quá nhiều trên sự cùng cực đó, nhởn nhơ, thậm chí gây phương hại cho cộng đồng. Với doanh nghiệp, người ta bất bình vì anh thân quen, anh được hưởng lợi từ chính sách, tước đoạt cơ hội của người khác, gây hậu quả về tài nguyên, môi trường. Với công chức, người dân căm phẫn vì tham nhũng. Một số quan chức không từ thủ đoạn nào kể cả lấy tiền từ dự án của người nghèo. Bất an là ở chỗ đó, chứ không phải người ta ganh tỵ với người giàu. Cái nghèo khi đi cùng tham nhũng, sự kém cỏi của bộ máy sẽ nhân lên và tạo nên những bất ổn xã hội”.


Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Hoa Kỳ tiết lộ vụ Hoàng Sa

  

Chính phủ Hoa Kỳ đã cho tiết lộ hai tài liệu mật liên quan đến quan điểm của Hoa Kỳ về Hoàng Sa và Trường Sa, đó là biên bản hai cuộc họp về vấn đề Ðông Dương ngày 25/1/1974 và ngày 31/1/1974 do ngoại trưởng Henry Kissinger chủ trì.

Trước khi trình bày về tài liệu này, để độc giả có thể nắm được vấn đề một cách dễ dàng, chúng tôi xin nói qua về tương quan lực lượng giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và quân đội Trung Quốc khi biến cố Hoàng Sa xảy ra và lý do tại sao Hoa Kỳ từ chối không yểm trợ cho Hải Quân và Không Quân VNCH chống lại Trung Quốc.

Tương quan lực lượng

Tính đến năm 1975 Hải Quân VNCH có quân số lên tới 39.000 người, gồm 1611 tàu thuyền đủ loại, được phân thành 5 vùng Duyên Hải, hai vùng Sông Ngòi và một hạm đội Tuần Duyên với 83 chiến hạm đủ loại. Những chiến hạm có thể chiến đấu trên biển gồm các loại sau đây: 2 khu trục hạm, 7 tuần dương hạm, 8 hộ tống hạm, 9 tàu đổ bộ và 4 tàu trợ chiến. Với lực lượng như thế, Quân Lực VNCH không thể huy động để chống lại được quân Trung Quốc trên biển hay sao?

Sở dĩ QL/VNCH không thể chống lại Trung Quốc vì các lý do sau đây:
Quân đội Trung Quốc vượt trội hơn Quân Lực VNCH về cả hải quân lẫn không quân. Trong trận Hoàng Sa, lực lượng hai bên chênh lệch một cách rõ rệt: Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng Hải Quân hùng hậu gồm hơn 16 chiếc đủ loại, từ tàu đánh cá ngụy trang Nan Yu cho đến hai 2 chiến hạm loại Hainan 281 và 282, 2 chiến hạm loại Jiangnan 27 và 274 và 4 phi tiển đỉnh Komar mang số 133, 137, 139, 145. Trong khi đó, lúc đầu HQ/VNCH chỉ có tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16. Những ngày tiếp theo VNCH mới tăng cường thêm các chiến hạm HQ 4, HQ 5 và HQ 10.

Trung Quốc đã huy động cả hải lục không quân để áp đảo, trong khi VNCH không thể huy động không quân vì Hoa Kỳ từ chối giúp đỡ (chúng tôi sẽ nói sau).

Vì quyết chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã hoạch định một kế hoạch hành quân chu đáo: khi lâm trận, họ đã áp dụng chiến thuật “cài răng lược” khiến HQ/VNCH không thể xoay trở được khiến bị trúng kế địch.

Tuy các chiến hạm Trung Quốc chỉ trang bị đại bác 100 ly (3.9 in.) hay đại bác 85 ly (3.5 in), còn chiến hạm HQ 16 của VNCH có đại bác 127 và HQ 10 có đại bác 76,2, nhưng Trung Quốc áp dụng chiến thuật bám sát các chiến hạm của VNCH trong khoảng cách gần, nên đại bác của HQ/VNCH không sử dụng được.

Cho dù cuộc chiến xảy ra ở tầm xa, HQ/VNCH cũng không thể thắng được vì khi thực hiện “Việt Nam hóa” chiến tranh theo đúng lịch trình của kế hoạch “Accelerated Turnover to the Vietnamese” (ACTOV), Hoa Kỳ có giao cho VNCH một số chiến hạm nhưng họ đã gỡ đi các giàn phóng phi đạn được trang bị trên đó, trong khi nhiều chiến hạm Trung Quớc có trang bị giàn phóng phi đạn và được không quân yểm trợ. Tóm lược các diễn biến:

Các bài viết về trận đánh Hoàng Sa có quá nhiều với những cách nhìn khác nhau, chúng tôi chỉ xin ghi lại các nét chính.

Trong cuốn hồi ký “Can trường trong chiến bại”, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh hải quân Vùng I Duyên Hải, người chỉ huy trận đánh Hoàng Sa, kể lại rằng ngày 15/1/1974, trung tá Lê Văn Thự, hạm trưởng tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 được lệnh đưa địa phương quân và nhân viên khí tượng ra Hoàng Sa thay toán ngoài đó đã hết nhiệm kỳ. Có hai sĩ quan công binh đi theo để sửa cầu tàu. Ông Jerry Scott, thuộc văn phòng Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Ðà Nẵng, cũng xin cho một viên chức Mỹ là Gerald Kosh đi theo để biết Hoàng Sa. Nhưng khi người nhái của VNCH đổ bộ lên các đảo Duncan và Drummond thì đụng ngay một toán quân Trung Quốc ở trên đó.

Ngày 17-1, chiến hạm HQ 16 báo cáo hai tàu đánh cá của Trung Quốc không tuân lệnh ra khỏi lãnh hải VNCH. Sau đó, lại có thêm hai tàu Trung Quốc chở quân tới gần đảo và đã có nhiều cờ Trung Quốc trên bờ. Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn đã phái thêm khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 do trung tá Vũ Hữu San ra tăng cường. Sau đó hai chiến hạm Trần Bình Trọng HQ 5 và Nhật Tảo HQ 10 cũng được gởi ra Hoàng Sa. Chiều 18-1, các chiến hạm của hai bên chạy kế ngang nhau và chỉa súng vào nhau.

Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã liên lạc với Bộ Tư Lệnh Hải Quân tại Sài Gòn xin cho biết có đơn vị nào của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ ở trong vùng hay không. Tin tức xác nhận các chiến hạm Hoa Kỳ đang ở rất gần các chiến hạm VNCH.

Lúc 10 giờ ngày 19/1/1974, đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy chiến thuật (OTC) tại mặt trận, đang ở trên soái hạm Trần Bình Trọng HQ 5, báo cáo các chiến hạm hai bên đang ở vị trí quá gần nhau trong thế “cài răng lược”. Toán đổ bộ của chiến hạm HQ 16 được lệnh trở ra chiến hạm. Khi toán đổ bộ đang dùng thuyền cao su chèo ra khơi thì trận chiến bùng nổ.
Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải được tùy viên quân sự Hoa Kỳ cạnh Hải Quân Vùng I cho biết có khoảng 17 chiến hạm Trung Quốc và 4 tàu ngầm đang hướng về Hoàng Sa. Ông ta cũng cho biết các phản lực cơ chiên đấu của Trung Quốc sắp cất cánh từ đảo Hải Nam để tấn công các chiến hạm của VNCH tại Hoàng Sa.

Trận hải chiến chỉ kéo dài trong hơn 30 phút. Các chiến hạm VNCH không đuổi theo các chiến hạm Trung Quốc và các chiến hạm Trung Quốc cũng không đuổi theo các chiến hạm VNCH. Không chiến hạm nào của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ tiến vào nơi có cuộc giao tranh.
Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ 10 bị bắn chìm, thiếu tá Ngụy Văn Thà với 24 quân nhân khác bị tử thương, 26 người mất tích, 23 thủy thủ trôi dạt được tàu của hãng Shell vớt.

Hai khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 và Trần Bình Trọng HQ 5 bị hư hại, mỗi chiến hạm có hai chiến sĩ bị tử thương.

Tuần dương hạm HQ 16 do trung tá Lê Văn Thự chỉ huy, bị trúng đạn nghiêng một bên, được lệnh quay về Ðà Nằng, có một chiến sĩ bị thương và 16 chiến sĩ khác trôi dạt trên thuyền cao su về đến Quy Nhơn.

Có 43 người đã bị bắt làm tù binh, trong đó có ông Gerald Kosh, được đưa về Quảng Châu, sau đó được trao trả cho VNCH qua Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế.

Về phía Trung Quốc, hộ tống hạm Kronkstad 274 bị chìm, hộ tống hạm Kronkstad 271 và hai trục lôi hạm 389 và 396 bị hư hại nặng, các sĩ quan chỉ huy là Vương Kỳ Uy, Triệu Quát và Diệp Mạnh Hải đều bị tử trận.

Mỹ từ chối yểm trợ

Có một điều quan trọng mà phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại không biết đến, đó là Hoa Kỳ đã từ chối yểm trợ VNCH trong trận chiến Hoàng Sa.

Ngày 18/1/1974, Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH biết rõ hàng không mẫu hạm USS Enterprise của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ đang có mặt trong vùng gần Hoàng Sa. Phó đề đốc Diệp Quang Thủy, tham mưu trưởng Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã hỏi đại tá Kussan, tùy viên quân sự Mỹ tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân rằng phi cơ chiến đấu của Việt Nam khi đi tác chiến tại Hoàng Sa có thể hạ cánh xuống hàng không mẫu hạm USS Enterprise để xin tiếp tế nhiên liệu được không ? Phó đề đốc Thủy cho biết Ðà Nẵng cách Hoàng Sa trên 150 hải lý, do đó, phi cơ chiến đấu sẽ không đủ nhiên liệu để có thể vừa đi vừa về, nếu phải mang theo hai bình xăng thì không thể tác chiến được.

Sau khi trao đổi với Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, đại tá Kussan đã trả lời cho phó đề đốc Diệp Quang Thủy như sau: Các chiến hạm Mỹ không thể tiếp tế cho Quân Lực VNCH vì hai lý do sau đây:

Lý do thứ nhất, Hiệp Ðịnh Paris cấm Hoa Kỳ không được tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam (điều 4).

Lý do thứ hai, Luật War Power Act ngày 2/9/1973 cấm Hoa Kỳ sử dụng lực lượng quân sự ở Ðông Dương. Vì thế, các chiến hạm Hoa Kỳ không thể tiếp tế nhiên liệu cho các chiến đấu cơ VNCH được. Các chiến hạm Hoa Kỳ chỉ có thể cứu giúp quân đội VNCH khi bị các tai nạn mà thôi. Tuy nhiên, đó phải là các tai nạn bình thường, còn các tai nạn do chiến đấu, các chiến hạm Hoa Kỳ cũng không thể cứu giúp được.

Cần lưu ý, trong thời gian còn chiến tranh Việt Nam, Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (The US Military Assistance Command, Vietnam – MACV) là cơ quan chỉ huy quân sự thống nhất của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, sau Hiệp Ðịnh Paris, cơ quan này bị hủy bỏ và được thay thế bằng Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (Defense Attach Office – DAO) kể từ ngày 28-1-1973, do đó không còn các cố vấn Mỹ nữa mà chỉ còn các tùy viên quân sự.

Quan điểm của Hoa Kỳ quá rõ

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, theo tài liệu Hoa Kỳ vừa công bố, trong hai cuộc họp do ngoại trưởng Kissinger chủ trì ngày 25/1/1974 và ngày 31/1/1974, tức sau khi Hoàng Sa bị mất, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa đã được đưa ra bàn cãi. Nội dung tài liệu này đã được đài BBC trình bày ngày 3/10/2011, chúng tôi xin ghi lại những điểm quan trọng sau đây:

1. Về trận đánh Hoàng Sa

Ðô đốc Thomas H. Moorer, chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân: “Chúng ta đã tránh xa vấn đề”.
Ngoại trưởng Kissinger: “Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?”.
Ðô đốc Moorer: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác cũng có cùng vấn đề – đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó”.
Ngoại trưởng Kissinger: “Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?”.
Ðô đốc Moorer: “Một đội tuần tra của Nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Ðó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm. Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó. Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui”.

2. Quan điểm của Hà Nội

Ngoại trưởng Kissinger: “Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?”.
William Colby, giám đốc CIA: “Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào”.
William Smyser, thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia: “Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực”.
Ngoại trưởng Kissinger “Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?”.
Ðô đốc Moorer: Tôi nghĩ họ lo lắng.
William Colby: “Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó”.
Ông Clements, thứ tưởng quốc Phòng: “Ðừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Ðó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng”.
Ðô đốc Moorer: “Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong Thế chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Quốc kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Philippines có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy.
Sau đó, Ðô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: “Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực”.

3. Chuyện bảo vệ Phillippines

Trong một cuộc họp ngày 31/11/974 tại Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, ngoại trưởng Kissinger được thông báo: “Không có dấu hiệu Trung Quốc định tiến về Trường Sa. Dẫu vậy, có sự lo ngại đáng kể từ phía Nhật, Philippines và đặc biệt là Nam Việt Nam, mà theo tin báo chí thì hôm nay đã gửi đoàn 200 người ra chiếm một số hòn đảo lâu nay không ai ở trong khu vực Trường Sa.
“Ðài Loan đã chiếm ít nhất một đảo và Trung Quốc cũng vậy.
“Trong bối cảnh này, Philippines đã hỏi Mỹ liệu Hiệp Ước An ninh Mỹ – Philippines có được áp dụng hay không nếu quân Philippines kéo ra Trường Sa và bị Trung Quốc tấn công”.
Các quan chức Mỹ có mặt trong cuộc họp đồng ý rằng không có câu trả lời rõ rệt và họ muốn để ngỏ sự mơ hồ trong câu trả lời cho Philippines.
Một người trong cuộc họp, ông Hummel, nói: “Tạp âm xung quanh các tuyên bố của chúng ta về những hòn đảo này hẳn đã đủ cho người Philippines hiểu rằng chúng ta không có ý định hay chúng ta không muốn”.
Ngoại trưởng Kissinger kết luận: “Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ”.

Một vài nhận xét

Qua các sự kiện vừa được trình bày nói trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Hoa Kỳ không muốn can dự vào các tranh chấp về chủ quyền trên Biển Ðông vì sợ đụng chạm với Trung Quốc, nơi Hoa Kỳ có rất nhiều quyền lợi.
Mặc dầu trong chuyến viếng thăm Á Châu vừa qua, tổng thống Obama đã cho các quốc gia trong vùng hiểu rằng Mỹ sẽ “bao vây” Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quân sự, nhưng trong cuộc họp báo hôm 8/12/2011 tại Bắc Kinh, kết thúc cuộc đối thoại quốc phòng thường niên Mỹ-Trung, bà Michele Flournoy, thứ trưởng bộ quốc phòng Hoa Kỳ, khẳng định việc Washington tăng cường các liên minh quân sự tại Á Châu không nhằm mục đích “ngăn chặn” Trung Quốc.
Giữa Philippines và Mỹ có hiệp ước ngày 30/8/1951 bảo vệ các hòn đảo, tàu thuyền và máy bay của Philippines trên Thái Bình Dương khi bị tấn công, nhưng khi có đụng độ, Philippines có thực sự được bảo vệ hay không là vấn đề khác. Ngoại trưởng Kissinger đã nói rất rõ: “Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ”.
Bản tin của đài VOA ngày 24/6/2011 cho biết trong cuộc họp ngày 23/6/2011, ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, nói với ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario rằng Hoa Kỳ cam kết bảo vệ Philippines giữa lúc xảy ra vụ tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa. Nhưng tờ Philippines Daily Inquirer dẫn lời giáo sư Pacifico Agabin, cựu khoa trưởng luật khoa của Ðại học Philippines, cho biết nội dung của bản hiệp ước ký năm 1951 ghi rõ Mỹ không tự động bảo vệ Philippines một khi có xung đột trên biển Ðông. Ðiều 4 của hiệp ước này quy định trong trường hợp xảy ra tấn công trên Thái Bình Dương, tổng thống Mỹ phải được sự chấp thuận của Quốc hội mới tiến hành điều quân.
Hoa Kỳ từ chối tiếp tế xăng cho các phi công VNCH để tác chiến ở Hoàng Sa và nói rất rõ lý do tại sao Hoa Kỳ không thể làm như vậy. Ðiều này chứng tỏ Hoa Kỳ không còn muốn dính líu gì đến miền Nam Việt Nam nữa. Nhưng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người được Mỹ đưa lên cầm quyền ở miền Nam, quá yếu kém về chính trị, không thể hiểu được như vậy. Ông cứ nằng nặc đòi thêm viện trợ và cuối cùng chơi trò “tháu cáy”, rút khỏi Cao Nguyên và miền bắc Trung phần, để Mỹ hoảng sợ miền Nam mất, phải nhảy vào. Nhưng Mỹ đã không can thiệp khiến miền Nam bị sụp đổ một cách nhanh chóng, gây tang thương cho không biết bao người. Tôi ấy trời khó dung và đất khó tha.

Tất cả các sự kiện được trình bày nói trên cho thấy cả Việt Nam lẫn Philippines phải tự lo lấy thân phận mình, đứng trông chờ ở Mỹ. 

Lữ Giang

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Vua Quang Trung dự định đánh nhà Thanh

slide-tuongdaiquangtrung
Tác giả: Hồ Bạch Thảo
Việc vua Quang Trung nước ta chuẩn bị đánh nhà Thanh không còn nằm trong huyền thoại; chính vua Gia Khánh đã có những bằng cớ như: giấy tờ, ấn triện do vua Quang Trung cấp cho bọn giặc Tàu Ô. Ngoài ra cung từ của các tù nhân đều khai rằng lực lượng này có đến 12 viên Tổng binh và hơn 100 hiệu thuyền:
Ngày 9 tháng Giêng năm Gia Khánh thứ 2 [5/2/1797]
Dụ các Quân Cơ Đại thần. Bọn Cát Khánh dâng tấu triệp về việc thẩm tra tù phạm cướp biển, nội dung như sau:
“Điều tra về vùng đất Giang Bình; hiện nay có bọn giặc gốc Phúc Kiến, Quảng Đông, An Nam tụ tập tại đó. Nếu muốn báo cho An Nam biết, thì lúc này nên thông báo cho họ v.v…”
Suy nghĩ kỹ việc này rất khó. Nếu như viên Quốc vương không biết về vụ giặc cướp, thì nên thông báo để hợp đồng cùng bắt. Nay điều tra bọn giặc La Á, cả ba bọn chúng đều cung xưng Tổng binh Tàu Ô An Nam có 12 người, hơn 100 hiệu thuyền; lại căn cứ vào giấy tờ bắt được có ấn triện, thì bọn cướp Tàu Ô đều do viên Quốc vương phong tước, việc ra biển cướp bóc viên Quốc vương không thể không biết. Vậy nếu bảo phối hợp bắt giặc cướp, làm sao bọn họ chịu nghe lời! Vả lại dân nội địa [Trung Quốc] ra ngoài biển làm giặc, quan không cấm được, huống hồ là dân ngoại di! Nếu An Nam dùng lý do đó để bào chữa, thì lấy gì để biện luận? Hoặc đáng vì việc này mà gây hấn, rồi mang quân đánh nước họ ư!
Bọn Cát Khánh chỉ nên thông sức thuộc hạ tầm nã tại mặt biển 3 tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Chiết Giang; nếu tàu thuyền của di địch xâm phạm vào, thì không luận quan chức nào của An Nam cũng đều nghiêm trị.
Tái bút: Từ nay trở về sau bắt được giặc cướp An Nam, thẩm tra minh bạch rồi lập tức cho chính pháp [xử tử]; không cần phải giải về kinh, để bớt được sự phiền phức trạm dịch phải giải tống. Nay đem dụ truyền để hay biết. [1]
Sau khi viên Tổng binh Tàu Ô Trần Thiêm Bảo đầu thú, nạp cả sắc do vua Quang Trung ban cho. Đọc sắc phong này, vua Gia Khánh phẫn nộ, dùng những lời nặng nề miệt thị vua Quang Trung:
Ngày 14 tháng Một năm Gia Khánh năm thứ 6 [19/12/1801]
Dụ các Quân Cơ Đại thần: Bọn Cát Khánh tâu “Cướp biển Trần Thiêm Bảo mang cả gia quyến đầu thú, lại trình nạp sắc ấn của An Nam cấp cho.” Tấu triệp xưng “Trần Thiêm Bảo nhân đánh cá gặp bão, vào năm Càn Long thứ 48 [1783 ] bị Nguyễn Quang Bình bắt, phong chức Tổng binh v.v…”; có thể thấy trong nhiều năm hải tặc quấy phá đều do An Nam chứa chấp gây ra. Lúc Nguyễn Quang Bình còn sống, bắt người của nội địa, gia phong ngụy tước hiệu, rồi tung ra biển cướp phá. Nguyễn Quang Bình đích thân chịu ơn nặng của Hoàng khảo [2] , làm việc táng tận lương tâm, thực không đáng là con người. Nay duyệt lại tờ ngụy chiếu của viên Quốc vương này có câu “Thị thiên hạ như nhất gia, tứ hải như nhất nhân 視 天 下 如 一 家, 四 海 如 一 人.” [Coi thiên hạ như một nhà, bốn biển như một người]; thật thuộc vào loại ếch ngồi đáy giếng, giống như nước Dạ Lang ngu dốt tự cho mình là to lớn! [Dạ Lang tự đại][3] . Nghĩ về sự cuồng vọng này, đáng mang quân hài tội thảo phạt; hiềm nước này hiện đang giao tranh với Nông Nại [4] ; nên không thừa lúc nguy cấp sát phạt thêm. Xét về lẽ trời, nước này sẽ mất trong sớm tối; nên không cần dùng văn để bắt hối lỗi, cũng không cần thông báo cho biết; những ấn sắc của bọn chúng cấp, lệnh cho thiêu hủy. Viên Tổng đốc nên nghiêm lệnh tướng biền, tuần tiễu ngoài biển, gặp bọn hải tặc An Nam, lập tức truy nã trừng trị. Bọn đầu thú Trần Thiêm Bảo, cùng quyến thuộc bọn giặc, y theo lời xin của viên Tổng đốc, an sáp tại phủ Nam Hùng nơi xa vùng biển. Thỉnh thoảng bất ngờ kiểm tra, không để chúng trở lại biển gây sự. Đem dụ này truyền đi để hay biết. [5]
Bốn chữ “Dạ Lang tự đại ” Gia Khánh gán cho nước ta, ý khinh bỉ một nước nhỏ bé dám ôm mộng xâm lăng Thiên triều! Người mình cũng có những kẻ ngầm đồng ý theo lời khinh thị đó; họ mang sẵn mặc cảm tự ty, cho rằng bất luận cái gì người Tàu cũng hơn ta: về thuốc không cần để ý đến môn thuốc gì, trị bệnh nào, hễ thuốc Bắc thì hay hơn thuốc Nam; về thơ, không thèm để ý đến tác giả, tác phẩm nào, hễ thơ Tàu tất hay hơn thơ Việt; theo họ nước ta đánh Tàu chẳng khác gì trứng chọi với đá !
Khác với thiểu số nêu trên, những người tự tin, nhẫn nại thu thập sự kiện, cố gắng phân tích so sánh một cách có khoa học, để tìm ra kết luận đúng đắn. Nhưng chúng ta đều biết vua Quang Trung mất sớm, không có dịp thi thố tài năng; vậy dựa vào cơ sở nào nghiên cứu, để tìm kết luận cho một trường hợp chưa xảy ra?
Đọc sử Trung Quốc, được biết cuộc nổi dậy của Thái bình Thiên quốc tuy xa cách thời vua Quang Trung hàng nửa thế kỷ, nhưng cùng chia sẻ những nét đặc trưng về bối cảnh lịch sử. Thái bình Thiên quốc đưa ra những khẩu hiệu như Thiên yếm Mãn Thanh [trời ghét Mãn Thanh] Quan bức dân biến [quan áp bức bóc lột, dân nổi dậy]; thì cũng là trọng bệnh của nhà Thanh trong giai đoạn vua Quang Trung chuẩn bị sang đánh. Bởi vậy chúng tôi làm công việc so sánh hai cuộc chiến đấu, để mong tìm một kết luận về dự định của vua Quang Trung.
Trước hết xin nêu lên một vài nét sơ lược về Thái bình Thiên quốc (1851-1864). Người cầm đầu Thái bình Thiên quốc, Hồng Tú Toàn, là một thầy đồ theo đạo Thiên chúa; dựa vào một vài kiến thức về đạo này, lập Thượng đế Giáo. Nhân mất mùa đói kém, hô hào dân nổi dậy tại Quảng Tây. Cuộc nổi dậy được nông dân ủng hộ, trong vòng vài năm chiếm được gần 16 tỉnh, 600 thị trấn. Cuối cùng bị đạo quân do nhà Nho Tăng Quốc Phiên chỉ huy đánh bại, Hồng Tú Toàn phải tự tử vào năm 1864.
Thực hiện công việc so sánh giữa Thái bình Thiên quốc và dự định đánh nhà Thanh của vua Quang Trung, chúng tôi xin lần lượt nêu lên 3 yếu tố Thời, Thế, Cơ để dễ bề nghiên cứu:
A. Thời
Tuy xa cách nhau trên 50 năm, Thái bình Thiên quốc và dự định đánh nhà Thanh của vua Quang Trung chia sẽ chung một chữ “thời”. Cái khẩu hiệu Thiên yếm Mãn Thanh được Thái bình Thiên quốc dùng để hô hào; nếu bảo lòng dân là ý trời, thì người dân Hoa đều mang nặng lòng căm ghét suốt cả 10 triều đại nhà Thanh, không phải đợi đến đời Hàm Phong, lúc Thái bình Thiên quốc nổi dậy mới xẩy ra.
Khẩu hiệu thứ hai Thái bình Thiên quốc nêu lên là Quan bức dân biến [quan lại áp bức, dân nổi dậy]; xét trong thời vua Quang Trung, sự áp bức bóc lột của quan lại nhà Thanh đã xẩy ra ngay trước mắt phái đoàn Quang Trung giả, nhân dịp phái đoàn này sang dự lễ mừng thọ vua Thanh. Lợi dụng việc vua Càn Long vui mừng được phái đoàn nước ta sang chúc thọ để rửa mối nhục thua trận, tập đoàn tham nhũng tại nước này thừa dịp bốc hốt, bằng cách đưa ra số tiền dự chi để tiếp đón phái đoàn ta một ngày lên đến 4.000 lạng bạc! Chính vua Càn Long, qua văn bản dưới đây đã nêu lên những chi tiết sau đây:
  • Tiền phí tổn đón tiếp phái đoàn, đủ dùng để tiêu phí cho cuộc hành quân sang đánh An Nam!
  • Số tiền này không nằm trong quỹ nhà nước, mà do quỹ địa phương, thiếu thì bắt dân đóng.
  • Báo động việc bóc lột này khiến lòng dân căm giận!
Ngày 10 tháng 6 năm Càn Long thứ 55 [21/7/1790]
Lại dụ; hôm qua viên Tuần phủ đạo Nhiệt Hà đến bẩm với Quân Cơ Đại thần rằng:
“Nhận được truyền đơn gửi đi từ dọc đường, cho biết việc cung ứng phái đoàn Nguyễn Quang Bình một ngày ăn ở tốn khoảng 4.000 lạng bạc; vậy sau khi Nguyễn Quang Bình đến Nhiệt Hà, mọi sự chi tiêu cung phụng có hoặc không nên theo cách tiếp đãi dọc đường?”
Quân Cơ Đại thần cho rằng Phiên vương họ Nguyễn đến chiêm cận, đã phụng chỉ sai thiện phòng [6] cung cấp ăn uống, cần phải ngon và đầy đủ; nếu dọc đường cho ăn đặc biệt thịnh sọan hơn, thì tại đây không thể làm đơn giản, lại khó gia tăng thêm, bèn diện tấu để xin chỉ dụ.
Nguyễn Quang Bình là ngoại phiên mới qui phụ, xin đích thân đến chiêm cận, lời lẽ và tấm lòng đều thành khẩn, nên đã chuẩn theo lời xin; cùng ra lệnh cho các tỉnh thành địa phương có phái đoàn họ đi qua, cho ban thêm yến tiệc, vừa phong phú vừa tiết kiệm thích nghi, để bày tỏ lòng thể tuất. Thế mà sau khi đến Giang Tây, mỗi ngày cung ứng việc ăn ở nhu dụng đến 4.000 lượng bạc! Như vậy ngoài việc yến ẩm, thuyền, xe, phu, ngựa v.v… sự phung phí không dừng. Theo lời tâu thì phái đoàn Nguyễn Quang Bình từ châu Ninh Minh tỉnh Quảng Tây đáp thuyền đi; cấp cho gạo thịt, các vật dụng v.v… lệnh cho họ tự nấu lấy; nếu đi theo đường bộ, mỗi ngày cung ứng thịt rau v.v… thì làm sao cần đến 4.000 lượng? Cho dù đi qua các tỉnh thành, tổ chức yến tiệc cũng không phí tổn đến như vậy. Như mỗi năm Trẫm ban yến cho các Vương, Công, Đại thần Mông Cổ, cùng Sứ thần các nước; mỗi thứ cần đến trên dưới 100 bàn, dùng tiền cũng chỉ trong vòng ngàn lượng. Phúc Khang An từng giữ chức Đại thần Nội Vụ phủ, từ lâu ở trong nội đình ắt đã biết rõ điều đó. Yến tiệc chiêu đãi Phiên vương họ Nguyễn, đã chắc rằng lớn hơn yến tiệc trong triều!
Đây là do những tên Tổng đốc, Tuần phủ không biết việc, nghe lời thuộc viên xui dục, làm lớn chuyện bày vẽ ra để quan lại địa phương bốc hốt, rồi không kê khai thanh toán được, bèn lấy ngân quỹ tỉnh bồi vào, còn tự mình không chịu trách nhiệm. Trẫm suy nghĩ việc này, đều do Phúc Khang An trù liệu lúc đầu không có sự châm chước, lại trong lòng có sự cao hứng về việc ngoại phiên đích thân đến kinh đô chiêm cận trong sử sách ít thấy, nên có ý phô trương; đến nỗi Đốc Phủ tỉnh Giang Tây nghe hơi đón ý, bèn lần lượt gia tăng; cho tu sửa đường, sơn phết cầu cống nhà cửa; thậm chí cây khô hai bên đường đều chặt tận gốc, để ngoại phiên đến chiêm cận thấy hai bên đường cây cỏ đẹp như gấm; nhưng nào đâu đã hết được những người dân đói khổ dọc đường, như vậy càng làm cho ngoại phiên chê cười. Huống nơi kinh thành người người tụ tập, vốn là nơi phồn thịnh; nhưng qua đạo lộ dài, thì cũng có nơi quê mùa hoang vu, làm sao có thể tu bổ hết được; nếu để cho họ khám phá sự giả dối, lại làm trò cười cho ngoại di. Phúc Khang An vốn được coi là người hiểu việc, lại thấy không được chổ này sao! Vả lại nếu nội địa phá cách ưu đãi,vựơt quá sự phồn hoa, thì dường như muốn mong đợi gì ở Nguyễn Quang Bình chăng! Nên không tiếc công khố, hết sức chiêu đãi tôn sùng, đối với thể chế có sự quan hệ lớn. Há lại đường đường Thiên triều, khoe khoang với một hai phiên thần nơi cùng tịch, bằng cách cung ứng xa xỉ hay sao?
Sau khi Nguyễn Quang Bình đến kinh khuyết, đến kỳ chiêm cận hàng năm, sứ thần liên tiếp đến, nếu cứ tiêu phí quá nhiều như vậy thì đời cực thịnh cũng khó có thể tiếp tục mãi. Kinh phí của quốc gia có mức, y là người gì mà mỗi ngày phải tiêu đến 4.000 lạng bạc, đi lại hơn 200 ngày thì tiền phí tổn tất cả phải đến 80 vạn lạng [4.000 x 200= 800.000]! Bất nhược dùng số tiền này làm tiền phí tổn hưng sư, để cử binh phục thù cho Hứa Thế Hanh! Trẫm không dụng binh tại An Nam nữa, chỉ vì tiếc tiền và thương dân mà ra; Phúc Khang An sao lại không biết để thể theo lòng Trẫm.
Nếu sự phí phạm xẩy ra bắt đầu từ tỉnh Quảng Tây thì sự sai lầm do Phúc Khang An, nếu khởi đầu từ Giang Tây thì sự sai lầm bởi Hà Dụ Thành. Cho dù không khởi đầu từ tỉnh Quảng Tây, Phúc Khang An thấy dọc đường xa xỉ như vậy, cũng đáng một mặt tấu trình một mặt hiểu dụ mật các quan sở tại tiết giảm, có như vậy mới không mất tư cách một đại thần công chính và biết việc. Lúc này chắc bọn Nguyễn Quang Bình đã đến địa giới Lưỡng Hồ [7] , viên Đốc coi thường không quan sát thêm, nên chưa thấy trình tấu. Việc xa xỉ tiền bạc này phần lớn do quan lại địa phương tiêu phung phí, hoặc do quan quân hộ tống hạch sách; còn Phúc Khang An, Nguyễn Quang Bình thực ra chẳng hưởng gì. Huống hồ số tiền đã dùng không thể ghi vào tiền tiêu ngoại lệ, tất phải khấu trừ từ số tiền dưỡng liêm của các quan lại, rồi quan lại địa phương trở nên kiệt quệ, ắt phải bóc lột từ xóm làng; vậy càng không thể không phòng lòng dân oán hận tiệm tiến chồng chất, đều qui tội cho Phúc Khang An vậy. Lệnh cho Phúc Khang An phải tra rõ sự xa xỉ tiêu phí khởi đầu từ đâu rồi tâu rõ, không được bao che; Phúc Khang An chịu ơn nặng, đừng để mảy may che giấu. [8]
Người cầm đầu hệ thống tham nhũng thời bấy giờ là Hòa Khôn, một cận thần được vua Càn Long đặc biệt che chở và sủng ái. Y là kẻ tham nhũng giàu nhất đời Thanh, có tài sản 800 triệu (800.000.000) lượng bạc. Nhân lễ khánh thọ, vua Càn Long cùng phái đoàn vua Quang Trung giả ngự thuyền rồng du ngoạn hồ Côn Minh, chính Hòa Khôn đứng bên cạnh đích thân giới thiệu các thắng cảnh như núi Vạn Thọ, núi Ngọc Tuyền v.v..:
Ngày mồng 1 tháng 8, Thiên tử ngự tại vườn Đồng Lạc, nằm trong vườn Viên Minh; cùng dự yến với Vương, Công, Đại thần; Quốc vương nước An Nam; Sứ thần các nướcTriều Tiên, Miến Điện, Nam Chướng. Xem diễn “Thăng Bình Ngọc Phiệt” [9] Đại Khánh kịch.
Ngày mồng 2 đến ngày mồng 6 lại thiết yến, diễn kịch; ban cho Quốc vương nước An Nam, cùng Sứ thần ngoại quốc du lịch Phúc Hải.
Ngày mồng 9 vua Càn Long thăm núi Vạn Thọ, lên thuyền rồng sơn màu đỏ du ngọan hồ Côn Minh. Tháp tùng có bọn A Quế, Hòa Khôn, Phúc Khang An, Phúc Trường An; Vương, Công, Đại thần; Quốc vương nước An Nam; cùng Sứ thần ngoại quốc. Khi thuyền đi, các tay chèo hai bên cất tiếng hát “Trạo Ca”, [10] Hòa Khôn được lệnh giới thiệu với Sứ thần ngoại quốc các thắng cảnh xa gần, như: núi Vạn Thọ, núi Ngọc Tuyền, núi Hương. Sau khi đi thuyền, được lệnh lên bộ du lãm. Ngày hôm sau diễn kịch Đại Khánh tại vườn Viên Minh, vườn Đồng Lạc [11] .
B.Thế
Hiểu đơn giản thế tức thế lực, sức mạnh. Thế có thể có sẵn; hoặc tự tạo lấy, tạm gọi là tạo thế.
Xét về thế sẵn có, lực lượng vua Quang Trung hơn hẳn phe Hồng Tú Toàn, lãnh tụ Thái bình Thiên quốc Theo tài liệu nêu trên, trước khi cử sự vua Quang Trung đã chiêu tập được một lực lượng Tàu Ô dưới quyền 12 Tổng binh, cùng 100 hiệu thuyền. Ngoài ra nhà vua còn có một đạo binh bách chiến bách thắng, chính quân Thanh đã từng nếm mùi thất trận bởi đạo binh này.
Bàn về tạo thế thì không đơn giản, xin phân tích những yếu tố dưới đây:
Tôn giáo
Chiêu bài tôn giáo được sử dụng trong các cuộc nổi dậy không mới mẽ gì trong lịch sử Trung Quốc; thời Hán mạt có Hoàng Cân; thời Nguyên mạt có Minh giáo, Bạch Liên giáo; đời Thanh trước Thượng Đế giáo của Hồng Tú Toàn, đã có Bát Quái giáo nổi dậy. Tôn giáo được lợi dụng như một công cụ tập trung thành phần bất mãn, những nông dân đói khổ vì mất mùa, nhưng không phải là yếu tố quyết định để đạt được mục đich dành chính quyền. Với thuyết Thiên phụ, Địa Mẫu của tôn giáo này thì cũng chẳng khác mấy quan niệm Thiên phú, địa tái [trời che, đất chở] trong niềm tin dân gian. Duy việc Thái bình Thiên quốc cấm thờ cúng ông bà, cấm thờ Khổng, Lão, Phật, chối bỏ nền văn hóa truyền thống Trung Quốc; nên đã bị những thành phần trí thức như Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương lãnh đạo dân chúng chống lại.
Coi người trong thiên hạ như một nhà
Trong sắc phong của vua Quang Trung cho các Tổng binh Tàu Ô, có 11 chữ vua Gia Khánh nhà Thanh giận nhất, và đã ghi lại nguyên văn trong đạo dụ nêu trên “coi thiên hạ như một nhà, bốn biển như một người”. Qua mấy chữ vắn tắt này, khiến ta tự hỏi “một nhà ” tức nhà nào? Xét về lịch sử thấy được rằng nước Việt Nam ta và các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây có chung một ngôi nhà Nam Việt, tức lãnh thổ nước ta thời nhà Triệu. Điều này không phải chỉ riêng ta công nhận, vua Gia Khánh khi đáp lại lời xin sắc phong quốc hiệu của vua Gia Long nước ta, đã từng nói như vậy:
Ngày 20 tháng Chạp năm Gia Khánh thứ 7 [13/1/1803]
Dụ các Quân Cơ Đại Thần: Hôm qua Tôn Ngọc Đình tấu dâng biểu văn thỉnh phong của Nguyễn Phúc Ánh, Trẫm đã duyệt đọc kỹ, việc xin phong tên nước hai chữ “Nam Việt” không thể chấp nhận được. Địa danh “Nam Việt” bao hàm rất lớn, khảo sử xưa hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đều nằm ở trong đó. Nguyễn Phúc Ánh là tiểu Di nơi biên giới, tuy hiện nay có được toàn đất An Nam, bất quá lãnh thổ bằng đất Giao Chỉ xưa là cùng, làm sao lại được xưng là “Nam Việt. Biết đâu đây không phải là ý muốn khoe khoang tự thị của ngoại Di, xin thay đổi quốc hiệu, để thử bụng [Thiên triều] trước, đương nhiên đáng bác đi… [12]
Vậy việc mang quân giúp cho vùng đất cũ của Nam Việt đánh đuổi được bọn ngoại xâm Mãn Thanh, là bổn phận của anh em trong nhà. Sách lược tạo thế của vua Quang Trung đã biến từkhách sang chủ! Đây là một chính sách mới, thêm bạn bớt thù, khác với việc phạt Tống của Lý Thường Kiệt trước kia.
Lấy của nhà giàu cho nhà nghèo, cùng tập trung tư liệu sản xuất
Không bàn đến vấn đề đạo đức, việc lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo, trong bước đầu đã làm phấn khởi nông dân theo phe nổi dậy. Cả nhà Tây Sơn và Thái bình Thiên quốc đều làm việc đó. Về nhà Tây Sơn, Đại Nam chính biên liệt truyện chép:
“Giặc lúc đầu nổi lên thì lấy của nhà giàu chu cấp cho người nghèo, dối trá thi ân nhỏ để mua chuộc lòng người” [13]
Nhờ sự ủng hộ của nông dân, trong bước đầu lực lượng Tây Sơn phát triển mau chóng. Nhưng cái hay của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là biết dừng lại đúng lúc, nên sau đó mọi việc đều ổn định, đúng như sách Đại Học dạy “知 止 而 后 有 定 Tri chỉ nhi hậu hữu định.”
Riêng Thái bình Thiên quốc cũng nhờ việc lấy của nhà giàu cho người nghèo mà được sự ủng hộ nhiệt liệt của nông dân trong bước đầu, nên sau hai năm nổi dậy, từ một làng nhỏ tại tỉnh Quảng Tây làm cuộc trường chinh lên phía bắc, chiếm được Nam Kinh. Tuy nhiên Thái bình Thiên quốc không biết dừng, chủ trương thi hành triệt để theo con đường tập trung tư liệu sản xuất:
Có ruộng cùng cày, có cơm cùng ăn, có áo cùng mặc, có tiền cùng tiêu, không có điều gì là không công bằng. [14]
Lịch sử từng chứng kiến việc Mao Trạch Đông thi hành “Bước nhảy vọt lớn” trong năm 1958-1959 thất bại như thế nào, thì chủ trương tập trung tư liệu sản xuất của Thái bình Thiên quốc cũng thất bại tương tự. Sau một thời gian ngắn thử thách, nông dân chán nản, phần đông gia nhập vào tổ chức dân binh, được gọi là “Đoàn luyện“ của Tăng Quốc Phiên để chống lại Thái bình Thiên quốc.
Lưu khấu
Một trong những thủ đoạn của Thái bình Thiên quốc là “lưu khấu” tức vĩnh viễn làm giặc lưu động. Theo lời của Trung vương Lý Tú Thành, một trong những vị vương của Thái bình Thiên quốc cung khai như sau:
“Những gia đình thờ “Thượng đế”, nhà cửa phòng ốc được hủy đốt, đói lạnh không có ăn, nên đành đi theo. Người nhà quê, đi xa không biết đường, đi được khoảng trên 100 dặm, không quay trở về được nữa, nên cuối cùng phải theo quân.” [15]
Thông thường những năm đói kém mất mùa, nông dân có thể nổi dậy; nhưng đến mùa thu hoạch no đủ, thi họ lại trở về làm ăn như cũ. Đằng này, hô hào đốt nhà cửa, bắt dân theo vĩnh viễn, làm một cuộc trường chinh không có ngày về, thủ đoạn của Thái bình Thiên quốc muốn duy trì một đạo quân trung thành thường trực.
Tuy nhiên quân ắt phải có lương, một khi không dành được của kẻ địch, thi họ quay lại cướp của dân, đó là con dao hai lưỡi!
Sử dụng trí thức
Lúc Thái bình Thiên quốc nổi lên như một ngọn lửa bừng, quan quân nhà Thanh tuy đông nhưng đành bất lực, lực lượng này chiếm Nam Kinh, vượt sông Trường Giang v.v… Tuy nhiên chính sách của Thái bình Thiên quốc cấm thờ cúng tổ tiên, cấm các tư tưởng Nho, Lão, Phật… thực sự chối bỏ nên văn hóa cổ truyền đông phương, nên bị những người đọc sách phản đối. Các nhà Nho đương thời như Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương đã tập hợp dân chúng với tổ chức “đoàn luyện” để chống lại một cách hiệu quả.
Riêng vua Quang Trung tuy xuất thân từ áo vải, nhưng biết dùng những trí thức như La Sơn Phu Tử, Ngô Thời Nhiệm v.v… Điều này thấy rõ nhãn quan chính trị của vua Quang Trung cao hơn Hông Tú Toàn một bậc.
C. Cơ
Lịch sử ghi nhận Hồng Tú Toàn có cơ hội, chiếm được 16 tỉnh của Trung Quốc, nhưng vì sử dụng tập thể hóa tư liệu sản xuất, cùng chối bỏ nền văn hóa truyền thống, nên tự rước lấy thất bại. Sự thất bại này, tương tự như thất bại của Tần Thủy Hoàng được vạch ra trong bài phú nổi danh A Phòng cung phú của Đỗ Mục “diệt nhà Tần không phải là công của thiên hạ, mà chính Tần tự diệt.”[16]
Riêng vua Quang Trung, mất trước khi khởi sự, hoàn toàn không có cơ hội! Tuy nhiên qua sự phân tích so sánh tại các mục Thời, Thế nêu trên; thấy có nhiều yếu tố hơn hẳn Hồng Tú Toàn. Với tài sức như vậy, há lại không đủ khả năng để khôi phục được phần đất cũ của Nam Việt ư! Tuy nhiên “Thành bại là cơ”; người đời sau đành phải an ủi bằng hai câu thơ của Nguyễn Du trong Văn tế thập loại chúng sinh:
Cho hay thành bại là cơ,
Mà u hồn biết bao giờ cho tan!
Nguồn: © 2007 talawas
————–
[1]Hồ Bạch Thảo, Cao Tông Thực lục q. hạ, văn bản số 200, tr. 237.
[2]Hoàng khảo: Vua cha, chỉ vua Càn Long.
[3]Dạ Lang tự đại: Đời nhà Hán có nước Dạ Lang nhỏ bé [vùng Quí Châu hiện nay] làm Vương một châu, không biết nhà Hán to lớn; Vương nước đó hỏi Sứ giả nhà Hán rằng “Hán và nước ta ai lớn hơn”. Do câu nói đó, người đời gọi kẻ ngông cuồng không lượng sức là Dạ Lang tự đại. (Hán Thư, Tây Nam Di truyện)
[4]Tức Đồng Nai; chỉ quân Nguyễn Ánh lúc bấy giờ đóng tại Đồng Nai.
[5]Hồ Bạch Thảo, Cao Tông Thực lục q. hạ, văn bản số 204, tr. 245.
[6]Thiện phòng; phòng phụ trách nấu cho vua ăn
[7]Lưỡng Hồ: Hồ Bắc, Hồ Nam
[8]Cao Tông Thực lục q. 1356, tr. 173-174
[9]Thăng bình ngọc phiệt: Bè ngọc, cứu vớt người trầm luân đến cảnh thăng bình
[10]Trạo ca: Điệu hát chèo thuyền
[11]Thanh Thông Giám, q. 14, tr. 1601-1602
[12]Hồ Bạch Thảo, Cao Tông Thực lục tập hạ, văn bản số 206, tr. 251
[13]Đại Nam chính biên liệt truyện, Ngụy Tây; Tạ Quang Phát dịch, tr. 11
[14]有 田 同 耕, 有 飯 同 食, 有 衣 同 穿, 有 錢 同 使, 無 處 不 均 勻 Hữu điền đồng canh, hữu phạn đồng thực, hữu y đồng xuyên, hữu tiền đồng sử, vô xứ bất quân quân. Tiền Mục, Quốc Sử Đại cương, tr. 876.
[15]Tiền Mục, Quốc sử đại cương, tr. 874
[16]族 秦 者, 秦 也, 非 天 下 也 Tộc Tần giả, Tần dã; phi thiên hạ dã. Cổ Văn Quan Chỉ, q. 8, tr. 309.
- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/11/01/quang-trung-danh-nha-thanh/#sthash.iW6wZB3C.dpuf

Nguồn Nghiên cứu Quốc tế