Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Cảm thán "mở rộng dân chủ"

Báo chí chính thống tới giờ này còn viết và cho đăng những bài “tụng ca” về việc “mở rộng dân chủ” và hết lời tán dương cứ  như là một sự phát triển vượt bậc, một thành tích chói lọi của chế độ vậy.

Tác giả các bài báo loại này hẳn đã quên rằng sách vở chính thức, văn kiện chính trị quan trọng của ta cũng như có rất nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của nước ta quá cố, về hưu hay đương nhiệm nhiều lần khẳng định chắc nịch rằng “chế độ ta dân chủ gấp nghìn lần dân chủ tư sản”, hoặc là “chế độ ta dân chủ đến thế là cùng”… Nói tóm lại, ta dân chủ đến tột cùng rồi chẳng còn ai dân chủ hơn ta nữa.

Vậy các bài báo ca ngợi cái gọi là “tiếp tục mở rộng dân chủ” có nghĩa là làm sao?
Chẳng lẽ phủ nhận hết trọi các tuyên bố hùng hồn, mạnh mẽ, rõ ràng không thể nhầm lẫn của các văn kiện, cương lĩnh chính thức, của các nhà lãnh đạo cao cấp của nước ta hay sao?

Thêm nữa, trong ngôn ngữ học, động từ “mở” luôn liên quan tới một hay nhiều chủ thể nào đó. Ai mở? Có nghĩa là từng có người đóng. Tiếp tục mở có nghĩa là mở chưa hết, chưa tận cùng, chưa tới nơi tới chốn. Nói vậy, các tờ báo loại này lại tiếp tục phủ nhận dân chủ của ta là dân chủ tột cùng, dân chủ gấp nghìn lần bọn tư bản giãy chết. Đáng quan ngại là viết lách như thế này vô tình cho thấy có một ai đó hay nhóm người nào đó, đứng trên hiến pháp,  pháp luật, đứng trên nhân dân, tự cho mình cái quyền ban bố dân chủ theo kiểu lúc đóng lúc mở… tùy thích.

Kiểu bài viết này cổ xúy cho đám đông hồ hởi phát triển cái tư duy nhai lại như những con cừu, cho ăn cỏ thế là vui mừng,  à uôm ca tụng. Hoàn toàn không giúp cho người ta có ý thức về các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong hiến pháp. Hoàn toàn không giúp cho người ta khai triển tư duy pháp quyền để xây dựng tinh thần thượng tôn pháp luật, rằng xây dựng nền dân chủ và bảo vệ các quyền tự do dân chủ cơ bản của con người phải trên cơ sở hiến pháp và pháp luật.

Người đọc chỉ có thể kết luận rằng, những bài báo như vậy là cố tình bôi bác nền dân chủ tột cùng của ta, vạch áo cho người xem lưng chẳng hay ho gì, dù bên ngoài bài báo cố phủ lên cái lớp vải thưa mang tên “tụng ca chế độ”.

Làm báo như vậy chẳng khác gì cái hoàn cảnh "yêu nhau (như thế) thì lại bằng mười phụ nhau"!




Toàn cảnh về chiến dịch CQ-88 lịch sử

Xác định rõ "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân", toàn quân chủng bước vào chiến dịch “CQ-88" với ý chí và quyết tâm mạnh mẽ.


Từ năm 1986, tình hình khu vực biển quần đảo Trường Sa có những diễn biến phức tạp.
Cuối tháng 12 năm 1986, Trung Quốc cho máy bay và tàu thuyền có cả tàu chiến hoạt động trinh sát, thăm dò từ khu vực đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài. Philippines đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ (Song Tử Đông, Pa-na-ta). Cùng lúc đó ở phía nam Trường Sa, Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân và tháng 1 năm 1987, Malaysia chiếm đóng bãi đá Kiều Ngựa, làm cho tình hình thêm căng thẳng. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh nhận định có khả năng Trung Quốc và các nước sẽ đóng thêm một số đảo khác .
Đầu tháng 3 năm 1987, Quân chủng điều lực lượng công binh, tàu chiến đấu, tàu vận tải của Vùng IV và Lữ đoàn 125 ra đóng giữ bảo vệ đảo chìm Thuyền Chài. Đây là đảo năm 1978 quân chủng đã đưa lực lượng ra đóng giữ bảo vệ, song vì điều kiện đảo là bãi đá ngầm, việc bảo đảm cho bộ đội ăn ở sinh hoạt, chiến đấu gặp rất nhiều khó khăn, nên ta tạm thời rút bộ đội về đất liền.
Tháng 6 năm 1987, Trung Quốc tiến hành diễn tập quân sự bất thường ở phía nam biển Đông và giữa tháng 10, tháng 11 năm 1987, họ lại đưa tàu nghiên cứu Hải Dương 4 và một số tàu chiến đi qua các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trưởng Sa, Song Tử Tây; có lúc các tàu này vào sát đảo của ta khoảng 1 hải lý.
Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Quân chủng ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường cho Lữ đoàn 146, Vùng IV Hải quân, song yêu cầu các đơn vị đảo phải hết sức cảnh giác, tránh âm mưu khiêu khích của đối phương. Đảng ủy và Bộ tư lệnh chủ trương phòng thủ quần đảo Trường Sa "Đóng thêm một số đảo xung quanh các đảo đã đóng giữ, để tạo nên sức mạnh của một cụm đảo". Ngày 25 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Quân chủng lệnh cho Vùng IV nhanh chóng tổ chức lực lượng ra đóng giữ các đảo Tiên Nữ, Đá Lớn, Đá Tây, Chữ Thập. Vùng IV bắt tay ngay vào triển khai nhiệm vụ. Mặc dù hết sức cố gắng, song lúc này thời tiết cuối năm gió mùa sóng lớn, phương tiện của ta nhỏ bé, chất lượng kỹ thuật không bảo đảm, hơn nữa các đảo này là những bãi đá ngầm, ta chưa chuẩn bị kịp các trang bị phương tiện để tổ chức cho bộ đội đóng giữ, ăn, ở sinh hoạt và chiến đấu, nên kế hoạch đóng giữ 4 đảo này chưa thực hiện được.
Ngày 28 tháng 10 năm 1987, tàu 613 đưa một phân đội chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146, một trung đội công binh, do đồng chí Nguyễn Trung Cảng, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy ra đóng giữ đảo Đá Tây. Do sóng to gió lớn, gặp khó khăn trong xây dựng công sự chốt giữ, nên sau một thời gian, tàu 613 chở bộ đội về Cam Ranh.
Ngày 6 tháng 11 năm 1987, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, giao cho Quân chủng Hải quân "Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ chỉ thị cấp trên". Chấp hành lệnh của trên, tháng 12 năm 1987, Quân chủng đưa lực lượng ra đóng giữ đảo Đá Tây, đồng thời khẩn trương đóng các phương tiện chuyển tải và các pông-tông là các căn cứ nổi làm nhiệm vụ chốt giữ bảo vệ các đảo chìm (bãi đá cạn) trên quần đảo Trường Sa.
Ngày 2 tháng 12 năm 1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây. Sau một thời gian lao động khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành khu nhà ở, nhà trực, tổ chức canh gác, bảo vệ đảo.
Đầu năm 1988, tình hình khu vực Trường Sa đột ngột trở nên căng thẳng. Ngày 9 tháng 1 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Các nước khác có thể tranh chấp thêm các đảo kể cả khi có xung đột với nhau. Cũng có nước có thể chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân. Cuộc tranh chấp các đảo đang trở thành nguy cơ trực tiếp đe dọa Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở Bắc Bộ, Trung Quốc có thể triển khai thêm khu vực khai thác dầu khí, sử dụng không quân và hải quân bảo vệ gây tình hình căng thẳng ở khu vực này. Ở vịnh Thái Lan, Hải quân Mỹ thường xuyên qua lại có thể hỗ trợ cho hải quân Thái Lan mở rộng hoạt động, gây mất ổn định, uy hiếp chủ quyền vùng biển, hải đảo của ta ở phía Nam.
Ngày 22 tháng 1 năm 1988, Trung Quốc đưa 4 tàu gồm: hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập. Tiếp đó, Trung Quốc đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền các nước qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập. Hải quân Trung Quốc còn tổ chức ba cụm tuyến hoạt động gồm: Cụm phía sau lấy Hoàng Sa làm căn cứ thường xuyên có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam; cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và cụm Chữ Thập âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía Nam.
Ngày 23 tháng 1 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Sau hai ngày vật lộn với sóng to, gió lớn, tàu đến Tiên Nữ. Phương châm xây dựng là làm đến đâu chắc đến đó. Đầu tháng 2 năm 1988, cán bộ, chiến sĩ trên đảo hoàn thành nhà ở cấp 3, nơi sinh hoạt, bếp ăn và triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.
Ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-611 và tàu HQ-712, do đồng chí Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 làm biên đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 hải quân làm biên đội phó, chỉ huy 1 đại đội công binh và 2 khung đảo của Lữ đoàn 146 đến đóng giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29 tháng 1, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa, đồng chí Nguyễn Thế Dân chuyển sang tàu HQ-07 thuộc Lữ đoàn 171 đi làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Đá Lớn. Đồng chí Công Phán ở lại, sau khi tàu sửa chữa xong tiếp tục chỉ huy biên đội tiến về phía đảo Chữ Thập. Sáng ngày 30 tháng 1, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến đấu của Trung Quốc, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300m, không cho tiếp cận đảo, tàu đành phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra.
Cuối tháng 1 năm 1988, tàu HQ-851, tàu HQ-852 đang bảo dưỡng định kỳ ở nhà náy Ba Son, nhận được lệnh ra đốc về Sở chỉ huy Quân chủng ở Cam Ranh nhận nhiệm vụ.
Ngày 31 tháng 1 năm 1988, Trung Quốc đưa thêm lực lượng củng cố đảo Chữ Thập thành căn cứ để khống chế ta ở khu vực Trường Sa. Khi chiếm đóng đảo Chữ Thập, Trung Quốc đã bộc lộ rõ âm mưu tranh chấp với ta ở Trường Sa. Trước diễn biến mới, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng chủ trương hành động, tập trung cao nhất khả năng lực lượng của Quân chủng vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa, chạy đua với thời gian nhanh chóng đóng giữ các đảo theo kế hoạch; đồng thời đề xuất với Đảng, Chính phủ phát động phong trào "Cả nước hướng về Trường Sa", "Ủng hộ, chi viện Trường Sa và vì Trường Sa". Đảng ủy Quân chủng xác định rõ lúc này "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân". Toàn quân chủng bước vào chiến dịch “CQ-88" (Chủ quyền - 1988) với ý chí và quyết tâm mạnh mẽ.
Trong suốt quá trình tham gia và phục vụ chiến dịch CQ-88, thành tích nổi bật của vùng là đơn vị tàu quét mìn HQ-851 Lữ đoàn 161, do Thiếu tá Hoàng Thái Lan, thuyền trưởng; Đại úy Đặng Huy Hùng, thuyền phó chính trị chỉ huy, đã hoạt động liên tục 3 tháng 9 ngày bảo vệ chủ quyền vùng biển quần đảo Trường Sa.
Ngày 3 tháng 2 năm 1988, khi đang nằm sửa chữa định kỳ tại Nhà máy Ba Son thì tàu HQ-851 nhận được lệnh xuất xưởng đi làm nhiệm vụ ở Trường Sa. Đúng theo kế hoạch, ngày 6 tháng 2 tàu cập cảng Cam Ranh và ngay tối hôm đó, đồng chí thuyền trưởng lên nhận lệnh trực tiếp từ đồng chí Tư lệnh Quân chủng. Sau khi giao nhiệm vụ, đồng chí Tư lệnh nhấn mạnh, tình hình rất cáng thẳng, khẩn trương, ta và đối phương giành giật nhau từng hòn đảo, hai bên có thể nổ súng và các đồng chí có thể phải hy sinh, nhưng để giữ được đảo cho Tổ quốc cần 1 chiếc tàu HQ-851 hy sinh chứ cần đến 10 chiếc tàu như HQ-851 hy sinh thì ta cũng phải hy sinh. Nếu để mất đảo thì sau này có cần đến 100 tàu như 851 hy sinh ta cũng khó lấy lại được đảo. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa của nhiệm vụ mới, chi bộ tàu HQ-851 khẩn trương tổ chức quán triệt, xây dựng quyết tâm cho cán bộ và đơn vị, nhanh chóng tiến hành công tác chuẩn bị, nhận thêm vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, dầu, nước.
Ngày 4 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc đã cho quân đóng trên đảo Chữ Thập, trước mắt ta chưa đóng xen kẽ vì họ ngăn chặn ta từ xa. Họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên. Tình hình nhiệm vụ của Quân chủng ở quần đảo trường Sa khẩn trương, cấp bách. Được sự đồng ý của trên, Quân chủng thành lập Sở chỉ huy tiền phương tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh kiêm tư lệnh Vùng 4. Các cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đều tổ chức các bộ phận tiền phương của ngành để kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DKI. Cục Kỹ thuật đã chỉ đạo các nhà máy, xưởng trạm, kho tàng lập các tổ đội sửa chữa động thường trực tại các khu vực Cam Ranh, Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu và bám theo tàu thuyền các đơn vị để sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật cho các hoạt động đóng giữ, bảo vệ các đảo và căn cứ.
Ngày 5 tháng 2 năm 1988, lực lượng của ta ra chiếm giữ đảo Đá Lát. Ngày 6 tháng 2 năm 1988, biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa Đông đưa bộ đội đến đóng giữ đảo Đá Lớn.
Ngày 8 tháng 2 năm 1988 tàu HQ-851 xuất phát đi làm nhiệm vụ. Trên đường hành quân một số cán bộ, chiến sĩ tỏ ra lo lắng căng thẳng, chi bộ và chỉ huy tàu tiếp tục tổ chức quán triệt nhiệm vụ củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu cho toàn chi bộ và tàu. Thực hiện đúng kế hoạch công tác, ngày 10 tháng 2 tàu HQ-851 đến đảo Trường Sa Lớn, neo đậu tại đây một đêm, chỉ huy tàu làm việc với chỉ huy đảo, truyền đạt mệnh lệnh, ý đồ của Tư lệnh. Sáng 11 tháng 2 tàu nhổ neo hướng về đảo Trường Sa Đông. Tại đây sau khi làm việc với chỉ huy đảo xong, tàu tiếp tục hành trình đến đảo chìm Đá Đông. Đến đảo Đá Đông, tàu HQ-851 tiến hành các hoạt động khảo sát đo độ sâu xác định các khu vực neo đậu và chốt lại ở đây, trực bảo vệ đảo.
Ngày 13 tháng 2, tại đảo Đá Lớn, Lữ đoàn 125 cho tàu 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của Trung Quốc cũng tiến về phía Đá Lớn. Khi ta cách Đá Lớn khoảng 4 hải lý, tàu Trung Quốc thả thủy lôi ngăn cản, uy hiếp ta. Trước tình hình đó, ban chỉ huy tàu 505 họp nhận định: Trung Quốc chưa biết ý đồ của ta đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, việc thị uy không liên quan đến hành trình, ta cứ cho tàu chạy theo hướng đã định. Tàu 505 bình tĩnh, khôn khéo đưa tàu LCU 556 tiếp tục tiến về phía bắc đảo.
Ngày 15 tháng 2 năm 1988 (tức ngày 29 tết âm lịch năm 1988), theo lệnh của Sở chỉ huy Quân chủng, tàu vận tải HQ-614 Vùng IV tới đảo Đá Đông kết hợp với tàu HQ-851 lập thành biên đội, do Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV đang ở tàu 614 chỉ huy. Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV gồm Đại tá Lê Văn Thư, Chỉ huy trưởng Vùng IV; Trung tá Nguyễn Văn Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng và Trung tá Lê Xuân Bạ, Phó chủ nhiệm chính trị Vùng. Vừa làm nhiệm vụ trực bảo vệ đảo, biên đội vừa triển khai cho bộ đội ở hai tàu ăn tết đón xuân tại đảo Đá Đông.
Ngày 17 tháng 2 năm 1988, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh di chuyển một bộ phận quan trọng các cơ quan Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Kỹ thuật, Cục Hậu cần vào Cam Ranh. Đặt Sở chỉ huy Quân chủng lại đây để trực tiếp chỉ huy các lực lượng đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa.
Sau ba ngày đón tết, đến ngày 18 tháng 2, tàu HQ-851 và tàu HQ-614 nhận lệnh đến chốt giữ, bảo vệ đảo Châu Viên. 12 giờ trong ngày 18 tháng 2 tàu tới đảo, tàu HQ-614 hạ xuồng chở 7 cán bộ, chiến sĩ lên đảo cắm cờ Tổ quốc; nước biển cường, anh em thay nhau xuống đảo giữ cờ. Trời tối dần, nước biển lên cao, bãi đá chìm sâu dưới nước, sóng to, anh em giữ cờ Tổ quốc ướt rét, đói, buộc phải quay về tàu. Lúc này, tàu HQ-851 bị rê neo trôi dần ra xa. Biên đội quyết định đưa tàu về đảo Đá Đông.
23 giờ ngày 18 tháng 2, hai tàu tới chốt giữ đảo Đá Đông thì nhận được điện của Sở chỉ huy Quân chủng lệnh "Cho tàu quay trở lại đảo Châu Viên, bằng mọi giá ủi bãi, chấp hành, không được hỏi lại". Tình huống hết sức khẩn trương, 1 giờ ngày 19 tháng 2, hai tàu nhổ neo tiến về đảo Châu Viên. 5 giờ trong ngày tới nơi, tàu HQ-851 được lệnh ủi bãi. Tàu cơ động vào đảo, 3 tàu chiến của đối phương lao đến cắt mũi, ngăn chặn; cán bộ, chiến sĩ tàu 851 không nao núng tiếp tục điều khiển tàu tiến lên tìm cách tiếp cận đảo, tàu đối phương vẫn hung hãn kèm sát, quay súng hia thẳng về đài chỉ huy tàu ta đe dọa.
12 giờ, ngày 19 tháng 2 Sở chỉ huy điện cho tàu HQ-851: "Tiếp tục ủi bãi, Tổ quốc và nhân dân không bao giờ quên các đồng chí". Tàu ta và tàu đối phương giằng co, quanh đảo Châu Viên. Song với ưu thế hơn hẳn, 3 tàu lớn của đối phương áp sát, cản trở, tàu HQ-851 không thực hiện được hành động ủi bãi để đưa tàu và người lên đảo. Tới 16 giờ trong ngày 19 tháng 2 , tàu HQ-851 bị hỏng 1 máy chính và 2 máy phụ, tình hình càng khó khăn hơn. Sở chỉ huy phía trước của Vùng IV nhận định, sức cơ động của tàu ta ngày càng kém đi, sức khỏe của bộ đội cũng mỗi lúc một yếu, tàu đối phương mạnh hơn, nhiều hơn và quyết ngăn chặn ta ủi bãi để chiếm đóng đảo Châu Viên. Trong khi đó, đảo Đá Đông có vị trí cũng rất quan trọng gần đảo Trường Sa Đông hơn đảo Châu Viên, nếu ta cứ giằng co với đối phương ở đảo Châu Viên thì chưa chắc ta giữ được mà có thể còn mất cả đảo Đá Đông. Đồng chí Lê Văn Thư quyết định cho hai tàu quay trở lại đóng giữ đảo Đá Đông trong lúc đối phương đang tập trung lực lượng ở Châu Viên. Trung Quốc chiếm được đảo Châu Viên vào ngày 19 tháng 2.
18 giờ, ngày 19 tháng 2 các tàu HQ-851, HQ-614 quay trở lại đảo Đá Đông, lập tức triển khai đóng giữ đảo. Tàu 614 nhanh chóng cơ động vào vị trí đổ bó, 10 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Dân chỉ huy đổ bộ lên đảo cắm cờ và xây dựng công sự chiến đấu. Tàu HQ-851 tiến vào vị trí chiến đấu, làm nhiệm vụ bảo vệ tàu 614 thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà, công sự phòng thủ trên đảo Đá Đông. Lúc đó là 18 giờ 30 phút ngày 19 tháng 2 năm 1988. Những ngày sau đó, tàu HQ-851 trực bảo vệ đảo bảo vệ các lực lượng của Quân chủng tập kết vật liệu xây dựng các công trình trên đảo Đá Đông cùng với tàu HQ-614.
Ngày 20 tháng 2 năm 1988, các lực lượng đơn vị tàu chiến đấu, vận tải, công binh, bộ binh của Quân chủng vượt qua mọi sự ngăn cản khiêu khích của tàu Trung Quốc nhanh chóng triển khai các hoạt động bảo vệ Trường Sa, đã đóng giữ đảo Đá Lát.
Cũng trong ngày 20 tháng 2, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu 556 tiến vào phía nam đảo Đá Lớn an toàn. Cùng thời gian này, tàu Đại lãnh của công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ-582 và pông-tông Đ02 đi Đá Lớn. Ngày 27 tháng 2, tàu xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 1 tháng 3, pông-tông Đ02 vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Ngày 21 tháng 2 năm 1988, Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.
Ngày 21 tháng 2 năm 1988, Tư lệnh quân chủng ra lệnh cho Vùng III chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường; riêng Lữ đoàn 162 và Hải đội tàu tên lửa 131 của Lữ đoàn 172 Vùng I vào tăng cường cho Vùng III từ thường 1 năm 1988, chuyển trạng thái từ thường xuyên lên cao.
Toàn vùng và các lực lượng tàu phóng lôi, tên lùa, tàu quét mìn nhanh chóng thực hiện các biện pháp chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu theo quy dình. Các trạm ra-đa chuyển sang hoạt động quan sát theo phương án tăng cường; các mặt công tác bảo đảm kỹ thuật: hậu cần cho sẵn sàng chiến đấu được khẩn trương tiến hành.
Sau hai ngày, các tàu được bổ sung đủ định mức cơ bản về đạn, lương thực, thực phẩm và nhiên liệu Công tác bảo đảm kỹ thuật, đã hợp đồng với xưởng 50 và phát huy khả năng sửa chừa của các trạm của vùng, sự giúp đỡ chi viện của chuyên gia Liên Xô nhanh chóng khắc phục, sửa chừa những hư hỏng của các tàu chiến đấu và chuẩn bị vũ khí chiến đấu; đã bảo đảm tốt cho 4 tàu tên lửa 205E, (HQ-358, HQ-359, HQ-360, HQ-A61); 4 tàu phóng lôi 206ME (HQ-331, HQ-333, HQ-334, HQ-335); 2 tàu quét mìn 1265E, 1258E (HQ-861, HQ-816), 2 tàu cá HQ-669, HQ-670 và 2 tàu đổ bộ LCU 455, 458, sẵn sàng làm nhiệm vụ theo mệnh lệnh của Quân chủng. Các trạm vũ khí 63, 67 chuẩn bị xong 11 quả ngư lôi trong đó có 4 quả nạp dầu T1 và 14 quả tên lửa chờ lệnh nạp khí ô-gơ.
Ngày 26 tháng 2, Trung Quốc chiếm thêm đảo Ga Ven. Ngày 26 tháng 2, Hải Quân Việt Nam đóng giữ đảo Tiên Nữ, và sang ngày 27 tháng 2, ta chốt giữ thêm đảo Tốc Tan.
Ngày 2 tháng 3, ta tổ chức đóng giữ thêm đảo Núi Le bước đầu tạo được thế đứng chân trên các khu vực quan trọng thuộc quần đảo Trường Sa để ngăn chặn được việc mở rộng phạm vi lấn chiếm của các đối phương. Như vậy đến tháng 3 năm 1988, lực lượng Hải quân ta đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.
Trong thời gian đầu tháng 3, Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên lên 9 đến 12 tàu chiến gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn với ý đồ chiếm giữ 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.
Ngày 4 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Trung Quốc đã cho quân chiếm giữ Chữ Thập, Châu viên, Ga ven, Xu Bi, Huy Gơ. Ta xây dựng thế trận phòng thủ ở các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của Trung Quốc ra các đảo lân cận. Song đối phương có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và đông kinh tuyến 115 độ. Thường vụ xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại của ta tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khẩn trương, bởi trong cùng một lúc hải quân ta phải triển khai đóng giữ cả 3 đảo trong điều kiện phương tiện, trang bị của ta cũ, thô sơ, lực lượng hạn chế. Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.
Lúc 19h ngày 11 tháng 3, tàu HQ-604 rời cảng ra đảo Gạc Ma để thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch CQ-88.
Ngày 12 tháng 3, tàu HQ-605 thuộc Lữ 125 do thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn chỉ huy được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6h ngày 14 tháng 3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu 605 đến Len Đao lúc 5h ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Việt Nam trên đảo Len Đao.Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h ngày 13 tháng 3, tàu HQ-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và tàu HQ-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu 505 và 604 có hai phân đội công binh (70 người) thuộc trung đoàn công binh 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146 do Trần Đức Thông Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (thuộc Bộ Tổng tham mưu). Sau khi hai tàu của Việt Nam thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Hải quân Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc đôi bên chỉ cách nhau 500 m.
17h ngày 13 tháng 3, tàu Trung Quốc áp sát tàu 604 và dùng loa gọi sang. Bị uy hiếp, 2 tàu 604 và 505 kiên trì neo giữ quanh đảo. Còn chiến hạm của Trung Quốc cùng 1 hộ vệ hạm, 2 hải vận hạm thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.
Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam chỉ thị cho Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho lực lượng công binh khẩn trương dùng xuồng chuyển vật liệu xây dựng lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh, tàu 604 cùng lực lượng công binh trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.
Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 hộ vệ hạm trang bị pháo 100 mm đến hỗ trợ lực lượng đã đến từ trước, yêu cầu phía VN rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định: Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.
Ngày 14 tháng 3, chiến sự diễn ra ác liệt tại khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao.
Tại đảo Gạc Ma, vào lúc 7 giờ sáng sớm ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, từ tàu HQ 604 đang thả neo phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Tổ 3 người gồm thiếu úy Trần Văn Phương cùng hai thủy thủ là Nguyễn Văn Tư và Nguyễn Văn Lanh đang leo lên 4 gành đá cao tìm cách dựng cột cờ thì các chiến hạm Trung Quốc lúc đó đã tới gần đảo. Bốn Tàu chiến Trung Quốc loại trang bị hỏa tiễn bao quanh đảo và hú còi báo động , các thủy thủ của Trung Quốc trông rất dữ tợ, đầu cạo trọc nhảy lên các dàn súng đại liên quay mũi súng chỉa vào lính HQVN . Hai Chiếc Hải Quân Trung Quốc tiến gần sát hơn và chận đường rút lui của hai chiếc HQ605 và HQ505 . Hai chiếc xuồng máy chở 8 lính vũ trang mặc đồ rằn ri của Trung Quốc lao nhanh vào đảo . Thiếu tá Trần Ðức Thông lập tức ra lệnh cho các Thủy Thủ chiếc HQ604 lên đảo ứng chiến, bảo vệ cho thiếu úy Trần Văn Phương và hai thủy thủ không cho đối phương tiến lên. Các thủy thủ thuộc HQVN đã dàn súng chung quanh 4 ghềnh cao để bảo vệ , phòng thủ 4 hướng.
Trung Quốc thả thêm 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo giật cờ Việt Nam. Lúc nầy tàu chỉ huy là chiếc HQ604 đã cho phóng loa , nói tiếng Tàu với các bộ đội vũ trang Trung Quốc đang tràn lên bãi " Đây là đảo chủ quyền của VN, yêu cầu các đồng chí thuộc quân đội Nhân Dân Trung Quốc phải rời đảo" "Các đồng chí đã xâm phạm lãnh thổ VN" . Lời nói từ chiếc HQ604 chưa dứt thì Tàu Hải Quân Trung Quốc chiếc 502 khai hỏa đầu tiên. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy quân trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPD, B-40, B-41 đánh trả quyết liệt, buộc đối phương phải nhảy xuống biển bơi trở về tàu. Trung quốc thả thêm nhiều Ca Nô loại nhỏ chở hằng trăm lính vũ trang rằn ri khác tràn lên đảo Gạc Ma.Các cây đại liên trên tàu Trung Quốc đã bắn trực xạ vào thủy thủ VN trên đảo, người đứt tay, người đứt đầu, máu văng tung tóe đỏ lòm nước biển. 3 Chiến hạm Trung Quốc còn lại bất ngờ xã hết dàn hỏa tiễn vào 3 tàu chiến của HQVN bốc cháy nghiêng về một bên , các thủy thủ trên tàu hốt hoảng nhảy xuống nước để thoát thân . Lúc nầy hằng trăm lính Trung Quốc trên Đảo Gạc Ma nã súng bắn tỉa từng người của HQVN đang bơi lỏm ngỏm dưới nước . Những tiếng la kinh hoàng , những thân xác bỗng chốc chìm sâu xuống lòng đại dương , máu đỏ nhuộm nước biển lênh láng khắp nơi . Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng, Trần Đức Thông - lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 hy sinh, Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương, trước khi chết anh đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân".
Tại đảo Cô Lin, 6h, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đảo. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ-505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy.
Lúc 8h15, thủy thủ tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, và đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu 604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma ngay gần đó. Tàu HQ-505 bị phá huỷ nhưng cán bộ, chiến sĩ của tàu dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, bảo vệ chủ quyền đảo Cô Lin.
Tại đảo Len Đao, 8h20 ngày 14 tháng 3, Hải quân Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của Hải quân Việt Nam. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6h ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn.
Thượng uý Nguyễn Văn Chương và trung uý Nguyễn Sĩ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 (sau khi bị bắn cháy nằm trên bãi Cô Lin). Thi hài các chiến sĩ Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Tư, cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng. Số người còn sức một tay bám thành xuồng một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô Lin.
Trong trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam bị thiệt hại 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận. Việt Nam bị chiếm đảo Gạc Ma nhưng vẫn bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao cho đến nay. Các chiến sĩ Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng huân chương Quân công, huân chương chiến công các loại.
Ngày 23 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc chiếm thêm đảo Xubi. Ngày 31 tháng 3 năm 1988, Tư lệnh Hải quân lệnh cho Vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146; các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao; đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ Tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1, Vùng 3, Vùng 5, Trường sĩ quan Hải quân, Nhà máy Ba Son, X51 tiếp nhận 3 tàu của nhà nước, 3 tàu của Tổng cục Hậu cần và 2 tàu của Quân khu 5 đến phối thuộc hoạt động khi cần thiết
Trải qua hơn 5 tháng, vượt qua mọi thử thách, khó khăn, được sự chi viện của các lực lượng trong toàn quân, của các đơn vị ngành vận tải, cứu hộ của Nhà nước và nhân dân ở nhiều tỉnh, thành ven biển, Quân chủng Hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ CQ-88, đóng giữ và bảo vệ thắng lợi 11 đảo mới với 32 điểm đóng quân.
Ngày 7 tháng 5 năm 1988, tại lễ kỷ niệm 33 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân, Đại tướng Lê Đức Anh, ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa. Đại tướng biểu dương: "Hải quân đã tích cực, kiên trì thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về bảo vệ quần đảo Trường Sa. Mặc dù có nhiều khó khăn, song đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao".Tại cuộc mít tinh ở đảo Trường Sa, Đại tướng phát biểu nhấn mạnh: "Nhân kỷ niệm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam trên đảo chính của quần đảo Trường Sa, có mặt đông đủ các Tổng cục, các quân chủng, đại biểu tỉnh Phú Khánh, chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta".
Ngày 5 tháng 7 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Sau những hành động khiêu khích quân sự vừa qua, Trung Quốc sẽ tiếp tục có những âm mưu cô lập hạn chế hoạt động của ta để mở rộng quyền kiểm soát, khống chế vùng biển Đông. Đúng như dự đoán của ta, trên vùng biển và xung quanh khu vực quần đảo Trường Sa, Trung Quốc thường xuyên duy trì từ 10-15 tàu, trong đó có 4-6 tàu chiến.
Đầu tháng 9 năm 1988, Trung Quốc đưa tàu trinh sát bằng vô tuyến điện xuống trinh sát 21 đảo ta đang đóng giữ, uy hiếp chiếm lại khi thời cơ thuận lợi và tuyên truyền về chiến lược biển và kinh tế biển, tập trung vào dầu khí thuộc khu vực thềm lục địa phía Nam của Việt Nam. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng tại khu vực thềm lục địa phía Đông Nam thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cụm kinh tế, khoa học, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế đất nước và giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân bảo vệ. Ngày 26 tháng 10 năm 1988, Phó đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 171 làm nhiệm vụ bảo vệ thềm lục địa phía Đông Nam (DK1). Đây là vùng có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh của đất nước.
Ngày 6 tháng 11 năm 1988, một biên đội hai tàu HQ-713 và HQ-688 thuộc Lữ đoàn 171, do các đồng chí Phạm Văn Thư, Nguyễn Hồng Thưởng chỉ huy rời cảng ra khơi. Sau hơn mười ngày hành quân trên biển, hai tàu đã đến vị trí tiến hành đo đạc khảo sát, đánh dấu, xác định vị trí thả neo làm nhà trên vùng biển rộng 60.000 km2. Trên cơ sở đó, ngày 26 tháng 11, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho hai tàu HQ-713 và HQ-668 (Hải đoàn l71), do trung tá Hoàng Kim Nông, Phó Lữ đoàn trưởng về chính trị chỉ huy và hai tàu HQ-727, HQ-723 (Lữ đoàn 129), do trung tá Trần Xuân Vọng, Hải đoàn trưởng chỉ huy trực sẵn sàng chiến đấu.

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Thủ đoạn mới của TQ mở rộng kiểm soát ngư trường ở Biển Đông

Trao đổi với Zing.vn, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường cho rằng TQ đang âm mưu tạo ra các khu vực đánh cá mới nhằm hiện thực hóa tham vọng bành trướng lãnh thổ về phía nam Biển Đông.
Tàu cá của Trung Quốc rầm rộ tiến vào Biển Đông. Ảnh: Tân Hoa xã
Tàu cá của Trung Quốc rầm rộ tiến vào Biển Đông. Ảnh: Tân Hoa xã
 - Hồi cuối tháng 2, đầu tháng 3, Trung Quốc điều các tàu hải giám tới bãi Hải Sâm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Theo ông, âm mưu thực chất của hành động này là gì?
-  Trong những tháng gần đây, tàu thuyền đánh cá Trung Quốc với sự hỗ trợ của các tàu hải giám đã thâm nhập sâu vào các vùng đánh cá truyền thống của các nước ven Biển Đông. Ngày 2/3, ít nhất 4-5 tàu tuần dương và cảnh sát biển Trung Quốc tới bãi san hô Hải Sâm do Philippines kiểm soát.
Hành động này nằm trong chủ trương của Trung Quốc, tạo ra các khu vực đánh cá mới thông qua hành động lấn biển và mở rộng quyền kiểm soát trên thực tế tại Biển Đông. Chính phủ Trung Quốc chủ trương mở rộng việc đánh cá, xử lý cá tại các ngư trường ở Trường Sa.
Thủ đoạn mới của TQ mở rộng kiểm soát ngư trường ở Biển Đông
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường, cựu đại sứ Việt Nam tại Thụy Điển, Mexico, Panama, Peru và Phần Lan. Hiện ông là Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quan hệ Quốc tế. Ảnh: 
 Duy Hiếu
Bên cạnh đó, tàu Trung Quốc cũng được phát hiện đang di chuyển xung quanh bãi Cỏ Mây do Philippines kiểm soát. Đầu tháng 2 vừa qua, tàu hải quân Trung Quốc quấy rối tàu BRP Laguna của Philippines gần bãi Trăng Khuyết thuộc quần đảo Trường Sa.
Ông có thể nói rõ hơn mức độ nguy hiểm từ chủ trương này của Trung Quốc?
- Theo một số ngư dân Philippines, kể từ khi Trung Quốc hoàn thành việc san lấp tôn tạo 7 điểm đảo nhân tạo ở Trường Sa, họ chỉ có thể đánh cá gần bờ và thu hoạch các loại cá nhỏ. Các tàu cá Trung Quốc cũng nhiều lần xâm phạm sâu vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam thuộc Đà Nẵng, Quảng Ngãi…
Các hành động của Trung Quốc tại Trường Sa và Hoàng Sa phụ thuộc rất ít vào động thái của các nước khác, kể cả Mỹ, ở Biển Đông. Chúng xuất phát từ những phác thảo chiến lược dài hạn, mỗi bước tiến được triển khai khi thời cơ chín muồi.
Bên cạnh chủ trương mở rộng vùng đánh cá và khai thác hải sản sâu trong các vùng đặc quyền kinh tế của các nước tại Biển Đông, Trung Quốc đang thiết lập hệ thống căn cứ trực thăng và điểm tiếp nhiên liệu rải khắp khu vực này, khiến cho các loại trực thăng như loại Z-18F có thể tiếp cận được bất cứ vị trí nào trên biển trong vòng hai giờ.
Nhiều ngư dân Philippines cho biết, từ khi Trung Quốc bồi đắp các đảo nhân tạo ở Trường Sa, họ chỉ có thể đánh cá trong vòng 20 km gần bờ, nơi chỉ có cá nhỏ. Tàu cá Trung Quốc đã áp sát đảo Lý Sơn của Việt Nam.
Trong tương lai, khi các bãi đỗ trực thăng được Trung Quốc xây dựng rải rác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đi vào hoạt động, máy bay trực thăng của Trung Quốc chỉ trong 2 tiếng đồng hồ có thể tiếp cận bất cứ địa điểm nào ở các vùng biển này để hỗ trợ cho các tàu thuyền của Trung Quốc đánh bắt cá và khai thác hải sản phi pháp, phục vụ cho cơn khát hải sản của người Trung Quốc.
Việt Nam hay Philippines cần đặc biệt cảnh giác trước thủ đoạn mới này của Trung Quốc. 
Lý do nào khiến Trung Quốc rút tàu khỏi bãi Hải Sâm sau một thời gian hiện diện ở khu vực này. Nó có liên quan tới việc Mỹ đưa đội tàu sân bay tới Biển Đông hay không?
- Ngày 1/3, Mỹ đưa tàu sân bay USS John C. Stennis, các tàu khu trục, tuần dương hạm và soái hạm của Hạm đội 7 tới làm nhiệm vụ ở Biển Đông. Ngày 3/3, Trung Quốc rút các tàu ở bãi Hải Sâm. Theo tôi, không hẳn là Mỹ điều hàng không mẫu hạm vào Biển Đông để cứu Philippines trong vụ bãi Hải Sâm. 
Sự việc diễn ra vào lúc Trung Quốc đã chiếm giữ bãi Hải Sâm hơn một tháng. Khi đó, Philippines cũng đang băn khoăn không biết liệu Trung Quốc đang thực hiện ý đồ chiếm giữ lâu dài hay tạm thời. 
Việc Washington đưa đội tàu sân bay tới vùng biển này cho thấy Mỹ muốn biểu dương thực lực, thể hiện quyết tâm vì an toàn hàng hải, bảo vệ đồng minh là Philippines bằng hành động. Rõ ràng, Mỹ đang dứt khoát ngăn chặn Trung Quốc kiểm soát Biển Đông trên thực tế.
Thủ đoạn mới của TQ mở rộng kiểm soát ngư trường ở Biển Đông
Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis của Hải quân Mỹ. Ảnh: US Navy
- Từ những diễn biến tại Biển Đông thời gian qua, có thể thấy Mỹ và Trung Quốc đang "ăn miếng, trả miếng" nhau. Ông bình luận như thế nào về nhận xét này?
- Có những hành động chiến thuật trả đũa trong thời gian qua ở Biển Đông. Trung Quốc kéo tên lửa, đáp máy bay tới đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Mỹ đưa hàng không mẫu hạm rất mạnh tới khu vực.
Mỹ đang đưa ra những phản ứng mang tầm chiến lược, thể hiện rằng họ đang khởi động giai đoạn hai của chiến lược xoay trục sang châu Á. Giai đoạn một bắt đầu từ năm 2010 - khi Trung Quốc lớn tiếng tuyên bố đưa Biển Đông vào “lợi ích cốt lõi” và hoàn chỉnh triển khai chính sách xoay trục từ cuối năm 2011-2012.
Năm 2016 sẽ chứng kiến những nỗ lực của Mỹ chống lại việc Trung Quốc kiểm soát Biển Đông trên thực tế. Phản ứng của Mỹ trước các hành động của Trung Quốc vừa trên phương diện chiến thuật (tuần tra Biển Đông, hỗ trợ vụ kiện của Philippines, tập hợp lực lượng như Mỹ-ASEAN tại Sunnylands…) vừa trên phương diện chiến lược – triển khai, mở rộng “xoay trục”.
Tuần trước, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ, Đô đốc Harry B. Harris, nói họ có kế hoạch tập trận 3 bên cùng Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời đề xuất liên minh hàng hải 4 nước (Mỹ, Nhật, Australia, Ấn Độ). Liệu có phải Mỹ đang hình thành liên minh đáp trả Trung Quốc ở Biển Đông hay không?
- Mỹ luôn muốn làm điều đó. Họ không muốn một mình đứng ra cản Trung Quốc. Do vậy, Mỹ kéo Nhật Bản, Australia tham gia tuần tra Biển Đông.
Về chiến thuật, Hải quân Mỹ, có sự tham gia ở thời điểm nào đó của Nhật Bản và Australia, sẽ thực hiện các hoạt động tuần tra tại các khu vực Biển Đông, cả trên không và trên biển. Các hoạt động này nhằm bảo vệ nguyên tắc tự do hàng hải, quyền qua lại tự do trên biển và trên không, kể cả tàu chiến và máy bay quân sự, mà không bị ngăn chặn hoặc quấy nhiễu, đồng thời, cũng thách thức những tuyên bố chủ quyền của các thực thể nhân tạo.
Đề xuất lập liên minh hàng hải là một ý tưởng độc đáo. Có thể nó không diễn ra ngay, nhưng nếu một khi Trung Quốc leo thang ở Biển Đông, ép buộc các nước khác tuân theo luật lệ đơn phương của mình, ví dụ như các tàu, máy bay di chuyển qua Biển Đông phải xin phép Trung Quốc, liên minh hàng hải sẽ hoạt động. Điều này có lợi cho các nước nhỏ ở Biển Đông.
Nếu có liên minh như vậy hoặc cuộc tập trận đa bên, nó hoàn toàn phù hợp với quốc tế hóa Biển Đông. Ngoài ra, Mỹ cũng sẽ tiếp tục gia cố các quan hệ đồng minh và đối tác ở châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

Trao đổi về đám cháy từ bà Rồng (Trần Lệ Xuân)

Bảy mươi năm qua, hễ mỗi lần câu chuyện bà Nhu - Trần Lệ Xuân (1924-2011) được kể dù với động cơ mục đích nào, cũng đều có nguy cơ bùng lên một đám cháy tranh luận.
Dù trong bức tranh lịch sử chính trị đầy biến động của Việt Nam hiện đại, hình ảnh nhân vật này chỉ lóe lên trong chớp mắt của chín năm tồn tại nền Đệ nhất Cộng hòa - chế độ Việt Nam Cộng hòa - chính phủ Ngô Đình Diệm.
Đầu 2016, quyển tiểu sử Finding the dragon lady: the mistery of Vietnam’s madam Nhu của nhà nghiên cứu Mỹ Monique Brinson Demery vừa chính thức có phiên bản tiếng Việt với tựa Madam Nhu Trần Lệ Xuân - quyền lực Bà Rồng (Mai Sơn dịch, Phương Nam Book & NXB Hội Nhà Văn ấn hành) cũng đang tạo nên đám cháy những cuộc tranh luận mới, không dừng lại ở chữ nghĩa dịch thuật, mà xa hơn, là cái nhìn về nhân vật Trần Lệ Xuân phía sau một giai đoạn lịch sử đầy phức tạp.
- Từng biên soạn, dịch thuật nhiều tác phẩm triết học, văn chương kinh điển và hiện đại nhưng dường như đây là một dịch phẩm được ông dành nhiều tâm huyết? Những phản hồi đa chiều sau khi sách ấn hành dường như là điều mà ông đã tiên liệu?
- Tôi dành cho nó nhiều thích thú thì đúng hơn. Nếu có ai dịch nó rồi, tôi chắc chắn sẽ cầm sách lên và không buông xuống cho đến khi đọc hết, vì nó quá hay, quá hấp dẫn, từ câu chuyện nhiều kịch tính của nhân vật chính đến văn phong báo chí pha trộn tài tình với vô số chi tiết sử liệu. Về những phản hồi đa chiều hiện nay, quả thật là tôi có tiên liệu, nhưng không ngờ nó mạnh mẽ, bạo liệt và đầy cảm tính như chúng ta đang chứng kiến, mặc dù theo tôi biết đa số những tranh cãi trên mạng đến từ những người chưa đọc hết cuốn sách mà chỉ dừng lại ở cái tựa. Sự phân hóa thành ít nhất là hai luồng ý kiến và quan điểm cho thấy nhiều vấn đề lịch sử của miền Nam trước 1975 còn rất nóng bỏng, càng tránh nói đến thì càng nuôi dưỡng những đám cháy.
Trao đổi về đám cháy từ bà Rồng
Nhà văn, dịch giả Mai Sơn. Ảnh: N.V.N
- Từ cái nền căn bản là quyển hồi ký mà bà Nhu tin tưởng gửi gắm và những cuộc trao đổi qua điện thoại sau 20 năm sống lưu vong, tác giả Monique Brinson Demery đã dựng lại chân dung một “dragon lady” của chính trường Việt Nam thời hiện đại đầy thú vị và hấp dẫn dưới dạng tiểu sử pha trộn hồi ký, ký sự. Nhưng điều lớn lao hơn - phía sau bức chân dung cá nhân bà Trần Lệ Xuân - là toàn cảnh chính trị Việt Nam, là bối cảnh của sự ra đời, phát triển và suy tàn đầy bi thảm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1954-1963). Ông đánh giá thế nào về đóng góp của cuốn sách này ở phương diện sử học? 
- Anh đã khái quát được chủ đề của cuốn sách trong mấy câu. Bà Nhu chắc chắn là một nhân vật lịch sử quan trọng, góp phần xây dựng rồi “góp phần” từng bước làm suy sụp nền Đệ nhất Cộng hòa. Rất tiếc là nhiều chục năm qua, ở trong nước,người ta cố tình không nhìn bà ta như một con người toàn diện gắn chặt với những biến động chính trị - xã hội khốc liệt, mà chỉ tìm cách khai thác những scandal của bà, cắt bà ta thành nhiều mảnh vụn vặt với nhiều ác ý, thêu dệt.
Tại sao Monique Brinson Demery đã dành mười năm lục tung các thư viện, tài liệu Anh, Pháp, Việt, gặp gỡ vô số nhân chứng, và nhất là kiên trì phỏng vấn trực tiếp nhân vật chính để viết nên công trình này? Đơn giản là tác giả bị lôi cuốn vào cuộc đời của bà Nhu mà khía cạnh nào, thời điểm nào trong suốt cuộc đời của bà cũng cống hiến những case study (điển cứu) về chính trị, ngoại giao, xã hội, cai trị, đầy tranh cãi. Những thêu dệt tiêu cực về bà Nhu rơi rụng gần như ngay lập tức. Chẳng hạn, những chuyện tình ái của bà được các cây bút trong nước “dày công” viết ra hai, ba cuốn sách và vô số bài báo, thì M. Brinson Demery chỉ mô tả trong nửa trang sách, mà khái quát đầy đủ, rung động, rất sexy mà vẫn tao nhã. Tôi nghĩ tác giả không đứng trên lập trường (chính trị) nào cả, đơn giản là bà thấy bà Nhu là một trong những khuôn mặt lớn đã trực tiếp nhào nặn nên lịch sử của Việt Nam hiện đại, và tác giả nói đại khái: “Bà Nhu xứng đáng để tôi băng qua đại dương tìm hiểu”. Đại dương là hình ảnh nói lên muôn vàn khó khăn bà vượt qua để hoàn thành cuốn sách.
Mặt khác, có lẽ tác giả thấy rằng người Việt Nam cho đến nay vẫn còn chưa thấy hết vai trò dàn dựng kịch bản (và đó là một sai lầm) của Mỹ trong thảm kịch tháng 11.1963, nên bà nhấn đi nhấn lại những quân cờ di động kiểu Mỹ (ở Washington DC và Sài Gòn) ngay từ khai cuộc của ván cờ (và của cuốn sách). Và bà trích một câu nói trứ danh của bà Nhu: “Ai đã có nước Mỹ làm đồng minh thì không cần kẻ thù nữa”. Với cách tiếp cận đó, cuốn sách này dành cho nhiều đối tượng độc giả, mỗi đối tượng sẽ có cách tiếp cận khác nhau, nhưng điểm chung là bà muốn gieo sự bi quan tích cực cho độc giả Việt Nam và niềm hãnh diện về một phụ nữ Việt Nam từng một thời khuấy động và giành được sự kính nể của cả hai đảng trong chính trường nước Mỹ. Đó cũng là cách “giải huyền thoại Mỹ” chăng?
- Phía sau ván cờ đảo chánh 1963 là sự giật dây của người Mỹ, nhưng đó là một câu chuyện dài. Xin trở lại với hình tượng bà Nhu: người đàn bà hành động này luôn tạo ra kịch tính bởi mang nhiều đối cực trong tính cách...
- Tôi không rõ từ những kết hợp sinh học hay tâm lý học nào đã sản sinh ra một người như bà Nhu, nhưng theo tôi bà sinh ra để làm một chính trị gia, một nhà lãnh đạo thông minh, sắc sảo, quyết đoán, can đảm. Bà luôn ở tâm điểm của kịch tính, ở cao điểm của lãnh đạo để nhìn mọi sự và ra quyết định hoặc muốn ra quyết định. Khi thấy mình “hữu ích” hơn hai ông Diệm và ông Nhu trong những tình huống nhất định, bà thậm chí quát tháo và ra lệnh cho họ mà quên mất vị trí của mình. Nhưng như chúng ta thấy, bà rất tôn trọng trật tự trong hầu hết hoạt động bình thường. Họ buộc bà im lặng, bà tuân thủ ngay. Nếu bà có nhiều quyền lực chính danh hơn, không biết chuyện gì xảy ra. Nhưng người Mỹ, đại diện là Tổng thống Mỹ Kennedy, tiên đoán được sự bùng nổ của bà, thấy rõ vai trò, tài trí quyền biến và “tác hại” của bà ở hậu cảnh, nên họ tìm cách loại bà với quyết tâm không mạnh mẽ hơn thì cũng ngang với quyết tâm loại bỏ cả một chế độ.
- Thúc đẩy một bộ luật Gia đình để giải phóng phụ nữ dù biết điều này gây ra những chia rẽ lớn trong gia đình, thiết lập tổ chức bán quân sự nữ giới, phong trào Liên đới phụ nữ... dường như vai trò hoạt động nữ quyền của bà Trần Lệ Xuân cho đến nay vẫn chưa được các nhà nghiên cứu nữ quyền trong nước nhìn nhận đầy đủ và xác đáng. Theo ông, vì sao?
- Bà Nhu đã đóng góp to lớn vào phong trào đòi bình đẳng nam nữ ở miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng thời đó. Nhiều phụ nữ miền Nam sống qua những tháng năm đó, nói gì thì nói, vẫn nhắc đến điều này như một điểm son của bà Nhu. Tôi cho rằng đời sống nội tâm của bà Nhu rất mạnh và phức tạp, bà có thẩm mỹ và học thức cao, từ đó bà trực giác thấy hạnh phúc và đau khổ của người phụ nữ là thế nào. Cái áo dài cổ thuyền mà bà Nhu mặc không chỉ đẹp mà còn là biểu tượng cho sự giải phóng phụ nữ. Ngày nay người ta không dám nhắc nhiều đến nó, vì như vậy thì phải làm sống lại kẻ đã sáng tạo ra nó. Chính trị thì bao giờ cũng có hai mặt, nhưng dù sao đi nữa, sau khi đã gạn đục khơi trong, cái gì còn lại sẽ là những giá trị trường tồn.
Trao đổi về đám cháy từ bà Rồng
Hình ảnh bà Nhu trong lễ cưới 5.1943 tại Hà Nội. Ảnh: TL
- Dường như càng về cuối, cuốn sách càng đi vào bi kịch gia đình bà Nhu sau biến cố đảo chính 1963 với một sự chia sẻ sâu sắc - tác giả không coi bà Nhu là nhân vật chính trị chủ động nữa, mà là một nạn nhân của ván bài chính trị đầy tàn bạo của các cường quốc. Người đàn bà từ đỉnh cao danh vọng trở thành kẻ mất mát, lưu vong trong câm lặng gần như là một ẩn dụ nào đó của lịch sử cần được nhìn nhận thấu đáo hơn?
- Trong câu hỏi của anh gần như chứa một phần câu trả lời cay đắng: khi các nước lớn dù về lý thuyết là thù nghịch nhau nhưng vì lợi ích toàn cục lại “đi đêm với nhau”, “đàm phán trên lưng nước nhỏ”, thì số phận của “kẻ nhược tiểu” đã được định đoạt. Trong viễn tượng đó, bà Nhu là vật hy sinh cho một trong những cuộc tế lễ dối trá. Bà phải rời khỏi vũ đài chính trị quốc tế sớm để ván bài được tiếp tục, ít nhất là vì sự phân biệt giới (gender), chắc hẳn là như vậy, nếu không, tại sao Tổng thống Kennedy lại gọi bà là “chó cái” và chỉ thẳng về bà như là kẻ làm cho mọi sự sôi sục rối tung lên ở Việt Nam và người Mỹ không còn kiểm soát được nữa lúc bấy giờ.
- Là một nhà văn đam mê nghiên cứu, theo ông, có thể học được gì từ phương pháp viết tiểu sử của Monique Brinson Demery? Vì sao chúng ta chưa có những quyển hồi ký thú vị như thế do tác giả trong nước viết về các nhân vật lịch sử nước mình?
- Bài học trước hết là nghệ thuật tước bỏ những chi tiết thừa khi đã có trong tay một khối lượng chi tiết khổng lồ về nhân vật. Và nếu vậy, một câu hỏi đáng phải đặt ra: tác giả đã bỏ đi những chi tiết gì? Chúng ta tò mò muốn biết điều đó. Chẳng hạn, tại sao không thấy tác giả nhắc đến tướng Trần Văn Đôn, một nhân vật đình đám trước và sau biến cố tháng 11/1963 và vướng nhiều rắc rối tin đồn với bà Nhu? Đọc xong cuốn sách này, ai cũng có ít nhất một câu trả lời: có lẽ bà đã bỏ đi không thương tiếc những chi tiết rẻ tiền (mà người khác đã “trân quý” và còn “làm giả” để sản xuất hàng loạt) khi bà đã cảm thấy đây là một nhân vật lịch sử xứng đáng phục vụ cho một công trình nghiên cứu - báo chí: chân dung một khuôn mặt chính trị lớn.
Có thể một ngày nào đó bà lại tung ra cuốn sách viết về cuộc đời tình ái của bà Nhu thì sao? Nhưng chúng ta cũng không nên đoán mò. Thứ hai, rõ mười mươi là câu chuyện của nhân vật chính và hậu cảnh lịch sử phức tạp luôn song hành nhau, không lúc nào tách rời. Trên nền của từng hậu cảnh lớn nhỏ khác nhau, bà Nhu nổi bật lên với một ý nghĩa hoặc chiều kích nào đó. Thứ ba, nhưng không hề kém quan trọng, là bà không tiếc thời gian (10 năm) khi cảm thấy bà đang làm một việc lớn, một tác phẩm để đời.
Tóm lại, không có tự do học thuật, nghiên cứu, sáng tạo, thì mãi mãi chúng ta không có gì đáng kể cả!
Ở bản tiếng Việt vừa được ấn hành, về cá nhân, ông có điều gì hài lòng và không hài lòng?
Tôi hài lòng với bản dịch này. Vì tôi nghĩ tôi đã đem hết khả năng ngôn ngữ, kiến thức để tát cạn nội dung cuốn sách. Đây không phải là tác phẩm chứa đựng nhiều vấn đề về dịch thuật. Tôi (và người biên tập) đã để xảy ra một số sai sót. Và dĩ nhiên, nếu có thêm thì giờ thì làm cái gì cũng khá lên chứ không chỉ là một dịch phẩm. Tôi sẽ không nói tôi đã bị thúc giục như thế nào. Tôi cho rằng cuốn sách này không có vấn đề gì lớn về danh hiệu của bà Nhu mà tác giả (và người Mỹ) đặt cho.
Nội dung cuốn sách mới là điều đáng bàn. Không nên dừng lại reo hò mãi ở ngoài cái bìa mà không chịu lật vào trong. Mỗi người sau khi đọc xong sẽ chọn cho mình một danh hiệu bằng tiếng Việt để gọi bà Nhu, nếu không thì cứ đơn giản gọi bà là Dragon Lady. Riêng tôi, tôi dịch từ “Dragon Lady” thành “Rồng Cái” dựa vào ngữ nghĩa và hàm nghĩa (Đông - Tây), quan niệm của chính tác giả về bà Nhu, cảm thức, cảm giác và kiến thức tôi có về bà trước và sau khi đọc cuốn sách này. Thao tác và sự chọn lựa của tôi được một số dịch giả gạo cội và chuyên gia dịch thuật ủng hộ. Tuy vậy, tôi đã đón biết trước việc dịch ra tiếng Việt từ “Dragon Lady” có thể gây tranh cãi, nên tôi không muốn đưa nó ra bìa sách như là sự khẳng định. Tôi đã lấy một cái tựa khác, nhưng như mọi người thấy, nhà xuất bản đã có chủ trương của mình. Điều lạ lùng nhất là có không ít người thích đẩy cái từ này thành vấn đề “học thuật” hay “dịch thuật học” hay “văn hóa”... ngay cả khi chưa đọc sách.
 http://nguoidothi.vn/vn/news/van-hoa-giai-tri/nghe-xem-doc/9598/trao-doi-ve-dam-chay-tu-ba-rong.ndt
Theo Nguyễn Vĩnh Nguyên/ Người Đô Thị