Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Những người đã hy sinh để bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ


Phan Tất Thành

Trên các trang tin trong những ngày này, không ít người đã dùng mọi ngôn từ cao đẹp nhất để ca ngợi gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh oanh liệt của những chiến sỹ bỏ mình vì quân Trung Quốc khi chúng xâm chiếm một nhóm đảo trong quần đảo Trường Sa năm 1988. Sau đó, có người được phong Anh hùng LLVT, có liệt sỹ (không còn thi thể), có thương binh. Về với đời thường nhưng các anh luôn được ngưỡng vọng với niềm tự hào chính đáng. Giá như được lệnh đánh trả thì có lẽ sự hy sinh đó đỡ oan uổng hơn, nhưng có lẽ vì chấp nhận chết không đánh trả nên được đánh giá cao hơn những hy sinh khác.
Pháo 37 mm Trung Quốc bắn CBCS công binh Hải quân trên đảo Gạc Ma
Pháo 37 mm Trung Quốc bắn CBCS công binh Hải quân trên đảo Gạc Ma
Tôi lại nhớ đến các anh các chị, là đồng đội của tôi trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược năm 1979. Những Lê Đình Chinh, những Hoàng Thị Hồng Chiêm… và rất rất nhiều nữa. Người còn, người mất nhưng sao sự vinh danh dành cho những con người này lại nhàn nhạt, cứ như là sự hy sinh đó không cao đẹp bằng những người con hy sinh năm 1988 của đất nước này. Phải chăng vì họ đã chết khi trực diện đánh trả quân Trung Quốc xâm lược?
Mỹ xâm lược thì phải nói là Mỹ xâm lược. Nhật gây ra nạn chết đói năm 1945 thì phải nói là Nhật bắt nhổ lúa trồng đay. Pháp đô hộ và dìm các cuộc khởi nghĩa của dân ta thì nói rõ tội ác đó, nhắc con cháu đừng quên. Sinh thời, nhà thơ Tố Hữu còn hô lên rằng “thù muôn đời muôn kiếp không tan” cơ mà.
Nhưng giặc Trung Quốc xâm lược thì tại sao không nhắc cháu con là có một kẻ thù nham hiểm, tàn ác thâm căn cố đế từ bao nhiêu đời là Trung Quốc? Nay hòa hiếu là hòa hiếu nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, sao lại cố bưng tai bịt mắt, giả ngây giả ngô, quên cả máu xương đã đổ.
Ngày 30-4 thì hát vang những bài hát thời chống Mỹ – kể cả hát cho Mỹ nghe. Ngày 7-5 thì “ Giải phóng Điện Biên”, nhưng ngày mong nghe lại “Chiến đấu vì độc lập tự do” thì câm lặng. Nhạc sỹ Phạm Tuyên kể tôi nghe chuyện được cơ quan chức năng yêu cầu sửa vài chữ như “xâm lược, bành trướng, dã man…”, nhạc sỹ không sửa, thế là bài hát không được phổ biến nữa. Người bình thường khi bị một kẻ khác đánh cho chảy máu thì gọi đích danh nó ra mà kể tội chứ không ai lại hèn nhát, lúng búng như ngậm hột thị vậy. Khi một tấm bia cũng đục bỏ hai  chữ “Trung Quốc” chỉ để lại “ quân… … xâm lược” thì chứng tỏ những kẻ dốt nát không biết rằng: “ một nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ nhưng một nửa sự thật đã không phải là sự thật” nữa rồi.
*
Trên, tôi nói về quân xâm lược và sự hy sinh của những người đã chiến đấu vì đất nước này, nhưng vẫn có những người con đất Việt đã hy sinh vì sự toàn vẹn lãnh thổ mà sự hy sinh đó chưa được đánh giá, được coi trọng một cách xứng đáng như nó vốn có. Đó là những người đã lăn xả vào trận chiến đấu chống quân Trung Quốc khi chúng tiến đánh, quyết chiếm quần đảo Hoàng Sa, một phần lãnh thổ không thể cắt rời của chúng ta.
Sự hy sinh của năm 1974 khác gì sự hy sinh năm 1979 và năm 1988? Bất luận anh là ai nhưng tại sao không thể nói – nói một cách rạch ròi – rằng:  “…  trong những ngày cuối tháng 1-1974, tại quần đảo Hoàng Sa của chúng ta, các anh  đã chiến đấu anh dũng, ngoan cường, dám đem tính mạng mình để đánh trả quân Trung Quốc khi chúng ồ ạt tiến vào xâm chiếm quần đảo này…”. Hơn thế, họ còn bắn chìm tàu quân xâm lược, khi hy sinh, họ chết theo tàu, chỉ huy của họ dõng dạc “là quân nhân, tôi chấp nhận hy sinh vì Tổ quốc”… (Hạm trưởng HQ.4 Vũ Hữu San). Những chuyện này khía sâu vào tâm khảm ta khác gì lời thét vang “thà máu ta nhuộm đỏ biển Đông chứ không để mất đảo” năm 1988 của anh Trần Văn Phương (Trung úy Anh hùng Liệt sỹ).
Quân xâm lược “rất dã man” chứ không chỉ “dã man” (như Phạm Tuyên viết). Chúng bắn thẳng pháo vào đội hình của ta, chúng không cho ứng cứu, khi gặp quân ta trôi dạt trên biển, chúng chạy tàu đến nhìn rồi cười khả ố quay đi không cứu giúp, cố tình để các anh chết dần chết mòn trên biển.
Nhưng những chiến binh dũng cảm ấy đến nay vẫn sống – dù là sống âm thầm – chứ đâu có chết. Và cùng những người thân họ vẫn tự hỏi rằng sự hy sinh đó sao chưa được ghi nhận là chống ngoại xâm???
Khi mà những cựu binh Mỹ đến Việt Nam, cùng cựu chiến binh Việt Nam thắp hương cho những người tử trận cả hai phía tại đường 9 Khe Sanh, thì lẽ nào ở những nơi khác trên đất nước này, có những người con Việt Nam khác cũng đã chiến đấu hy sinh vì chống quân xâm lược, tuy khác tên nhưng vẫn là quân xâm lược cả, lại bị phân biệt đối xử? Lẽ nào hy sinh vì bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ lại nhất bên trọng nhất bên khinh?
*
Mang sự trăn trở ấy trao đổi với những người đồng cảm, gặp được một người đàn anh đầy tài năng và cũng suy nghĩ như tôi, được anh cho phép, tôi cùng anh làm một bộ phim tài liệu về những con người ấy. Dù  ở đâu, còn hay mất, chúng tôi cũng cố tìm, phục hiện lại gương hy sinh của những con người đó.
Tháng 3-2012 bộ phim đã được khởi quay. Những người chúng tôi đã gặp trong sử sách, trên bàn thờ gia đình và trong đời sống thực, từ người ra Hoàng Sa theo lệnh vua Bảo Đại, đến những người ra đảo theo lệnh chính quyền Việt Nam Cộng hòa, rồi người năm 1974 vì giữ đảo bị Trung Quốc bắt làm tù binh đưa về Quảng Châu, sau đó được trả về nước, ngay cả ông Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa thuộc TP Đà Nẵng đương chức hiện nay… mỗi lần nhắc đến tên Hoàng Sa không ai là không xúc động.
Trên Hoàng Sa còn dấu tích những lần ra đảo của vua Gia Long. Còn cái giếng vua ra lệnh đào cho những người giữ đảo sử dụng. Còn phần mộ vợ ba của ngài táng trên đảo. Không cần nói xa xưa hơn, thế đã đủ cho thiên hạ biết rằng Hoàng Sa là của Việt Nam.
Bộ phim tài liệu này nhằm nói lên những điều đó, về những con người đó. Cố gắng góp một tiếng nói mong muốn được vinh danh cho sự hy sinh đó, vạch mặt quân xâm lược. Cố gắng đánh thức sự mê ngủ của 16 chữ – mà trong đó có 4 chữ ngẫm ra dường như là liều thuốc mê nặng nhất: “ổn định lâu dài” (trong khi chỉ mới vài ngày trước đây thôi đài báo thế giới loan tin chính cái bọn áp đặt cho ta 4 chữ đó lại đã tiếp tục giở trò với tàu thuyền của ta). Phải chăng “ổn định…” có nghĩa là quên đi đừng nghĩ gì về Hoàng Sa nữa?
Qua bài viết này tôi muốn bày tỏ lòng mình và có một mong muốn nhờ đến sự giúp đỡ của mọi người quan tâm: Nếu ai có một thông tin gì về những người đã chiến đấu giữ Hoàng Sa năm 1974 đang sống ở đâu đó hãy liên hệ với chúng tôi, cung cấp thông tin ấy cho chúng tôi. Chúng tôi tha thiết mong muốn tìm gặp những người ấy. Họ đã chiến đấu, hy sinh để giữ Hoàng Sa và thời điểm này họ là nhân chứng sống, họ là những cột mốc bằng người chứng minh chủ quyền Hoàng Sa là của Việt Nam.
14-3-2012
P. T. T.

Tàu Trung Quốc áp sát giàn khoan và kho nổi chứa xuất dầu thô của Việt Nam


Một nguồn tin đáng tin cậy cho Bauxite Việt Nam biết lúc 3 giờ chiều ngày 9 tháng 3 vừa qua, hai tàu hải giám Trung Quốc áp sát kho nổi chứa xuất dầu thô FPSO Lewek Emas của Việt Nam đang neo đậu tại vị trí giàn khoan mỏ Chim Sáo, ở lô 12W, thềm lục địa Việt Nam.
Một tàu tiến gần đến mức có thể thấy rõ số đăng ký 75 và dòng chữ Chinese Marine Surveillance (Tàu Hải giám Trung Quốc) ở mạn tàu (xem ảnh bên dưới). Tàu Trung Quốc không trả lời dù phía Việt Nam cố gắng bắt liên lạc trên các kênh VHF 16, 14, 12, 72. Phải đến khi Việt Nam đưa tàu Sapa (tên một chiếc tàu kéo dịch vụ dầu khí) tiến về hướng tàu hải giám Trung Quốc, thì chúng mới bỏ đi, lúc 3g40.
Điều đáng chú ý là cho đến nay toàn bộ vụ việc hoàn toàn không được công khai.
BVN

TRÒ CHUYỆN VỚI NGƯỜI VIẾT KỊCH BẢN PHIM ĐỒNG NỌC NẠN


Nhà văn Chu Lai thổ lộ: “Tâm trạng của tôi, một người lính già đã đi qua chiến tranh, về vụ Cống Rộc là buồn, rất buồn! 1928 và 2012, khoảng cách là 84 năm, gần một thế kỷ trôi qua, đáng lẽ mọi sự sẽ tốt đẹp lên biết bao mà giữa Nọc Nạn và Cống Rộc sao nó lại gần nhau đến thế? Thậm chí nó còn tệ hại hơn nhiều về khía cạnh nhân văn, chính trị và đạo lý. Bởi lẽ hà hiếp, áp bức gia đình ông Mười Chức ngày ấy là một điền chủ , đại diện cho giai cấp cường hào bóc lột còn đại diện bây giờ lại là đảng ủy, chính quyền xã huyện và trên cao hơn nữa. Thế là thế nào nhỉ? Chả lẽ lịch sử đang lặp lại, chả lẽ giữa thanh thiên bạch nhật lại nảy nòi ra một cánh cường hào mô đéc ư? Mà cái cánh này lại luôn rao giảng, thậm chí xin thề dưới đảng kỳ là vì dân, chỉ hết lòng vì quyền lợi, cuộc sống của nhân dân! Một màn kịch bi hài đến đau xé, đến trào nước mắt không thể kìm lòng”

TRÒ CHUYỆN VỚI NGƯỜI VIẾT KỊCH BẢN PHIM ĐỒNG NỌC NẠN

LÊ THIẾU NHƠN
Thưa nhà văn – đại tá Chu Lai, vụ án Cống Rộc ở Tiên Lãng- Hải Phòng đang khiến mọi người nhớ lại vụ án Nọc Nạn ở Giá Rai – Bạc Liêu vào năm 1928. Ông đã từng dựa theo cuốn truyện “Nọc Nạn” của Phúc Vân để viết kịch bản “Đồng Nọc Nạn” cho đạo diễn Trần Vịnh làm phim vào năm 2004. Ông có so sánh hay suy nghĩ gì không?
Chu Lai: Tâm trạng của tôi, một người lính già đã đi qua chiến tranh về vụ Cống Rộc là buồn, rất buồn! 1928 và 2012, khoảng cách là 84 năm, gần một thế kỷ trôi qua, đáng lẽ mọi sự sẽ tốt đẹp lên biết bao mà giữa Nọc Nạn và Cống Rộc sao nó lại gần nhau đến thế? Thậm chí nó còn tệ hại hơn nhiều về khía cạnh nhân văn, chính trị và đạo lý. Bởi lẽ hà hiếp, áp bức gia đình ông Mười Chức ngày ấy là một điền chủ , đại diện cho giai cấp cường hào bóc lột còn đại diện bây giờ lại là đảng ủy, chính quyền xã huyện và trên cao hơn nữa. Thế là thế nào nhỉ? Chả lẽ lịch sử đang lặp lại, chả lẽ giữa thanh thiên bạch nhật lại nảy nòi ra một cánh cường hào mô đéc ư? Mà cái cánh này lại luôn rao giảng, thậm chí xin thề dưới đảng kỳ là vì dân, chỉ hết lòng vì quyền lợi, cuộc sống của nhân dân! Một màn kịch bi hài đến đau xé, đến trào nước mắt không thể kìm lòng. Tựa vào cái ác để làm điều ác đã không thể tha thứ, nhưng tựa vào cái thiện, vào những điều thiêng liêng cao quý mà dân tộc ta phải đổ hàng núi xương sông máu mới có được để làm điều ác thì cái ác ấy lại còn nguy hại gấp hàng ngàn lần hơn, vì khi đó cái ác đã cộng thêm vào cả sự giả trá độc địa.

Bộ phim "Đồng Nọc Nạn" do Đài truyền hình Bạc Liêu sản xuất!
Trong lời tựa cho cuốn truyện “Nọc Nạn” của nhà văn Phúc Vân in lần thứ 4 nhân dịp tròn 10 năm thống nhất đất nước, nhà cách mạng lão thành Trần Bạch Đằng cho rằng, sự tranh đấu của những người nông dân vào năm 1928 “là những tế bào hợp thành cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam” và “hiểu Nọc Nạn để hiểu Minh Hải, hiểu Tám Luông, Mười Chức và để hiểu con người Minh Hải một cách căn cơ, có trước có sau. Hiểu để tin yêu”. Bây giờ có lẽ chúng ta cũng phải tìm ra cách hiểu Cống Rộc – Tiên Lãng? 
Chu Lai: Xã hội ta lúc này đang gặp biết bao điều khó khăn, nan giải,  có tác động không nhỏ đến lòng tin của người dân với đảng với chính quyền, sự suy thoái về nhân cách của các vị quan tham trong vụ này vô hình chung đã giáng một đòn chí mạng vào cái lòng tin đang có chiều lung lay đó. Vậy họ không chỉ có tội với nhân dân, với lịch sử một mảnh đất anh hùng trong kháng Pháp mà còn có tội với chính cái tổ chức đảng mà họ đã từng thề thốt rằng sẽ hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho sự nghiệp đấu tranh của nhân dân. Chao ôi, một chút nữa họ đã làm đổ máu của người dân vô tội. Vậy họ có còn xứng đáng có mặt trong đội ngũ Tiên phong ấy nữa không? Một người có tự trọng tối thiểu  thì nhân việc này không cần  chờ đến các hình thức kỷ luật (nặng hay nhẹ) ập xuống đầu  mình mà phải dám đứng ra nhận những hình phạt cao nhất. Văn hóa từ chức hay cách chức ở đây chưa đủ, mà còn cần phải có văn hóa tự nghiêm trị.

Phía sau vụ án Nọc Nạn rõ ràng có sự bắt tay giữa gian thương Bang Tắc và giới chức địa phương. Còn vụ án Cống Rộc thì bi kịch đất đai ấy, theo ông, có thể lý giải như thế nào?
Chu Lai: Lý giải gì nữa, tất cả là khởi nguyên từ lòng tham thôi. Sự việc cưỡng chế nhà ông Vươn khiến tôi liên tưởng đến những  vụ mua bán bất động sản đang xảy ra hàng ngày khi hai bên đã thuận mua vừa bán rồi, ký kết, đặt cọc nhận tiền rồi nhưng bỗng nhiên có một người thứ ba đến trả cao hơn, rất cao, thế là bên bán mụ mị, là không còn tỉnh táo biết mình là ai, mình đang giữ trọng trách gì nữa, bất chấp nhân tình thế thái, bất chấp mọi đạo lý, pháp luật vội tìm mọi cách để “ bùng” mong ăn giá chênh lệch. Thử hỏi cái số héc ta đã ký với ông Vươn đó vẫn cứ là bãi bồi, là hoang hóa buồn tênh, hiu hắt mà không có một đại gia, một tập đoàn kinh tế, một dự án sân bay hay khu resort lấp lánh nhòm vào, gợi ý thì liệu các vị trong xã, huyện có làm gắt thế  không? Chắc là không. Thế mới biết, cái lợi nhỡn tiền, cái cuộc chiến bất động sản, cuộc chiến dự án  mới có sức mạnh hủy diệt các giá trị tinh thần, các giá trị nhân văn cội nguồn làm sao! Nhiều khi nó còn khốc liệt hơn cả một cuộc chiến mang ý nghĩa súng đạn thật sự bởi nó không có chiến tuyến rõ ràng, nó hoàn toàn có điều kiện lập lờ đánh lận con đen .                                                                    
@ Khi viết lại vụ án Nọc Nạn để làm phim, ông có nghĩ hôm nay chúng ta phải đối diện với vụ án Cống Rộc không?
Chu Lai: Tất nhiên là không. Ngàn lần không! Bởi non một thế kỷ trôi qua, cả dân tộc đã trả một giá quá đắt để có sự công bằng bác ái, vậy mà cái công bằng bác ái đó lại bị chà đạp trắng trợn đến nước ấy thì làm sao có thể tin được và hơn thế, các thế hệ hùng anh ngày ấy còn ai dại gì tình nguyện đua nhau ra đi vào chỗ chết vì nghĩa cả non sông.

Tượng đài di tích lịch sử Nọc Nạn tại Giá Rai, Bạc Liêu!
Sự phản kháng của anh em nhà Mười Chức bằng dao mác, và sự phản kháng của anh em nhà Đoàn Văn Vươn bằng súng hoa cải, tuy khác nhau về sự vũ trang nhưng dường như ở họ có một mục đích giống nhau. Theo ông, nên gọi tên điều ấy ra sao?
Chu Lai: Cả hai con người, hai hiện tượng ấy đều mang một mục đích, một cái tên gọi  giống nhau là bản năng tự vệ, là tức nước vỡ bờ. Nói khác hơn đó chính là tiếng nổ định mệnh, tiếng chuông cảnh tỉnh khi pháp luật còn bị lợi dụng, khi lòng dạ con người còn lắm u mê. Nếu không có tiếng nổ sát thương bất đắc dĩ ấy, sát thương thôi chứ không phải là tiêu diệt vì nếu đã muốn tiêu diệt thì không ai lại ngớ ngẩn đi dùng thứ đạn hoa cải, mìn tự tạo mỏng tang như thế, họ sẽ dùng AK, lựu đạn những thứ không phải khó kiếm nếu muốn kiếm,  nhất là một con người có bằng kỹ sư như ông Vươn mà cứ đi kiến nghị, kiện cáo, mang nhau lên nằm ở dinh Chủ tịch nước này, dinh Thủ tướng kia hoặc đổ xăng vào người tự thiêu tự sát,  thì có lẽ mọi sự phi lý vẫn tiếp tục chìm trong đêm dài im lặng. Tất nhiên không ai chấp nhận người dân dám liều lĩnh dùng vũ khí để chống lại chính quyền dù chính quyền có sai đến mấy, nhưng một khi con người rơi vào trạng thái đau đớn,  tuyệt vọng, bi phẫn đến tột cùng, họ sẽ không còn kiểm soát được hành vi và lý trí của mình nữa. Cùng tắc loạn. Trong cuộc sống thường vẫn tồn tại hai cụm từ  “ngộ sát” và “mưu sát”. Vấn đề còn lại là ai, thế lực nào đã cưỡi lên luật pháp để đẩy một con người lương thiện vào trạng thái chông chênh, hiểm nghèo đó. Câu hỏi này tin rằng pháp luật một khi còn nghiêm minh sẽ tìm được câu trả lời.
  
Tại phiên tòa xét xử vụ án Nọc Nạn, dù một quan Pháp bị đâm chết trong cuộc xung đột, nhưng luật sư người Pháp – Tricon vẫn ca ngợi thành quả khẩn hoang của những người nông dân thấp cổ  bé họng với lập luận đanh thép: “Chúng ta, những người Pháp, nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, mà  là sự độc tài của trái tim”. Ông dự đoán xem, liệu có luật sư người Việt nào hôm nay dùng lý lẽ ấy để bào chữa cho Đoàn Văn Vươn không nhỉ?
Chu Lai: Tôi tin là có. Có không phải chỉ trong tấm lòng một luật sư mà sẽ có cả trong tâm khảm các vị thẩm phán, chánh án trong phiên tòa. Bởi vì xử gì thì xử, công năng tối thượng cuối cùng của một nền luật pháp nhân văn vẫn là vì con người, cho con người. Tức là hiệu ứng cao nhất của việc xử là thu phục được nhân tâm, cảm hóa được trái tim con người để mọi người tin vào cuộc đời, tin vào công lý và lẽ công bằng hơn. Làm ngược lại, hiệu quả do nó gây ra sẽ không lường trước được. Tất nhiên vẫn là hiệu quả của trái tim nhân quần bị rạn nứt.  
@ Luật sư thứ hai trong phiên tòa xét xử vụ án Nọc Nạn năm xưa cũng là một người Pháp – Zévaco đã xin tòa tha thứ cho các bị can, rằng họ phạm tội do “họ tưởng rằng có thể tự lực gìn giữ phần đất ruộng mà họ đã từng rưới mồ hôi và máu của họ lên đó”. Và kết quả những bị can đều được xử rất nhẹ. Ông tin “kịch bản” ấy sẽ lặp lại với vụ án Cống Rộc chứ?
Chu Lai: Chắc chắn nó sẽ được lặp lại như một định đề về cái thiện và cái ác. Điều này đã được chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kết luận và nêu ra là sẽ giữ luật pháp nghiêm minh nhưng phải chú ý đến những tình tiết giảm nhẹ. Đây là một câu chuyện hết sức nhạy cảm. Sẽ có người cho rằng nếu xử nhẹ quá thì ắt sẽ tạo một tiền đề xấu cho các vụ phản kháng về sau. Nhưng tôi lại nghĩ rằng, nhẹ hay nặng là do bản chất sự việc quy định, nếu xử đúng sẽ được lòng dân, xử sai là mất hết. Và cũng chớ coi thường trình độ giác ngộ của nhân dân một khi họ đã được trui rèn trong lửa máu hiểu thế nào là lòng trung thành với chế độ, là sự thủy chung với số phận non sông, là khả năng biết phân biệt thật giả của cuộc đời để không dễ mỗi lúc có thể kích động tạo ra một tiền đề xấu. Vấn đề còn lại là tầm nhìn, cõi nhân tâm và trí tuệ của các cơ quan xét xử.
Tôi cũng không hoàn toàn nhất trí với lập luận của ai đó cho rằng, một khi lực lượng cưỡng chế vi phạm pháp luật thì người bị cưỡng chế dù có manh động thế nào cũng là đại diện cho pháp luật. Cũng như tôi thấy các tay súng công an, bộ đội là không đáng trách vì là người lính thì họ chỉ làm theo mệnh lệnh mà cái đáng giận là những người ra cái lệnh thất nhân tâm đó. Đáng buồn hơn là sau khi cho thuê xe vô cớ húc đổ nhà người ta, một vị cấp phó  thành phố lại ngang nhiên đổ vấy cho người dân bất bình mà phá sập. Hơn cả sự trí trá, nó còn là hành vi xúc phạm đến nhân dân trong khi lại tự vỗ ngực là đày tớ của nhân dân. Còn nữa, dùng cả trên trăm tay súng được trang bị tận răng để chỉ giải tỏa, tấn công một nhúm người trong đó có cả phụ nữ,  vậy  mà ông giám đốc công an không hề thấy có chút áy náy nào lại còn hỉ hả như vừa lập được một chiến công vô tiền khoáng hậu mang  tính hiệp đồng binh chủng tuyệt đẹp, đáng phải đưa vào giáo trình thì đúng là không hiểu làm sao cả. Trước ông là người dân hay kẻ thù bất cộng đái thiên, mà ông có thể vui mừng được như thế?   
@  Trong kịch bản “Đồng Nọc Nạn” của ông có chi tiết rất đáng suy nghĩ, đó là khi chính quyền huy động mã tà tập hợp dân giang hồ tứ chiếng nhằm trấn áp gia đình nông dân Mười Chức, thì một tay  “anh chị” như Xém đã từ chối để giữ tư cách của mình với lý do  “sợ mang tiếng ăn tiền bọn nhà giàu, đi hiếp đáp người ngay”. Chi tiết ấy ông đã dựa theo sử sách hay bịa ra như một mơ ước về sự uy nghiêm của chính nghĩa?
Chu Lai: Tất nhiên chi tiết này là hư cấu nhằm gửi đến một thông điệp: Cuộc đời dù còn nhiều trái ngang, thậm chí bất công nhưng cuộc đời vẫn còn có rất nhiều người tốt, nhiều người dám đứng về phía lẽ phải mà khước từ mọi cám dỗ bổng lộc, hư vinh. Nếu không thế thì dân tộc đã không tồn tại bền bỉ, vượt lên mọi chông gai, thác lũ cho đến tận bây giờ…
@ Với tư cách một nhà văn đã từng viết lại vụ án Nọc Nạn, ông muốn hồi kết của vụ án Cống Rộc như thế nào?
Chu Lai: Tôi thầm mong muốn hồi kết của vụ án Cống Rộc cũng sẽ mang cái kết sâu thẳm nhân tình và chính xác như vụ án Nọc Nạn. Vụ án Nọc Nạn năm xưa cả đất nước còn chìm sâu trong thể chế  phong kiến và chủ nghĩa thực dân độc tài, hủ bại mà còn được như thế thì hôm nay, dưới ánh sáng tư tưởng vì dân, vì một nước Việt Nam công bằng, tự do, ấm no, bác ái của chủ tịch Hồ Chí Minh, chả lẽ lại có thể làm khác đi. Mà không chỉ riêng tôi, hàng triệu người dân Việt trong đó có không ít các đồng chí đảng viên tiền bối, danh tướng, lãnh đạo cũng thầm mong như vậy để cuộc sống còn nhiều vất vả này xuất hiện những tín hiệu màu xanh nhân ái…

Thân phận bọt bèo của người nông dân Việt Nam


Thụy My
"Cốt lõi của vấn đề vẫn là những quy định mập mờ của Luật đất đai. Người ta biết trước sau gì cái mảnh đất ấy cũng thuộc về người khác, người nông dân không có những yếu tố để gắn bó với đất đai của mình... Nông dân mà ra phố, khi họ về thì họ mang theo rất nhiều tật xấu ở phố, khiến cho sự thuần khiết về mặt truyền thống mất đi... Bộ máy công quyền ở địa phương thực sự rệu rã, thậm chí họ chả làm gì ngoài cái việc xem có cái gì có thể chôm chỉa được của dân thì họ làm"...
Những gánh hàng rong
Gánh cả nỗi đau nhà nông không đất
Những trai làng thờ thẫn đợi người thuê
Trôi dạt thị thành vẫn giữ nét quê
Nhoẻn miệng cười khi công an rượt đuổi

Đừng đuổi !
Xin đừng rượt đuổi !
Họ chỉ là nạn nhân
Đô thị mở rộng mất nơi cày cấy
Đô thị văn minh họ không chốn nương thân

Những mảnh đời lam lũ
Từng gánh gánh nặng chiến tranh
Nay gánh gánh nặng hòa bình
Sống thời nào cũng thiệt
Thiếu cả lời kêu than...

Những lời thơ chân chất trong bài thơ « Đừng đuổi ân nhân » trên đây không phải do một nhà thơ chuyên nghiệp viết ra, mà là của một nhà khoa học - giáo sư tiến sĩ Hoàng Xuân Phú, làm việc tại Viện Toán học, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
« Người nông dân thời nào cũng khổ », nhiều người đã có cùng một nhận xét như thế. Nhà văn Tạ Duy Anh ở Hà Nội nhận định :
Tôi thì bản thân tôi là nông dân, xuất thân từ nông dân và giờ đây vẫn là nông dân dù mang danh là nhà vẵn. Thế nên tôi có mối quan tâm đến những bà con của mình ở làng quê. Tôi thấy thế này, người nông dân luôn là đối tượng chịu thiệt thòi nhất trong xã hội. Thứ nhất là vì hầu hết họ thuộc tầng lớp dân cư có vị trí và dân trí rất thấp, ít có cơ hội tiếp cận với những thành tựu khoa học công nghệ. Những dịch vụ như là y tế, giáo dục, thì lại càng ít có điều kiện. Ở nông thôn hiện nay những dịch vụ ấy còn rất lạc hậu, mặc dù ở thành phố thì có một số nơi người ta được hưởng những dịch vụ tốt hơn.
Trong khi đó thì điều kiện lao động của họ luôn luôn cực nhọc. Bản thân tôi đã từng sinh sống ở nhà quê hai mươi năm trước khi tôi thoát ly đi viết. Người nông dân cực nhọc lắm ! Cho dù là hiện nay quá trình cơ giới hóa ở một số khâu và một số nơi đã được cải thiện đáng kể. Thí dụ như thỉnh thoảng xem tivi thấy người ta bắt đầu gieo trồng bằng máy, gặt đập bằng máy, nhưng mà đấy là những vùng mà có điều kiện ở miền Nam, do đất rộng. Còn ở đa số những vùng đất manh mún, nhỏ lẻ ở miền Bắc, miền Trung, và có cả một số nơi ở miền Nam, thì lao động thủ công vẫn là chính. Lao động rất là cực nhọc !
Nông dân cũng thuộc nhóm người luôn bị thiệt thòi trong việc bán sức lao động của mình. Hàng hóa do họ làm ra thường chiếm tỉ lệ lao động cơ bắp rất cao, ít có đầu tư về công nghệ, và được định giá rất là thấp. Thường là bán ở dạng thô, chưa qua chế biến nên rất rẻ. Thương lái, những người có tiền, những người làm các khâu dịch vụ buôn bán nông sản ,thường lợi dụng tất cả những điểm yếu của nông dân để bắt bí họ.
Những người nông dân cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ những biến đổi như là biến đổi khí hậu, rồi biến đổi về thể chế, chẳng hạn như là dịch bệnh, lạm phát. Bởi vì họ không có những công cụ hữu hiệu để chống lại những tệ nạn ấy.
Đấy là tôi nói cái chung. Có lẽ là nông dân thì ở đâu – nhất là những nước đang phát triển, chậm phát triển – thì có thể họ cũng có những cái nét khổ chung như thế. Nhưng mà riêng ở ta thì ngoài những cái khổ ấy ra, họ còn phải đối mặt với sự bất an liên quan đến đất đai.
Vấn đề đất đai, một trong những nỗi bất an của người nông dân Việt Nam, theo nhà văn Tạ Duy Anh, thì cũng là một vấn đề hết sức phức tạp :
Nhắc đến người nông dân là nhắc đến đất đai, nhất là nông dân Việt Nam, bởi vì họ gắn bó với mảnh đất của mình, sống chết với mảnh đất của mình từ nghìn đời nay.
Thế nhưng do những mù mờ trong Luật đất đai, rồi do quá trình chuyển đổi không triệt để về kinh tế…do rất nhiều nguyên nhân. Từ những nguyên nhân chính trị, xã hội, rồi do tâm lý, mà vấn đề đất đai hiện nay ở Việt Nam là rất phức tạp, và nó ảnh hưởng trực tiếp đến người nông dân, là những người đầu tiên phải chịu tác động.
Ví dụ đất đang ở từ đời này sang đời khác, con thừa kế từ ông từ bà từ cha từ mẹ, thế nhưng mà cũng không phải là đất sở hữu của mình về mặt pháp lý. Vẫn là đất thuộc sở hữu toàn dân, tức là anh chỉ có quyền làm nhà trên đó thôi, được sử dụng mảnh đất đó thôi, nhưng không phải là chủ của mảnh đất ấy.
Còn đất canh tác thì luôn chỉ là tạm giao thôi. Có thể là hai mươi năm, nhưng mà cũng vẫn là tạm giao. Thế rồi các quá trình chia lại ruộng đất khiến cho đất đai ở nông thôn nó nát bét ra. Nó thành những mảnh nhỏ lắm, và hậu quả là không thể nào mà áp dụng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật được. Nó khiến cho những cơ hội giúp người nông dân được thay đổi phương thức lao động càng khó đi.
Nói chung cái tình trạng ở nông thôn, như tôi đã từng nói, người nông dân đứng trước một tương lai không sáng sủa. Có những nghịch lý rất buồn cười như thế này : đất thì ít, bình quân đầu người ở Việt Nam đất nông nghiệp chỉ có vài trăm mét vuông, nhưng mà khá nhiều nơi đất vẫn còn bị bỏ hoang rất lãng phí. Thế thì đó thực sự là vấn đề bế tắc.
Tôi không hiểu muốn nông thôn theo kịp với mục tiêu công nghiệp hóa đất nước, thì sẽ khắc phục cái tình trạng này như thế nào. Chúng tôi vẫn nói rằng là người nông dân không còn đói nữa, nhưng mà nghèo thì vẫn phổ biến
Do không an tâm làm giàu trên mảnh đất của mình, nên nhiều người nông dân có tư tưởng ăn xổi ở thì :
Tôi nghĩ là cái việc mà người nông dân bỏ làng ra đi, ly hương rồi ly nông, nó là một trong những vấn nạn lớn nhất của xã hội Việt Nam hiện nay. Là bởi vì thế này. Cũng nhiều người đưa ra những giải thích quanh co, bám vào những nguyên nhân mang tính xã hội về hiện tượng bỏ làng, bỏ đồng ruộng. Nhưng cốt lõi vấn đề mà họ cố né tránh vẫn là những quy định mập mờ của Luật đất đai.
Tức là người nông dân họ có lý do để họ không yên tâm bám vào đồng ruộng. Họ không có những yếu tố để gắn bó với mảnh đất của mình. Nhà nước cho họ rất là nhiều quyền, nhưng mà thực ra những quyền đó rất là cảm tính, và cũng rất dễ bị tước bỏ. Bởi vì luật thì phải trên cơ sở những căn cứ pháp lý rất rõ ràng, chặt chẽ, thế nhưng quy định thì người ta có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Vì thế mà nông dân không yên tâm với mảnh đất của mình.
Và không yên tâm thì họ không canh tác một cách thực sự. Bởi vì tôi cũng là nông dân, tôi biểt. Ngày xưa khi các cụ canh tác thì các cụ còn phải cho đất nghỉ, đất thở. Thế rồi còn phải bồi đắp, phải tạo độ phì nhiêu cho nó sau mỗi vụ thu hoạch. Thế nhưng hiện tại thì cái quá trình đó người ta không quan tâm. Là vì như thế này. Người ta biết trước sau gì cái mảnh đất ấy cũng thuộc về người khác, hoặc là Nhà nước thu lại.
Thế thì họ tận dụng, khi canh tác thay vì phát huy khả năng đất đai thì họ bằng mọi cách họ tận thu. Mà cái tận thu này là như thế nào ? Tức là có nơi thì họ đào ao, có nơi họ đào đất ruộng ấy để đóng gạch, nơi thì họ đào cái mặt ruộng - bởi vì canh tác chỉ trên đất mặt thôi - cho những khu sinh thái mà người ta cần đất mầu.
Quá trình này theo tôi là quá trình suy thoái đất đai một cách nguy hiểm nhất, mà không thể dễ dàng tìm ra thủ phạm để quy trách nhiệm. Nhưng cái quá trình suy thoái đất đai ấy khiến cho nông thôn Việt Nam biến dạng. Tức là người nông dân đáng lẽ ra có thể yên tâm tìm mọi cách để làm giàu trên mảnh đất của mình, thì họ lại không làm. Họ bỏ hoang, họ cho thuê, thậm chí là người thuê họ cũng chằng thuê lại. Đất thì hiếm, mỗi người vài trăm mét nhưng mà họ bỏ hoang rất nhiều. Cuối cùng họ làm gì ? Họ ra phố.
Khi phải bỏ quê ra phố, có những người nông dân nhanh chóng nhiễm những tệ nạn nơi thành phố, làm phai tàn những truyền thống tốt đẹp của cha ông lâu nay :
Người nông dân mà ra phố thì giống như đi vào một vùng rất nhiều cạm bẫy. Bởi vì họ không được chuẩn bị : không có nghề nghiệp, không sẵn sàng để đối phó với những tệ nạn ở phố. Thế rồi cái này cũng là sự thật, tức là người nông dân khi vào những lúc cùng quẫn, thì họ có thể làm những việc mà pháp luật cấm. Ví dụ như là họ sẵn sàng lấy cắp, lừa đảo…Những người đó khi họ về thì họ mang theo rất nhiều tật xấu ở phố, kể cả bệnh tật nữa. Thí dụ như người ta ra ngoài Hà Nội hoặc những thành phố khác đi làm, thì người ta cũng phải có nhu cầu quan hệ với phụ nữ, rồi là cờ bạc, hút.
Đấy thì tất cả những quá trình đó, quá trình liên quan từ đất đai, sinh nhai, cho đến những biến đổi về mặt xã hội là đi liền với nhau. Và tôi nghĩ rằng cái hậu quả xã hội của nó mới là cái đáng quan tâm. Còn đất đai nó vẫn còn nằm đấy, thì có thể là sẽ phục hồi lại. Rồi như vừa rồi Nhà nước lại gia hạn cho thêm 20 năm, trong khi chờ đợi những động tác tiếp theo.
Nhưng mà cái hậu quả nó đã gây ra rồi, khiến cho người nông dân khi ra phố trở về thì không còn là nông dân nữa. Mà cũng không phải là dân phố ! Thế là nông thôn thì bị những tệ nạn ở phố đe dọa, nhưng mà đồng thời phố thì cũng bị nông thôn hóa. Tôi vẫn đùa là, Nhà nước thì bảo là quá trình đô thị hóa nhanh, nhưng chúng tôi nhìn ra là quá trình nông thôn hóa thành thị cũng rất nhanh. Mà tất cả những điều đó khiến cho sự thuần khiết về mặt truyền thống, đạo đức rồi đạo lý, những cái giá trị bền vững không còn nữa, nó mất đi. Cái đấy mới đáng là những cái gì u ám mà người nông dân hiện nay đang phải đối mặt.
Về tệ nạn cường hào ở nông thôn, theo nhà văn Tạ Duy Anh, thì nay có bộ mặt khác hẳn so với thời bao cấp cũ :
Mình phải nói cặn kẽ một chút. Sau khi mô hình sản xuất cũ bị giải thể triệt để, thì thực sự cái tác động của chính quyền mang tính ràng buộc về hành chính, về quyền lực đối với người nông dân đã giảm đi rất nhiều. Là bởi vì trước kia người nông dân hoàn toàn bị lao động gần như là cưỡng bức trên cánh đồng của mình, do chính quyền sắp đặt, chỉ định. Đến giờ đánh trống thì phải đi làm, hết giờ mới được nghỉ. Anh cũng không được quyền quyết định làm công việc mà anh muốn.
Từ khi chuyển sang cơ chế mới, thì những cái liên đới về quyền lực giảm đi rất nhiều, có thể nói là giảm đi đến quá nửa. Tức là vai trò của chính quyền các địa phương hiện nay đối với người nông dân hiện nay chỉ còn ở những khía cạnh như là những dịch vụ khuyến nông, thủy lợi, phòng chống dịch bệnh. Nhưng nói thế không có nghĩa là nạn cường hào không còn.
Nạn cường hào ở nông thôn hiện nay thậm chí còn ở những khía cạnh khác. Ví dụ như trước kia tuy có sự hà khắc của chính quyền đối với người dân trong các chế tài về lao động, nhưng lúc ấy thì chả có ai được cái quyền lợi gì cả. Lãnh đạo cũng chỉ làm theo chỉ thị, rồi họ nhiều khi cũng là những người rất nghèo đói.
Thế nhưng bây giờ thì yếu tố quyền lực nó đi kèm với yếu tố quyền lợi. Vì vậy mà những sự câu kết của chính quyền với những ông tư bản bây giờ - chúng tôi gọi là những con bạch tuộc - vẫn xảy ra thường xuyên ở những vùng có khả năng diễn ra đô thị hóa, và cái này nó rất là thảm khốc. Hoặc ở những vùng mà người nông dân có xu hướng làm những trang trại lớn, những khu vực chăn thả lớn. Ví dụ như là Tiên Lãng, như là một số những vùng ở Nam Định, Thái Bình - vùng biển ấy. Hoặc là những vùng rừng núi, khi người nông dân có xu hướng đầu tư lớn.
Khiếu kiện đất đai : Điềm báo cho những trận giông bão
Khi họ đầu tư lớn, ví dụ như trường hợp của ông Đoàn Văn Vươn thì nói thật ra, về bản chất là chính quyền cũng định chia chác lại. Thế nhưng mà không có cơ sở pháp lý để kết tội họ về việc đó, do họ lẩn được vào trong các điều khoản mập mờ của Luật đất đai. Tuy nhiên giả sử như việc cưỡng chế thành công, thì hàng chục hộ sau khi phải nộp lại cho huyện, huyện mới cho đấu thầu lại, thì rất nhiều người trong chính quyền sẽ hưởng lợi, và sẽ được chia phần trong đó.
Có nghĩa là gì ? Nghĩa là anh dùng quyền lực, lợi dụng quyền lực của Nhà nước, mượn tay Nhà nước để anh cướp bóc của người dân. Nói một cách chính xác là như thế ! Và phải khẳng định lại như thế này. Ở nông thôn nói chung và những vùng mà quyền lợi về đất đai không nhiều, thì cái nạn chính quyền chèn ép người dân không có cơ sở để tồn tại, ngoài cái việc mà họ đang chờ Luật đất đai mới, xem là có gia hạn hay không. Thì hiện nay Nhà nước gia hạn rồi, tức là tôi nghĩ cái khả năng mà họ chia lại ruộng đất, rồi lợi dụng lấy những chỗ phần ngon, thì chắc là không có.
Nhưng mà có những nơi khác, bất cứ nơi nào mà có yếu tố quyền lợi trong vấn đề đất đai, ví dụ như chuyển đổi. Một thửa đất đền bù cho nông dân hai trăm nghìn, sau đó thì phù phép bán ra với cái giá mười triệu một mét vuông. Những nơi như vậy thì chính quyền lộ rõ là những kẻ cường hào. Tất nhiên là không phải tất cả, nhưng cũng là một bộ phận rất lớn. Bởi vì thế này. Ở trong cái đám ấy thì những người nào mà có muốn trong sạch, gọi là có cái tâm lớn, cũng rất khó tồn tại. Anh thuộc về thiểu số, vì quyền lợi quá lớn. Quyền lợi nó che mắt tất cả. Người ta đều muốn giầu lên, đều muốn có tiền để vênh vang với thiên hạ, đều muốn tận dụng tất cả mọi cơ hội khi đang có quyền để vơ vét.
Cái thực trạng đó là một trong những lý do rất là cơ bản khiến cho người nông dân tiến hành rất nhiều vụ khiếu kiện đất đai. Và những vụ khiếu kiện đấy - tôi đã từng nói, và tôi nói rất rõ ràng, nó là điềm báo. Nó đang ngày một tích tụ lại, và là điềm báo cho những trận giông bão từ nông thôn.
Giáo sư tiến sĩ Võ Tòng Xuân, một nhà nông học nổi tiếng của Việt Nam cũng nhận định :
Vấn đề này thì trên báo chí cũng nói nhiều, về thân phận của người nông dân mất đất. Bây giờ nói chung là cũng có một số người mất đất rồi, họ được đền bù cho miếng đất ở chỗ khác để cất nhà. Nhưng mà cất cái nhà thôi, chứ còn đất canh tác thì họ phải chạy chỗ này chỗ kia để mà kiếm, có nhiều khi cũng không tìm được đất canh tác. Còn học nghề thì cũng tùy người. Có người có trình độ thì người ta đi học lên được, để có thể dùng tiền đó kinh doanh. Nhưng mà phần lớn không học được. Ra ngoài làm, thì toàn là lao động giản đơn thôi.
Thành ra người nông dân của mình khi mà mất đất thì họ rất là khổ, không biết làm sao nuôi gia đình. Tại vì số tiền đền bù cho đất bị mất, thì họ xài một thời gian cũng hết, không biết quản lý tiền.
Ngay cái lúc mà họ còn đất, thì họ cũng không biết quản lý đất của họ luôn. Thấy người ta trồng cái này, cái kia thì bắt chước trồng, chứ không biết tính toán. Tại vì họ hổng có học. Mà ở Việt Nam mình, không có học mới đi làm ruộng ! Còn ở các nước khác ví dụ ở Âu châu, người ta chỉ làm ruộng khi người ta có học.
Làm ruộng thì mới có licence được, tức là cái môn bài, giấy phép để làm ruộng, như thế Nhà nước mới kiểm soát được có làm đúng theo quy định của Nhà nước hay không, có tàn phá môi trường hay không, v.v…Còn người Việt Nam mình không học mới đi làm ruộng, có học thì đi làm chuyện khác.
Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, cũng có những nông dân biết cách làm ăn lớn :
Nhưng mà bây giờ cũng có nổi lên trong xã hội mình rất nhiều nông dân chân đất. Học tới lớp Ba, lớp Tư, lớp Năm thôi, nhưng mà ổng lại có cái khiếu học lóm rất nhanh. Những ông nông dân như là ông Sáu Đức ở Tri Tôn, An Giang chẳng hạn, bây giờ ổng quản lý trên 300 hecta, làm rất là tốt. Ổng làm lúa mà ổng áp dụng luôn phương pháp tia laser để làm bằng phẳng mặt đất, rồi dùng máy cày, máy sạ hàng, máy phun thuốc, máy gặt đập liên hợp để mà gặt.
Hoặc là có ông nông dân - anh Hạo, cũng chưa học đại học, mới trung học thôi, nhưng mà cũng học lóm các thầy ở trường Cần Thơ, rồi về trường An Giang. Học rồi về ổng đứng ra chọn giống lúa. Nhưng bây giờ thì ổng được mấy người thương nhân Nhật Bản đặt hàng để mà trồng khoai lang. Trồng rất là trúng, đúng theo tiêu chuẩn của Nhật, cho nên người ta mua. Rồi mấy người chung quanh ổng bắt chước nhưng mà làm hổng được, cuối cùng là giao đất lại cho ổng. Thành ra bây giờ ổng phải quản lý tất cả là 55 hecta. Rồi những người nông dân mà có đất, giao đất cho ổng rồi, thì lấy được tiền mướn đất của ổng, đồng thời làm công cho ổng để mà sản xuất ra khoai lang.
Như thế là có những người nông dân của mình họ có đầu óc quản lý. Tuy là họ không có học nhiều, nhưng mà họ có cái khiếu đó. Còn nhiều nông dân khác không làm được, mà là đại đa số, họ không làm được, thành ra cuối cùng giao đất cho ông kia làm.
Về vấn đề hạn điền, giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết có những trường hợp những nông dân làm ăn giỏi được chính quyền làm ngơ để họ sử dụng số lượng đất vượt mức quy định :
Hạn điền thì hạn điền, nhưng mà Nhà nước tại địa phương họ lờ đi. Thí dụ cái ông ba trăm hecta - ông Sáu Đức đó - cái bằng khoán ổng giao cho người này người kia đứng tên, rồi ổng mướn người ta làm. Thì cái này, nói một cách khác là qua mặt Nhà nước, nhưng mà Nhà nước thấy như thế cũng được cho nên cũng cứ để cho làm.
Cũng có những ông làm trang trại ở trên Bình Dương, ổng có 600 hecta. Tui quên tên ổng rồi nhưng mà sáu trăm hecta ổng làm vườn cao su rất là tốt. Có những người Việt Nam mình đi qua bên Campuchia mướn đất người ta làm ba bốn trăm hecta, họ làm cũng rất tốt.
Nói một cách khác, cái vấn đề người nông dân chúng ta làm nông nghiệp, thì thứ nhất là họ chỉ có học lóm với nhau để mà họ đi lên. Cho nên khi mà họ còn đẩt sản xuất, thì khối lượng nhiều thiệt, nhưng mà tỉ lệ chất xám ở trong sản phẩm ít. Như thế thì sản phẩm của họ làm ra bán không có giá so với lại các nước khác.
Còn về việc đào tạo kỹ năng cho nông dân, giáo sư Võ Tòng Xuân nhận thấy là rời rạc, không hiệu quả :
…Rồi khi mà mất đất rồi, thì kể như họ tay trắng. Mặc dầu Đảng và Nhà nước có chỉ đạo, tức là có chủ trương làm cho nông dân khá lên, bằng cách đưa họ vào các tổ chức thí dụ như là hợp tác xã, tập đoàn hoặc là trang trại, cho họ vay tiền, đào tạo cho họ. Nhưng mà tất cả những cái này nó không có đồng bộ.
Thí dụ bây giờ ra nghị quyết biểu đào tạo người nông dân, thì Bộ Nông nghiệp đứng ra làm dự án xin cả mấy trăm tỉ, để mà đào tạo mỗi một năm một triệu ông nông dân. Có đào tạo, nhưng mà kinh nghiệm trong ba năm nay mình thấy rõ ràng tiền đó rất là phí. Tại vì chia tiền xuống cho bên Sở Lao động Thương binh Xã hội, rồi chia cho Sở Giáo dục địa phương, chia tiền cho Hội Nông dân, để tổ chức đào tạo nông dân. Nhưng mà bắt ông nông dân vô ngồi đó, rồi cũng dạy, dạy nuôi con heo, con gà, con vịt v.v…Rồi về thì thôi ! Ổng đi mất thì giờ, rồi ổng cũng hổng có làm.
Cái cách làm như vậy là không có đồng bộ. Mạnh ai nấy làm, thực hiện nghị quyết rất là tùy tiện, theo khả năng của từng Bộ, từng tổ chức. Thành ra cuối cùng nông dân không hưởng được kết quả gì cho có thể đổi đời người ta được.
Do đó mà bây giờ mình phải có một cái cách để mà giúp cho những người nông dân này. Có hai cái hướng, một là những người nông dân bị mất đất thì làm gì để cho họ khá lên. Và những người nông dân mà sắp bị mất đất - tức là đất mình còn tiếp tục công nghiệp hóa, hiện đại hóa, rồi thành phố phải mở ra cho nó đẹp - do đó thì đất tiếp tục mất. Như thế thì cái hướng tới phải làm sao để những người mà mất đất đó, họ có thể sống được. Mà mấy cái chuyện này rất là dài, thì có thể trong buổi phát thanh khác tôi xin trình bày sau.
Nhà văn Tạ Duy Anh tỏ ra âu lo về cách tư duy của cán bộ, và tính nhân bản trong việc đối xử với nông dân :
Vấn đề rất là bức xúc. Nhưng không biết chính quyền từ cấp trung ương đến địa phương họ linh cảm cái điều đó như thế nào, họ ý thức ra làm sao. Nói rất là nhiều, nhưng mà họ có nghe hay không, thì mình cũng không thể biết được là họ nghe đến đâu. Cũng có một niềm an ủi : cách đây vài ngày, tôi có thấy Luật đất đai được gia hạn thêm. Ít nhất thì cũng là giải pháp tình thế, để cho người nông dân người ta không phá đất đai. Người ta không tàn phá hoa màu, không làm cho những tài sản trên đất đai đó bị hủy hoại đi.
Cái thực trạng đấy nó tồn tại ngang nhiên, chưa có một dấu hiệu gì giảm đi cả. Mặc dù có lẽ Nhà nước cũng đang tìm mọi cách đấy, nhưng mà vấn đề là cơ chế kiểm soát quyền lực không có.
Tôi cũng không phải là người quan tâm nhiều đến chính trị, nhưng mà tôi cùng chung cái nỗi lo của bất cứ một công dân nào trong đất nước này. Đó là không hiểu rồi thì tình hình nó sẽ như thế nào ? Khi mà cái bộ máy công quyền ở địa phương thực sự nó rệu rã - thậm chí tôi đã từng viết, và báo chính thống đã in - họ chả làm gì ngoài cái việc để xem xem có cái gì có thể chôm chỉa được của dân thì họ làm. Sự thực nó là như thế !
Tức là họ chả làm gì. Các sai trái của người dân họ cứ để xảy ra, sau đó họ dùng cái sai trái đó để vụ lợi cho bản thân. Cái tính vụ lợi cá nhân nó quá lớn, nó che lấp tất cả. Trong tư duy của anh, ý nghĩ của anh, cái gì cũng phải có lợi, xem có lợi cho mình không.
Thế thì bây giờ thấy ông Đoàn Văn Vươn ông ấy giầu, có ông cán bộ Thành ủy Hải Phòng lại nói một câu như thế này : Ông ấy làm giàu cho bản thân chứ có làm gì cho đất nước đâu ? Tôi nói thật, tôi mà có quyền thì cái ông ấy phải bị cách chức ngay tức khắc !
Nói thế không phải chỉ là vô trách nhiệm. Nói như thế là cực kỳ phản khoa học và phản tiến bộ ! Người nông dân người ta làm giầu, thì làm giầu cho ai ? Cho bản thân họ thì cũng là cho đất nước chứ ! Phải có một cái tư duy rất cởi mở và nhiều nhân tính ở trong đó, thì mới có thể thấy được.
Nhiều khi tôi cứ tiếc, tôi mà là ông lãnh đạo Hải Phòng – Bí thư Thành ủy hoặc Chủ tịch – thì có lẽ không có tuần nào tôi không la cà với bà con ở Tiên Lãng, và tôi khích lệ họ để họ làm giầu. Làm giầu và làm đẹp cho cái vùng đất ấy. Tất nhiên là tôi không thể làm được Bí thư Thành ủy Hải Phòng, rất tiếc là như thế. Tiếc rằng họ chỉ nghĩ được một cách là, nó giầu như thế thì phải bắt nó chia bớt !
Xin chân thành cảm ơn nhà văn Tạ Duy Anh ở Hà Nội và giáo sư Võ Tòng Xuân ở An Giang đã vui lòng dành thì giờ để trao đổi với RFI hôm nay.
Tại Pháp, tuy là một nước công nghiệp phát triển, nhưng nông nghiệp vẫn đóng vai trò rất quan trọng. Không có đời Tổng thống nào mà không đến thăm Hội chợ Nông nghiệp hàng năm. Riêng tại Paris và vùng phụ cận, gọi chung là Ile de France, có đến phân nửa diện tích đất được dành cho nông nghiệp. Tuy vậy theo báo cáo của Hội đồng Kinh tế Xã hội và Môi trường Khu vực (Ceser) vừa công bố hôm qua, thì với tốc độ đô thị hóa hiện nay, mỗi năm vùng Ile de France mất từ 1.500 đến 1.700 hecta đất nông nghiệp. Ceser cảnh báo, với nhịp độ này, thì Paris và vùng phụ cận sẽ không còn đất nông nghiệp trong 200 năm nữa !
Theo nhiều công trình nghiên cứu, thì sản xuất nông nghiệp cho đến năm 2050, lượng thực phẩm phải tăng lên 70% mới đảm bảo được nhu cầu của 9 tỉ miệng ăn trên Trái Đất. Thật ra con số này cũng chỉ tương đối, vì dân số nhân loại vào thời điểm đó dao động từ 8 tỉ cho đến 11 tỉ người. Và như vậy, vấn đề an toàn lương thực còn là một yếu tố mang tính chất địa chính trị.
Còn tại Việt Nam, về mặt xã hội, với tỉ lệ 70% dân số sống ở nông thôn, thì vấn đề nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân, giảm bớt bất công đối với những con người đang làm ra của cải vật chất cho xã hội, là một thử thách không nhỏ đối với chính quyền. Đặc biệt là trong hoàn cảnh chính quyền các địa phương đang nắm trong tay quá nhiều quyền hành, người lãnh đạo có tâm thì ít mà cán bộ nhũng nhiễu lại nhiều, thì thân phận của người nông dân lại càng bọt bèo hơn.
http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120314-than-phan-bot-beo-cua-nguoi-nong-dan-viet-nam 

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

CĂN NGUYÊN Ý THỨC HỆ DÂN TỘC THỜI LÝ


Phạm Đạt Nhân

(Tác giả bài viết là người Đại Lộc - Quảng Nam 
nguyên là giảng sư môn Triết tại Đại Học Vạn Hạnh - Sài Gòn trước 1975)

     Nhà Lý khởi nghiệp từ vua Lý Thái Tổ ( Lý Công Uẩn ) đã mở ra cho dân tộc Việt Nam một thời đại mới, một kỷ nguyên mới, một vận hội mới mà các sử gia về sau xem như là một trong các thời đại hoàng kim của lịch sử nước ta. Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi, xây dựng đế nghiệp cho nhà Lý, đất nước ta có nhiều thay đổi lớn : dời đô về Thăng Long, đặt ra các định chế chính trị và mô thức xã hội mới. Đặc biệt là thay đổi tư tưởng lãnh đạo quốc gia. Các vị vua kế nghiệp như Thái Tông, Thánh Tông ... đã kế thừa và phát huy tư tưởng của ông cha mình nên đã giữ được nền độc lập tự chủ lâu dài, tạo ra một xã hội rộng mở, đoàn kết, một đất nước an bình thịnh trị.

Riêng đối với vua Lý Thánh Tông "là vua ta đầu tiên có óc lập một đế quốc có danh ngang với một nước thiên tử. Vua đặt quốc hiệu là Đại Việt , các vua trước là Thái Tổ, Thái Tông coi các nước là chư hầu và muốn ngăn cấm Chiêm Thành thần phục Tống " ( theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn ). Điều đó chứng tỏ các vua đầu nhà Lý nhất quán một tư tưởng chủ đạo xét như một chiến lược lâu dài, một ý hệ quốc gia . Ngày nay chúng ta ôn lại lịch sử không đơn thuần là dựng lại quá khứ mà làm cho quá khứ sống lại trong kinh nghiệm mới mẻ của hiện tại. Vậy tư tưởng lãnh đạo quốc gia cũng như ý thức hệ chính trị của các vị vua đầu nhà Lý là gì ? 

            Nói một cách ngắn gọn cô đúc thì đấy là tư tưởng “tri hành hợp nhất, vạn pháp nhất lý” ảnh hưởng bởi nhiều nền văn minh, văn hóa mà chất men nối kết là thiền hành động. Tư tưởng nầy không phải vay mượn của ai mà cũng không phải ngẫu nhiên tự phát. Nó được phôi thai bén rễ trong môi trường văn hóa của đất Giao Châu thời ấy. Nó là hoa trái của một quá trình tiếp thu có sáng tạo, có chọn lọc và là kết tinh của tổng hòa văn hóa dân tộc. Nói đến văn hóa là phải nghĩ đến các lãnh vực: Tôn giáo, tín ngưỡng, học thuật, ngôn ngữ, triết học, giáo dục, chính trị ... 


            Đất Giao Châu ngày ấy là ngã tư của các dân tộc và các nền văn minh ( carefour de people et de civilication ). Đương thời nhà Lý (thế kỷ XI- XII) các xứ lân bang đang trong thời kỳ cực thịnh, văn hóa phát triển rực rỡ: Ở phương bắc Trung Quốc đang thừa hưởng văn minh đời Đường kết hợp với học thuật Tống Nho ; ở phương nam  Chiêm Thành, Chân Lạp chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ. Trong bối cảnh ấy việc tiếp thu tư tưởng ngoại nhập là tất yếu, tiếp thu mà không mất gốc là nhờ biết giữ lại những gì đã có sẵn bên trong. Cái có sẵn ấy là tín ngưỡng quốc gia qua hai nền văn minh Đồng Cổ và Cổ Mộ (Đông Sơn, Lạch Trường) cộng với tín ngưỡng đa thần giáo phổ biến trong xã hội nông nghiệp thời ấy.

            Về mặt tư tưởng ta chịu ảnh hưởng bởi hai nền văn minh tối cổ: văn minh Trung Hoa với tư tưởng nhập thế thực tiễn và văn minh Ấn độ với tư tưởng xuất thế, duy lý, suy tưởng. Do vậy nẩy sinh ra hai khuynh hướng đối lập: khuynh hướng nhập thế tích cực và khuynh hướng tư duy cá nhân và cũng từ đó có sự mâu thuẫn giữa tri và hành, xuất và xử, cá nhân và cộng đồng, thiên nhiên và con người, tâm linh và hành động. 


            Trong tình cảnh  ấy, các lãnh đạo nhà Lý đã hóa giải, dung hợp các mâu thuẫn trên bằng chất men nối kết gì ? Đó là tư tưởng “vạn pháp nhất lý, tri hành hợp nhất” của thiền, là yếu chỉ của kinh Hoa Nghiêm, là tinh mật của kinh Kim Cang ( bản vô nhị pháp, tâm Phật nhất như ) và cũng là tánh Không  của trung quán luận.
.
Nhưng thiền là gì ? 

            Thiền khởi nguồn từ thái độ niêm hoa vi tiếu của Phật Tổ Như Lai tâm đắc ở ngài Ca Diếp. Từ đó tôn chỉ của thiền là giáo ngoại biệt truyền trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Rồi từ Ca Diếp đến Bồ Đề Đạt Ma tính ra hai mươi tám vị. Đạt Ma sang Đông Độ truyền cho Huệ Khả. Từ đó truyền mãi đến Huệ Năng là sáu đời. Đó là thiền Trung Hoa còn tổ sư thiền Việt Nam là ai ? Tổ sư thiền Việt Nam là Ti ni -đa - lưu- chi ( Vinitracuci ) được truyền thừa bởi tổ Tăng Xán. Sau khi đắc thiền Tì- ni -đa -lưu- chi được thầy khuyên sang phương nam hóa đạo không nên ở lại Trung Hoa làm gì. Ngài vâng mệnh thầy sang Giao Châu hoằng hóa . Sự kiện nầy chứng tỏ rằng tinh thần thuần túy tâm linh của người Ấn có thể dung hợp được với tinh thần nhập thế tích cực của người Hoa. Đất Giao Châu là nơi "đắc địa" để cho thiền hành động bám rễ.


Thiền khi đến Việt Nam đã trở nên thiền hành động. Vì sao tổ Tăng Xán khuyên đệ tử của mình đến đất Giao Châu để hoằng hóa ? Phải chăng vì tâm lý của người Việt không quá duy lý như người Ấn và cũng không quá thực tế như người Hoa. Không quá duy lý vì mang sẵn tín ngưỡng đa thần, lại phải hành động để chống giặc ngoại xâm phương bắc và mở rộng bờ cõi về phương nam. Không quá thực tiễn vì cần có nguyên lý hướng dẫn hành động. Do vậy nhà lãnh đạo quốc gia đời Lý tất nhiên phải có nhu cầu toàn diện. Thiền hành động vì thế đã có đất để bám rễ.
 .
           Đương thời nhà Lý, các thiền sư tiêu biểu cho thiền hành động đều là đệ tử của thiền sư Tì -ni- đa-lưu -chi như Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn Hạnh. Đặc biệt là thiền sư Vạn Hạnh được xem là đại biểu cho dòng thiền nầy. Thiền sư Vạn Hạnh vừa lo đạo vừa lo đời vừa nhập định theo lối THIỀN TÔNG vừa tụng chân ngôn theo lối mật tông, vừa hành động vừa thiết lập cái toàn thể nhất quán để hướng dẫn hành động, vừa xuất, vừa xử vừa đi ra thiên nhiên vừa đi vào sinh hoạt cộng đồng vừa dấn thân giúp đời lại vừa giữ được Không lý (thánh hóa cuộc đời mà không bị đời tục hóa ). Nhân vật điển hình, được cụ thể hóa lý tưởng của Vạn Hạnh thiền sư chính là Lý Công Uẩn. Vì vậy cho nên chúng ta  không lấy làm lạ rằng vị vua đầu nhà Lý là nhân vật lãnh đạo đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có dáng dấp phong tháí của một hiền triết lãnh đạo  ( philosopher king ) theo quan niêm của Platon.

       Theo các sử liệu xác tín thì Lý Công Uẩn được nhà sư Khánh Vân nuôi dưỡng và được sư Vạn Hạnh dạy dỗ. Trong cuốn " các triều đại Việt Nam" của Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng đã ghi chép về nhân vật Lý công Uẩn như sau : "Vốn thông minh bẩm sinh lại được nhập thân văn hóa ở một vùng đất văn minh văn hiến, lại được sự nuôi dạy của các vị cao tăng xuất chúng, Lý Công Uẩn là một người con ưu tú của dân tộc, ông đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử oanh liệt về dựng nước và giữ nước." 

           Lý Công Uẩn do Khánh Vân nuôi, Vạn Hạnh dạy, cho đến năm ba mươi lăm tuổi mới xuất chính. Nhờ có võ công kiệt xuất nên Lý công Uẩn làm đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ (duới thời Lê Long Đỉnh). Long Đỉnh là một ông vua vô cùng bạo ngược, độc ác, hoang dâm vô độ. Trong bốn năm làm vua vì dâm dục quá sức nên mắc bệnh nặng và chỉ ngọa triều. Long Đỉnh chỉ sống được hai mươi bốn tuổi; khi mất triều thần đồng tâm nhất trí tôn phò Lý Công Uẩn lên làm vua vì xét thấy con người nầy văn võ song toàn, có tài, có đức lại có lòng nhân được dân yêu mến. Việc nhà Lê đổi nhà Lý lên cũng là việc thuận với lòng trời lại hợp với ý dân (thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân ). Đó là lẽ tồn vong của nho gia (thuận thiên giã tồn, nghịch thiên giã vong).

Kinh nghiệm cho thấy, triều đại nào quá nhiễu nhương khiến cho dân tình ta thán, thần, người oán giận thì sớm muộn gì cũng tiêu vong.

     Sau khi lên ngôi, nhà vua thấy đất Hoa Lư là nơi chật hẹp không thể mở mang thành nơi đô hội nên dời đô về Thăng Long. Sau đó nhà vua bắt tay vào việc chấn hưng đất nước dưới sự cố vấn của quốc sư Vạn Hạnh. Các việc làm của Lý Thái Tổ mang ý nghĩa xây nền đặt móng cho các triều đại kế tục:
     * Xác lập quan hệ ngoại giao với Tống ở phương bắc, dẹp yên sự khuấy nhiễu của Chiêm Thành ở phương nam bắt Chiêm Thành và Chân Lạp phải sang triều cống.
 * Sai người sang Trung Quốc thỉnh bộ kinh Tam Tạng.
      * Cho xây chùa đúc chuông, tạc tượng, trọng đãi những nhà tu.

   Ngoài những công tích trong buổi đầu khởi nghiệp nói trên , một sự kiện có ý nghĩa đặt mầm móng cho chính sách thân dân sau nầy, đó là việc xây cung Long Đức cho thái tử ở ( ngoại thành Thăng Long ) . Nhà vua muốn cho lớp người kế vị sau này phải rời xa nếp sống xa hoa, sung mãn, để sống chung cùng với dân thường . Có gần gũi tiếp xúc với dân Thái tử mới thấu hiểu được cảnh cơ hàn , oan khuất , bất công trong  nhân dân. Thái  Tổ trị vì được mười chín năm thì mất. Thái tử Phật Mã kế vị, hiệu là Thái Tông . 

     Các vua tiếp theo như Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông đều trung thành với ý thức hệ dân tộc của các tiên đế . Vẫn là tư tưởng tri hành hợp nhất, vạn pháp nhất lý của thiền hành động. 

    Thái Tông chú trọng việc sửa sang hình luật, bãi bỏ chế độ mua bán nô lệ, đặt ra các trạm dịch để tiện truyền thông và đi lại. Thành tựu đáng kể nhất mà Thái Tông đóng góp được cho nước nhà là việc xây dựng chùa Một Cột (1049) . Nguyên lai kiến trúc chùa Một Cột xuất phát từ một giấc mơ "Một hôm vua mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen dẫn vua lên Đài, sáng ra vua thuật lại với các triều thần, thiền sư Thiền Tuệ khuyên vua cất chùa, dựng một cột ở giữa hồ, xây đài sen có tượng Quan Âm đặt ở trên đúng như hình ảnh trong mộng. Chùa được đặt tên là Diên Hựu  (dài lâu). Ngôi chùa được trùng tu nhiều lần đến đời Thánh Tông mới hoàn chỉnh. Trong các kiến trúc thời Lý, chùa Một Cột xứng danh là biểu tượng văn hóa dân tộc. Bởi vì qua lối kiến trúc độc đáo nó mang nhiều ý nghĩa tượng trưng nói lên sự tổng hòa có sáng tạo các nền văn minh ngoại nhập gắn với văn minh bản địa. Kiến trúc sư Nguyễn Bá Chi coi đây là viên ngọc nghệ thuật Việt Nam. Có thể nóí được rằng do hít thở không khí của thời đại , do sự thông thoáng của môi trường văn hóa cộng với tư tưởng thiền của quốc sư Vạn Hạnh ...đã ăn sâu vào tâm não của các nhà lãnh đạo thời đó . Tất cả đã trở nên một thứ vô thức tập thể (l'inconscience collective); rồi từ vô thức tập thể đó hiển lộ trong một giấc mơ của nhà lãnh đạo (người làm sao chiêm bao làm vậy).

            Đến đời Lý Thánh Tông, thành tựu về mặt tư tưởng xã hội đã trở nên thập thành kỳ vĩ hơn bao giờ hết. Sử chép "Mai thị hoàng hậu mộng thấy mặt trăng vào bụng nhân đó có mang sinh ra thái tử ở cung Long Đức đặt tên là Nhật Tôn. Lớn lên thái tử thông kinh truyện, sành âm luật nhất là sở trường về võ lược" ( theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ). Nhờ sống một thời gian dài ở cung Long Đức nên thái tử Nhật Tôn vừa tiếp thu tư tưởng của vua cha vừa thâm nhập thực tế , am hiểu được dân tình. Sau khi lên ngôi, Thánh Tông cụ thể hóa tư tưởng lãnh đạo của mình bằng những chính sách như:Thân dân, ái dân, huệ dân .

            Về chính sách thân dân, ái dân : nhà vua đặt ra lệ cày tịch điền, đi xem gặt vào vụ mùa. Đặc biệt nhà vua có lòng bi mẫn, thương xót các tù phạm bị giam trong ngục lạnh nên sai đem chăn chiếu ban cho tù nhân, xuống lệnh đốt bỏ hình cụ. Vua thương xót người dân vì thiếu hiểu biết và vô minh lầm lỡ nên phải phạm luật. Do vậy mà ngài ra lệnh khoan giảm hình phạt. Nhờ biết yêu dân như cha mẹ yêu con nên vua rất được lòng dân; và cũng nhờ đó dân được an sinh, đất nước được yên bình, quốc gia thịnh trị. Dân chi phụ mẫu là quan niệm của Khổng Nho. Thánh Tông mặc dù là tín đồ của Phật nhưng vẫn dung nạp được tư tưởng của Nho gia. 

   Về chính sách huệ dân: nhà vua muốn người dân hiểu biết lý lẽ tam cương ngũ thường, đạo lý nhân nghĩa nên xiển dương Nho học. Hành động cụ thể là tu sửa văn miếu, tô tượng Khổng Tử, vẽ hình thất thập nhị vị hiền , bốn mùa đều có cúng lễ. Vua còn đưa thái tử đến cửa Khổng sân Trình để học cách Tu, Tề , Trị , Bình  dĩ dân vi bản (lấy dân làm gốc ).


            Vua Lý Thánh Tông là người sáng lập ra thiền phái Thảo Đường. Dù vậy ngài vẫn tôn trọng tín ngưỡng dân gian thờ thần Siva và thần Deva qua việc xây chùa Nhị Thiên Vương. Ngoài ra dưới thời Lý Thánh Tông tín ngưỡng sùng bái của dân tộc (ảnh hưởng tư tưởng Lão giáo) cũng được thịnh hành . Phải nói rằng triều đại nhà Lý đã cho hoạt hiện nguyên lý tam giáo đồng nguyên một cách rộng rãi, phổ biến trong mọi tầng lớp nhân dân. Nhờ đó mà thiết lập được một mô thức xã hội rộng mỡ, có sự đoàn kết nội tại. Lý Thánh Tông là một nhà lãnh đạo kiệt xuất. Ngài vừa thông kinh truyện, vừa sành âm luật vừa sở trường võ lược lại nhân từ , đôn hậu, khoan hòa . Nhờ thông kinh truyện nên chuộng Nho thờ Thánh; nhờ sành âm luật nên phiên soạn nhạc khúc Chiêm Thành (chính nhà vua cầm khiên múa hát trong bửa tiệc khao quân giữa lòng đất Chiêm ) . Nhờ giỏi võ lược mà lập nên nhiều chiến công hiển hách. Binh pháp nhà Lý của ta bấy giờ có phần trội hơn binh pháp Tôn Tử của Tàu khiến cho nhà Tống rất nể phục, học hỏi và bắt chước. Ngoài ra Lý Thánh Tông còn là một kiến trúc sư. Tất cả các kiến trúc đời Lý, chùa tháp và các cung điện nguy nga tráng lệ đều theo đồ họa của nhà vua. Nhưng điều đáng nói hơn cả là cái Tâm của nhà lãnh đạo biết yêu dân, yêu nước. Lý Thánh Tông xứng danh là một HIỀN TRIẾT LÃNH ĐẠO theo quan niệm của triết gia Platon. Đức tính của nhà hiền triết là mẫu mực cho sự điều hòa  quân bình (không bất cập mà cũng không thái quá) . Lý Thánh Tông có sự khôn ngoan ( sagesse ) của nhà hiền triết, có lòng can trường (courage) của một chiến sĩ ,có sự hòa hợp tiết độ (température) của một đạo gia và có lòng nhân đức, công chính (justice) của một nhà chính trị hiền đức.
    
            Năm 1072 Thánh Tông mất, Nhân tông lên ngôi lúc mới bảy tuổi. Nhân Tông là con của bà thái phi Ỷ Lan . Quan phụ chánh bấy giờ là Lý Đạo Thành. Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim thì "Lý đạo Thành là người có tính đoan chính , hết lòng lo việc nước. Thường những lúc sớ tấu thường hay nói đến việc lợi ,việc hại của dân. Những quan thuộc cấp thì chọn những người hiền lương mà cất nhắc để làm việc" . Bên cạnh Lý Đạo Thành còn có những tướng tài như Lý Thường Kiệt, Tôn Đản chăm lo việc quân binh. Nhờ vậy mà dưới thời Lý nhân Tông có những thành tựu rất lớn  về nội trị cũng như về đối ngoại : 
   * Về nội trị :
     -Đắp đê Cơ Xá để giữ cho kinh thành không bị ngập lụt.
     -Mở khoa thi tam trường để chọn người có tài ra giúp nước. ( kỳ thi đầu tiên chọn được mười người , thủ khoa là Lê văn Thịnh ( *) , làm tới chức thái sư  . Năm 1076, Nhân Tông mở trường Quốc Tử Giám, mở khoa thi chọn người vào hàn lâm viện 
   * Về đối ngoại : có thể nói thời Lý Nhân Tông là thời vàng son trong lịch sử đối ngoại của của nước ta .. Từ thời Ngô, Đinh và tiền Lê đất nước ta đã là quốc gia có chủ quyền. Tàu tuy không không sang cai trị nước ta song ý đồ thôn tính nước ta thì vẫn không từ bỏ. Hễ có cơ hội là chúng thực hiện ngay ý đồ đó. Bấy giờ  vua Tống  nghe lời Vương an Thạch cải cách chính trị trong nước gây ra nhiều điều bất lợi cho dân Tàu, khiến dân Tàu ta thán ... Vua Tống lại nghe lời Vương An Thạch đem quân sang " lấy đất Giao Châu ". Vua tôi nhà Lý bàn kế  "chặn đánh giặc từ xa". Vua bèn cử hai tướng tài là Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem mười vạn binh sang đánh Tống lấy cớ phạt Tống -về tội đặt ra các luật lệ làm khổ dân lành  - để cứu dân Trung Quốc . 
 Năm 1075 Lý Thường Kiệt lấy được đất Khâm Châu và Liêm Châu ( Quảng Đông ) ; còn Tôn Đản lấy được Ung Châu ( Quảng Tây ).
   Lý Nhân Tông không những phạt Tống mà còn bình  Chiêm. Bản đồ nước Việt thu thêm ba châu của Chế Cũ cắt nhường .

  Nhờ thừa hưởng ý thức hệ dân tộc của các triều đại trước, Lý Nhân Tông đã thu nạp được nhiêu tôi hiền tướng giỏi, thu phục được lòng dân. Hễ còn đựợc lòng dân thì còn đất ; còn đất tức là còn giang sơn còn của cải. Thời Lý  Nhân Tông không những giữ yên nội trị mà còn "bắc đánh Tống, nam  bình Chiêm"; không những giữ vững chủ quyền quốc gia mà còn mở mang bờ cõi về phương nam. Về sau nầy, nhà hậu Lê xóa bỏ nguyên lý tam giáo đồng nguyên, độc tôn Nho giáo, bài báng Phật giáo, coi thường Lão giáo lại tham quyền cố vị nên đã làm cho nước mất về tay nhà Thanh. Trong bài cáo bình Ngô , Nguyễn Trãi lấy làm tự hào về hùng khí của nước Việt xưa : Như nước Đại Việt ta từ trước ,vốn xưng nền văn hiến đã lâu , Núi sông bờ cõi đã chia , phong tục bắc nam cũng khác ... " Nền văn hiến của nước Đại Việt xưa là truyền thống văn hoá , là cái hồn của đất nước , là căn nguyên nguồn cội của ý thức hệ dân tộc .

            Suy cho cùng , một quốc gia hùng mạnh , một dân tộc quật cường , một đất nước thịnh vượng là nhờ có văn hóa . Bởi văn hóa là cái hồn của một nước . Văn hóa là căn nguyên nguồn cội của ý thức hệ dân tộc . Văn hóa đời Lý là văn hóa Phật giáo mới hội nhập, được kết nối với tín ngưỡng quốc gia và tâm lý dân tộc đã kết tinh thành thiền hành động . Thiền hành động là ý thức Tri hành hợp nhất , vạn pháp nhất lý. Tư tưởng nầy không hoàn toàn vay mượn mà cũng không ngẫu nhiên tự phát . Nó là một tổng hợp có sáng tạo của nhiều nguồn văn hóa khác nhau . Nhờ cái hồn , cái hạnh đó mà người Việt không những không bị đồng hóa bởi người Hán mà còn đồng hóa được những người Trung Quốc sinh sống trên đất nước ta , làm cho họ trở thành người Việt . Vì lẽ đó , có thể mất đất , mất nước nhưng không thể mất văn hóa . Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản tuyên bố chọn văn minh Tây song giữ văn hóa Nhật . Nhờ vậy mà nước Nhật đã luôn được vực dậy sau bao lần bị gục ngã . Trong suốt  mấy ngàn năm qua , đất nước ta có lúc mạnh , lúc yếu , lúc mất chủ quyền ..song vẫn có nhiều thời kỳ tự chủ . Đó là nhờ hồn nước vẫn còn  . Có một câu hát bi thiết : " Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu , một trăm năm đô hộ giặc tây ... "Đó là cách nói đại khái của ngôn ngữ nghệ thuật chứ không phải cách nói nghiêm xác của sử học . Trong thời đại ngày nay cần thiết phải ôn lại lịch sử để soi sáng cho hiện tại . Ôn lại lịch sử không có nghĩa đơn thuần là dựng lại quá khứ mà làm cho quá khứ sống lại trong kinh nghiệm mới mẽ của hiện tại . Nói theo cách nói của người xưa : " ý mới rút từ kinh nghiệm cũ , mai tàn lưu lại chút hương xưa  " ( Nhậm vận tự sinh kim nhật ý , Hàn hoa chi tác khứ mai hương )

( * ) Lê Văn Thịnh đã cải tổ từ chế độ nhẫn trị sang chế độ pháp trị ; về sau  làm phản nên bị đi đày ở Thao Giang ( huyện Tam Nông , Phú Thọ )