Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012

THƯ NGỎ CỦA NHÂN SĨ TRÍ THỨC GỬI QUỐC HỘI VÀ LÃNH ĐẠO


Hà Nội, 6 tháng 8 năm 2012

THƯ NGỎ

Kính gửi: Quốc hội,
                Chủ tịch nước và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam,
                Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Việt Nam,

Chúng tôi, những người đã tham gia ký và gửi tới lãnh đạo Nhà nước và Đảng bản kiến nghị ngày 10-07-2011 về “Bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay” (dưới đây gọi tắt là kiến nghị 7-11) và bản ý kiến về “Cải cách toàn diện để phát triển đất nước” ngày 08-09-2011 (gọi tắt là ý kiến 9-11), nay xin gửi tiếp thư này tới Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Bộ Chính trị bổ sung ý kiến trước tình hình mới.

1- Bản kiến nghị 7-11 và bản ý kiến 9-11 đều có chung nhận định: Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện mưu đồ chiến lược bá quyền của họ, nhằm làm cho Việt Nam suy yếu, chịu khuất phục hay lệ thuộc vào Trung Quốc. Họ dùng nhiều thủ đoạn từ tinh vi đến trắng trợn để dụ dỗ, mua chuộc, thâm nhập, lũng đoạn, uy hiếp, lấn chiếm không chỉ trên Biển Đông mà còn trên nhiều địa bàn khác, không chỉ xâm phạm lãnh thổ, lãnh hải mà còn thâm nhập và gây hại về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đồng thời tìm cách “chia để trị” các nước ASEAN.

Đúng như dự đoán, hơn một năm qua, Trung Quốc thực hiện những bước mới xâm phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta cũng như các quốc gia giáp Biển Đông. Họ ngang nhiên lập đơn vị hành chính có quân đồn trú ở nơi rất ít dân hòng cai quản vùng biển đảo rộng lớn không phải của mình, mời thầu thăm dò và khai thác dầu khí trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đưa tàu thuyền đánh cá cùng với tàu bán quân sự và quân sự hoạt động trên vùng này, đồng thời bức hại ngư dân ta đang hành nghề trên vùng biển thuộc chủ quyền và đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhiều khả năng những hành động gây hấn của Trung Quốc sẽ còn tăng mức độ quyết liệt đi đôi với việc chuẩn bị dư luận và điều kiện cho bước leo thang nguy hiểm hơn, kể cả đe dọa gây chiến.

Chúng tôi hoan nghênh và đánh giá cao Luật Biển vừa được Quốc hội thông qua, tạo căn cứ pháp lý cho nhà nước và nhân dân ta bảo vệ, quản lý, phát triển kinh tế và hợp tác quốc tế đối với vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế. Sau một thời gian bị kìm hãm, báo chí nước ta đã được cất tiếng nói phê phán thẳng thắn, mạnh mẽ và kịp thời những chủ trương và hành động sai trái của Trung Quốc đối với nước ta.

Phản đối mạnh mẽ sự chiếm đoạt bằng vũ lực của Trung Quốc đối với các đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam và các quốc gia khác ven biển, chúng ta kiên trì giải quyết tranh chấp với Trung Quốc bằng phương pháp hòa bình, tuân theo luật pháp quốc tế. Chúng ta tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia khác ven Biển Đông, cùng nhau thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển, đặc biệt là đối với các đảo, bãi đá cùng với lãnh hải bao quanh theo đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển. Theo ý kiến đề xuất của các nhà nghiên cứu ở một số nước, lúc này là thích hợp để các quốc gia ven biển Đông thống nhất tên gọi Biển Đông Nam Á thay cho cách gọi khác nhau của từng nước theo vị trí tiếp giáp biển. Đó là những giải pháp thiết thực để củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn biến vùng biển này thành ao nhà của mình.

Chúng tôi mong Nhà nước công bố trước nhân dân ta và nhân dân thế giới thực trạng quan hệ Việt – Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình. Nhân dịp này, Nhà nước ta cần chủ động giải thích trước toàn dân và dư luận thế giới bối cảnh ra đời, nội dung thực chất và giá trị pháp lý của công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 về Biển Đông, để bác bỏ dứt khoát mọi xuyên tạc từ phía Trung Quốc. Chúng ta luôn phân biệt những hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận giới cầm quyền Trung Quốc, khác với quan hệ láng giềng thân thiện của đông đảo nhân dân Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.

Đi đôi với việc tỏ rõ thái độ như trên, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện phát huy năng lực của các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước, kể cả các nhà nghiên cứu quốc tế, trong việc sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu lịch sử và pháp lý về chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông. Các cơ quan chức năng của Nhà nước phối hợp với các nhà nghiên cứu hoàn chỉnh hồ sơ có đủ căn cứ lịch sử và cơ sở pháp lý, công bố rộng rãi để nhân dân ta, nhân dân Trung Quốc và dư luận thế giới hiểu rõ sự thật, không bị lừa mị hoặc rối trí bởi các luận điệu xuyên tạc, dối trá xuất phát từ mưu đồ bành trướng.

Thực hiện tham vọng bá quyền và chính sách thực dân mới, nhà cầm quyền Trung Quốc ỷ vào sức mạnh kinh tế và quân sự, tìm cách đánh lừa dư luận, lẩn tránh luật pháp và công lý quốc tế, đang tự phơi bày bộ mặt thật, đồng thời lại phải đối mặt với những vấn đề chính trị nóng bỏng trong nước, như các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, chủng tộc và mâu thuẫn trong các tầng lớp lãnh đạo, nên thế cô lập về chính trị của họ trước thế giới càng sâu sắc thêm.

Việt Nam có chính nghĩa. Nhiều quốc gia trên thế giới mong đợi Việt Nam tự lực, tự cường, thoát khỏi vòng kiềm tỏa, chi phối của Trung Quốc, cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới hợp thành sức mạnh ngăn chặn và làm thất bại mọi mưu đồ bành trướng của Trung Quốc.

Trong bối cảnh này, chúng ta cần nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, sáng suốt lựa chọn các đối tác chiến lược vì lợi ích của dân tộc và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

2- Đi đôi với tăng cường quốc phòng, chuẩn bị đối phó với mọi tình huống có thể xẩy ra, chúng ta cần phát huy thế mạnh cơ bản là ý chí độc lập, tự chủ được hun đúc từ lòng yêu nước của nhân dân ta và sự ủng hộ quốc tế đối với nước ta. Chúng tôi đã đề xuất mấy giải pháp chính là tiến hành cải cách sâu sắc, toàn diện về chính trị, tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh cải cách các lĩnh vực khác, trước hết là cải cách kinh tế và giáo dục. Nội dung cải cách chính trị nhằm trước hết đổi mới căn bản thể chế lãnh đạo và quản lý của bộ máy công quyền, bảo đảm thực hiện các quyền tự do, dân chủ của dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm phát huy ý chí và năng lực của nhân dân, tăng cường đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng và làm trong sạch bộ máy công quyền.

Nhân dân ta rất quan tâm tới việc sửa đổi Hiến pháp để tạo cơ sở cải cách thể chế chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền. Vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận và có kết luận về sửa đổi Hiến pháp (và về Luật đất đai); đề nghị Bộ Chính trị tuyên bố rõ là việc này không cản trở nhân dân và cán bộ, đảng viên tiếp tục góp ý kiến về vấn đề hệ trọng này trước khi Quốc hội quyết định.

Trong việc bảo đảm thực hiện các quyền hiến định về tự do, dân chủ, cần nhấn mạnh quyền tự do kinh doanh, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền lập hội, quyền được tự do bày tỏ thái độ chính trị thông qua các cuộc biểu tình ôn hòa. Việc nhân dân ta biểu tình phản đối hành vi xâm lược, bành trướng của Trung Quốc góp phần hỗ trợ tích cực cho cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao và động viên ý chí bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc. Nhân dân đang đòi hỏi khẩn trương xây dựng luật bảo đảm thực hiện quyền biểu tình của công dân đã ghi trong Hiến pháp. Chúng tôi cho rằng chính quyền nước ta cùng với ý thức làm chủ của nhân dân ta hoàn toàn có đủ khả năng bảo đảm các cuộc biểu tình phản đối hành động xâm lược, bành trướng của Trung Quốc diễn ra ôn hòa, trật tự, đúng mục đích. Điều có thể làm ngay để biểu thị quyết tâm cải cách chính trị hợp lòng dân là chấm dứt các hành động trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước; trả tự do cho những người bị giam giữ vì bất đồng chính kiến, chỉ công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình mà đã và đang bị kết án hình sự.

Bước tiến mạnh mẽ về thực hiện dân chủ, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng là đòn xeo xoay chuyển tình hình nước ta, đồng thời tăng ảnh hưởng tích cực trong quan hệ quốc tế, tác động tới tình hình Trung Quốc, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác bình đẳng giữa Nhà nước và nhân dân hai nước, có lợi cho sự phát triển của mỗi nước và cho sự nghiệp hòa bình, hợp tác ở khu vực và trên thế giới.

Dân tộc Việt Nam đang mong đợi chủ trương và hành động thiết thực của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Bộ Chính trị để đưa đất nước vượt qua hiểm họa, phát triển mạnh mẽ và bền vững. Chúng tôi mong các nhà lãnh đạo đất nước đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, nỗ lực thực hiện trách nhiệm nặng nề trong tình thế hiểm nghèo, không phụ lòng mong đợi của nhân dân./.
________________________________________

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN
.
1. Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
2. Nguyễn Đình An, nguyên Phó Chủ tịch UBND Đà Nẵng, Đà Nẵng
3. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy Thành
phố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Lực lượng Phụng sự Lao động (trước 1975), TP
HCM
4. Vũ Thành Tự Anh, TS, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế
Fulbright, TP HCM
5. Trịnh Đình Ban, nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP HCM, TP HCM
6. Hồ Tú Bảo, Giáo sư Tin học, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Nhật
Bản.
7. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí
Minh, TP HCM
8. Thiện Cẩm, Linh mục, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ
tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
9. Thái Văn Cầu, chuyên gia Khoa học Không gian, California, Hoa Kỳ
10. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
11. Đào Duy Chữ, TS, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam, TP HCM
12. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM
13. Hồ Ngọc Cứ, Luật gia, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
nguyên Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, TP HCM
14. Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hán Nôm, Hà Nội
15. Lê Đăng Doanh, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên
thành viên IDS
16. Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm, TP HCM
17. Trần Hữu Dũng, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Wright State, Hoa Kỳ
18. Nguyễn Tiến Dũng, Giáo sư Toán học, Đại học Toulouse, Pháp
19. Giáp Văn Dương, TS, nhà nghiên cứu Vật lý, Đại học Quốc gia Singapore
20. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành
phố HCM, TP HCM
21. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
22. Phan Hồng Giang, GS TS, nguyên Hiệu trưởng Trường Viết Văn, Hội Nhà Văn Việt
Nam, Hà Nội
23. Nguyễn Ngọc Giao, nhà báo, nguyên giảng viên Toán, Đại học Paris VII, Pháp
24. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
25. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, nguyên thành viên Viện
IDS, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội
26. Phạm Duy Hiển, GS TS, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nguyên thành
viên Viện IDS, Hà Nội
27. Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
28. Nguyễn Thị Từ Huy, Tiến sĩ, TP HCM
29. Phạm Khiêm Ích, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên
Phó Viện trưởng Viện Thông tin, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội
30. Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Phó Viện
trưởng Viện Mác-Lênin, Hà Nội
31. Nguyễn Văn Kích, nguyên Vụ trưởng, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ
tướng Chính phủ, Hà Nội
32. Tương Lai, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện trưởng
Viện Xã hội học, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
33. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện phó
Viện IDS, Hà Nội
34. Cao Lập, cựu tù Côn Đảo, TP HCM
35. Nguyễn Xuân Lập, nguyên Phó Chủ tịch Hội Y Dược Việt Nam, nguyên Trưởng
đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn (trước 1975), TP HCM
36. Hồ Uy Liêm, PGS TS, Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam, Hà Nội
37. Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành
phố Hồ Chí Minh, TP HCM
38. Ngô Vĩnh Long, Giáo sư Sử học, Đại học Maine, Hoa Kỳ
39. Huỳnh Tấn Mẫm, Bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh
viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
40. Huỳnh Công Minh, Linh mục, Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
41. Trần Tố Nga, nhà giáo, Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp, TP HCM
42. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
43. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động
thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
44. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp, Đại học Xây dựng Hà Nội, Hà Nội
45. Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành
viên Viện IDS, Hà Nội
46. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ
tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị
nhật báo Tin Sáng, TP HCM
47. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu Huế học, Huế
48. Ngô Văn Phương, nguyên Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố
Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 6, nguyên Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố khóa 5, TP
HCM
49. Trần Việt Phương, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành
viên Viện IDS, Hà Nội
50. Phạm Xuân Phương, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội
51. Trần Hữu Tá, PGS TS, nguyên Chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
52. Lê Văn Tâm, Tiến sĩ Hóa học, Tokyo, Nhật Bản
53. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
54. Lê Mạnh Thát, Thiền sư, GS TS, TP HCM
55. Nguyễn Minh Thọ, Giáo sư Hóa học, Đại học Leuven, Bỉ
56. Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế học, Đại học Waseda, Nhật Bản
57. Cao Huy Thuần, Giáo sư danh dự (Chính trị học), Đại học Picardie, Pháp
58. Trần Quốc Thuận, Luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội,
TP HCM
59. Đào Công Tiến, PGSTS, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM
60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
61. Nguyễn Thị Ngọc Toản, Đại tá, GS Bác sĩ, cựu chiến binh, Viện Quân y 108, Hà Nội
62. Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, thành viên Viện
IDS, Hà Nội
63. Tô Văn Trường, Tiến sĩ, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam,
TP HCM
64. Nguyễn Văn Tuấn, Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Úc
65. Hoàng Tụy, GS TS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Viện IDS, Hà Nội
66. Võ Thị Bạch Tuyết, nguyên Giám đốc Sở Lao động, Thương binh, Xã hội Thành phố
Hồ Chí Minh, TP HCM
67. Hà Dương Tường, nguyên Giáo sư Toán học, Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp
68. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM
69. Vũ Quang Việt, chuyên gia tư vấn Thống kê Kinh tế cho Liên Hiệp Quốc, Myanmar,
Philippines và Lào; nguyên chuyên viên cao cấp Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ
70. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, cựu chiến binh, Hà Nội
71. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc nghiên cứu (Vật lý), Trung tâm Quốc gia
Nghiên cứu Khoa học (CNRS), nguyên Giáo sư Đại học Paris VI, Pháp
——
* Được biết bức thư này cũng đã được chuyển tới một số cơ quan báo chí nhà nước VN.
Mời xem thêm: - 154. KIẾN NGHỊ BỘ NGOẠI GIAO CUNG CẤP THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ VỚI TQ (04-07-2011); - 175. Thư của LS Trần Vũ Hải gửi Bộ Ngoại giao về bản Kiến nghị 2/7/11 (11-7-2011);  - 309. THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM VỀ HIỂM HOẠ NGOẠI BANG VÀ SỨC MẠNH DÂN TỘC (21-08-2011); - 348. Bàn thêm về “Thư Ngỏ” của 36 trí thức hải ngoại (Lê Xuân Khoa/10-09-2011); - 350. Vài suy nghĩ rời về “Thư Ngỏ” của nhóm Trí Thức hải ngoại gửi Nhà Nước CSVN (Trần Phong Vũ/25-08-2011); - 358. Ý kiến về Thư Ngỏ của 36 nhà trí thức hải ngoại (Trần Bình Nam/14-09-2011); - 367. Giáo sư, nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Thư Ngỏ của 36 trí thức gửi lãnh đạo Việt Nam (Lê Xuân Khoa/18-09-2011).

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Hãy cám ơn Trung Quốc

Tại sao phải cảm ơn Trung Quốc?  Bởi vì riêng với Việt Nam, những hành động bành trướng ngang ngược của Trung Quốc mang lại nhiều cái lợi.



Trong mấy năm vừa qua, một trong những quốc gia được thế giới chú ý nhiều nhất chắc chắn là Trung Quốc. Ở Trung Quốc, có hai vấn đề được chú ý nhất: sự phát triển và âm mưu bành trướng. 

Sự phát triển của Trung Quốc bao gồm hai khía cạnh chính: tích cực và tiêu cực.

Tích cực: đó là tốc độ phát triển cao và khá ổn định trong suốt cả hai chục năm khiến Trung Quốc, từ một nước nghèo và lạc hậu đã trở thành quốc gia có tổng lượng sản xuất thuộc loại cao nhất thế giới, hơn nữa, còn có triển vọng vượt Mỹ để trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới trong một hai thập niên sắp tới.

Tiêu cực: để có sự phát triển ấy, Trung Quốc phải trả nhiều giá rất đắt: một, nạn tham nhũng hoành hành khắp nơi; hai, khoảng cách giàu nghèo, đặc biệt giữa thành thị và nong thôn, giữa cán bộ đảng viên và thường dân càng ngày càng lớn; ba, nạn ô nhiễm môi trường đến mức khủng khiếp không những là nguy cơ cho sức khỏe của dân chúng mà còn là một hiểm họa có tính toàn cầu; bốn, sự suy thoái trầm trọng về đạo đức, trong đó nổi bật nhất là nạn vô cảm: sống, người ta chỉ biết chạy theo tiền, bất chấp mọi thủ đoạn và những đau khổ gây ra cho người khác; năm, nạn làm hàng giả, hàng nhái, hàng chứa đầy những độc tố giết người, và nạn ăn cắp bản quyền trí tuệ của người khác đến mức không còn kiểm soát được nữa; và sáu, quan trọng nhất, khác với hầu hết các nước phát triển khác, Trung Quốc vẫn là một quốc gia độc đảng và độc tài.
Gần đây, khía cạnh thứ hai được chú ý nhiều nhất, thường chiếm trang đầu của những tờ báo lớn: âm mưu bành trướng của Trung Quốc.
Trước, trong giai đoạn đầu để phát triển, Trung Quốc chủ trương che giấu hết nanh vuốt, chỉ tập trung vào chuyện làm ăn buôn bán. Bây giờ, có vẻ như đã tự tin, Trung Quốc bắt đầu muốn chứng tỏ với cả thế giới mình là một siêu cường số một nếu không phải của cả thế giới thì ít nhất cũng ở châu Á. Có vẻ như họ đã quyết định chuyển sang giai đoạn thứ hai: vừa phát triển vừa bành trướng.
Bành trướng trên cả ba phương diện:
Thứ nhất, về văn hóa, họ thành lập hàng trăm Viện Khổng Tử trên khắp thế giới, giúp đỡ các trung tâm văn hóa và giáo dục khắp nơi trong việc dạy tiếng Hoa, tổ chức vô số các cuộc triển lãm và trình diễn nghệ thuật để quảng bá hình ảnh một nước Trung Quốc có truyền thống văn hóa rực rỡ và hiếu hòa lâu đời. Họ cũng mua nhiều cơ sở truyền thông lớn hoặc mua chuộc nhiều ký giả Tây phương để giúp họ trong việc chinh phục tình cảm của dân chúng thế giới.
Thứ hai, về chính trị, họ tung tiền bạc ra viện trợ cho rất nhiều quốc gia nghèo, đặc biệt ở châu Phi và châu Á, để tranh thủ sự ủng hộ của các nước ấy trong ván cờ chính trị toàn cầu trong tương lai.
Cuối cùng, thứ ba, về lãnh thổ và lãnh hải, họ ra sức giành và lấn đất cũng như biển của các nước láng giềng. Với Nhật Bản, họ đưa tàu bè đến khiêu khích ở vùng đảo Senkaku/Điếu Ngư. Với Philippines, họ gây hấn ở bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham đến mức có thể làm bùng nổ các cuộc xung đột vũ trang. Với Hàn Quốc, họ giành chủ quyền trên đảo đá ngầm Ieodo/Tô Nham Tiêu (cách đảo Marado của Hàn Quốc 149 cây số, trong khi nó cách hòn đảo gần nhất thuộc Trung Quốc, đảo Đồng Đảo, đến 247 cây số.) Với Việt Nam, Trung Quốc đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và hăm he giành cả quần đảo Trường Sa vốn được cả Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cùng tuyên bố chủ quyền. Nhưng nổi bật nhất là chính sách con đường chín đoạn (hay đường lưỡi bò, đường chữ U – Trung Quốc gọi là “cửu đoạn tuyến”) bao phủ toàn bộ bốn nhóm quần đảo và các bãi đá ngầm trên Biển Đông (Hoàng Sa, Trường Sa, Đông Sa và bãi Macclesfield) chiếm khoảng 75% diện tích mặt biển (25% còn lại chia cho năm nước liên hệ: Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam!)
Trong mấy năm vừa qua, Trung Quốc từng bước hiện thực hóa chính sách xâm chiếm biển và đảo trong khu vực ấy: Năm 2007, họ thành lập thành phố Tam Sa để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi đá ngầm Macclesfield. Năm 2010, họ thành lập các cơ quan chính quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Mới đây, họ tiến thêm một bước nữa, tổ chức linh đình buổi ra mắt tân thị trưởng thị xã Tam Sa trên hòn đảo Phú Lâm (Woody) vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam và bị họ đánh chiếm vào năm 1974. Trong suốt thời gian này, Trung Quốc không ngừng uy hiếp và sách nhiễu các quốc gia trong vùng bằng cách cấm ngư dân các nước ấy đánh bắt cá. Không ít ngư dân Việt Nam bị họ tịch thu cá, đánh chìm tàu, bắt bớ và đòi tiền chuộc; thậm chí, có người còn bị giết chết một cách man rợ trên biển cả.
Lâu nay, chúng ta xem những hành động bành trướng biển và đảo của Trung Quốc là một đe dọa lớn tiềm tàng khả năng làm bùng nổ chiến tranh trong khu vực. Nhưng, nhìn từ một khía cạnh khác, những hành động ngang ngược và hung hãn của họ lại có lợi không ít.
Thứ nhất, nó bộc lộ rõ ràng bản chất đế quốc của Trung Quốc, điều mà lâu nay, họ cố giấu giếm. Khi bản chất ấy bị lộ tẩy, những âm mưu bành trướng về văn hóa và chính trị cũng bị mất hoặc ít nhất, giảm tác dụng: Những quốc gia được Trung Quốc o bế, cung cấp viện trợ một cách hào phóng, trở thành dè dặt trước nguy cơ bị Trung Quốc nuốt chửng. Chính vì vậy, Kishore Mahbubani, một học giả Singapore, đã xem với các hoạt động gây hấn gần đây, Trung Quốc đang tự hủy hoại uy tín của họ và tự phá vỡ kịch bản ngoại giao do họ thiết kế và theo đuổi trong suốt mấy chục năm qua, đặc biệt với các nước Đông Nam Á.

Thứ hai, nó cũng quốc tế hóa những căng thẳng trong khu vực: Con đường lưỡi bò không những xâm phạm vào chủ quyền của Việt Nam cũng như một số nước Đông Nam Á mà còn là một uy hiếp nghiêm trọng đối với thế giới. Đó không phải chỉ là vùng biển hay đảo hoang vu mà còn nơi có trữ lượng dầu khí và nhiên liệu hóa thạch rất lớn (ước tính khoảng 23-30 triệu tấn dầu và khoảng 50 ngàn tỉ mét khối khí tự nhiên); hơn nữa, đó cũng là một trong những con đường hàng hải quan trọng, chiếm đến 1/3 khối lượng hàng hóa được chuyên chở bằng đường biển trên thế giới (riêng nước Úc có khoảng 54% lượng thương mại được chuyển chở ngang qua vùng biển này).

Hậu quả là thế giới không thể khoanh tay đứng ngó. Không phải ngẫu nhiên mà những tranh chấp chung quanh con đường lưỡi bò ấy đã thu hút sự chú ý của rất nhiều quốc gia: mỗi nước cảm thấy mình bị đe dọa một cách khác nhau.
Thứ ba, trong chiều hướng quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, nổi bật nhất là sự tham dự của Mỹ. Nếu sự phát triển và bành trướng nói chung của Trung Quốc khiến Mỹ e ngại, chính những tham vọng điên cuồng của họ trên Biển Đông là yếu tố trung tâm dẫn đến quyết định trở lại châu Á trong chính sách đối ngoại của Mỹ một hai năm gần đây. (Trị giá số lượng hàng hóa của Mỹ được chuyển chở ngang qua Biển Đông mỗi năm là 1200 tỉ đô la!)

Có thể nói, không phải do Mỹ tự ý và cũng không phải do bất cứ nước nào khuyến khích, chính Trung Quốc mới là nước mời gọi Mỹ trở lại với châu Á. Và trở lại một cách gấp gáp, đầy quyết liệt.
Thứ tư, trước sự đe dọa của Trung Quốc, một số lớn các quốc gia thuộc châu Á - Thái Bình Dương đều quyết định ngả hẳn sang Mỹ. Trước, trong chiến tranh lạnh, và đặc biệt, sau sự sụp đổ của Liên xô, không ít nước hờ hững với Mỹ. Bây giờ, hầu như nước nào cũng thấy chỉ có Mỹ mới bảo vệ được họ. Quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực và Mỹ bỗng dưng trở thành đầm ấm hẳn lên. Hết hiệp ước này đến hiệp ước khác được ký kết. Có thể nói, không kể khoảng thời gian ngắn ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chưa bao giờ Mỹ được chào đón một cách nồng nhiệt như vậy tại châu Á - Thái Bình Dương. Ngay chính Việt Nam, dưới sức ép của Trung Quốc, từng đưa ra chủ trương “Ba không” (Không cho nước nào khác lập căn cứ quân sự ở Việt Nam; không liên minh quân sự với nước nào khác; và không dùng nước này để chống lại nước kia), cũng đã bắt đầu ve vãn Mỹ (dù một sự hợp tác thực sự giữa hai nước, do nhiều nguyên nhân, từ quá khứ cũng như trong hiện tại, vẫn còn lắm gập ghềnh).
Riêng với Việt Nam, những hành động bành trướng ngang ngược của Trung Quốc cũng mang lại nhiều cái lợi:
Thứ nhất, nó cho người ta thấy: đối với một quốc gia, quyền lợi quan trọng hơn ý thức hệ. Thật ra, đó là điều mọi người trên thế giới đã thấy từ lâu, và đáng lẽ người Việt cũng đã thấy rõ ít nhất từ năm 1978 và 1979, lúc cả Camphuchia và Trung Quốc đều tấn công Việt Nam: Cả hai đều theo chủ nghĩa xã hội, đều đề cao tinh thần quốc tế, như Việt Nam. Điều này đã được Benedict Anderson phân tích rất rõ ngay trong những trang mở đầu cuốn chuyên luận nổi tiếng, Imagined Communities, xuất bản lần đầu năm 1983. Thế nhưng, sau này, ít nhất trong guồng máy tuyên truyền của đảng và nhà nước, giới lãnh đạo lại xem, hoặc muốn dân chúng xem, sự tương đồng trong ý thức hệ sẽ là yếu tố quan trọng nhất nối kết Việt Nam và Trung Quốc lại với nhau, từ đó, xem Trung Quốc như người bạn chiến lược quan trọng và đáng tin cậy nhất của Việt Nam.
Thứ hai, nó cũng buộc chính quyền và đảng Cộng sản Việt Nam phải có một thái độ và hướng chiến lược rõ ràng. Trước, họ cứ im lặng hoặc né tránh. Gần đây, khi thái độ và hành động xâm lấn của Trung Quốc càng ngày càng trắng trợn, họ bị buộc phải lên tiếng. Sự lên tiếng ấy còn khá rụt rè và còn thiếu nhất quán. Nhưng chắc chắn nó sẽ thay đổi khi cường độ xâm lấn của Trung Quốc càng tăng.
Thứ ba, nó trở thành một tiêu chí chính để dân chúng đánh giá chính quyền. Thường, ở các nước dân chủ, cả chính quyền và dân chúng đều đồng thuận với nhau về một số tiêu chí định giá trong một giai đoạn nhất định nào đó, nhiều nhất là về phương diện kinh tế, chủ yếu tập trung vào một số khía cạnh chính như chỉ số lạm phát, chỉ số tăng trưởng tổng sản lượng quốc nội (GDP) và chỉ số thất nghiệp. Các nước độc tài, ngược lại, thường làm nhòa đi các tiêu chí để chỉ đề cập đến những lý tưởng chung chung với những thành tựu chung chung, những tiến bộ chung chung, những đánh giá chung chung so với quá khứ, có khi là quá khứ xa xôi thời tiền-“cách mạng”. Bây giờ, sự gây hấn và uy hiếp trắng trợn của Trung Quốc, dù muốn hay không, cũng trở thành một tiêu chí để dân chúng đánh giá chính quyền. Người ta so sánh chính quyền hiện nay với chính quyền miền Nam trước đây trong việc đối phó với cuộc xâm lăng của Trung Quốc ở Hoàng Sa vào năm 1974. Người ta so sánh chính quyền Việt Nam với chính quyền các nước khác trong khu vực cũng hiện đương đầu với Trung Quốc (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và đặc biệt, Philippines). Rõ ràng sự đe dọa từ Trung Quốc đang là một cuộc trắc nghiệm của chính quyền và đảng Cộng sản Việt Nam trước mắt người dân: Họ có yêu nước hay không, có dũng cảm và sáng suốt trong cuộc đương đầu với Trung Quốc hay không sẽ được bộc lộ rõ ràng.
Trước cuộc trắc nghiệm ấy, các sáo ngữ mòn rỗng đều trở thành vô nghĩa.

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2012

Hội Nghị Chủ Quyền Biển Đông


Thật là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, hôm nay ngày Chủ Nhật lẽ ra phải nghỉ xả hơi sau một tuần làm việc cật lực, hehe… Thế nhưng chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào lại đi lang thang trên thế giới mạng và tình cờ “đụng” ngay Thầy Tư Bảy Núi. Vừa gặp Thầy này là tôi có cảm giác quen quen như hồi nhỏ từng gặp nhau trong núi rồi vậy.

Đã nhất là những câu chuyện mà Thầy Tư trực tiếp tham gia, bình lựng và đưa ra nhiều thông tin kiến giải đến bất cả ngờ… Hôm nay nhân ngày xả hơi, mượn câu chuyện của Thầy Tư giúp bà con có vài phút gọi là “mua vui cũng được một vài…” tí ti, cho nó đỡ stress vì bức xúc sau mấy cái vụ TQ xâm lược Việt Nam đang diễn ra rần rần trên Biển Đông còn nhà nước ta thì vẫn “hảo hảo”…. liên tục với  “bạn vàng”!


Hội Nghị Chủ Quyền Biển Đông

Tường thuật trực tiếp của Thầy Tư Bảy Núi 

Bước vào hội trường Hội Nghị Quốc Tế về Chủ Quyền Biển Đông , Thày Tư Bảy Núi, trong bộ quốc phục khăn đống áo dài, được đại biểu các quốc gia tham dự đón chào.

Đại diện Trung Quốc, niềm nở tuyên bố :
- Rất hân hạnh được đón mừng Tiên Sinh nơi Hội Nghị này. Tiên Sinh chính là ngọn hải đăng từ Đông Á soi sáng cho toàn nhân loại.
- Không dám ! Ngài quá khen ...
- Vả lại, chính phủ chúng tôi vừa cho chỉnh trang ngôi làng của tổ phụ 40 đời của Tiên Sinh, nơi huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, và cho kiến thiết tại đây một ngôi đình vĩ đại ...
- Phiền quý ngài quá ! Tổ phụ tôi vì ăn cắp gà (*) nên phải đi trốn thôi chứ có gì là vĩ đại đâu !
Đại diện Hoa Kỳ, một người phụ nữ duyên dáng với vẻ đẹp kiêu sang quý phái, nỉm cười bước đến :
- Chúng tôi mong được sự giúp đỡ của Ngài để đi đến một thỏa hiệp đem lại an toàn và ổn định trên vùng biển mà chúng tôi coi như liên hệ trực tiếp đến quyền lợi của Hoa Kỳ.
Đại diện Âu Châu, có mặt với tính cách quan sát viên, lên tiếng :
- Tạm thời thì chính sự bất ổn ấy đang giúp quý quốc bán được rất nhiều vũ khí, để các quốc gia trong vùng sửa soạn đánh nhau cho quyền lợi của nước Mỹ ...
Bà đại diện Hoa Kỳ ôn tồn trả lời :
- Đây không phải là đề tài của Hội Nghị này. Vả lại, tôi nghĩ Liên Hiệp Âu Châu cũng sẽ có nhiều cơ hội bán vũ khí trong vùng, như chúng tôi. Xin nhắc lại là quyền lợi của chúng ta hoàn toàn liên đới.

Thày Tư Bảy Núi hướng đến các đoàn đại diện, chắp tay xá xá mấy cái, cười duyên một phát, rồi leo lên bàn chủ tọa ngồi chễm chệ tuyên bố khai mạc Hội Nghị.

Sau một loạt diễn văn mở màn, để cho ban tổ chức và mỗi phái đoàn thi nhau bày tỏ lòng hoan hỷ, tinh thần thiện chí, những quyết tâm này khác, đồng thời đề cao tính hiếu hòa, ý chí thượng tôn pháp luật, tình hữu nghị, huynh đệ, đồng chí, láng giềng, cùng với các quan tâm chính đáng nhất của mình về kinh tế, thương mại, môi trường, xã hội, nhân đạo, văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, địa lý, chưa kể vài thứ tầm phào khác, các đại diện mới bắt đầu trình bày các chứng cớ của chủ quyền nước mình trên các hòn đảo.

Đại diện Trung Quốc cho rằng từ thời Bàn Cổ Nữ Oa đã có người Tầu sinh sống trên các hải đảo thuộc vùng biển mà họ gọi là "Nam Hải". Nhiều dấu tích như đồ gốm, vạc đồng, bia đá, thậm chí cả những thùng mì gói và lon bia Tsing Tao bị chôn vùi từ 4000 năm nay đã được trình ra trước Đại Hội.

Đại diện Việt Nam thì trưng ra vô số văn kiện của các vị vua, đặc biệt là dưới triều Nguyễn, đã từng ban hành những sắc lệnh và bổ nhiệm nhân sự cho việc quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phía Trung Quốc phản biện cho rằng các vị vua ấy thực ra chỉ là quan lại của Trung Hoa, vì họ đều được sắc phong bởi Hoàng Đế Trung Hoa. Các công việc quản lý được phía Việt Nam nêu lên, trong thực chất chỉ là những việc làm nhân danh Hoàng Đế Trung Hoa.

Vị đại diện Liên Hiệp Quốc lên tiếng :
- Vậy quý ngài Trung Hoa có công nhận Việt Nam là một nước độc lập hay không ?
Đại diện Trung Quốc tỏ vẻ suy nghĩ :
- Chúng tôi không được chỉ thị rõ ràng về điều này, nhưng tôi nghĩ ... có nhiều hy vọng là có.
- Xin nhắc lại là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là nước đầu tiên công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như một quốc gia hoàn toàn độc lập vào năm 1950.
- Vâng, trong giai đoạn mà nền ngoại giao của chúng tôi còn phôi thai, đã có việc ấy ...
- Như vậy, quý quốc cũng công nhận rằng nền độc lập của nước Việt Nam bao gồm tất cả các lãnh thổ mà nước này quản lý, bất kể những quá khứ lệ thuộc của thời phong kiến ?
- Vấn đề là các hòn đảo ấy vốn thuộc chủ quyền trực tiếp của chúng tôi, từ những giai đoạn lịch sử xa xưa nhất, như những bằng chứng đã được chúng tôi đưa ra !

Đại diện các quốc gia khác cũng lên diễn đàn trưng ra những bằng cớ hiển nhiên nhất về sự hiện diện và chủ quyền của họ trên các hòn đảo liên hệ. Ngày đầu tiên của cuộc hội nghị kết thúc với tuyên bố của đại diện Trung Hoa :
- Mặc dù những chứng cớ rất rõ ràng về chủ quyền bất khả tương nhượng của chúng tôi trên biển Nam Hải, lập trường của chúng tôi vẫn là : gác tranh chấp, cùng khai thác !

Trong bữa cơm tối, đại biểu các nước đang tranh chấp với Trung Quốc quây quần quanh Thày Tư Bảy Núi. 

Một người lắc đầu nói :
- Lập trường của họ là «bất khả tương nhượng» thì còn họp hành chi nữa ?
Thày Tư trả lời :
- Đó không phải là một lập trường. Khi họ nói lập trường của chúng tôi «bất khả tương nhượng» tức là họ «có thể tương nhượng», nếu không thì chỉ cần nói «lập trường chúng tôi như vậy» là đủ rồi ! Cũng giống như khi bà nhà thỏ thẻ với ông «em nói thiệt anh nghe», tức là bà ta có cái gì hổng thiệt. Nếu không thì hễ «nói» là phải thiệt, cần gì phải minh xác là mình «nói thiệt » ?
- Họ có tương nhượng chỗ nào đâu ?
- Lập trường thiệt sự của họ nằm ở câu : «gác tranh chấp, cùng khai thác». Họ nói «gác tranh chấp» vì lý lẽ của họ về chủ quyền không vững. Nếu tiếp tục tranh chấp thì họ không thể ngụy biện hoài được. Nên họ đề nghị «gác tranh chấp». Tuy nhiên họ vẫn chấp nhận «cùng khai thác». Tức là một cánh cửa mở ra để có thể hợp tác với các nước khác trong việc khai thác vùng biển liên hệ mà không cần phải giải quyết ngã ngũ vấn đề chủ quyền. Điều đó cứu gỡ thể diện của họ. Mà thể diện đối với Trung Hoa luôn là ưu tư trọng yếu nhất.
- Tuy nhiên, chưa thấy họ chấp nhận một thỏa hiệp cụ thể nào trong việc «cùng khai thác». Tất cả các hoạt động kinh tế không phải của họ đều bị họ dùng những biện pháp mạnh bạo cấm đoán.
-Thỏa hiệp là kết quả của tương quan lực lượng. Những chứng cớ mà các ông đưa ra để biện minh cho chủ quyền của mình trên các hòn đảo và trên lãnh hải liên hệ làm cho mấy ông phân tán lực lượng trước Trung Hoa. Họ thấy chính các ông cũng không thỏa thuận được với nhau. Vì thế, điều cơ bản nhứt là quý ông phải kết hợp chặt chẽ trên một căn bản thực dụng, dẹp qua một bên những nguyên tắc không đem lại lợi ích thiết thực. Khi đó, với những liên hệ quốc tế của tất cả các ông cộng lại, cùng với các sức mạnh khác, quý ông mới có đủ lực lượng để đi đến một thỏa hiệp tốt đẹp. Tại sao Trung Hoa lại thỏa hiệp với các ông khi chính các ông chưa thỏa thuận được với nhau ? Trung Hoa phải dựa trên tương quan lực lượng nào để thỏa hiệp, khi chưa nhìn ra được lực lượng của các ông ?

Một đại diện hỏi :
- Ngài thấy vai trò của Hoa Kỳ ra sao ?
- Hoa Kỳ có những quyền lợi xung khắc với Trung Quốc, nhưng đồng thời hai nước cũng có rất nhiều quyền lợi ràng buộc chặt chẽ với nhau. Về Biển Đông, quyền lợi trực tiếp nhất của Hoa Kỳ là sự tự do di chuyển trên đó để bảo đảm việc buôn bán và tiếp liệu. Khi nào điều ấy không bị đe dọa thì Hoa Kỳ không có lý do cụ thể để can thiệp bằng biện pháp mạnh.

Một vị đại diện khác tỏ vẻ tán đồng :
- Quý đồng nghiệp cũng nên chú ý là đe dọa lớn nhứt cho an ninh của Hoa Kỳ là những món nợ họ đang phải gánh chịu. Tôi nghe ông Mike Mullen, một chuyên gia hàng đầu của chính quyền Obama nói như vậy. Vì thế họ sẵn sàng thương thuyết để hủy bỏ hiệp ước hỗ tương an ninh với Đài Loan, tức là bỏ rơi Đài Loan về quân sự, để được Trung Quốc xóa nợ.

Một đại diện khác nói :
- Đồng minh với Hoa Kỳ là một tư thế có tính cách rất tạm thời. Nhất là khi họ thay đổi chính sách chỉ vài năm một lần, mỗi khi bầu lại quốc hội và Tổng Thống.
- Quý đồng nghiệp cũng nhớ là lực lượng quân sự hiện bảo đảm an toàn và ổn định khắp nơi cho Trung Quốc được yên ổn làm ăn chính là ... quân đội Hoa Kỳ !

Thày Tư Bảy Núi hắng gọng :
- Nói vậy, nhưng nếu các ông tranh thủ được để Hoa Kỳ đưa vấn đề Biển Đông vô trong những thương thuyết với Trung Quốc, theo chiếu hướng thuận lợi cho các ông thì đó là một đóng góp lớn cho việc đi đến một thỏa hiệp. Tôi nhắc lại là Trung Quốc sẽ chỉ nghĩ đến thỏa hiệp khi thấy rõ tương quan lực lượng giữa họ với các thành phần khác.
- Một điều tôi tự hỏi là tại sao Trung Quốc lại chịu xóa nợ, dù chỉ một phần, cho Hoa Kỳ ?
- Vì họ không thể để thị trường Hoa Kỳ sụp đổ. Vì một thỏa hiệp về quân sự với Hoa Kỳ, thông qua vấn đề Đài Loan, sẽ giúp Trung Quốc tiết kiệm rất nhiều chi phí quốc phòng, dành tiền cho các mục tiêu kinh tế, như kiến thiết hạ tầng và phát triển thị trường nội địa. Rồi vì Đài Loan hiện là một cái gai trước mắt họ, và là một hiểm họa ! Quý ông cứ tưởng tượng, một chính quyền nào đó ở Đài Loan sẽ có thể trưng cầu dân ý, rồi tuyên bố độc lập. Khi đó, những thành phần quốc gia chủ nghĩa sẽ làm mọi cách để đưa Trung Quốc đến chiến tranh, tức là đến đụng độ với Hoa Kỳ, đến nguy cơ bị đánh bại, mở đường cho sự sụp đổ của chính thể hiện tại, và rất có thể làm tan vỡ nước Trung Hoa ra thành nhiều mảnh ...
- Một sự đụng độ quy mô với các quốc gia Đông Á vì tranh chấp chủ quyền ở biển Đông chắc cũng có hậu quả tương tự ?
- Đúng vậy. Tuy nhiên chúng ta có thể nghĩ rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ trong trường hợp này sẽ rất hạn chế, vì lý do mà tôi đã nói hồi nãy. Thiếu Hoa Kỳ sẽ khó có chiến tranh trên tầm mức lớn. Thật ra Trung Quốc cần thị trường, mà các quốc gia Đông Á, nếu kể cả Ấn Độ, thì là một thị trường gần một tỷ rưỡi người tiêu thụ. Mất thị trường đó là một tai họa cho Trung Quốc. Mà kéo dài tình trạng tranh chấp cũng là một điều bất lợi cho họ, vì hình ảnh xấu xa mà họ càng ngày càng trưng bày trước dư luận trong vùng.

- Nếu có một thông điệp cho Trung Quốc, thì Thày sẽ nói gì ?
- Ở địa vị của tui, không thể có một thông điệp riêng cho Trung Quốc. Tui chỉ nói với tất cả các thành phần trong cuộc tranh chấp này ba điều. Thứ nhứt, vùng Đông Á đang có cơ hội để trở thành giàu mạnh, thành một trọng tâm của thế giới. Phải cố gắng đừng làm lỡ mất cơ hội ấy bằng một cuộc chiến tranh hay một cuộc thi đua võ trang tốn kém. Thứ hai, chỉ có sự hợp tác để hình thành một khối thịnh vượng chung cho toàn Đông Á mới tạo ra được một thị trường tiêu thụ đủ mạnh mẽ để cứu các nền sản xuất trong vùng khỏi nạn suy thoái do các thị trường Âu Mỹ đang kiệt quệ. Thứ ba, chủ quyền trên một mảnh đất hay một vùng biển không là gì hết, nếu nó chỉ đem lại tang thương, mất mát, tốn kém tài nguyên, cho nên cần chú tâm nhiều hơn tới những mối lợi mà các mảnh đất hay vùng biển đó đem lại. Mà những mối lợi đó chỉ có được qua hợp tác đa phương.

Thầy Tư Bảy Núi

(*) Chú thích thêm về chuyện ông tổ 40 đời của Thầy Tư Bảy Núi phải bỏ xứ ra đi vì tội ăn cắp gà:

Nè, ông tổ bốn chục đời của Thày phải bỏ xứ ra đi, có thiệt là chỉ ăn cắp gà thôi hay còn chi nữa ?
- À thiệt ra là lâu lâu ổng ra tay trưng dụng vài con gà của một thằng cường hào ác bá đem về nhậu với đám đệ tử. Rồi, một hôm thằng phú hào đó nó dẫn công an tới cự nự ổng sao đó, ổng bực mình đá chết cỡ đâu ... mấy chục đứa, nên phải bỏ quê ra đi. Từ đó, ổng chu du nước này nước khác, vui thì ở, loạn lạc thì bỏ đi.
- Câu «nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư» có phải của ổng không ?
- Phải.
- Dzậy ổng cũng khá nổi tiếng ...
- Ờ, thì cũng tàm tạm. Có lúc ổng làm quan, lên tới thủ tướng. Nhưng thấy hổng nên cơm cháo gì nên bỏ. Vợ con thì ôi ... tùm lum ! Nơi nào cũng có. Riết rồi dòng dõi lan xuống Lĩnh Nam. Con cháu ở đó có người tu thày chùa, được phong làm tới Tổ Sư.

Thầy Tư Bảy Núi


(Riêng cái chuyện con cháu ông tổ 40 đời của Thầy Tư được phong làm tới Tổ Sư sẽ kể sau cho bà con nghe, ly kỳ và hấp dẫn lắm lắm. Lại có liên quan tới slogan trên trang chủ của blog Hữu Nguyên nữa mới gọi là có duyên quá đi chứ, là câu  "Bổn lai vô nhứt vật").



Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Nếu là lãnh đạo Trung Quốc tôi sẽ đánh chiếm Trường Sa ngay thời điểm này!


Đây là comment của molangcho cho bài “Liệu Trung Quốc có “đánh” Việt Nam?”. Vài nhận xét ngắn gọn, song gợi lên được nhiều điều phải suy nghĩ bể cả đầu, nhất là nội tình của đất nước ta hiện giờ. Làm thế nào để có thể đủ sức mạnh chống lại giặc ngoại xâm ngay trong thời điểm này, nếu một khi phải xảy ra chiến tranh? 
Mặc dù đây chỉ là ý kiến của một blogger, nhưng với tính bức thiết của vấn đề này tôi xin phép được giới thiệu thành một đề tài mở. Với hy vọng sẽ nhận thêm được nhiều ý kiến phản biện, khác biệt của quý vị.


Nếu là lãnh đạo Trung Quốc tôi sẽ đánh chiếm Trường Sa ngay thời điểm này!

Nếu tôi là lãnh đạo TQ, tôi sẽ phát động chiến tranh đánh chiếm đảo Trường Sa của Việt Nam ngay bây giờ vì đây là thời điểm thích hợp nhất. Vì sao?

1. Lực lượng phòng vệ bờ biển của VN còn rất yếu, VN chưa làm chủ được công nghệ tàu ngầm lớp kilo nhập về từ Nga. Hệ thống tên lửa hiện có còn lạc hậu và rất mỏng.

2. Khi đánh chiếm Trường Sa là đưa vào sự đã rồi, giống như Hoàng Sa, Việt Nam sẽ phản ứng như thế nào? chắc chắn chỉ dám đưa ra vài tuyên bố miệng, có dám đưa quân ra hải chiến không?. Thực lực quân sự của VN chắc chắn sẽ không thể sánh được với TQ. Nhưng những nguyên nhân sau còn quan trọng hơn.

3. Việt Nam thực sự không có bạn bè ủng hộ gì, đó là sự thực. Nga chỉ là bạn hàng buôn bán vũ khí, Mỹ thì VN vẫn coi là kẻ thù, là thế lực thù địch. Để chọn giữa lợi ích Nga sẽ đứng ngoài, còn Mỹ có tức nhưng cũng sẽ đứng nhìn mà thôi.

4. Chưa bao giờ lòng dân VN lại căm ghét chế độ, chính phủ như bây giờ, bằng chứng là những tiếng kêu ai oán khắp đất nước bởi tội ác mà chính quyền gây ra cho người dân như những vụ đàn áp, bắt bớ tù đày những người yêu nước, những dân oan mất đất khắp nơi đang rên xiết, người có công với các cuộc chiến trước đây đã bị bỏ rơi, thậm chí là áp bức. Tầng lớp lãnh đạo, quân đội, công an đang rất bạc nhược, chỉ lo kiếm chác, ăn chơi, họ chỉ giỏi đàn áp dân còn phải ra trận là khiếp nhược.

5. Người TQ hiện đang hiện diện trên khắp lãnh thổ VN, và đã thông thạo các địa bàn bằng chứng là họ còn nắm rõ cả tên tuổi, địa chỉ, gia đình những người đi biển (báo người lao động).

6. Và lý do cuối cùng là lợi ích. Những tranh chấp lợi ích trên Biển đông sẽ không thể giải quyết được vì đó là chiến lược tiến ra biển là chiến lược của cả TQ và VN. Dù có muốn thoả hiệp nhưng va cham lợi ích sẽ là ngòi nổ và là chất xúc tác biến mối quan hệ chung ý thức hệ cộng sản thành thù địch.

Vậy thì còn chần chờ gì nữa, đây là thời điểm thích hợp nhất để tấn công, không cần tấn công bộ binh, chỉ cần đưa vài tàu chiến ra đánh chiếm các đảo còn lại trên Trường Sa mà VN đang nắm giữ, không cần đụng binh với Philippin. Chiếm được Trường Sa coi như khống chế được VN. Lúc đó Mỹ có muốn vào Cam Ranh và VN có muốn biếu không Mỹ Cam Ranh thì cũng đã muộn rồi.

Nếu là lãnh đạo TQ tôi sẽ đánh chiếm Trường Sa ngay thời điểm này.

molangcho

* P/S: Dù sao thì tôi (Hữu Nguyên) thấy tình hình tuy rất là tình hình nhưng cũng còn khá may mắn là bạn molangcho không phải (hay chưa phải, chưa trở thành) là lãnh đạo Trung Quốc. Hehe...


Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Hãy để chúng chết đi…



Chúng ta có thể thường thỏa mãn mọi đòi hỏi về công lý khi ngồi im và không làm gì cả. Adam Smith (We may often fulfill all the rules of justice by sitting still and doing nothing).

Năm 1976, New York ngập chìm trong công nợ vì chánh phủ thành phố liên tục tiêu xài cho những chương trình gọi là “xã hội” và cho “phe nhóm”. Ngân sách gia tăng cùng hệ thống quan chức và sưu cao thuế nặng khiến các doanh gia bỏ chạy khỏi New York. Đối diện với thảm họa phá sản, thành phố kêu gọi chánh phủ liên bang cứu trợ khẩn cấp. Tổng thống Ford trả lời với một câu nói đi vào lịch sử, “Drop Dead” (Hãy chết đi). Hơn 90% dân Mỹ hoan nghênh quyết định sáng suốt này.

Các giải pháp cho kinh tế Việt
Chưa bao giờ tôi thấy các chuyên gia Việt Nam hăng hái và bận rộn như lúc này. Ngày nào cũng có vài ba giải pháp trên các báo cho đủ mọi vấn đề kinh tế. Và chưa bao giờ các thành phần kinh tế lại khóc than ỉ ôi như thế này. Ai cũng xin chánh phủ cứu giúp với OPM (tiền người khác) và tốt nhất là “cho luôn” thì khỏi phải hạch toán lôi thôi.
Về nợ xấu ngân hàng, nhà nước đề nghị một công ty mua bán nợ xấu 100 ngàn tỷ, nhưng vài ông viện nghiên cứu nói 30 tỷ là đủ rồi. Một chuyên gia có giấy phép thì cho rằng 200 ngàn tỷ là tối thiểu ; trong khi vài ông không có giấy phép thì đòi 600 ngàn tỷ. Suy ngẫm lại, không ai biết nợ xấu nó tròn méo thế nào, số tiền thực sự là bao nhiêu, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ bao nhiêu, các thanh tra có kiểm soát được con số này từ những ngân hàng quốc doanh, bao nhiêu phần trăm nợ xấu là cho các công ty con hay cháu của các chủ ngân hàng vay mượn ? Còn chuyện mua nợ xấu để bán cho ai, với giá nào, thu tiền ra sao, ai được ưu tiên…thì cũng có vài chục giải pháp đề nghị.

Qua đến việc giải cứu các doanh nghiệp, nhất là trong lãnh vực bất động sản và vật liệu xây dựng, các chuyên gia còn năng động hơn vì chuyện nhà cửa thì ngay cả các bác xe ôm cũng là “sư tổ”. Dễ hiểu nhất là lấy tiền chánh phủ (OPM) mua nhà tặng cho người nghèo (phải có phong bì và xe Lexus); rồi gay cấn hơn là hạ lãi suất xuống còn 5% hay 8% hay 10%? Gói kích cầu 29 ngàn tỷ coi như “cuốn theo chiều gió” vì xứ này người có thu nhập thật sự chẳng ai đóng thuế cả. Còn chuyện giãn hay khoanh nợ theo nghị quyết thì các ngân hàng đã âm thầm làm cả chục năm nay, không ai thắc mắc. Rồi chuyện mua “hàng tồn kho”? Người tình tôi đang đòi một bộ áo lót “Victoria’s Secret” cho mùa hè. Liệu chánh phủ có mua đủ hàng? Tình trạng hiện tại đã chứng minh cho các giải pháp này..

Các bác lãnh đạo kinh tế còn dọa tung ra giải pháp là gia tăng tiêu xài và đầu tư công. Ngân sách của chánh phủ Việt Nam (34% của GDP) đã cao hơn hẳn Thái Lan (18%) và Singapore (19%) tạo một gánh nặng khủng cho các doanh nghiệp tư nhân. Công thêm với đầu tư, chi tiêu và lỗ lã của những doanh nghiệp nhà nước, nền kinh tế bắt buộc phải èo uột vì thân hình chỉ nặng có 34 kg mà lại phải vác một ba lô nặng 66 kg. Chả trách ngày nào dân cũng đi uống bia để phục hồi sinh lực, mai còn vác tiếp. Một xã có 2 ngàn hộ dân mà phải nuôi 500 quan chức; bây giờ nuôi thêm 100 ông thì chắc cạp đất mà ăn? Xây thêm vài chục ngàn cây số đường cao tốc thì GDP sẽ tăng trưởng ngay, nhưng chất lượng chỉ tốt cho các cỗ xe bò thì coi như vất tiền cho các ngân hàng ngoại quốc.

Tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng
Tuần vừa rồi, tôi ghé nhà một người bạn ăn tối. Vợ chồng hắn có 2 đứa song sinh 2 tuổi và 1 đứa 4 tuổi. Khi vừa nhập tiệc thì 3 đứa tranh nhau đồ chơi và đồ ăn, cãi nhau ỏm tỏi và la khóc lớn hơn cả các diễn viên trong một phim tình bi đát của Việt Nam. Hai vợ chồng thử mọi giải pháp, từ các gói cứu trợ đến các dọa dẫm trừng phạt. Sau 20 phút, bọn hắn thua cuộc và không ai ăn uống gì được. Tôi đề nghị một giải pháp đơn giản: 5 người lớn sẽ ra tiệm ăn và để lại căn nhà cho 3 đứa bé và 2 bà ô sin. 15 phút sau, từ quán ăn, ông chồng gọi điện thoại về, bà ô sin xác nhận là lũ trẻ đã vui vẻ chơi đùa và ăn uống trong hòa thuận.

Thực ra, các thành phần kinh tế của mọi quốc gia cũng giống như lũ trẻ. Họ thích tạo những quấy phá ôn ào để nhận những ban phát “miễn phí” từ các nguồn lực tài chánh hay hành chánh. Khi họ biết chắc chắn rằng những ân huệ này sẽ không đến, họ sẽ phải chịu đựng và tìm giải pháp khác, sáng tạo từ trí óc, con tim và ý chí.

Trở lại câu chuyện New York, mọi thành phần có lợi ích nơi đây cũng kêu la và nguyền rủa chánh phủ liên bang vài tháng sau quyết định của Ford. Nhưng họ đã làm những gì phải làm: cân bằng ngân sách, cởi bỏ thủ tục rườm rà, năng động trong việc khuyến khích các doanh nhân, kêu gọi đầu tư… Năm năm sau, tình thế ổn định. Với một tư duy quản trị sáng tạo mới mẻ, chánh phủ và người dân đã đạt những thành tích ấn tượng đem New York về lại vị trí hàng đầu của Mỹ.

Giải pháp của Alan
Cho nên, nếu các bác hỏi tôi về nợ xấu, tôi sẽ nói “Hãy Để Chúng Chết Đi”. Ngân hàng nhà nước chỉ cần bảo đảm khoảng 100 triệu đồng tối đa cho mỗi người gởi tiền, và chúng ta có thể chấp nhận sự sụp đổ của vài chục ngân hàng không hề hấn gì.

Hỏi về các doanh nghiệp bất động sản, tôi sẽ nói “Hãy Để Chúng Chết Đi”. Các căn hộ và các lô đất sẽ bị hạ giá rẻ mạt, tạo một cơ hội tuyệt vời cho nhũng người dân có thu nhập trung bình.

Hỏi về các doanh nghiệp nhà nước, tôi sẽ nói “Hãy Để Chúng Chết Đi”. Dòng tiền OPM đã cạn kiệt. Các anh chị nào có lãi thì cứ tiếp tục. Còn lỗ lã thì tôi bán ngay cho các nhà đầu tư, nội hay ngoại. Trên hết, mọi đặc lợi đặc quyền sẽ chấm dứt. Chỉ khi đối diện thực sự với cạnh tranh thị trường, chúng ta mới biết ban quản trị nào có trí tuệ và đởm lực để sinh tồn.

Hỏi về các đơn vị hành chánh cần thêm tiền để đốt, tôi sẽ nói ““Hãy Để Chúng Chết Đi”. Thay vì ăn nhậu sáng trưa chiều tối bằng OPM, chúng tôi sẽ dậy các bạn một kỹ năng quan trọng mà các bạn không hề biết. Đó là làm việc và phục vụ.

Sự hủy diệt trong sáng tạo
Nhiều thân hữu sẽ hỏi tôi là ông không lo ngại gì về những xáo trộn xã hội và nạn thất nghiệp khi các công ty thi nhau lăn ra chết? Tôi xin thưa rằng KHÔNG. Bởi vì 2 lý do. Thứ nhất là số tài sản nhàn rỗi trong dân được ước tính là khoảng 50 tỷ đô la bởi các nguồn dữ liệu đáng tin cậy. Số vàng và đô la này đang bị rút giấu vì dân không tin tưởng vào tương lai kinh tế OPM với lối điều hành dựa trên “quan hệ và xin cho”. Khi họ nhận ra là chánh phủ không can thiệp vô ích vào cách kiếm tiền của một thị trường tự do, dòng tiền này sẽ chảy vào nền kinh tế tạo một cú hích ngoạn mục. Các Việt kiều và các nhà đầu tư nước ngoài cũng sè có khả năng bơm thêm 20 tỷ đô la, dư đủ để kích thích nền kinh tế xứ này.

Lý do thứ hai là tôi tin vào tài năng và sự bền bỉ của doanh nhân Việt. Chỉ trong vòng 5 năm khi đến Mỹ, phần lớn những người dân thất học và không vốn đã gây dựng cho mình và con cái những tài sản đáng kể. Hiện nay, 3 triệu Việt Kiều tại Mỹ tạo ra một GDP ngang hàng với 90 triệu dân Việt Nam trong nước, dù họ không có dầu khí, khoáng sản hay đất đai để bán. Một triệu Việt Kiều khác ở Âu Châu, Úc và toàn thế giới củng đã có những thành công tương tự.

Một giải pháp thật đơn giản mà tôi đề nghị lên các bác lãnh đạo kinh tế là “đừng làm gì cả”.  Hãy tin dân và giao quyền lại cho các doanh nghiệp tư nhân tự ứng xử. Trong sáng tạo và hồi sinh sẽ có mồ hôi và nước mắt. Trong quá trình trưởng thành, các em thường phải chịu nhiều gian truân đau đớn. Vài em sẽ không qua khỏi. Nhưng đây là định luật của thiên nhiên.

Cùng nhau đi nghỉ hè
Nắng mùa hè vẫn đang rực rỡ, cùng trò chơi Olympic đang tưng bừng bên Luân Đôn. Tại sao các bác không nhân cơ hội này mà đem vợ con du ngoạn nhỉ? Bác nào không thích thể thao thì qua Hawaii tắm ở Black Sand Beach (cát đen tuyền và mịn). Bác nào ghét Mỹ thì có thành phố San Á hay Macau của Trung Quốc. Các bác sẽ vui vẻ thỏai mái và khi về lại quê hương sau kỳ nghỉ, các bác sẽ thấy bọn trẻ không còn mè nheo la ó nữa. Đời chẳng đẹp lắm sao?
  

Điều mà các lãnh đạo Trung Quốc lo sợ nhất


Minxin Pei, The Diplomat

Bằng cách truy tố vợ của Bạc Hy Lai về tội giết người, các lãnh đạo chính trị Trung Quốc đã tạo một tiền lệ nguy hiểm.

Tin tức cho biết các công tố viên Trung Quốc (TQ) đã lập hồ sơ chính thức truy tố bà Cốc Khai Lai, vợ của cựu Bí thư Trùng Khánh vừa bị thất sủng, ông Bạc Hy Lai, đã gợi lên những hình ảnh hấp dẫn về một phiên toà sôi nổi, trong đó những hành vi dơ bẩn nhất của gia đình họ Bạc sẽ bị báo đài phơi bày không thương tiếc. Nhưng trước khi các nhà văn có tham vọng viết một tác phẩm chính trị giật gân chạy tới mua bản quyền của cuốn trường thiên tiểu thuyết về họ Bạc, bất chấp giá trị giải trí hiển nhiên của nó, chúng ta cần phải dừng lại phút giây để suy ngẫm về một khía cạnh của vở kịch Bạc Hy Lai vốn chưa được quan tâm đúng mức: sự bất an của các lãnh đạo chóp bu TQ.
Mặc dù tuyệt đại đa số dân chúng reo mừng một cách dễ hiểu trước sự sụp đổ của các nhân vật như Bạc Hy Lai, tức các thành viên ban lãnh đạo Đảng (apparatchiks) kiêu căng, đạo đức giả, tàn ác, và tham lam trong lúc cầm quyền, nhưng những ngụ ý chính trị về sự sụp đổ của họ và về cách họ bị thanh trừng lại không mang ý nghĩa của một vở kịch dạy đạo lý. Trái lại, cái cung cách mà những kẻ quyền cao chức trọng mất hết quyền hành và những gì xảy ra cho họ sau đó có thể giúp ta hiểu biết rất nhiều về bản chất của chế độ chính trị mà họ đã lên voi xuống chó. Như trong chế độ TQ hiện nay, cuộc thanh trừng không đẹp mắt dành cho Bạc Hy Lai đã phơi bày nhiều mặt u ám của chế độ: tham nhũng, vô pháp luật, đạo đức giả, và tàn bạo. Những tính cách này của một chế độ làm cho nó thiếu tính chính đáng (illegitimate) và hủy hoại khả năng tồn tại lâu bền của nó. Tuy nhiên, hiếm khi chúng ta có đủ điều kiện để nhìn những cuộc tranh giành quyền lực chính trị từ nhãn quan của một kẻ nằm bên trong chế độ. Do đó, chúng ta thường không hiểu đúng mức là làm sao mà sự bất an (thiếu tự tin) của giới lãnh đạo chóp bu có thể tạo ra một đe dọa chết người cho chính một chế độ vốn đã thành công để rồi thất bại.
Trước khi chúng ta phân tích mức độ bất an của tầng lớp thống trị chóp bu TQ hiện nay, thiết tưởng cũng nên nói đến một thời đại mà các lãnh đạo chóp bu của Đảng Cộng sản luôn luôn nơm nớp lo sợ cho mạng sống của mình và của gia đình mình – đó là triều đại Mao Trạch Đông từ năm 1949 đến năm 1976. Chế độ Mao là một cỗ máy thanh trừng thường xuyên hoạt động. Bất cứ một thành viên nào trong giai cấp quyền lực của Đảng, bất chấp thâm niên công tác hay lòng trung thành với họ Mao, đều bị trừ khử ngay cái giờ phút người ấy trở thành một mối đe dọa cho quyền lực của Mao. Không có một luật lệ nào chi phối những cuộc thanh trừng này. Gần như trong mọi trường hợp, nạn nhân không phải chỉ có bản thân quan chức thất sủng, mà còn gồm cả thân nhân vô tội của ông ta, những người này cũng bị ném vào tù hay gửi đi trại lao động cải tạo. Thật ra, bi kịch của gia đình Bạc Hy Lai trong thời Cách mạng Văn hóa cũng là một trường hợp điển hình. Cha ông trải qua 10 năm trong tù. Bản thân Bạc Hy Lai cũng bị tù trong thời Cách mạng Văn hóa. Mẹ ông đã tự tử.
Sau khi triều đại Mao chấm dứt và sự tỉnh táo chính trị trở lại với Trung Quốc vào cuối thập niên 1970, các vị đàn anh trong Đảng đã ra sức phục hồi sự đoàn kết nội bộ. Một cái nhìn sâu sắc mà họ đã rút ra được từ tính tự hủy (self-destructiveness) của thời đại Mao là, sự bất an của giới lãnh đạo cao nhất đã làm tồi tệ tối đa những cuộc tranh giành quyền lực ở chóp bu. Ngoài ra, do sự thiếu vắng một thủ tục tố tụng công bằng hợp lý (due process) có khả năng bảo vệ những quyền cơ bản của những thành viên thuộc tầng lớp thống trị chóp bu, mức độ độc đoán, bất khả tiên liệu, và tàn bạo của việc xét xử mà họ và gia đình họ phải gánh chịu là rất hãi hùng và vô nhân đạo. Những trạng huống này ngụ ý rằng một khi một kẻ nào trong hàng ngũ lãnh đạo ở chóp bu mất quyền hành, ông ta sẽ mất hết mọi thứ, gồm cả mạng sống, sự tự do của bản thân mình và gia đình mình. Sự thể này khiến cho cái giá của việc mất quyền hành là đắt vô cùng. Vì thế, những nhà lãnh đạo chóp bu sẽ chiến đấu đến mức táng tận lương tâm để tránh thua cuộc.
Nhằm gia tăng sự yên tâm chính trị cho các lãnh đạo chóp bu trong Đảng, Đặng Tiểu Bình và các đồng chí của ông đã vạch ra một số kế hoạch tổ chức tinh vi, vừa chính thức vừa bất chính thức. Những nội quy chính thức gồm có những thủ tục cụ thể chi phối việc cách chức các quan chức cao cấp. Một trong những nội quy bất thành văn là, những người thua cuộc trong những cuộc đấu tranh giành quyền lực sẽ không bị phạt tù và gia đình họ sẽ không bị bách hại.
Hẳn nhiên, cũng như mọi thứ luật của TQ, những nội quy chính thức của Đảng được làm ra để mà vi phạm hơn để mà tôn trọng. Việc Đặng cách chức Hồ Diệu Bang, vị Tổng Bí thư Đảng có đầu óc cải cách, và Triệu Tử Dương, một nhà cải cách khác, đã vi phạm chính nội quy của Đảng. Nhưng mãi cho đến khi Đặng áp đặt 15 năm quản chế bất hợp lệ lên họ Triệu năm 1989, trên cơ bản ông vẫn tuân theo nội quy là không hành hạ thể xác hay làm mất tự do các đối thủ chính trị.
Trong thời đại sau Đặng Tiểu Bình, sự yên tâm của những nhà lãnh đạo ở chóp bu đã suy giảm đáng kể. Không những các thủ tục dùng để cách chức các đảng viên cao cấp trở nên mờ ám, vô lý, và bị chính trị hóa, mà cái giá của sự mất quyền hành cũng đắt ghê gớm. Các vụ thanh trừng bây giờ đi kèm với án tù, chứ không phải là được phép lặng lẽ nghỉ hưu. Người thân của kẻ sa cơ thất thế cũng vương vào vòng lao lý.
Nạn nhân đầu tiên của các vụ thanh trừng thời kỳ sau Đặng là Trần Hy Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị và là Bí thư Thành ủy Bắc Kinh, bị cho vào tù về tội tham nhũng năm 1995. Con trai của ông cũng đi tù. Họ Trần gần đây đã cho xuất bản tập hồi ký của mình. Trong khi cố gắng để chứng tỏ rằng ông không liên quan đến vụ đàn áp Thiên An Môn năm 1989, ông tiết lộ rằng vụ án bí mật của ông chỉ được xử chiếu lệ và ông gọi thủ tục của phiên toà là “phát xít”. Nạn nhân cao cấp thứ hai cũng mang họ Trần, đó là Trần Lương Vũ, một thời là Bí thư Thượng Hải và Ủy viên Bộ Chính trị đầy tham vọng. Cũng như Trần Hy Đồng, Trần Lương Vũ bị hạ bệ vì tội tham nhũng và bị kết án 18 năm tù.
Như vậy những gì xảy đến cho Bạc Hy Lai và người thân của ông có lẽ không đến nỗi bất thường. Như đã dự kiến, quyết định đưa Cốc Khai Lai ra toà chỉ báo hiệu rằng ban lãnh đạo chóp bu đã định tội và biện pháp trừng phạt bà. Bạc Hy Lai, hiện đang mòn mỏi trong chế độ quản chế nghiêm khắc của Đảng (chế độ giam giữ vô thời hạn ngoài pháp luật), gần như chắc chắn sẽ chịu chung số phận với hai ông cựu Bí thư họ Trần.
Một số quan sát viên thời sự có thể không đồng ý với dự đoán trên vì họ cho rằng việc thanh trừng các quan chức cao cấp về tội tham nhũng hoàn toàn khác với việc trừng trị họ về tội bất trung với Đảng hoặc vì đấu tranh bè phái để giành quyền lực. Sự phân biệt này có thể đúng về mặt kỹ thuật nhưng về thực chất và về ý nghĩa chính trị thì không quan trọng. Trong việc nuôi dưỡng một nỗi bất an đáng sợ cho hàng lãnh đạo chóp bu, thì các tội tham nhũng và các tội chính trị là không khác nhau.
Một là, cũng như tội chính trị, tội tham nhũng cũng có thể ngụy tạo. Những bằng chứng được đem ra để buộc tội hai Bí thư họ Trần, chẳng hạn, đã cho thấy hai vụ án gượng gạo và thiếu cơ sở. Ai cũng biết hai ông họ Trần sụp đổ không phải vì tham nhũng nhưng vì tham vọng chính trị và vì bất trung với đường lối của Đảng. Người ta có thể nói như thế về nguyên nhân hạ bệ Bạc Hy Lai.
Hai là, vì các lãnh đạo chóp bu của TQ, dù chính bản thân họ không trực tiếp tham gia các hoạt động tham nhũng, nhưng tất cả người thân và bà con họ đều có dính vào những hợp đồng khả nghi hoặc phi pháp, không một vị nào ở chóp bu là tuyệt đối an toàn. Hiện nay, hình như Đảng đã vạch ra một đường ranh giới hạn đối với cấp Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị – các Ủy viên Bộ Chính trị vẫn không được an toàn, nhưng các thành viên Ủy ban Thường trực Bộ Chính trị thì tuyệt đối được miễn truy tố (absolute immunity), bởi vì những vụ thanh trừng ở cấp cao nhất của Đảng sẽ làm cho tình hình quá bất ổn. Nhưng đây không phải là một sự dàn xếp được bọc thép (ironclad), nên đố ai biết được khi nào thì Đảng sẽ quay ra truy tố một trong chín vị lãnh đạo chóp bu trong tương lai?
Ba là, một khi bị hạ bệ trong một cuộc đấu tranh giành quyền lực, thậm chí những vị lãnh đạo chóp bu của TQ cũng thiếu cả sự bảo vệ tối thiểu của luật pháp. Họ không thể lựa chọn luật sư hay có khả năng thách thức những tội danh đã gán cho mình như trong một nền tư pháp độc lập. Bản án và hình phạt dành cho họ thường được quyết định, không phải bởi những thẩm phán chuyên nghiệp ở cuối các phiên toà, nhưng bởi các lãnh đạo chính trị chóp bu đã họp bàn bí mật với nhau.
Điều mà sự phân tích này cho thấy – và là điều mà vụ án dành cho Bạc Hy Lai và vợ ông chứng tỏ – là an ninh chính trị của các lãnh đạo chóp bu TQ đã sa sút đến độ, trong nhiều tình thế nghiêm trọng, họ có thể cảm thấy như mình đang trở về những ngày u ám dưới thời đại Mao. Sự chia rẽ ở chóp bu và những đấu đá thâm độc trong nội bộ hiện nay là một thông lệ, chứ không phải là một ngoại lệ. Đây không phải là một tin trấn an đối với những cá nhân mà cơn ác mộng hàng ngày của họ là một sáng đẹp trời nào đó họ có thể biến thành một Bạc Hy Lai thứ hai.
Trần Ngọc Cư dịch 



Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Liệu Trung Quốc có “đánh” Việt Nam?


Ngày 15/5/2012, mạng “Quân sự Thiên Thiên” của Trung Quốc đăng bài viết “Trung Quốc sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông, nước nào là đối tượng đầu tiên?”. Chính các tác giả người Trung Quốc sau khi phân tích, cân nhắc đầy đủ các yếu tố khách quan và chủ quan của nước này đã phải đưa ra nhận định: “Trung Quốc tấn công quân sự Việt Nam đầu tiên để giải quyết vấn đề Biển Đông là một sự lựa chọn không sáng suốt”. Mặc dù cũng theo các tác giả này, nếu phải làm một cuộc điều tra dân ý về chuyện “đánh ai trước” thì chắc chắn 80% dân số Trung Quốc sẽ đồng thanh hô to: “Việt Nam”.

Những động thái diễu võ giương oai mới đây của lực lượng hải quân Trung Quốc tuần tra trên Biển Đông và kế hoạch đưa hàng chục ngàn quân ra đồn trú trên cái gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc càng khiến cho người ta thấy sự hung hăng của một kẻ không chỉ đang chuẩn bị cho chiến tranh…mà còn tự cho mình cái quyền làm "cá lớn nuốt cá bé" ngay trong thời đại văn minh này. "Cá lớn" đang cân nhắc xem liệu hắn sẽ phải "nuốt con cá bé" nào trên Biển Đông trước đây?

Tuy vậy, bản thân người Trung Quốc dù tự cho mình là "cá lớn" cũng nhìn thấy rõ, khai chiến với Việt Nam đầu tiên chỉ mang lại sự thất bại ê chề cho chính họ.

Bổ sung (8:30 - 2/8/2012): Đồng ý với bình luận của ABS:  "Không còn là “liệu TQ có đánh hay không” mà câu hỏi là “bao giờ Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam?” Bởi vì với mưu đồ bành trướng của TQ mấy ngàn năm qua, được củng cố thêm từ thời Mao Trạch Đông thì trước sau gì cũng sẽ có đánh nhau với VN, nhưng chưa biết khi nào thì TQ ra tay “dạy cho VN bài học” nữa đây".

Như phần trên tôi có nói, vấn đề là con cá lớn đang suy tính xem nên nuốt con cá bé nào trước thôi. Còn trước sau gì thì hắn cũng sẽ lần lượt nuốt sạch sành sanh các con cá trên Biển Đông, để độc chiếm vùng biển này, biến thành ao nhà của hắn. 

Cảm ơn ABS.

Xin trích dẫn một phần bài báo nói trên của Trung Quốc để tham khảo:


Nếu quân đội Trung Quốc giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực, phải tiến hành điều tra dân ý về vấn đề “đánh ai trước”, chắc chắn trên 80% dân chúng Trung Quốc đều hô to một tên – Việt Nam. Về bề ngoài, Việt Nam hung hăng nhất, quốc lực tổng hợp yếu nhất và năng lực kiểm soát chiến tranh kém nhất trong số 5 nước có tranh chấp với Trung Quốc tại Biển Đông, dựa vào thực lực quân sự của Trung Quốc hiện nay có thể khẳng định rằng, nếu hải quân hai nước Trung-Việt xảy ra chiến tranh tại quần đảo Hoàng Sa hoặc quần đảo Trường Sa, quân đội Việt Nam chỉ có thể chống đỡ, không có sức đánh trả, cuối cùng phải chịu thất bại, quân đội Trung Quốc khẳng định sẽ giành chiến thắng gọn gàng, triệt để. Với thực lực quốc gia và thực lực quân đội hiện nay của Việt Nam căn bản không chịu nổi một trận đánh của Trung Quốc. Mặc dù, tác giả bài viết này nhất trí với đánh giá của đa số người dân Trung Quốc, nhưng mặt khác tác giả cũng tán thành với một bộ phận có quan điểm nhìn xa trông rộng, không chủ trương tiến đánh Việt Nam ngay lập tức, vậy vì sao?

Tác giả bài viết cho rằng trong một thời gian dài kiên trì theo dõi các chương trình quân sự trên truyền hình và trên các phương tiện truyền thông khác, lắng nghe các chuyên gia quân sự đánh giá về tình hình Biển Đông và trong các cuốn sách chuyên đề cũng như các bài bình luận trên mạng của các chuyên gia quân sự, cũng đọc thấy nhiều bài viết và ý kiến về chủ trương không tiến đánh Việt Nam trước, tác giả có cùng một quan điểm với chủ trường này: Trung Quốc giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông, mục tiêu tiến đánh đầu tiên không nên là Việt Nam, và không chủ trương lập tức khai chiến với Việt Nam, một khi Trung Quốc khai chiến với Việt Nam sẽ tạo ra nhiều hậu quả, trong đó có 4 điểm vô cùng bất lợi cho Trung Quốc:

Một là, hiện nay Việt Nam có thể nói đang trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, từ sau Chiến tranh Lạnh, Việt Nam bắt đầu mất dần ký ức chiến tranh, mặc dù trong những năm gần đây họ giơ cành ô liu với người Mỹ, nhưng lịch sử thảm khốc của cuộc Chiến tranh Việt Nam và hình thái ý thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, khiến Mỹ băn khoăn lo lắng, huống hồ người Mỹ cũng biết rất rõ, người Việt Nam chẳng qua là muốn hàng không  mẫu hạm của Mỹ đến để kiềm chế và hù doạ Trung Quốc mà thôi. Nếu Trung Quốc đánh Việt Nam, người Việt Nam sẽ kêu gọi sự bảo vệ của Mỹ, Nhật Bản, cung cấp căn cứ quân sự cho Mỹ, Nhật, như vậy tuyệt đối không phải là một tin tốt cho Trung Quốc, Trung Quốc sẽ mất đi “vùng đệm hoà hoãn” phía Nam trong sự đối kháng với Mỹ. Cục diện này là ước nguyện của người Mỹ mấy chục năm qua, cũng là mục đích mà người Mỹ phải sử dụng biện pháp chiến tranh trong mười mấy năm mà chưa đạt được, và một khi xuất hiện cục diện này, dưới sự “giúp sức” của Trung Quốc, chắc chắn người Mỹ sẽ thực hiện được mục tiêu này. Nếu quân đội Mỹ có thể quay trở lại cảng Cam Ranh, có thể khẳng định cuộc sống của Trung Quốc sẽ không còn tốt đẹp.

Hai là, chiếm giữ các đảo của Trung Quốc tại Trường Sa còn có các nước Philippin, Malaixia, Inđônêxia, Brunây, nếu các nước này nhận được sự ủng hộ và xúi giục từ Mỹ, sẽ liên hợp với Việt Nam tiến hành chiến tranh chống lại Trung Quốc, cục diện này rất có khả năng xảy ra, vậy Trung Quốc phải làm sao? Toàn bộ khu vực Biển Đông sẽ trở thành chiến trường, hoàn toàn có thể khiến toàn bộ các nước Đông Nam Á thoái thác triệt để cho Mỹ, thảm hoạ chiến tranh sẽ tiếp nối, đồng minh của Trung Quốc tại khu vực này sẽ ngày càng ít, thậm chí bị cô lập hoàn toàn, hình tượng nước lớn có trách nhiệm của khu vực được Trung Quốc xây dựng từ năm 1999 đến nay bị sụp đổ hoàn toàn, nếu nhân cơ hội này Đài Loan đi theo hướng độc lập, Nhật Bản chiếm đóng tại đảo Điếu Ngư, Nam Tây Tạng lại có vấn đề, Trung Quốc thật sự xuất hiện cục diện “bốn bề gặp hoạ”, phiền phức không để đâu cho hết.

Ba là, các đảo Việt Nam chiếm giữ tại Biển Đông phân bố rải rác và trong phạm vi rộng, đại bộ phận đều nằm ở cực Nam của Biển Đông, đánh chiếm các đảo trên với Việt Nam như thế nào, mặc dù nó một tấc lãnh thổ cũng không thể nhường, nhưng đối với Trung Quốc, một số đảo thuộc khu vực Trường Sa thực sự quá xa, xa đến mức nếu dựa vào biện pháp kỹ thuật hiện nay, cho dù khai thác, phát triển thì lợi ích thu được so với cái giá phải bỏ ra để bảo vệ cũng không thể so sánh được, ngược lại, những đảo này rất gần với phía Việt Nam, huống hồ sau khi đánh chiếm những đảo này, hải quân Trung Quốc không thể dụng cả một hạm đội tác chiến bố trí lâu dài tại cực Nam của Biển Đông, vì vậy đánh chiếm các đảo này sẽ rất khó phòng thủ, rất có thể xuất hiện cục diện mất rồi lại được, được rồi lại mất, nếu xuất hiện cục diện này, hao người tốn của là chuyện không phải bàn, Việt Nam sẽ làm tiêu hao một lượng lớn sức chiến đấu của hải quân Trung Quốc, trong khi đó hải quân Mỹ cũng sẽ nhân cơ hội này gây ra những phiền phức cho hải quân Trung Quốc.

Bốn là, Trung Quốc tiến đánh Việt Nam trước, chắc chắn sẽ gặp sự phản đối kiên quyết từ nước láng giềng phương Bắc – đó là Nga, vì sau khi Liên Xô tan rã, Nga kế thừa và phát triển quan hệ đồng minh hữu nghị với Việt Nam, hiện nay Nga là nguồn cung cấp trang bị vũ khí quân sự và hoả lực lớn nhất của Việt Nam, ngược lại, người Nga nhập khoảng 30% hàng nông sản, thực phẩm từ Việt Nam, một khi Trung-Việt xảy ra chiến tranh, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới quan hệ đối tác mật thiết Trung-Nga mà hai nước mới thiết lập, tình hình quốc tế hiện nay đòi hỏi hai nước Trung-Nga phải đoàn kết mật thiết, cùng nhau đối phó với nguy cơ quân sự ngày càng nghiêm trọng, nếu Nga cũng gia nhập vào tập đoàn tuyên truyền về thuyết “mối đe doạ từ Trung Quốc”, như vậy Trung Quốc sẽ ở vào địa vị quốc tế hết sức khó xử, Nga cũng sẽ đối xử thù địch với Trung Quốc, Trung Quốc thật sự bị Mỹ bao vây toàn diện. Trong khi đó, kinh tế của Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đây là bất lợi lớn nhất.

Căn cứ vào 4 nguyên nhân trên, Trung Quốc tiến đánh Việt Nam đầu tiên để giải quyết vấn đề Biển Đông là sự lựa chọn không sáng suốt, nếu tiến đánh Việt Nam đầu tiên, các nước tranh chấp khác dưới sự xúi giục và ủng hội của Mỹ, khẳng định sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Nhưng nếu Trung Quốc tiến đánh Philippin đầu tiên hoặc nước khác, tác giả có đầy đủ lý do chứng minh rằng, cho dù Mỹ gây chia rẽ như thế nào, Việt Nam đều sẽ không dám tham gia, trong vấn đề Biển Đông, hai nước Trung-Việt dường như có một dạng hiểu ngầm là: “anh không đánh tôi, tôi không tham gia” và “tôi không đánh anh, anh không tham gia”, năm ngoái Trung Quốc và Philippin xảy ra xung đột xung quanh vấn đề đảo Hoàng Nham, biểu hiện giữa Trung Quốc và Việt Nam đã cho thấy tồn tại sự hiểu ngầm đó.