Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

AVRAM NOAM CHOMSKY: “NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ NHẤT THẾ GIỚI”

Dù không mấy thiện cảm với ông, tờ New York Times cũng từng nói rằng “Noam Chomsky có lẽ là nhà trí thức lớn nhất hiện đang còn sống”. Là nhà ngữ học từng tạo cách mạng trong bộ môn này, Chomsky được thế giới biết đến nhiều hơn vì sự phê phán quyền lực của ông bắt nguồn từ truyền thống tự do tư tưởng, vì thái độ sẵn sàng dùng ngòi bút không phải để quậy vào vết thương kẻ khác, vì những phẩm bình đáng ngại ông luôn nhắm vào “giới tăng lữ thế tục” (clergé séculier) là các trí thức và nhà báo". 
Tôi còn nhớ một trong những câu nói nổi tiếng của ông như sau:  "Khi chúng ta chối bỏ quyền tự do ngôn luận của những người mà chúng ta khinh ghét thì đồng thời chúng ta cũng chối bỏ quyền tự do ngôn luận nói chung". Noam Chomsky sinh ngày 7-12-1928.

AVRAM NOAM CHOMSKY: “NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ NHẤT THẾ GIỚI”

NGUYỄN ĐỨC DÂN


Ngày 18-10-2005, trong cuộc bầu chọn Những người trí tuệ trên thế giới do tạp chí Prospectcủa Anh thực hiện, Noam Chomsky đã được chọn là “người có trí tuệ nhất thế giới”. Vậy Noam Chomsky là ai?

Đôi dòng tiểu sử
Avram Noam Chomsky sinh ra trong một gia đình trí thức Nga gốc Do Thái. Ông sinh ngày 7-12-1928, tại East Oak Lane, vùng ngoại ô Philadelphia, bang Pennsylvania, Mĩ. Cha ông là William Chomsky, trốn quân dịch Sa hoàng và di cư khỏi Nga năm 1913, là một học giả tiếng Hebrew.
Mẹ ông, Elsie Chomsky (tên thời con gái là Simonofsky) cũng gốc Nga nhưng sinh ra và lớn lên ở Mĩ, nói tiếng Anh giọng New York. Tiếng mẹ đẻ của bố mẹ ông là Yiddish, nhưng trong gia đình lại không dùng thứ tiếng này. Noam trong tiếng Hebrew có nghĩa là “hài lòng”.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1945, Chomsky học hành khá lang bang tại Đại học Philadelphia. Đầu tiên ông quan tâm tới tình hình chính trị ở Trung Đông hơn cả việc học đại học. Ông từng có ý định thôi học để đi Palestine. Tìm cách khuyên can con, cha ông giới thiệu với Zellig Harris, lúc đó cũng rất quan tâm tới chính trị. Thế là chàng thanh niên Chomsky quyết định ở lại Philadelphia học ngôn ngữ học với Z. Harris. Quan điểm chính trị của Z. Harris đã ảnh hưởng sâu đậm tới quan điểm của N. Chomsky sau này.
Năm 1949, Chomsky kết hôn với nhà ngôn ngữ học Carol Schattz. Họ có 3 con, hai gái: Aviva (sinh 1957) và Diane (sinh 1960) và một trai: Harry (sinh 1967).
Đóng góp ngôn ngữ học
Trong quá trình nghiên cứu “Phương pháp ngôn ngữ học cấu trúc” của Harris (x. Harris, 1951) ông đã tìm ra phương pháp hình thức hoá chúng một cách triệt để. Từ 1955, ông đã hoàn thành công trình Cấu trúc logic của lí thuyết ngôn ngữ dày trên 900 trang [A, 1975a]. Chương Phương pháp phân tích biến đổi của sách này được đệ trình làm luận án tiến sĩ. Phương pháp biến đổi của N. Chomsky khác với phương pháp biến đổi của Z. Harris ở điểm căn bản sau: Quy tắc biến đổi của Harris là hai chiều, nghĩa là nếu cấu trúc A biến đổi thành cấu trúc B thì B cũng biến đổi thành A (A ↔ B).Với Chomsky, chỉ có biến đổi một chiều. Ông đỗ tiến sĩ nhưng bị đánh giá khá xoàng. Một giáo sư phản biện viết: ‘Tôi không biết luận án này thuộc lĩnh vực gì, nhưng chắc chắn đây không phải là ngôn ngữ học’. Thế là trong một hai năm tiếp theo, các toà soạn và nhà xuất bản trả lại bản thảo luận án và các bài báo của ông. Dù sao, nhờ M. Halle và R. Jacobson mà Chomsky được một chân dạy tiếng Pháp và tiếng Đức cho cán bộ khoa học - kĩ thuật ở học viện MIT (Massachusetts Institute of Technology). Năm 1961, ông được phong Giáo sư Khoa Ngôn ngữ hiện đại và Ngôn ngữ học (nay là Khoa Ngôn ngữ học và Triết học). Ông đã dạy ở MIT suốt hơn nửa thế kỉ qua.
Năm 1957, NXB Mouton (Hà Lan) in cho ông quyểnSyntactic Structures. Robert Lees, một học trò của ông, đã viết một bài dài hơn 30 trang giới thiệu và bình luận quyển sách này trên tạp chíLanguage (1960). Nhờ đó mà thế giới biết tới ông. Cho đến nay, đây vẫn là công trình được nhiều người biết nhất của N. Chomsky. Trong sách này có một câu rất nổi tiếng minh hoạ cho quan niệm về ‘tính ngữ pháp’ của ông: Colorless green ideas sleep furiously (Những tư tưởng xanh lục không màu đang ngủ một cách giận dữ), một câu vô nghĩa chỉ có thể xuất hiện trong một bài thơ siêu thực vẫn có thể có tính ngữ pháp.
Ngữ pháp tạo sinh
Cách tiếp cận cú pháp của N. Chomsky, thường mang tên ngữ pháp tạo sinh – GG (generative grammar), mặc dù rất phổ biến ở Mĩ và một chừng mực nào đó ở Pháp nhưng lại khó khăn với những nhà nghiên cứu ở ngoài Mĩ, bởi cách phân tích cú pháp đó rất trừu tượng. Nó dựa trên những nghiên cứu công phu về ranh giới giữa những cấu trúc ngữ pháp và phi ngữ pháp trong một ngôn ngữ. Những nghiên cứu này, như N. Chomsky từng nói, dựa trên những quan sát kĩ lưỡng một số lượng khổng lồ các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau suốt từ 1949 đến nay. Những phán xét về tính ngữ pháp chỉ có thể thực hiện một cách chính xác bởi những người bản ngữ. Vì những lí do ngữ dụng các nhà ngôn ngữ học thường nhấn mạnh tới tiếng mẹ đẻ của họ hay ngôn ngữ mà họ chịu ảnh hưởng, như Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch, Ý, Nhật, Trung Quốc… khi giải thích và phát triển lí thuyết này.
Đôi khi những phân tích của GG không thành công ở ngôn ngữ mà trước đó chưa được nghiên cứu. Khi số lượng các ngôn ngữ được khảo sát tăng lên cũng dẫn tới nhiều thay đổi của GG và sự khẳng định về tính phổ quát ngôn ngữ học đã trở nên vững chắc hơn nhiều.
Về phổ quát ngôn ngữ, Joseph Greenberg nổi tiếng với công trình được nghiên cứu công phu qua rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Các ngôn ngữ được phân loại theo những loại hình khác nhau, trong đó có loại hình về trật tự từ [Greenberg, 1966]. Cách tiếp cận của N. Chomsky lại theo hướng đưa ra giả thuyết bẩm sinh ngôn ngữ. Trẻ em được giả định là có năng lực bẩm sinh (innate knowledge) về những cấu trúc ngữ pháp cơ bản chung cho các ngôn ngữ tự nhiên. Tức là, ngôn ngữ nào cũng chứa đựng một số hữu hạn những thành tố giống nhau. Tri thức bẩm sinh này thường mang tên ngữ pháp phổ quát. Đó là một ngữ pháp hình thức có “tính tạo sinh” (productivity): Với một tập hữu hạn các quy tắc ngữ pháp và một tập hữu hạn các từ ngữ, con người có thể tạo ra vô hạn các câu, kể cả các câu mà chưa bao giờ họ nói hoặc nghe thấy.
Cơ chế này được những người bản ngữ kiểm chứng qua thời gian, từ 1949 đến nay. Số lượng ngôn ngữ được kiểm chứng tăng lên rất nhiều. Có những bất ngờ. Một trong những ví dụ thú vị là về trật tự từ. Vào thập niên 90 thế kỉ trước, Richard Kayne, một nhà nghiên cứu nổi tiếng theo trường phái Chomsky đã chứng minh rằng, tất cả các ngôn ngữ đều có cấu trúc chìm (underlying structure) theo trật tự S – V – O [Kayne, 1994], một điều không chấp nhận được vào thập niên 60 thế kỉ trước. Đến nay, giới ngôn ngữ học Việt Nam cũng vẫn bất ngờ với kết luận này.
Năm 1979, N. Chomsky trình bày tại Hội nghị Ngôn ngữ học thế giới GLOW (Generative Linguistics in the Old World) diễn ra ở Đại học Sư phạm Pisa (Ý) cách tiếp cận P&P về ngôn ngữ (The Principles and Parameters approach – Những nguyên lí và tham biến), báo cáo này thường mang tên The Pisa Lectures, sau này được gọi là Lí thuyết G&B(Chi phối và Gắn kết - Government and Binding theory) [1981]. Trong những năm cuối thập niên 60 thế kỉ XX, một số quy tắc trong lí thuyết chuẩn (Standard Theory - tên gọi cho công trình Aspects of the Theory of Syntax, 1965)không giải thích được một số vấn đề ngữ nghĩa nên đã được điều chỉnh lại và mang tên Lí thuyết chuẩn mở rộng (Extended Standard Theory). Tiếp đến, đầu thập kỉ 70 với một số điều chỉnh mang tên ‘phạm trù rỗng’ (empty categories), lí thuyết ‘thanh chắn – X’ (X-bar theory), ‘cấu trúc chìm và cấu trúc nổi’ (D- and S-structures), và những điều kiện biểu hiện như ‘bộ lọc Cách’ (Case filter) lại dẫn đến Lí thuyết chuẩn mở rộng nhìn lại (Revised Extended Standard Theory) làm cho mô hình ngữ pháp trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Lí thuyết Chi phối và Gắn kết đã điều chỉnh về cơ bản lí thuyết ngôn ngữ học tạo sinh trước đó, là bước tiếp theo của N. Chomsky hướng tới một ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar).
Năm 1993, N. Chomsky có bài “A minimalist program for linguistic theory” in trong The view from Building 20: Essays in linguistics in honor of Sylvain Bromberger [MIT Press, p. 1-52], sau xuất bản thành sách The Minimalist Program[1995]. Đây là điều chỉnh cuối cùng về ngữ pháp phổ quát của Chomsky: Chương trình MP nhằm phát triển lí thuyết ngữ pháp chứ không phải là một lí thuyết. MP đưa ra một cách tiếp cận tối thiểu với những công cụ mang tính kĩ thuật cho những nguyên lí và tham biến được phát triển trong thập kỉ 80, cách tiếp cận gợi ý rằng tồn tại một tập cố định những nguyên lí có giá trị với mọi ngôn ngữ cho phép tác động tới một tập hợp hữu hạn những nút bấm lưỡng phân (t.l, những tham biến) là có thể miêu tả được những tính chất đặc trưng cho hệ thống ngôn ngữ mà trẻ em có được.
Trong MP, Chomsky đưa ra hai luận điểm cơ bản. Sự tiết kiệm trong quá trình tạo câu (derivation) và sự tiết kiệm trong quá trình biểu hiện câu (representation). Ở đây có hàng loạt cách tân mang tính kĩ thuật trong tiếp cận ngữ pháp. Ông khái quát hoá lí thuyết thanh chắn – X thành khái niệm BPS – cấu trúc cú đoạn chủ yếu (Bare Phrase Structure) ở 4 điểm quan trọng: a) Câu được phái sinh tường minh, biểu hiện từ dưới - lên chứ không từ trên - xuống như trong lí thuyết thanh chắn – X; b) Cấu trúc câu là không được nhận biết trước; c) Chỉ có hiện tượng rẽ nhánh lưỡng phân chứ không chấp nhận cả rẽ nhánh đơn phân (unary branching) như ở lí thuyết thanh chắn –X; d) Không phân biệt điểm đầu (head) và điểm cuối (terminal) như có trong lí thuyết thanh chắn – X. Trong BPS có hai tác tử cơ bản: Merge là tác tử ánh xạ lên hai đối tượng (khi hai từ đứng cạnh nhau thì tạo ra nghĩa mới như thế nào), và Movelà tác tử khiến một từ chuyển dịch từ chủ thể - đối tượng này sang chủ thể - đối tượng khác.
- Đơn giản hoá hai mức độ biểu hiện trong mô hình ngữ pháp bằng cách loại đi sự phân biệt giữa cấu trúc chìm và cấu trúc nổi bằng cách tiếp cận phái sinh tường minh hơn.
- Loại bỏ khái niệm chi phối (government).
- Đưa vào một điểm đơn, gọi là Spell-Out, về tương tác cú pháp trong nói năng.
- Sự phái sinh cú pháp được thực hiện một cách rõ ràng qua những trạng thái được gọi là phases.
Đóng góp tâm lí học
Những công trình ngôn ngữ học của N. Chomsky đã ảnh hưởng rất lớn tới tâm lí học và những hướng phát triển cơ bản của nó trong thế kỉ 20. Lí thuyết về ngữ pháp phổ quát của ông và một hệ luận của nó là vấn đề trẻ em học ngôn ngữ như thế nào, được xem là thách đố trực tiếp với những lí thuyết hành vi luận đã biết. Nhiều nguyên lí cơ bản của Chomsky đã được một số trung tâm tâm lí học chấp nhận.
Năm 1959, Chomsky viết bài “B.F. Skinner's Verbal Behavior“ bình luận về cuốn sách Verbal Behavior của B. F. Skinner. Bài này đã tấn công mạnh mẽ vào khái niệm cơ bản ‘tâm lí hành vi’ của B.F.Skinner. Bài này được nhìn nhận là một cột mốc cho cuộc ‘cách mạng tri nhận’, làm nên sự thay đổi tận gốc rễ tâm lí học Mĩ từ thập kỉ 50 tới thập kỉ 70 thế kỉ trước, từ hành vi nguyên thuỷ tới tri nhận nguyên thuỷ. Và Chomsky được coi là một trong những người tiên phong trong cuộc cách mạng tâm lí học theo hướng nghiên cứu tâm lí học tri nhận.
Trong Cartesian Linguistics [1966] và những bài viết sau đó, sự trình bày về năng lực ngôn ngữ của con người đã trở thành khuôn mẫu cho một số khảo cứu trong lĩnh vực tâm lí học. Nhiều khái niệm tâm lí học hiện nay về trí não hoạt động như thế nào bắt nguồn trực tiếp từ đây. Ba điểm then chốt là: Một, trí não (the mind) là ‘tri nhận’, hay là con đường chung để hiểu trí não là thừa nhận rằng chúng chứa đựng những đối tượng như niềm tin, sự ngờ vực, và những trạng thái tinh thần (mental) vô thức khác; Hai, phần lớn những điều mà trí não một người trưởng thành có được là ‘bẩm sinh’. Trong khi không một đứa trẻ nào sinh ra có thể nói được một ngôn ngữ thì chúng có đầy đủ mọi khả năng học nhanh chóng nhiều ngôn ngữ ở giai đoạn đầu đời. Điều này được các nhà tâm lí học mở rộng ra ngoài địa hạt ngôn ngữ; Ba, Chomsky đưa ra khái niệm ‘modularity’ (tính cấu thành bộ phận) về trí não: Trí não gồm các hợp thành bộ phận, có những tập con với các dòng hữu hạn tương tác thông tin nội bộ (inter-communication). Điều này hoàn toàn đối lập với quan điểm cũ là bất kì mảng thông tin nào trong trí não cũng được ghi nhận qua một quá trình tri nhận khác.
Quan điểm và hoạt động chính trị – N. Chomsky và Việt Nam
N. Chomsky là gương mặt nổi bật nhất của những nhà chính trị Mĩ cấp tiến. Trong Từ điển các nhà triết học Mĩ hiện đại [Trd, 2009], Chomsky được coi là “một trong những người phê bình cánh tả có ảnh hưởng nhất tới chính sách ngoại giao Mĩ”. Ông tham gia nhiều hoạt động chính trị và viết rất nhiều sách, nhiều bài trên các tạp chí về vấn đề này. Ông là uỷ viên hội đồng (Senior Scholar) của Viện nghiên cứu chính trị (Institute for Policy Studies). Vài năm trước đây, trong một cuộc bình chọn 11 người xứng đáng đứng đầu một nhà nước toàn cầu (global government), ông được xếp hạng 4 (sau Nelson Mandela, Bill Clinton và Đạt Lai Lạt Ma). Ông nổi tiếng thế giới về những quan điểm chính trị. Những phê bình liên tục và vang dội của ông có ảnh hưởng to lớn tới chính sách đối ngoại của Mĩ. Những người đứng đầu chính quyền Mĩ coi ông là một gương mặt phản kháng. Thậm chí Chomsky từng nhận được những lời đe doạ tính mạng vì phê phán chính sách đối ngoại của Mĩ. Ông quan tâm tới nhiều lĩnh vực khác nhau: chủ nghĩa khủng bố, vấn đề toàn cầu hoá, chủ nghĩa xã hội, truyền thông đại chúng, vấn đề Trung Đông, phê bình giới trí thức, nhất là trí thức Mĩ và Pháp...
Đặc biệt, N. Chomsky là người đứng đầu phản kháng cuộc chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam với tập tiểu luận nổi tiếng “Trách nhiệm của người trí thức” [B,1967]. Ông đã từng tham gia biểu tình tuần hành chống chiến tranh ở Việt Nam. Mùa xuân 1972, Chomsky trình bày về nguồn gốc cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước Ủy ban Quan hệ đối ngoại của Thượng viện Mĩ do J. William Fulbright là chủ tịch. Ngày 10-4-1970, Chomsky trong đoàn đại biểu trí thức Mĩ 3 người sang thăm Việt Nam (Lúc đó tên ông được báo Nhân Dân phiên là “Nô-am Trom-xki”, và trong một bài khác sau đó một thời gian được phiên là “No-am Sôm-xki”). Trong bài phát biểu trên Đài Tiếng nói Việt Nam ngày 13-4-1970, N. Chomsky nói ông ‘kính trọng nhân dân Việt Nam đã có thể bảo vệ mình, chống lại cuộc tấn công tàn bạo, đồng thời có những thành quả lớn lao trong việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa’. Ông đã gặp gỡ, trao đổi với Tổng Bí thư Lê Duẩn, bày tỏ ủng hộ đường lối chính trị của Việt Nam. Ông trình bày lí thuyết ngôn ngữ học của mình tại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong buổi đó, có một chi tiết thú vị như sau: Người phiên dịch tiếng Anh rất lúng túng, không dịch được những điều ông nói. Lúc ấy bỗng có một ông già lững thững đi từ phía dưới lên dịch thay. Chomsky chắc ông này dịch chính xác vì mỗi khi nói xong ông ấy dịch ngay rất lưu loát và lại nghe những tiếng “ồ, à” tán thưởng từ cử toạ. Chomsky rất bất ngờ vì lúc đó ở Việt Nam đã có người hiểu ông đến như vậy. Sau đó càng bất ngờ hơn khi Chomsky biết “ông già” này là Bộ trưởng Bộ Đại học & THCN: GS Tạ Quang Bửu.
Phương pháp tiếp cận khoa học – Ảnh hưởng của N. Chomsky
Chomsky coi khoa học là những nghiên cứu giải thích. Ông bác bỏ quan điểm phân loại luận trong khoa học, nghĩa là nghiên cứu khoa học không phải là lập ra một danh sách phân loại những sự kiện hay là những giải thích chúng theo một cơ cấu máy móc [Năm 1942, nhà ngôn ngữ học theo trường phái cấu trúc cổ điển Charles F. Hockett (1916 – 2000) từng viết rằng ‘ngôn ngữ học là khoa học phân loại’].
Ông coimột số những phê bình của những người được gọi là hậu - cấu trúc hay hậu hiện đại là không có ý nghĩa gì. Ông lấy làm thất vọng khi đọc những công trình mù mờ, rối rắm của trường phái hậu - cấu trúc hoặc hậu hiện đại đến nỗi ‘mắt đờ đẫn ra’ (my eyes glaze over). Điều này không giống với những chứng minh rắc rối, phức tạp trong toán học hay vật lí. Ông không hiểu chi tiết nhưng tin những chứng minh đó đúng và nhà khoa học có thể giải thích để ông hiểu cốt lõi của vấn đề là gì. Theo ông, điều quan trọng đối với một công trình khoa học là luận giải tường minh. Khoa học nói về những điều rất đơn giản và đặt ra những câu hỏi hóc búa chưa có những câu trả lời thoả đáng. Theo ông, nhiều công trình khoa học chỉ mới nắm bắt được những điều ngoài rìa, chưa đi vào bản chất sự kiện. Phần lớn những công trình khoa học của ông là những giả thuyết.
Chomsky đã có ảnh hưởng rất lớn đến khuynh hướng ngôn ngữ học thế giới nửa cuối thế kỉ 20. John Searle đã từng viết bài “Cuộc cách mạng trong ngôn ngữ học của Chomsky” (Chomsky's Revolution in Linguistics, trên The New York Review of Books, 29-6-1972) dài gần 11.300 từ,đánh giá những cống hiến vĩ đại và tầm ảnh hưởng to lớn của Chomsky về ngôn ngữ học và tâm lí học.
Tiếng Anh có từ chomskyan, có nghĩa là “những người theo trường phái ngôn ngữ học Chomsky”. Nhưng Chomsky lại không ưa thuật ngữ này.
Những mô hình Chomsky đã trở thành cơ sở lí thuyết cho hàng loạt lĩnh vực khác nhau
Chỉ với một bài Ba mô hình miêu tả ngôn ngữ [A,1956], N. Chomsky đã để lại dấu ấn sâu sắc và được coi là giáo trình nền tảng trong lĩnh vực khoa học máy tính vì đã cung cấp những kiểu ngôn ngữ hình thức khác nhau. Bài này đề cập tới 3 loại ngôn ngữ hình thức khác nhau được phân theo tầng bậc để miêu tả ngôn ngữ tự nhiên, cấp độ sau miêu tả mạnh hơn và bao chứa cấp độ trước. Đó là: 1) Ngữ pháp các trạng thái hữu hạn. Mô hình này được xây dựng theo lí thuyếtôtômát hữu hạn trạng thái của nhà toán học Nga A. Markov; 2) Ngữ pháp các thành tố trực tiếp, còn gọi là ngữ pháp cấu trúc cú đoạn (phrase structure grammar); Mô hình này xây dựng các quy tắc viết lại theo phương pháp suy luận của Post trong lí thuyết ôtômát. 3) Ngữ pháp biến đổi (transformational grammar), về sau được gọi là ngữ pháp tạo sinh. Chính Chomsky đã lưu ý, một số phương diện của ngôn ngữ tự nhiên đòi hỏi những mô hình ngôn ngữ phức tạp hơn. Ở Việt Nam, ba mô hình này đã được Nguyễn Đức Dân giới thiệu [NĐD, 1977].
Donald Knuth, một chuyên gia lừng danh về khoa học máy tính, tiết lộ: Năm 1961, khi hưởng tuần trăng mật ông đọc quyển Syntactic Strctures. Chínhlí thuyết toán học về các ngôn ngữ nảy ra hàng loạt điều trực cảm tuyệt vời giúp ông viết ra những chương trình máy tính.
Sự phân tầng ngôn ngữ này cũng được các nhà toán học tổ hợp quan tâm.
Cũng từ sự phân tầng này đã nảy sinh một số luận điểm trong cuộc cách mạng tâm lí học.
Niels K. Jerne, người nhận giải Nobel Y học 1984, đã dùng mô hình tạo sinh của N. Chomsky để giải thích hệ thống miễn dịch của con người. Theo ông, có một ‘ngữ pháp tạo sinh của hệ miễn dịch’: các bộ phận hợp thành của ngữ pháp tạo sinh… được coi như những đặc trưng khác nhau trong cấu trúc protein.
Ở Đại học Columbia , khi nghiên cứu sự tiếp nhận ngôn ngữ loài vật của con tinh tinh (chimpazee) người ta thấy rằng năng lực ngôn ngữ bẩm sinh chỉ có ở loài người. Họ bèn lấy tên N. Chomsky để đặt cho hiện tượng này: Nim Chimpsky
Một điểm nhấn trong những công trình về chính trị của N. Chomsky là phân tích xu hướng chủ đạo trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, đặc biệt là ở Mĩ, về cấu trúc, về những ràng buộc và sự tiếp nhận chúng trong vai trò biện hộ cho những đại doanh nghiệp và lợi ích của chính quyền. Công trình cộng tác với Edward S. Herman Manufacturing Consent: The Political Economy of the Mass Media [B,1988, 2002] đã gây tiếng vang lớn. Ở đó đã phân tích sâu sắc và được minh hoạ qua hàng loạt ví dụ về ‘mô hình tuyên truyền’ (propaganda model) với 5 ‘bộ lọc’ (five ‘filters’) gây ra xu hướng tiếp nhận sai lệch nhằm tạo sự đồng thuận qua những tin tức truyền thông. Có những dẫn chứng hùng hồn cho mô hình này trong việc báo chí đưa tin về Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của chúng ta (báo chí Mĩ gọi là Tet Offensive).
N. Chomsky là người luôn luôn bảo vệ mạnh mẽ quan điểm khoa học của mình. Ông từng có các cuộc tranh luận về ngôn ngữ học, về triết học, về tâm lí học và về chính trị với nhiều học giả, như Jean Piaget, Michel Foucault, William F. Buckley, Christopher Hitchens [6 cuộc]; George Lakoff, Richard Perle, Hilary Putnam, Willard Quine; Alan Dershovitz.
Ghi nhận về N. Chomsky
Ông đã giảng dạy và thuyết trình ở rất nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới.
N. Chomsky cũng nhận được hàng loạt bằng tiến sĩ danh dự của các trường đại học trên thế giới như:
○ University of London
○ University of Chicago
○ Loyola University of Chicago
○ Swarthmore College
○ University of Delhi
○ Bard College
○ University of Massachusetts
○ University of Pennsylvania
○ Georgetown University
○ Amherst College
○ University of Cambridge
○ University of Colorado
○ University of Buenos Aires
○ McGill University
○ Universitat Rovira i Virgili
○ Columbia University
○ Villanova University
○ University of Connecticut
○ University of Maine
○ Scuola Normale Superiore
○ University of Western Ontario
○ University of Toronto
○ Harvard University
○ Universidad de Chile
○ University of Bologna
○ Universidad de La Frontera
○ University of Calcutta
○ Universidad Nacional de Colombia
○ Vrije Universiteit Brussel
○ Santo Domingo Institute of Technology
○ Uppsala University
○ University of Athens
○ University of Cyprus
○ Central Connecticut State University
○ National Autonomous University of Mexico (UNAM)
○ Peking University
○ National Tsing Hua University
Ông là thành viên của nhiều Viện Hàn lâm khoa học Mĩ và nước ngoài. Ông nhận được nhiều huy chương danh giá. Gần đây nhất, 6-2011, ông nhận được Giải thưởng Hoà bình Sydney vì ‘đã phê phán, đấu tranh không mệt mỏi chống lại cường quyền và và cổ vũ cho quyền lợi con người’.
MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA N. CHOMSKY
Về ngôn ngữ học
○ Chomsky (1955). Transformational Analysis. Ph. D. dissertation, University of Pennsylvania.
○ Chomsky, N. (1956). “Three models for the description of language”. IRE Transactions on Information Theory 2(3): 113–224.
○ Chomsky, N. (1957). Syntactic Structures. The Hague: Mouton.
○ Chomsky, N. (1965). Aspects of the Theory of Syntax. Cambridge: The MIT Press.
○ Chomsky, N. (1966). Cartesian Linguistics. A Chapter in the History of Rationalist Thought. Lanham, Maryland: University Press of America.
○ Chomsky, Noam, and Morris Halle (1968). The Sound Pattern of English. New York: Harper & Row.
○ Chomsky (1972). Studies on Semantics in Generative Grammar.
○ Chomsky (1975a). The Logical Structure of Linguistic Theory.
○ Chomsky (1975b). Reflections on Language. New York: Pantheon Books.
○ Chomsky (1981). Lectures on Government and Binding: The Pisa Lectures. Holland: Foris Publications. Reprint. 7th Edition. Berlin and New York: Mouton de Gruyter, 1993.
○ Chomsky (1984). Modular Approaches to the Study of the Mind.
○ Chomsky (1995). The Minimalist Program. Cambridge, MA: The MIT Press.
○ Chomsky (2000). New Horizons in the Study of Language and Mind (bản dịch tiếng Việt của Hoàng Văn Vân: Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức. NXB Giáo dục , 2007)
Về chính trị
○ Chomsky, N. (1967) The Responsibility of Intellectuals
○ Chomsky, N. (1969) American Power and the New Mandarins New York: Pantheon.
○ Chomsky, N. (1971) At War with Asia. New York: Pantheon.
○ Chomsky, N. (1972)Problems of Knowledge and Freedom: The Russell Lectures. New York: Pantheon.
○ Chomsky, N. (1983, 1999) The Fateful Triangle: The United States, Israel, and the Palestinians. Boston: South End Press.
○ Chomsky, N. (1988, 2002) Manufacturing Consent: The Political Economy of the Mass Media. New York: Pantheon.(with Edward Herman).
○ Chomsky, N. (1989) Necessary Illusions. Boston: South End Press.
○ Chomsky, N. (1992) Deterring Democracy. New York: Hill and Wang.
○ Chomsky, N. (1996) Class Warfare: Interviews with David Barsamian. Monroe, ME: Common Courage Press.
○ Chomsky, N. (2003) Middle East Illusions: Including Peace in the Middle East? Reflections on Justice and Nationhood. Rowman & Littlefield Publishers.
○ Chomsky, N. (2003A) Hegemony or Survival: America's Quest for Global Dominance. Metropolitan Books. (Part of the American Empire Project).
○ Chomsky, N. (2003B) Objectivity and Liberal Scholarship. The New Press.
○ Chomsky, N. (2005) Imperial Ambitions: Conversations on the Post-9/11 World. Metropolitan Books. (Part of the American Empire Project).
○ Chomsky, N. (2006) Failed States: The Abuse of Power and the Assault on Democracy. Metropolitan Books.
○ Chomsky, N. (2007) Interventions. City Lights Publishers. City Lights.
○ Chomsky, N. (2010)Gaza in Crisis: Reflections on Israel's War Against the Palestinians (with Ilan Pappé). Hamish Hamilton.
SÁCH VIẾT VỀ N. CHOMSKY
○ Barsky, Robert F. (2007). The Chomsky Effect: A Radical Works Beyond the Ivory Tower. Cambridge: MIT Press.
○ Barsky, Robert (1997). Noam Chomsky: A Life of Dissent. Cambridge: MIT Press. Retrieved 2006-09-05.
○ Lyons, John (1970). Noam Chomsky (Modern Masters). New York: Viking Press.
○ Sperlich, Wolfgang B. (2006). Noam Chomsky. London: Reaktion Books.
[theo trang: http://en.wikipedia.org/wiki/Noam_Chomsky_bibliography, 17-6-2011]
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 
(ngoài N. Chomsky)
[1] Dictionary of Modern American Philosopher, 2009, Ed. The University of Auckland.
[2] Greenberg, Joseph, Language Universals: With Special Reference to Feature Hierarchies. The Hague: Mouton & Co. 1966  (Reprinted 1980 and, with a foreword by Martin Haspelmath, 2005).
[3] Harris, Zellig1951, Methods in Structural Linguistics, Chicago, CUP (bản dịch tiếng Việt của Cao Xuân Hạo), NXB Giáo dục, Hà Nội.
[4] Kayne, Richard S., 1994, The Antisymmetry of Syntax. Linguistic Inquiry Monograph Twenty-Five. MIT Press.
[5] Nguyễn Đức Dân, 1977, Những mô hình ngôn ngữ (in ronéo), Trường đại học Tổng hợp  TP HCM.-

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Thư ngỏ gửi UBND quận Hoàn Kiếm (Hà Nội): “Chưa được công nhận” không có nghĩa là có thể ứng xử tùy tiện với di tích lịch sử

LTS: Sau khi đăng loạt bài xung quanh dự án xây dựng Trung tâm thông tin văn hóa Hồ Gươm (Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội), ĐĐK đã nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc, trong đó có ý kiến của giới chuyên ngành kiến trúc, xây dựng, văn hóa, lịch sử. Số báo này, chúng tôi xin giới thiệu thư ngỏ của NGƯT Vũ Thế Khôi gửi UBND Q.Hoàn Kiếm - với nội dung liên quan.

Nhà giáo ưu tú  Vũ Thế Khôi


Hoành phi "Hoằng Thiện kinh đàn”  trong kho gỗ thải đền Ngọc Sơn

Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục có là di tích lịch sử đáng phải tôn trọng không? Chúng tôi xin cung cấp một số thông tin có thể những người có trách nhiệm phê duyệt Dự án xây dựng Trung tâm Thông tin Văn hóa Hồ Gươm chưa biết hoặc chưa tường tận.

Tại vị trí này hai lãnh tụ văn thân yêu nước chống Pháp đã bị bọn thực dân chém đầu thị chúng, đó là cử nhânTạ Văn Đình (1874) và cử nhân Nguyễn Cao (1887). Điều này mọi người đều biết vì các nhà Hà Nội học đã viết nhiều. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chính báo Nhân Dân đã đề nghị dựng một tấm bia tưởng niệm hai vị liệt sĩ tại quảng trường này.

Nhưng nội hàm lịch sử của quảng trường này không phải chỉ có vậy. Quảng trường này có thể gọi là cầu nối đền Ngọc Sơn trên Hồ Gươm với Trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại số 10 và nhà Thục trưởng Lương Văn Can ở số 4 cũ phố Hàng Đào thành một cụm di tích. Điều này còn ít người biết, xin nói rõ hơn.

Đền Ngọc Sơn do Hội Hướng Thiện sáng lập năm 1841 không phải để thờ Tam giáo hay Tam thánh như một số người đã viết chỉ căn cứ hiện trạng tượng thờ, mới hình thành dần dần hồi đầu thế kỷ XX. Các sĩ phu Hà thành lập ngôi đền này chủ yếu làm trung tâm hoạt động chấn hưng văn hóa và giáo dục Thăng Long - Hà Nội. Các hoạt động khai hóa của Hội như mở tư thục (riêng ở khu vực xung quanh và lân cận Hồ Gươm đã có đến 13 trường!), khắc in sách, giảng kinh đạo lý cổ truyền theo định hướng "trung ư dân” - trung với dân và "vụ dân chi nghĩa” - nghĩa vụ lo cho dân (Vũ Tông Phan - Văn bia miếu Thần Hỏa, 30 Hàng Điếu). Nhờ vậy "ngôi đền văn minh” (Hoàng Đạo Thúy) đã góp phần chuẩn bị tổ chức (các trường, hội đoàn) và nhân sự cho phong trào văn thân, Duy tân - Nghĩa thục: cụ Cử Nguyễn Huy Đức là môn sinh của Hội trưởng Hướng Thiện Vũ Tông Phan, Lương Văn Can lại là môn sinh của thày Nguyễn Huy Đức; cụ cử Nguyễn Hữu Cầu, Trưởng ban tu thư của ĐKNT là cháu nội tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, đồng chí của ông Nghè Phan v.v… 

Năm 1865, sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, nhân trùng tu và tân tạo đền Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Siêu, Hội trưởng Hướng Thiện thứ hai cho dựng một tấm bia đá lớn cuối đình Trấn Ba mới xây nói rõ việc đặt tên đình như vậy là "ngụ ý làm cột trụ ngăn sóng lớn”.  "Sóng lớn” đây, căn cứ Phương Đình tùy bút, Thần Siêu ám chỉ "đạo Tây Dương”, thời bấy giờ đang dẫn đường cho quân xâm lược. Năm 1873 khi quân Pháp tấn công Hà Nội lần thứ nhất, văn đoàn huyện Thọ Xương với nòng cốt là Văn hội Thọ Xương và Hướng Thiện hội đền Ngọc Sơn (đều do cụ Bảng Siêu chủ trì cho đến khi mất vào năm 1872), đã tham gia đánh lại bọn Jean Dupuis. Trong chiến dịch giặc Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai 1882 - 1883 nghĩa đoàn Thọ Xương còn chủ động tập kích chiếm lại phủ Hoài để làm lễ ra mắt Thống tướng Hoàng Kế Viêm và xin được đứng dưới cờ. Trong cuộc khởi nghĩa của sư Vương Quốc Chính năm 1898, cháu gọi Hội trưởng Hướng Thiện Vũ Tông Phan bằng bác ruột, giáo học làng Mậu Hòa Vũ Như Đẩu được cử làm Tán tương quân vụ và cầm đầu cánh quân làm lễ tế lá cờ "Triệt Nguyễn, bình Tây ” ở đình hàng tổng Sấu - Giá, rồi kéo quân qua Cầu Đơ đánh vào Ngọc Hà.

Sau khi phong trào kháng chiến của văn thân dần dần thất bại, trí thức Nho học thay đổi phương lược cứu nước: trước hết phải khai dân trí - chấn dân khí - hậu dân sinh. Năm 1903 khi Phan Chu Trinh khởi động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam, thì Cụ Nghè Ngô Đức Kế và cụ Bảng Nguyễn Sinh Sắc (có Nguyễn Tất Thành theo hầu), ra Hà Nội gặp các cụ Lương Văn Can và Võ Hoành; cũng năm 1903 này Lương Văn Can, Nguyễn Thượng Hiền, Đoàn Triển… tham gia dựng Hoằng Thiện kinh đàn trong đền Ngọc Sơn (nơi hiện nay bị chiếm dụng kinh doanh văn hóa phẩm!) để giảng bài kinh "giáng bút” của Đức Thánh Trần răn dạy giữ lòng trung hiếu (ở bia còn trong Đền ghi việc này có khắc tên 3 vị trên). Mối dây liên hệ trực tiếp giữa đền Ngọc Sơn và Đông Kinh Nghĩa Thục đã thiết lập như vậy. Đền Ngọc Sơn trở thành diễn đàn chính của Đông Kinh Nghĩa Thục. Rằm tháng Giêng 1907, 3 tháng trước khi Trường khai giảng ở số 10 cũ Hàng Đào, tại cuộc tụ hội ở đình Trấn Ba, 2 tân cử nhân Hán học trẻ măng là Lương Trúc Đàm, con trai Lương Văn Can, và Dương Bá Trạc đã đăng đàn diễn thuyết, hô hào bỏ khoa cử Nho học, noi gương Nhật Bản duy tân.

Đông Kinh Nghĩa Thục có vai trò quan trọng đến mức nào đối với công cuộc vận động cách mạng của dân tộc ta, có thể thấy qua sự kiện sau đây: giáp Tết 1946, Tết độc lập đầu tiên, việc nước còn bề bộn, Hồ Chủ tịch đến thăm hai nơi: đàn Hoằng Thiện đền Ngọc Sơn và tư gia Thục trưởng Lương Văn Can. Bởi vậy, trong lần viếng thăm đền Ngọc Sơn trước khi mất ít lâu, cố Bộ trưởng Vũ Đình Hòe đã đề nghị trả lại gian giảng đàn Hoằng Thiện làm nơi trưng bày các ván khắc của Hội Hướng Thiện, tư liệu về Đông Kinh Nghĩa Thục và đặt tại đây tượng Hồ Chủ tịch và các cụ cử Can, Hoàng giáp Hiền (Tiền Phong, 8-2-2011).

Nay kính thư
Hà Nội, 30-11- 2014

Xây Trung tâm thông tin văn hóa Hồ Gươm: Cần ý kiến chính thức từ Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL

Từ Khôi - Báo Đại Đoàn Kết
Không ngẫu nhiên mà trong những ngày này dự án xây dựng Trung tâm thông tin văn hóa Hồ Gươm lại thu hút được sự quan tâm của công luận và giới chuyên môn đến thế. Đơn giản vì Hồ Gươm là một địa danh thiêng liêng của Thủ đô và cả nước. Và bất cứ một sự việc gì liên quan tới thay đổi cảnh quan ở đây đều mang một ý nghĩa to lớn.


Bên ngoài khu vực dự định xây dựng Trung tâm thông tin 
văn hóa Hồ Gươm
Ảnh: Hoàng Long

Mọi sự tưởng như an bài khi ông Lâm Quốc Hùng - Phó Chủ tịch UBND quận Hoàn Kiếm phát biểu tại cuộc họp giao ban báo chí do Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tổ chức ngày 25-11 là dự án đã được phê duyệt với sự nhất trí của Hội đồng kiến trúc quy hoạch thành phố. Ông Hùng cũng khẳng định dự án không phải xin ý kiến của Bộ VHTTDL trước khi làm. Cách phát biểu có vẻ như chưa được cân nhắc đầy đủ này chỉ phù hợp khi di tích Đền Ngọc Sơn và Khu vực Hồ Hoàn Kiếm là di tích cấp tỉnh, thành phố chứ không phải di tích quốc gia đặc biệt. Chúng tôi cho rằng: Nếu không có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ VHTTDL mà cứ cố tình xây dựng dự án này thì sẽ vi phạm pháp luật.

Dự án Trung tâm thông tin văn hóa Hồ Gươm (trung tâm) do HĐND - UBND Quận Hoàn Kiếm là chủ quản đầu tư và chủ đầu tư là Ban Quản lý xây dựng công trình công ích Hoàn Kiếm. Theo thiết kế, công trình gồm ba tầng nổi, một tầng hầm, chiều cao đến đỉnh mái là 13,6m. Qua phát biểu của ông Lâm Quốc Hùng - Phó Chủ tịch UBND quận Hoàn Kiếm và thông tin của một số cơ quan báo chí thì những lý lẽ được đưa ra để khẳng định việc xây dựng dự án trung tâm là có cơ sở pháp lý có thể thống kê như sau: Thứ nhất, dự án không phục vụ việc kinh doanh. Thứ hai, dự án tuân thủ các quy định về xây dựng như độ cao dưới quy định cho phép (độ cao quy định quanh khu vực này là dưới 16m) và mật độ cho phép (mật độ chỉ 64% trong khi quy định là dưới 80%). Thứ ba, dự án nằm ngoài phạm vi khoanh vùng di tích.  

Với nguồn tư liệu có được, đối chiếu với các quy định pháp lý, bước đầu chúng tôi xin được nêu một số vấn đề trao đổi lại để các cơ quan có thẩm quyền và bạn đọc tham khảo. 

Về việc cho rằng dự án không nhằm mục đích kinh doanh, chúng tôi nhận thấy đây không phải là cơ sở để bàn đến việc dự án trung tâm được xây hay không. Hoạt động kinh doanh tuân thủ theo quy định pháp luật về doanh nghiệp, về đăng ký kinh doanh… chứ không theo luật xây dựng. Nhà hàng Thủy Tạ nằm gọn trong phạm vi khoanh vùng khu vực bảo vệ 1 và 2 của di tích quốc gia đặc biệt đã và đang kinh doanh khá tấp nập thì sao?. Rồi nhà hàng Lục Thủy ở 16 Lý Thái Tổ khai thác kinh doanh nghệ thuật, ẩm thực ngay trên khuôn viên của Nhà hát Ca múa nhạc nhẹ Việt Nam. Tòa nhà do Nhà hát Ca múa nhạc nhẹ Việt Nam được Bộ VHTTDL giao quản lý này được xây dựng theo kiến trúc của Pháp từ năm 1918. Về giá trị lịch sử, tòa nhà từng là trụ sở đầu tiên của Quốc hội khóa 1 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Về căn cứ tuân thủ các quy định xây dựng, các yếu tố pháp lý về độ cao, mật độ xây dựng như nêu trên của chủ quản đầu tư và chủ đầu tư là đúng nhưng chưa đủ. Vấn đề pháp lý còn thiếu này gắn bó mật thiết với căn cứ pháp lý thứ ba về vị trí xây dựng của dự án. 

Theo "Bản đồ hiện trạng khoanh vùng bảo vệ di tích Đền Ngọc Sơn và Khu vực Hồ Hoàn Kiếm” đã được nhiều cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì khu vực bảo vệ 2 của di tích có tổng diện tích 34.284,6m2. Phía Bắc giáp phố Đinh Tiên Hoàng và cư dân phường Hàng Bạc, phía Nam giáp phố Hàng Khay và cư dân phường Tràng Tiền, phía Đông giáp phố Đinh Tiên Hoàng, phía Tây giáp phố Lê Thái Tổ. Trên bản đồ, vị trí dự kiến xây dựng dự án trung tâm nằm đối diện với các điểm mốc khoanh vùng bảo vệ là 223, 224, 225 và 226. Về khoảng cách giữa ranh giới khu vực bảo vệ 2 và khu đất của dự án chính là khoảng cách bề rộng của đoạn đầu phố Đinh Tiên Hoàng và đầu phố Lê Thái Tổ. Tính độ dài theo đường vạch sơn dành cho người đi bộ sang đường của khoảng cách giữa hai vị trí này là 17 bước chân, ước chừng 10m. Nếu cùng lúc trên đoạn phố này có hai chiếc ô tô 36 chỗ cùng lưu thông sẽ gây trở ngại lớn về giao thông. Và sẽ tính toán sao đây về mật độ giao thông ở khu vực có nhiều điểm giao cắt của nhiều tuyến phố như Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, Lương Văn Can, Hàng Hành, Cầu Gỗ… nếu trung tâm được xây dựng?. 


Khoảng cách từ vị trí dự kiến xây dựng trung tâm đến khu vực
 bảo vệ di tích chỉ lọt vừa hai chiếc ô tô 36 chỗ

Nếu dự án trung tâm được xây dựng thì đây sẽ là công trình gần ranh giới khoanh vùng bảo vệ nhất với di tích quốc gia đặc biệt. Nhất là khoảng cách giữa khu vực 1 (mép nước Hồ Gươm, điểm cột mốc trên bản đồ là 136, 137 và 138) với điểm mốc trên bản đồ thuộc mép đường đầu phố Lê Thái Tổ là rất ngắn, nếu không nói là ngắn nhất trong toàn bộ hai khu vực bảo vệ. Ở một vị trí như vậy, không thể không tính đến yếu tố có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích hay không.

Căn cứ vào các tiêu chí, quy định của pháp luật di sản, hồ sơ di tích Đền Ngọc Sơn và Khu vực Hồ Hoàn Kiếm đã xếp loại đây là loại hình di tích lịch sử danh lam thắng cảnh. Vì vậy, yếu tố cảnh quan xung quanh di tích, nhất là di tích quốc gia đặc biệt như Hồ Gươm lại càng trở nên "nhạy cảm”.

Điều 15 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21-9-2010 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa quy định thẩm quyền thẩm định dự án cải tạo, xây dựng công trình có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích như sau: "Khi thẩm định dự án cải tạo, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ của di tích mà có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích, phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với di tích cấp tỉnh, của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt”. 

Khoản 1 Điều 36 Luật Di sản văn hóa quy định: "Khi phê duyệt dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quy định tại Điều 32 của Luật này mà xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích thì phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin”.

Vậy nên chưa thể nói tính pháp lý của dự án xây dựng trung tâm đã thực sự đầy đủ.

Khi trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Thế Hùng - Cục trưởng Cục Di sản văn hóa cho biết: Bộ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Tuấn Anh cũng đã biết được sự việc và giao cho Cục trưởng Cục Di sản văn hóa xem xét có ý kiến. Hiện tại, vị Cục trưởng chưa bày tỏ rõ quan điểm nhưng cho biết sẽ làm đúng quy định của pháp luật.

Như nhiều cơ quan báo chí đã phản ánh, các cơ quan, tổ chức như Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Kiến trúc sư Việt Nam chưa được xin ý kiến góp ý cho dự án. Trao đổi với chúng tôi, PGS.TS Đỗ Văn Trụ - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hội Di sản văn hóa Việt Nam cho biết: "Hội Di sản văn hóa Việt Nam chưa nhận được công văn xin góp ý về dự án này nên chưa rõ cụ thể quy mô công trình ra sao. Việc xây dựng một công trình ở bên cạnh di tích quốc gia đặc biệt cần phải thực hiện đầy đủ các quy trình, theo đúng quy định của pháp luật, và cần nhận được sự đồng thuận cao của giới chuyên môn”. 

Quyền quyết định xếp hạng di tích cấp thành phố Hà Nội thuộc Chủ tịch UBND TP. Hà Nội. Quyền xếp hạng di tích cấp quốc gia thuộc Bộ trưởng Bộ VHTTDL. Còn với di tích quốc gia đặc biệt, thẩm quyền ra quyết định xếp hạng thuộc Thủ tướng chính phủ. Điều đó cho thấy tầm vóc, giá trị của các di tích đối với lịch sử, văn hóa dân tộc. Với giá trị lịch sử danh thắng thiêng liêng như Hồ Gươm thì việc xây dựng một công trình quá gần với khu vực bảo vệ di tích Đền Ngọc Sơn và Khu vực Hồ Hoàn Kiếm có ảnh hưởng xấu đến di tích hay không thiết nghĩ không tự cấp quận Hoàn Kiếm đánh giá là được. Cách làm này giống như việc vừa đá bóng vừa thổi còi vậy. Gìn giữ và phát huy giá trị của di tích thì khó chứ xây dựng và tác động ảnh hưởng xấu đến di tích thì dễ. Do đó, không thể không có ý kiến bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ VHTTDL. Đồng thời cơ quan có thẩm quyền cũng nên công khai dự án và lấy ý kiến rộng rãi của giới chuyên môn và người dân trước khi tiếp tục triển khai dự án.

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Ludisia discolor: Lan lá gấm

Westminster 4-2013
Bùi Xuân Đáng

Khi nói đến lan, người ta thường chú trong đến những bông hoa hương sắc, nhưng người Nhật Bản và Đại Hàn lại chú trong đến những cây Cymbidium có lá mềm mại hay có sọc vàng hay trắng thường gọi là Ngân biên hay Kim biên.

Nhưng nhiều người Âu Châu lại chú trọng đến một vài loài lan có chiếc lá mượt mà như nhung, như gấm có những đường gân tuyệt mỹ mà họ gọi là Jewel Orchids, xin gọi là Mỹ Diệp Lan.

Ludisia là một trong 4 loài lan này: Anoectochilus, Goodyera, Ludisia và Macodes. Loài Ludisia chỉ có 1 giống duy nhất và chỉ mọc ở các nước Á châu: Ludisia discolor.

Anoechtochilus annamensis
Anoechtochilus annamensis
Ảnh: Nguyễn Minh Đức
Goodyera hyspida
Goodyera hyspida
Ảnh: Leonid Averyanov
Ludisia discolor
Ludisia discolor
Ảnh: Karel Petrzelka
Macodes petola
Macodes petola
Ảnh: Marlo orchids.com

ludisiadiscolorlanlagam5Tại quê nhà, cây lan này mọc khắp từ Bắc, Trung, Nam. Khi bọn thương lái Trung Quốc sang vơ vét những cây Anoechtochilus setaceus về làm thuốc chữa bệnh về phổi và thận, cây Ludisia discolor cũng bị thu mua hết sạch.

Từ khi tìm hiểu về những cây lan của quê hương, lần đầu tiên tôi thấy tận mắt cây Ludisia discolor tại Cal’s Orchids ở Santa Barbara vào năm 2009, giá bán 17$ một chậu có 2-3 nhánh, nhưng chỉ có chị Cao Ánh Tuyết mua và trong kỳ triển lãm tại Westminster vừa qua chị có mang cây lan tới trưng bầy tại bàn triển lãm.

Năm 2011 tôi cũng mua một cây Ludisia discolor var alba của Andy’s Orchids nhưng cây cứ tàn lụi dần và không sống sót nổi qua 2 mùa đông lạnh lẽo. Giữa năm 2012, khi thăm gian hàng bán lan gần chợ T&K thấy có 5-7 chậu khá lớn cành lá xum xuê. Chủ nhân chỉ thấy lá đẹp là mua về bán lại mà không biết là cây gì. Tôi cho biết đó là lan Ludisia discolorvà mua một chậu với giá 30$, nhưng những người mua sau đó phải trả tới 60-80$.

ludisiadiscolorlanlagam6ludisiadiscolorlanlagam7

Đầu năm 2013 cây này đơm nụ, tôi mang vào trong nhà với hy vọng nở hoa vào dịp triển lãm tại thương xá Westminster Mall, nhưng một tháng đã qua mà hoa vẫn còn phong nhụy, và qua ngày Tân Niên 1 tuần hoa mới mãn khai, hoa tuy nhỏ và không hương thơm, nhưng hơn một tháng rưỡi mới bắt đầu tàn từng chiếc một.
Nhiều người phàn nàn rằng giống lan này khó nuôi, nhưng thực tế không phải như vậy.

ÁNH SÁNG
Lan không cần nhiều ánh sáng, cho nên có thể nuôi ở trong nhà bên cửa sổ không có nắng hay dưới ánh đèn ống.

NHIỆT ĐỘ
Lan ưa ấm áp, ban ngày từ 75°-85°F. (24°-30°C) ban đêm 55°-60°F (13°-16°C) at night. Cây có thể chịu lanh tới 45°F (10°C) và nóng tới 100°F (38°C) trong một thời gian ngắn. Khi quá nóng nên tăng cường độ ẩm và gió.

CHẤT TRỒNG
60 % vỏ thông hay vỏ dừa nhỏ trộn đều với 20% rêu sphagnum, 20% perlite hay là thứ đất trồng cho cây African violet.

TƯỚI NƯỚC
Giữ cho cây luôn luôn ẩm nhưng không quá ướt. Trồng trong nhà nên tưới thường xuyên hơn vì máy điều hòa không khí hay máy sưởi làm cho ẩm độ trong nhà xuống thấp.

BÓN PHÂN
Bón phân 20-20-20, pha thật loãng 1/4 thìa cà phê trong 4 lít nước, mỗi tuần 1 lần, mùa Thu và mùa Đông mỗi tháng bón 1 lần. Nhớ xả nước thật đẫm, mỗi tháng 1 lần cho hết chất muối đọng trong chậu.
ludisiadiscolorlanlagam8PHỤ CHÚ
Giống lan này cành dòn, rất dễ gẫy khi di chuyển. Lan có thể trồng bất cứ thời gian nào, miễn là đừng để lạnh quá. Cắt chỗ gẫy bằng dao thật sắc, dưới mắt đốt thân chừng 1 phân, chấm vào thuốc Rootone rồi để khô 2-3 ngày rồi đem trồng vào chậu rộng miệng và nông đáy. Muốn có một chậu lan đẹp hãy trồng các ngọn ra tứ phía và dùng chiếc kẹp hình chữ U găm thân cây xuống, như vậy chậu lan sẽ thành một vòng tròn. Để lan vào chỗ ấm áp và hơi tối sau đó mới mang ra chỗ sáng.

Hy vọng rằng năm tới chúng ta sẽ có những chậu lan của quê nhà xum xuê đẹp đẽ.


Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Báo Người Cao Tuổi: Ông Trần Văn Truyền từng là quân nhân “đào ngũ”…

Dư luận phê phán ông Trần Văn Truyền “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô tài sản”


“Có được Bản kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thông báo về dấu hiệu vi phạm chính sách nhà, đất (thực chất là tham nhũng) của ông Trần Văn Truyền, chúng tôi mừng lắm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân gắn bó với Đảng hơn. Cảm ơn nhóm phóng viên và Tổng Biên tập Báo Người cao tuổi đã vượt qua mọi sự nghiệt ngã, thể hiện bản lĩnh vững vàng, rất kiên cường, dám đấu tranh chống tham nhũng bằng nghĩa vụ và trách nhiệm công dân với Tổ quốc”. Nhiều cán bộ lão thành, cán bộ hưu trí, bạn đọc trên mọi miền nhắn tin, điện thoại tới Tòa soạn Báo Người cao tuổi khẳng định như vậy!…
Ông Trần Văn Truyền từng là quân nhân “đào ngũ”…
Theo điều tra của Báo Người cao tuổi tại Bến Tre, ông Trần Văn Truyền xuất thân từ một quân nhân ở Đại đội 3, Tiểu đoàn 516. Khi ra trận, do trực thăng của địch ruồng bố, chiến sĩ Trần Văn Truyền bỏ ngũ, trốn về làm công tác Đoàn Thanh niên ở huyện Ba Tri. Do “quan hệ” với con gái Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy, ông bố vợ tương lai bố trí “chàng rể” làm ở Ban Tổ chức Huyện ủy. Sau này ông Truyền báo cáo tổ chức, do bị thương nên không quay về đơn vị cũ. Vậy ngọn gió nào đưa ông lên chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, rồi lên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bến Tre. Ngồi ghế này, lợi dụng lúc Bí thư Tỉnh ủy đi họp Trung ương, ông Truyền “hiến kế” rút ngân sách của Ban Tài chính Quản trị phân phát cho mỗi Tỉnh ủy viên một xe gắn máy Drem II trị giá 20 triệu đồng. Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy được gấp đôi (40 triệu đồng). Nhiều cán bộ lão thành đã nghỉ hưu gửi đơn tố cáo lên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu lúc ấy và có chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc. Vậy mà ông Truyền vẫn lên giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, rồi lên cao hơn ở ngoài Trung ương. Nhiều cán bộ lão thành ở Bến Tre nhận xét: “Ba Truyền tham nhũng có truyền thống!”. Lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham ô, vụ lợi, khai man tài sản, dối lừa. Ngay khi Báo Người cao tuổi phát hiện đăng bài báo đầu tiên về ông Trần Văn Truyền thì ông Cao Văn Trọng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bến Tre trả lời với báo chí về khu đất 16.567,4m2 của con trai và 8.000m2 đất của con gái ông Truyền mua với nhiều căn nhà ở các nơi, con trai ông Truyền mua rồi “san lấp cải tạo lại, nhà ông Truyền xây cũng nhỏ, đơn sơ, đồ đạc không có gì”. Phát ngôn bao che, đánh lừa dư luận của ông Cao Văn Trọng như thế cũng cần xem xét lại tư cách, cán bộ. Nhân dân Bến Tre ví von ông Trọng “là Lê Lai cứu chúa… chổm”. Khu đất 315m2 ông Truyền làm nhà cho thuê tại số 598 – B5, đường Nguyễn Thị Định, phường Phú Khương, tuy ông Truyền không có đơn xin cấp đất và cũng không có xác nhận của cơ quan, nhưng ông Huỳnh Văn Be, Chủ tịch UBND tỉnh lúc ấy vẫn biếu không. Con trai ông Be mới chỉ Thiếu úy cũng được bố cấp hàng nghìn mét vuông xây biệt thự. Khu đất này nguyên là ruộng canh tác hợp pháp của một hộ gia đình có 11 nhà giáo, trước giải phóng miền Nam bị chế độ Ngụy quyền chiếm đoạt, sau giải phóng hộ dân này gửi hàng trăm lá đơn xin lại thì ông Huỳnh Văn Be quyết định không trả (11/12 người trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị xem xét, giải quyết) ông Be giữ lại phân phát cho 10 cán bộ của tỉnh.
Cổng chính đi vào dinh thự và “dự án gia đình” của ông Trần Văn Truyền đầu tư hơn nửa tỉ đồng.
Cổng chính đi vào dinh thự và “dự án gia đình” của ông Trần Văn Truyền đầu tư hơn nửa tỉ đồng.
Dư luận đặt câu hỏi, bà mẹ nuôi cho ông Truyền có biệt thự ở Quận 9, TP Hồ Chí Minh lại là người nhận ông làm con nuôi vào thời điểm ông làm Tổng TTCP. Con gái ông Truyền được vào làm việc tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí, con rể từ Công an xã An Hiệp, huyện Châu Thành (Bến Tre) được lên “làm quan” ở Cục Cảnh sát Giao thông phía Nam thuộc Bộ Công an. Con dâu ông được làm đại lí độc quyền bia Sài Gòn trong tỉnh, v.v… Nếu là con thương binh, liệt sĩ, con của những anh hùng liệu có xin được công việc dễ dàng vậy không? Chuyện ông Trần Văn Truyền chui sâu, leo cao để tham nhũng không thể xử lí hành chính như những kẻ ăn cắp chó, ăn cắp xe đạp…? Nhiều cán bộ lão thành bức xúc về công tác quy hoạch, bố trí, sử dụng và quản lí cán bộ. Ngoài chuyện tham ô tham nhũng, lừa dân, dối Đảng có hệ thống, ông Truyền còn khai man lí lịch khi ứng cử Đại biểu Quốc hội ở Bến Tre. Tuy chưa có bằng cấp III bổ túc văn hóa, nhưng ông vẫn vào học Đại học Luật Khóa I tại chức ở tỉnh lị Bến Tre, kê khai sơ yếu lí lịch trích ngang “Tốt nghiệp Đại học Luật”. Chúng tôi đến Trường Đại học Luật Hà Nội, được Trưởng khoa Tại chức cho xem sổ lưu thì thấy danh sách 21 học viên không đủ điều kiện thi tốt nghiệp, trong đó có thí sinh Trần Văn Truyền đứng hàng số thứ tự thứ sáu, v.v…
Nỗi trăn trở của người cầm bút chống tham nhũng
Để tìm được căn bệnh “lợi dụng chức vụ quyền hạn tham nhũng” của ông Trần Văn Truyền, theo chỉ đạo của Tổng Biên tập, nhóm phóng viên Báo Người cao tuổi phải tiêu tốn nhiều thời gian, công sức, vượt qua bao rào cản khắc nghiệt và miệng người cười chê, oán trách mới có được những thông tin chính xác, những tấm ảnh cụ thể. Khó khăn nhất là tất cả nhà, đất với hàng chục sổ đỏ đều do vợ, con ông Truyền đứng tên chủ sở hữu, ở nhiều địa phương nên việc đi lại, xác minh không đơn giản. Chính quyền các địa phương (ngoài tỉnh Bến Tre) không biết tên tuổi vợ, con ông Truyền. Mặt khác, khi phóng viên đề cập tới ông Tổng TTCP thì số đông cán bộ địa phương đều tỏ ý lo sợ, không dám cung cấp thông tin. Đi đến đâu chúng tôi cũng nhận được câu trả lời việc này “không biết”. Có những người xem chúng tôi là những cây bút chuyên xoi mói chuyện đời tư người khác đã nghỉ hưu.
Trong thời gian trông chờ kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, chúng tôi đã nhận một số tin nhắn hăm dọa, thô tục.
Về Bến Tre thì ông Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, tổng thu ngân sách của tỉnh không đủ nuôi riêng ngành Giáo dục. Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Bến Tre có 35.376 liệt sĩ, 15.154 thương binh, 1.506 bệnh binh và 2.205 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Toàn tỉnh vẫn còn 31.657 hộ nghèo, chiếm 8,59%. Vậy mà ở vùng đất nghèo khó này lại mọc lên “Vườn phố Thường vụ” do nhiều cán bộ cấp cao của tỉnh lợi dụng Nghị định 61/NĐ-CP tạo lập lên theo “phong trào” tham nhũng tập thể để chiếm nhà mặt tiền rồi bán hoặc cho thuê. Thiếu tướng, cựu Giám đốc Công an tỉnh Hồ Quốc Việt thì tổ chức đường dây làm hộ chiếu giả cho nhiều đối tượng xấu ra nước ngoài dễ dàng. Ông Trần Văn Truyền, cựu Tổng TTCP xây dựng dinh thự trên vùng đất nghèo khó này.
Trở lại Hà Nội, trên những chuyến bay mây mù dày đặc, trong giấc ngủ chập chờn, chúng tôi cứ bị ám ảnh về khu biệt dinh đồ sộ của ông Truyền đang gặm nhấm sâu vào từng khúc xương tủy của hàng triệu liệt sĩ trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
Trao đổi với chúng tôi, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị, cựu Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, cựu Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Bến Tre, 65 năm tuổi Đảng cho biết: “Tôi rất mừng khi đọc được thông cáo báo chí về Kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với ông Trần Văn Truyền. Từ một thanh niên “đào ngũ” mà trở thành Bộ trưởng, chạy giặc mà dám khai báo với tổ chức là bị thương rồi bỏ trốn. Những kẻ như vậy cần phải xử lí đúng quy định của Đảng và pháp luật, dân mới tin và gắn bó với Đảng hơn. Tôi và nhiều anh em cán bộ lão thành khác đang trông chờ, vì đây mới chỉ là kết luận trên giấy”.
Ông Phan Thanh Giảng, cựu Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, cựu Giám đốc Sở Thương mại Bến Tre, 70 năm tuổi Đảng khẳng định: “Ba Truyền gian trá, xảo quyệt, nhà đất, tiền của mênh mông như thế mà thiếu trung thực, ông này không còn tư cách là đảng viên, cần xử lí nghiêm minh. Ủy ban Kiểm tra Trung ương mới chỉ đề cập tới nhà, đất, còn chuyện mua chức quyền mà ông ta kí bổ nhiệm, nâng hàm cấp hơn 60 người trước khi nghỉ hưu thì chưa thấy Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề cập tới? Tôi lo nhất là xử lí kiểu “giơ cao đánh khẽ”. Nếu cán bộ cấp cao nào cũng thế, thử hỏi đất nước còn gì, dân còn gì, dân sẽ tin vào đâu? Thật đau lòng ở một vùng đất có truyền thống cách mạng mà lại sinh sôi, nảy nở thứ hoa dại như vậy? Nếu không có bản lĩnh, nhiệt huyết, trí tuệ của những người cầm bút ở Báo Người cao tuổi, ý chí đấu tranh bảo vệ lẽ phải của ông Tổng Biên tập thì khó có thể tìm ra những con sâu dân mọt nước ấy. Tôi đề nghị Trung ương phải kịp thời khen thưởng Báo Người cao tuổi, con chim đầu đàn trong công tác chống tiêu cực, phòng chống tham nhũng trong giới báo chí.
 Trường Sơn – Hồng Lĩnh