Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Sử Ký Tư Mã Thiên: Nam Việt úy Đà liệt truyện

Vua Nam Việt họ Triệu tên là Đà người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Thời Tần, Đà được làm lệnh ở huyện Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải. Đến đời Nhị Thế, quan úy ở Nam Hải là Nhâm Ngao, ốm sắp chết, mời huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến nói;
- Tôi nghe bọn Trần Thắng làm loạn. Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng đều dấy binh tụ tập quân sĩ, tranh giành thiên hạ. Trung Quốc loạn lạc chưa biết lúc nao yên. Những người hào kiệt phản Tần đều đứng lên cả. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây, nên định dấy binh chặn đứt con đường mới (l) để tự phòng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi. Nay gặp lúc ốm nặng. Đất Phiên Ngang nhân thế núi hiểm trở, đất Nam Hải Đông Tây rộng vài ngàn dặm, lại có người Trung Quốc giúp, cũng là nơi chủ chốt của một châu có thể lập thành nước được. Các trưởng lại trong quận không ai có thể cùng bàn việc ấy nên tôi mời ông đến để nói.
Ngao liền làm chiếu giả cho Đà làm công việc của quan úy quận Nam Hải. Ngao chết, Đà lập tức truyền hịch bảo các cửa quan Hoành Phố, Dương Sơn, Hoàn Khê rằng:
- Quân giặc sắp đến, phải chặn ngay đường, tụ tập quân sĩ để tự bảo vệ.
Rồi dần dần ông dùng hình pháp giết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra, dùng những người đồng đảng để thay thế. Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.
Sau khi Hán Cao Đế bình định được thiên hạ, thấy Trung Quốc mới khổ nhục, cực nhọc, nên tha Đà không trị tội. Năm thứ 11 (năm 196 trước Công nguyên), Hán sai Lục Giả sang, nhân tiện phong cho Đà làm Nam Việt Vương, chặt phù để làm tin, cho phép phái sứ giả đi lại với Trung Quốc, bảo phải hòa hợp với Bách Việt, không được gây việc lo ngại ở biên giới phía Nam. 
Nam Việt giáp giới với quận Trường Sa. Thời Cao Hậu, quan đương sự xin cấm không cho người Nam Việt vào mua đồ sắt. Đà nói:
- Cao Đế lập ta làm vương, cho sứ giả cùng hàng hóa được đi lại. Nay Cao Hậu nghe lời bọn bầy tôi gièm pha, cách biệt man di, cấm đứt khí vật,. Đó chắc là mưu kế của Trường Sa Vương. Ông ta muốn tìm cách dựa vào Trung Quốc, tiêu diệt Nam Việt để làm vua cả đất của ta. Đà bèn tự tôn là “Nam Việt Vũ Đế”; đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa, đánh bại mấy huyện rồi đi. Cao Hậu sai tướng quân Lâm Hi Hầu tên là Táo đến đánh. Gặp lúc trời nắng khí ẩm, quân lính bị bệnh dịch rất nhiều, nên quân Hán không qua được núi Dương Sơn. Được hơn một năm, Cao Hậu mất, liền bãi binh.
Đà nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới,  đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình. Đất đai của Đà chiều ngang có hơn vạn dặm. Đà bèn đi xe mui lụa mầu vàng cắm cờ tả đạo, mệnh  gọi là “chế”(2), chẳng kém gì Trung Quốc.
Năm đầu thời Hiệu Văn Đế, thiên hạ mới yên. Nhà vua sai sứ đi bá cáo chư hầu, tứ di biết rằng nhà vua ở đất Đại (3) về lên ngôi, ý muốn nêu cao đạo đức của nhà vua. Nhân Đà có mồ mả cha mẹ ở huyện Chân Định, nhà vua bên đặt người giữ ấp để hàng năm đến ngày giỗ thờ cúng. Đối với anh em họ của Đà, nhà vua ban ơn cho họ làm quan to và thưởng cho nhiều của. Nhà vua xuống chiếu cho bọn thừa tướng là Trần Bình cử người có thể đi sứ sang Nam Việt. Bình nói:
- Có Lục Giả người huyện Hảo Chỉ, thời tiên đế đã quen đi sứ Nam Việt.
Vua Hán bèn triệu Giả phong làm thái trung đại phu để đi sứ, nhân đấy trách Đà đã tự lập làm “đế” mà không hề phái sứ giả sang báo tin.
Lục Giả đến nơi, Nam Việt Vương sợ hãi, làm giấy tạ tội rằng: “Thần tên là Đà, là một kẻ già ở man di. Ngày trước Cao Hậu gạt bỏ Nam Việt, thần trộm ngờ Trường Sa Vương đã gièm pha thần. Lại nghe đồn Cao Hậu giết hết họ hàng Đà, đào mồ mả, đốt hài cốt cha ông Đà. Vì thế nên liều mạng xâm phạm biên cảnh quận Trường Sa. Vả lại phương Nam đất thấp, ẩm, dân man di ở vào giữa. Ở phía Đông đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn nghìn người, cũng xưng hiệu là “vương”; ở phía Tây, nước Âu Lạc là nước trần truồng, cũng xưng là “vương”. Lão thần trộm dùng bậy danh hiệu “đế” chỉ để tự vui (4), chứ đâu dám để nói đến tai bệ hạ ?”.
Đà bèn dập đầu xuống tạ tội, xin mãi mãi làm phiên thần dâng lễ cống. Rồi ra lệnh trong nước:
- Ta nghe nói “hai anh hùng không cùng sống, hai người hiền không cùng ở một đời”, Đức hoàng đế là bậc thiên tử hiền tài. Từ nay về sau mệnh lệnh không gọi là “chế”, bỏ xe mui lụa vàng và cờ tả đạo. 
Lục Giả về báo tin, Hiếu Văn Đế bằng lòng lắm. 
Đến thời Hiếu Cảnh, Đà vẫn xưng thẩn, sai người vào chầu. Nhưng ở trong nước Nam Việt thì vẫn trộm dùng danh hiệu “đế” như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử, thì xưng “vương”, triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu.
Đến năm thứ tư niên hiệu Kiến Nguyên (năm 137 trước Công nguyên), Đà mất, cháu Đà là Hồ làm Nam Việt Vương. Lúc bấy giờ vua Mân Việt là Dĩnh đem binh đánh các ấp ngoài biên của nước Nam Việt. Hồ sai người dâng thư lên vua Hán, nói:
- Hai nước Việt đều là phiên thần, không được đem binh đánh nhau. Nay nước Mân Việt đem binh xâm lấn đất của thần, thần không dám đánh lại, xin đợi thiên tử chiếu truyền cho việc ấy.
Thiên tử bèn khen Nam Việt biết giữ chức phận mình, hứa sẽ đưa quân đến giúp, bèn sai hai tướng quân đi đánh Mân Việt (5). Quân của Hán chưa vượt núi Ngũ Lĩnh thì em của Mân Việt Vương là Dư Thiện đã giết Dĩnh để hàng. Vì thế bãi binh.
Thiên tử sai Trang Trợ sang Nam Việt hiểu dụ ý của nhà vua. Nam Việt Vương là Hồ dập đầu xuống, nói:
- Thiên tử vì thần mà đem quân đánh Mân Việt, thần chết không đủ để báo ơn đức ấy. 
Bèn sai thái tử là Anh Tề vào túc trực ở nơi cung cấm. Hồ bảo Trợ rằng:
- Nước mới bị cướp, sứ giả đi thôi.
Hồ đang ngày đêm sắm sửa hành trang để vào triều kiến thiên tử. Sau khi Trợ đi rồi, đại thần can Hồ rằng:
- Nhà Hán dấy quân đánh Dĩnh cũng là làm cho Nam Việt hoảng sợ. Vả lại tiên vương trước có nói: “Phụng sự thiên tử cốt không thất lễ, không nên nghe lời dỗ ngon dỗ ngọt mà vào chầu”. Nếu vào chầu thì không được về, đó là cái thế mất nước đấy.
Vì vậy Hồ mượn cớ bị bệnh nặng, thái tử Anh Tề xin về nước. Hồ mất, thụy là Văn Vương, Anh Tề lên ngôi thay, lập tức giấu ngay ấn Vũ Đế của Triệu Đà.
Khi Anh Tề vào làm túc vệ ở Trường An, có lấy người con gái họ Cù, người huyện Ham Đan, sinh người con là Hưng. Đến lúc Anh Tề lên làm vua, bèn dâng thư lên vua Hán, xin lập Cù thị làm hậu, Hưng làm con nối nghiệp. Hán luôn luôn sai sứ giả sang dỗ dành Anh Tề. Anh Tề thính hưởng lạc, tự ý giết người, sợ vào chầu phải theo pháp luật của nhà Hán cũng như chư hầu ở Trung Quốc. Anh Tề bèn cố ý xưng có bệnh, không vào triều, sai con là Thứ Công vào làm túc vệ.
Anh Tề mất, thụy là Minh Vương. Thái tử là Hưng lên thay, mẹ làm thái hậu.
Thái hậu từ khi chưa làm vợ của Anh Tề, đã dan díu với người huyện Bá Lăng là An Quốc Thiếu Quý. Sau khi Anh Tề mất, năm thứ tư niên hiệu Nguyễn Đỉnh (năm 113 trước Công nguyên), vua Hán sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ vương và vương thái hậu vào chầu như các nước chư hầu. Vua Hán lại sai bọn biện sĩ là Chung Quân làm giám đại phu đi theo để trình bầy, bọn dũng sĩ là Ngụy Thần đi theo để giúp khi cần thiết, vệ úy la Lộ Bác Đức đem quân đóng đồn ở quận Quế Dương để đợi sứ giả.
Vương tuổi còn nhỏ, thái hậu trước đã dan díu với An Quốc Thiếu Quý. Thiếu Quý sang sứ, lại tư thông với thái hậu. Người trong nước biết, phần nhiều không theo thái hậu. Thái hậu sợ có loạn, cũng muốn dựa vào uy thế nhà Hán mấy lần khuyên vua cùng các quan xin nội thuộc. Nhân có sứ giả nhà vua dâng  thư, xin được làm chư hầu ở Trung Quốc, cứ ba năm. một lần vào chầu, hủy bỏ các cửa ải nơi biên giới. Thiên tử ưng thuận. Thiên tử cấp cho thừa tướng của vương là Lữ Gia ấn bằng bạc cùng các ấn nội sử, trung úy thái phó. Còn các chức khác thì tự đặt lấy. Bỏ hình phạt cũ chạm vào trán, cắt mũi, dùng pháp luật của nhà Hán, coi như chư hầu ở Trung Quốc. Các sứ giả đều ở lại để vỗ về nước Nam Việt. Vương và vương thái hậu sắm sửa hành lý, quà biếu, mang đồ vào triều cống.
Thừa tướng của vương là Lữ Gia tuổi đã nhiều, làm thừa tướng ba đời vua. Họ hàng làm quan trưởng lại đến hơn bảy mươi người. Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em, tôn thất của vua, lại thông gia với Tần Vương ở quận Thương Ngô. Ông ở trong nước rất được tôn trọng, người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông. Ông được lòng dân hơn vương. Khi vương dâng thư, Lữ Gia mấy lần can ngăn, nhưng vương không nghe. Ông có ý lảm phản, luôn luôn nói là bị bệnh, không tiếp kiến sứ giả nhà Hán. Các sứ giả đều để ý đến Gia, nhưng chưa thể giết được. Vương và vương thái hậu cũng sợ Lữ Gia gây việc trước, bèn đặt tiệc rượu, nhờ uy quyền các sứ giả để mưu giết bọn Gia. Các sứ giả đều ngồi quay mặt về hướng Đông, thái hậu ngồi quay mặt về hướng Nam, vương ngồi quay mặt về hướng Bắc, thừa tướng Gia và các đại thần đều ngồi quay mặt về hướng Tây hầu, uống rượu. Em của Gia làm tướng võ, cai quản quân lính ở ngoài cung. Khi mời rượu, thái hậu bảo Gia: 
- Nước Nam Việt nội thuộc là lợi cho nước, tại sao tướng quân lại cho là bất tiện?
Thái hậu muốn khích các sứ giả giận, nhưng các sứ giả do dự nhìn nhau, không ai dám ra oai. Gia thấy dáng mặt có khác, lập tức đứng dậy ra đi. Thái hậu giận muốn lấy giáo đâm Gia, vương ngăn thái hậu lại. Gia bèn đi ra, chia quân của em, đem quân về nhà. Đoạn Gia nội là có bệnh không chịu yết kiến vương và các sứ giả, ngầm bàn mưu cùng các quan đại thần nổi loạn.
Vương vẫn không có ý giết Gia. Gia biết thế nên mấy tháng việc không xảy ra. Thái hậu dâm ô, người trong nước không theo. Thái hậu muốn giết bọn Gia nhưng sức lại không làm nổi. Thiên tử nghe tin, biết Gia không chịu, vương và thái hậu thì cô đơn, nhu nhược không chế ngự được, các sứ giả lại nhút nhát không quả quyết. Thiên tử lại cho là vương và thái hậu đã theo Hán rồi, một mình Lữ Gia làm loạn, không đáng đem binh đánh, muốn sai Trang Sâm đem hai nghìn người đi sang sứ. Sâm nói:
- Nếu dùng hòa hoãn mà đi, thì vài người cũng đủ, muốn dùng vũ lực mà đi thì hai nghìn người không đủ để làm gì.
Trang Sâm từ chối là không thể được. Thiên tử bãi chức quan của Sâm. Hàn Thiên Thu, tráng sĩ ở huyện Giáp, nguyên là tướng quốc ở Tế Bắc, hăng hái nói:
- Lấy nước Việt cỏn con, lại có vương thái hậu làm nội ứng, chỉ có một mình thừa tướng Lữ Gia cản trở thì khó gì ! Nhà vua cho tôi hai trăm người dũng sĩ, thế nào tôi cũng chém được Gia về báo.
Thiên tử bèn sai Thiên Thu cùng em của vương thái hậu là Cù Lại đem hai nghìn người đi vào nước Việt. Bọn Lữ Gia bèn làm phản, ra lệnh trong nước: “Vương tuổi còn trẻ, thái hậu là người Trung Quốc, lại dan díu với sứ giả, chỉ muốn nội thuộc, đem hết đồ quý báu của tiên vương vào dâng thiên tử để được yên. Đem nhiều người đi theo, đến Trường An, bán cho người ta làm đồng bộc. Thái hậu chỉ nghĩ đến cái lợi thoát thân một thời, không nghĩ gì đến mưu kế lâu dài cho xã tắc họ Triệu cả”.
Lữ Gia bèn cùng em đem quân đánh giết vương, thái hậu, cùng các sứ gia của nhà Hán. Lữ gia sai người báo với Tần Vương ở quận Thương Ngô và các quận huyện; lập Vệ Dương Hầu Kiến Đức người con trai đầu của Minh Vương, vợ là người Việt, làm vua.
Sau đó, quân của Hàn Thiên Thu vào phá mấy ấp nhỏ. Sau quân Việt mở thẳng đường, mang lương thực người Việt đem quân đánh bọn Thiên Thu, diệt được họ cách Phiên Ngung bốn mươi dặm, Gia sai người phong gói cờ tiết của sứ giả nhà Hán đem để ở cửa ải, khéo nói dối để tạ tội, rồi đem quân đóng giữ những nơi hiểm yếu. Thiên tử bèn nói:
- Hàn Thiên Thu tuy không thành công, cũng là người tiên phong giỏi nhất. Phong cho con là Diên Niên làm An Thành Hầu. Cù Lạc có chị là vương:thái hậu xin phụ thuộc nhà Hán, phong cho con là Quảng Đức làm Long Cung Hầu.
Bèn hạ lệnh tha tội cho các tội nhân, nói:
- Thiên tử suy yếu, chư hầu đánh nhau, là chê nhân thần không đánh giặc. Nay bọn Lữ Gia, Kiến Đức, lại tự lập một cách yên ổn, trẫm hạ lệnh đem các tội nhân cùng mười vạn quân lâu thuyền ở miền Giang, Hoài trở về Nam để đi đánh
Năm thứ năm niên hiệu Nguyễn Đỉnh (năm 112 trước Công nguyên), mùa thu, vệ úy là Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân đem quân từ quận Quế Dương xuống đường sông Hối Thủy, chủ tước đô úy là Dương Bộc làm Lâu thuyền tướng quân đem quân từ quận Dự Chương xuống đường Hoành Phố, Quy Nghĩa. Kiệt Hầu là người Việt trước đã hàng làm quà thuyền, Hạ Lê tướng quân, đem quân từ huyện Linh Lăng, xuống đường sông Ly Thủy, hoặc đế quân Thương Ngô; sai Trì Nghĩa Hầu, đem thêm tội nhân nước Ba Thục, đưa quân từ đất Dạ Lang xuống đường sông Tường Kha. Các quân ấy đều gặp nhau ở Phiên Ngung.
Năm thứ sáu niên hiệu Nguyễn Đỉnh (năm 111 trước Công nguyên), mùa đông. Lâu thuyền tướng quân đem quân tinh nhuệ đến trước đánh hãm Tâm Hiệp, phá được Thạch Môn, lấy được thuyền thóc của người Việt. Nhân đấy, ông ta tiến lên, đánh gấy quân tiên phong của Việt, và đem vài vạn người đợi Phục Ba. Phục Ba tướng quân đem theo tội nhân, đi đường xa đến sau kỳ hội. Phục Ba cùng quân của Lâu thuyền họp lại mới có được hơn nghìn người, bèn cùng tiến. Quân của Lâu thuyền đi trước đến Phiên Ngung, Kiến Đức cùng Gia đều giữ thành. Lâu thuyền tự chọn nơi tiện lợi đóng ở mặt Đông Nam. Phục Ba đóng ở mặt Tây Bắc. Gặp lúc chiều tối, Lâu thuyền đánh bại người Việt, tung lửa đốt thành. Người Việt vẫn nghe biết tiếng Phục Ba, nhưng trời tối quân không biết số quân nhiều ít thế nào. Phục Ba bèn lập doanh trại, sai sứ chiêu hàng, cho họ lấy ấn quan, lại thả cho về để chiêu dụ nhau. Lâu thuyền ra sức đánh và đốt, quân địch lại chạy vào trong trại của Phục Ba. Đến mờ sáng, người trong thành đều hàng Phục Ba. Lữ Gia và Kiến Đức từ đêm đã cùng gia thuộc vài trăm người, chạy trốn ra biển, lấy thuyền đi về phía Tây.
Phục Ba nhân tiện hỏi những người chức vị cao đã hàng để biết lối Lữ Gia chạy và cho người đuổi theo. Hiệu úy Tư Mã Tô Hoàng là người Việt hàng Hán bắt được Kiến Đức, được phong làm Hải Thường Hầu, quan  lang người Việt là Đô Kê bắt được Gia, được phong làm Lâm Thái Hầu. Thương Ngô Vương là Triệu Quang là người cùng họ với Việt Vương, nghe quân nhà Hán đến, cùng quan huyện lệnh Kê Dương của Việt tên là Định tự quyết định đi theo nhà Hán; quan giám quận Quế Lâm của Việt tên là Cư Ông dụ dân Âu Lạc đi theo nhà Hán. Những người này đều được phong tước hầu.
Quân của qua thuyền, Hạ Lệ tướng quân cùng quân Dạ Lang mà Tri Nghĩa Hầu đem đi, chưa xuống đến nơi, thì Nam Việt đã dẹp yên rồi. Bèn lấy đất đặt làm chín quận. Phục Ba tướng quân phong thêm cho Lâu thuyền tướng quân làm Tương Lương Hầu vì đã hạ được nơi kiên cố.
Từ lúc úy Đà mới làm vương đến sau là năm đời, cộng chín mươi ba năm rồi mất nước.
Thái sử công nói:
Úy Đà làm vương vốn do ở Ngâm Ngao, gặp lúc nhà Hán mới bình định thiên hạ, ông được liệt vào hàng chư hầu. Lâm Lư Hầu ngại khí thấp, bệnh dịch, không đi đánh, Đà càng được thể kiêu căng. Âu Lạc đánh nhau làm rung động nước Nam Việt. Quân nhà Hán tới cõi. Anh Tề vào chầu, sau đó mất nước, nguồn gốc đều do Cù thị. Lữ Gia giữ lòng trung nhỏ mọn, khiến cho Đà không có người nối dõi. Lâu thuyền tướng quân làm theo ý muốn không biết tiết chế, lười biếng, kiêu ngạo, thành bị nhầm nhỡ. Phục Ba tướng quân gặp khốn cùng, càng nảy trí mưu, nhân họa thành ra phúc. Sự việc xoay vần thành và bại, ví như cái thừng, cái sợi, xoắn xuýt lấy nhau.
...........................................................
(1). Đường Tần làm để đi thông đến Việt.
(2). Xem Tần Thủy Hoàng bản kỷ chú thích.
(3). Văn Đế trước đây là vua ở đất Đại.
(4). Lời nói rất xược.
(5). Vương Khôi và Hàn An Quốc.

    Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

    Lời kể của một tiếp viên trên chuyến bay Delta 15, viết theo dòng sự kiện 11/9.

    Tú Bội Đào dịch



    Buổi sáng thứ Ba ngày 11/9, chúng tôi rời Frankfurt được khoảng 5 tiếng và đang bay ngang qua Bắc Đại Tây Dương.

    Đột nhiên tấm rèm mở ra và tôi được gọi lên buồng lái gặp cơ trưởng.

    Ngay khi bước vào đó, tôi thấy ngay là tất cả mọi người đều mang vẻ mặt “có chuyện lớn”. Cơ trưởng đưa tôi một mẩu tin nhắn in trên giấy. Mẩu tin được gửi từ văn phòng hãng Delta tại Atlanta, có nội dung ngắn gọn: “Tất cả đường hàng không ngang qua địa phận của nước Mỹ đều bị đóng, áp dụng với tất cả các chuyến bay thương mại. Hãy hạ cánh KHẨN CẤP xuống sân bay gần nhất. Thông báo điểm đến cho chúng tôi.”


    Không ai giải thích thêm về ý nghĩa của mẩu tin. Chúng tôi biết rằng đó là một tình thế nghiêm trọng và chúng tôi cần tìm điểm đỗ trong đất liền ngay lập tức. Cơ trưởng xác định được sân bay gần nhất ở cách chúng tôi 400 dặm, ở Gander, Newfoundland, Canada.

    Ông ta gửi tới phòng điều khiển không lưu của Canada một yêu cầu đổi đường bay và lập tức nhận được chấp thuận - mà không hề có câu hỏi nào. Tất nhiên chúng tôi liền nhận ra ngay rằng yêu cầu của mình đã được thông qua không một chút lưỡng lự.

    Trong khi đội bay chuẩn bị cho việc hạ cánh, một tin nhắn khác đến từ Atlanta cho biết về vụ khủng bố xảy ra ở khu vực New York. Vài phút sau, tin nhắn tiếp theo nói đến vụ bắt cóc máy bay.

    Chúng tôi quyết định NÓI DỐI với hành khách trong khi còn đang bay. Chúng tôi nói rằng máy bay có một trục trặc nhỏ và cần hạ cánh xuống sân bay gần nhất ở Gander để kiểm tra.

    Chúng tôi hứa sẽ cung cấp thêm thông tin sau khi hạ cánh. Rất nhiều lời xì xào từ phía hành khách, nhưng chẳng có thêm tin gì mới.

    40 phút sau, chúng tôi hạ cánh ở Gander. Giờ địa phương ở Gander khi đó là 12:30 trưa, tức là 11 giờ sáng theo giờ Mỹ. Ở đó đã có khoảng 20 máy bay khác đến từ khắp nơi trên thế giới và đều đang trên đường đến Mỹ.

    Khi cho máy bay đỗ xong, cơ trưởng đưa ra thông báo: “Thưa quý vị, chắc hẳn mọi người đang thắc mắc liệu có phải là những chiếc máy bay kia cũng gặp trục trặc giống chúng ta. Thực tế là chúng ta có mặt tại đây vì một lý do khác.”

    Rồi với những thông tin ít ỏi mà chúng tôi có được, ông giải thích tình thế đang xảy ra ở Mỹ. Nhiều tiếng thở mạnh và những cái nhìn nghi ngờ, không tin. Cơ trưởng tiếp tục thông báo là bộ phận điều khiển mặt đất của Gander yêu cầu chúng tôi vẫn phải sẵn sàng bay.

    Chính phủ Canada đứng ra chịu trách nhiệm về tình trạng của chúng tôi và không ai được phép rời khỏi máy bay. Không ai bên ngoài được đến gần bất cứ chiếc máy bay nào. Chỉ có cảnh sát sân bay được đi kiểm tra quanh máy bay theo lịch, họ nhìn qua tình trạng của chúng tôi rồi lại đi sang từng máy bay khác.

    Khoảng một tiếng sau đó, có thêm rất nhiều máy bay hạ cánh xuống Gander. Cuối cùng tổng số là 53 máy bay đến từ khắp nơi trên thế giới, trong đó 27 cái là máy bay thương mại của Mỹ. Cùng lúc đó, vài mẩu tin phát ra từ radio trên máy bay, nhờ đó chúng tôi mới biết là có máy bay đâm vào tòa nhà WTC ở New York và vào Lầu năm góc ở DC.

    Mọi người thử dùng điện thoại di động, nhưng không được do khác hệ thống di động ở Canada. Vài người có sóng, nhưng chỉ gọi được đến tổng đài Canada và nghe thông báo rằng mọi đường dây đến Mỹ đều bị khóa hoặc tắc nghẽn.

    Vào buổi tối, thỉnh thoảng có các bản tin cho biết tháp đôi WTC đã sụp đổ hoàn toàn và chiếc máy bay thứ 4 bị bắt cóc đã rơi. Giờ đây mọi hành khách đều bị xúc động và vô cùng mệt mỏi, nếu như không muốn nói là bị hoảng sợ. Nhưng ai nấy đều thể hiện sự bình tĩnh lạ thường.

    Chúng tôi chỉ còn biết dõi mắt qua cửa sổ để nhìn 52 chiếc máy bay kia và biết rằng mình không phải là những kẻ duy nhất mắc kẹt trong hoàn cảnh khó khăn này.

    Trước đó chúng tôi đã được thông báo là mọi người sẽ được ra khỏi máy bay, nhưng phải theo lần lượt từng máy bay một. Lúc 6 giờ chiều, sân bay Gander cho biết là 11 giờ sáng hôm sau mới đến lượt máy bay của chúng tôi. Hành khách không vui chút nào, nhưng họ đành phải chấp nhận điều này mà không xì xào nhiều và bắt đầu chuẩn bị dành cả đêm trên máy bay.

    Gander hứa rằng sẽ cung cấp dịch vụ y tế nếu cần, nước, và dịch vụ vệ sinh. Họ đã giữ đúng lời hứa.

    May sao, chúng tôi không gặp phải vấn đề gì cần đến hỗ trợ y tế. Có một phụ nữ trẻ mang thai 33 tuần, chúng tôi đã chăm sóc cô ấy RẤT tốt. Buổi đêm trôi qua mà không có vấn đề gì mà dù chỗ ngủ không được thoải mái cho lắm.

    Khoảng 10 giờ 30 sáng ngày 12, một loạt xe buýt của trường học xuất hiện. Chúng tôi xuống máy bay và được đưa tới sảnh đến để làm thủ tục hải quan và nhập cảnh, rồi đăng ký với Hội Chữ Thập Đỏ.

    Sau đó, chúng tôi (ê kíp của chuyến bay) phải tách khỏi hành khác. Chúng tôi được xe tải đưa đến một khách sạn nhỏ. Chúng tôi không biết hành khách của mình đi đâu.

    Qua Hội Chữ Thập Đỏ, chúng tôi được biết thị trấn Gander có dân số khoảng 10.400 người và hiện phải chăm lo cho 10.500 hành khách từ tất cả các máy bay hạ cánh khẩn cấp xuống Gander!

    Họ đề nghị chúng tôi cứ nghỉ ngơi tại khách sạn, họ sẽ liên hệ lại khi các sân bay ở Mỹ mở cửa trở lại, nhưng chúng tôi chẳng thể hi vọng họ sẽ sớm gọi mình. Chỉ khi vào khách sạn và bật TV lên, chúng tôi mới biết toàn cảnh vụ khủng bố ở quê nhà vốn đã xảy ra từ 24 giờ trước đó.

    Bấy giờ, chúng tôi có thật nhiều thời gian rảnh và nhận ra rằng người dân Gander vô cùng thân thiện. Họ bắt đầu gọi chúng tôi là “plane people” (những người từ máy bay). Chúng tôi được hưởng sự tiếp đãi của họ, khám phá thị trấn Gander và có một thời gian thật tuyệt vời ở đây.

    Hai ngày sau, chúng tôi nhận được cuộc gọi và được đưa ra sân bay Gander. Trở về máy bay, chúng tôi gặp lại hành khách và được biết họ đã làm gì trong hai ngày qua. Những điều được biệt thật là... trên cả tuyệt vời.

    Thị trấn Gander và các cộng đồng xung quanh (trong bán kính 75 km) đã cho tạm dừng hoạt động của tất cả các trường trung học, các khu sảnh, các nhà nghỉ và tất cả những địa điểm rộng rãi khác. Họ sắp xếp lại các nơi này thành những khu nhà nghỉ tập trung dành cho các vị khách bị mắc kẹt. Có khu mắc võng, có khu trải chiếu với túi ngủ và gối. TẤT CẢ học sinh trung học được yêu cầu tình nguyện tham gia trông nom “khách khứa”.

    218 hành khách của chúng tôi lưu trú tại một trường trung học trong một thị trấn tên là Lewisporte, cách Gander khoảng 45km. Nếu có phụ nữ nào muốn được ở khu vực “women-only” (chỉ dành cho nữ) thì cô ấy cũng được sắp xếp như ý. Các gia đình được ở cùng nhau. Hành khách cao tuổi được đưa về các nhà riêng. Bạn có nhớ cô gái trẻ mang thai không? Cô ấy được đưa về nhà riêng của một gia đình ở ngay đối diện một Trạm Cấp Cứu 24h.

    Ngoài ra, nếu (trong số khác) có người cần, một nha sĩ cùng với y tá nam và y tá nữ sẽ có mặt ngay. Điện thoại và email kết nối sang Mỹ và các nước khác cũng được cung cấp mỗi ngày một lần.

    Ban ngày, các vị khách được mời “đi tham quan”. Có người đi du thuyền dọc theo sông và các bến cảng. Có người đi dạo trong các khu rừng của địa phương.

    Các tiệm bánh luôn mở cửa và làm bánh mỳ tươi cho khách. Đồ ăn được người dân nấu tại nhà và mang đến các ngôi trường. Mọi người được đưa tới các nhà hàng, quán ăn mà họ muốn, và được mời những bữa cơm ngon tuyệt. Ai cũng được phát phiếu giặt để dùng tại các tiệm giặt trong vùng, bởi vì đồ đạc của họ để cả trên máy bay rồi.

    Nói cách khách, mọi thứ cần thiết đều được cung cấp đầy đủ tới những vị khách bị mắc kẹt.

    Những chuyện đó, hành khách vừa khóc vừa kể với chúng tôi. Khi họ được thông báo rằng các sân bay ở Mỹ đã mở trở lại, họ được đưa ra sân bay rất đúng giờ, không thiếu một ai, không ai bị muộn. Hội Chữ Thập Đỏ địa phương có đầy đủ thông tin về từng người, ai đang ở đâu, ai cần lên máy bay nào và khi nào máy bay đó cất cánh. Họ kết hợp làm mọi việc rất tốt. Hoàn toàn trên cả tuyệt vời!

    Khi hành khách trở về máy bay, cứ như là họ vừa cùng đi chơi trên một chuyến du thuyền vậy. Mọi người biết tên nhau, kể cho nhau nghe về thời gian ở đó xem ai có câu chuyện ấn tượng và vui hơn.

    Chuyến bay của chúng tôi đến Atlanta như thể một chuyến được bao trọn gói cho một bữa tiệc vậy. Đội bay chỉ việc tránh sang một bên. Thật phi thường!

    Các hành khách trở nên gắn bó và gọi nhau bằng tên thân mật, trao đổi số điện thoại, email, địa chỉ. Và rồi một chuyện hiếm thấy đã xảy ra!

    Một trong số hành khách tìm tôi và xin được dùng hệ thống phát thanh để tuyên bố một điều. Chúng tôi không bao giờ cho phép cả, nhưng hôm đó thì khác. Tôi đáp ngay “Vâng, tất nhiên rồi!” và đưa ngay micro cho ông ấy. Ông cầm lấy chiếc micro và cất lời nhắc lại những trải nghiệm của mọi người trong mấy ngày qua. Ông nhắc họ về sự tiếp đãi mà họ đã nhận được từ những người hoàn toàn xa lạ. Tiếp theo, ông nói rằng bản thân mình muốn làm điều gì đó để đáp lại lòng tốt của những người dân Lewisporte.

    Ông nói, ông sẽ thành lập một quỹ tín thác lấy tên DELTA 15, số hiệu chuyến bay của chúng tôi. Mục đích của quỹ này là cấp học bổng cho các học sinh trung học của Lewisporte. Ông kêu gọi các khoản quyên góp dù lớn dù nhỏ từ các hành khách khác.

    Rồi chúng tôi nhận được một tờ giây ghi danh sách các khoản quyên góp, tên, số điện thoại và địa chỉ. Tổng số tiền quyên góp đượclà hơn 14.000 đô la!

    Người đàn ông đó, một bác sĩ y khoa, người vùng Virginia, hứa sẽ thu thập các khoản quyên góp và bắt tay ngay vào lo các thủ tục hành chính cho quỹ học bổng. Ông cũng nói rằng sẽ gửi bản đề xuất tới Delta Corporate để mời họ đóng góp.

    Khi tôi viết bài này, quỹ tín thác đó đã lớn hơn 1,5 triệu đô la và hỗ trợ việc học đại học cho 134 sinh viên.

    Một câu chuyện thật “cool” đấy nhỉ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng trên thế giới có bao nhiêu là người có ích. Và những kẻ không giúp được ai ắt phải sống áp lực nhiều lắm.

    (Dịch từ bài gốc tiếng Anh: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10153014415155825&set=a.57297530824.65627.653885824&type=1)
    Ảnh: internet
    ----------------------------------------
    Tối nay tôi ngồi dịch status này để post lên phây. Vì câu chuyện quá ấn tượng, một bài học về văn hóa chia sẻ hay là một lời nhắc nhở về ý nghĩa của nền văn minh của loài người. Rồi đần mặt ra nghĩ ngợi... Việt Nam quê hương ta có tiếp đãi bạn bè quốc tế trong hoạn nạn như vậy được không? Chắc không nổi đâu. Đằng nào thì chắc là các hãng cũng tránh mình ra để chọn Cam hay Thái hay thậm chí Tàu để đáp xuống, right? haizzzz

    Tham vọng quyền lực và sự tha hóa


    TCCS - Lịch sử thế giới đã chứng minh mỗi quốc gia chỉ có thể thành công khi việc trao quyền lực được thực hiện một cách đúng đắn, bảo đảm mọi quyền lực thực sự là của nhân dân và có cơ chế kiểm soát để người được trao quyền không bị thoái hóa, biến chất. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, một quốc gia muốn thành công cần phải có phương thức lãnh đạo trao quyền cho những người có đạo đức, có tài năng và cần tập trung kiểm soát quyền lực, bổ sung các cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi trong đảng và trong xã hội.


    Trong buổi bình minh của nhân loại, khi con người còn hoang sơ, cuộc sống còn phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, người ta đã nghĩ và tin rằng, quyền lực thuộc về tự nhiên, do các thần linh nắm giữ. Sau đó, nhờ trình độ nhận thức tăng lên, con người đã dần dần nhận ra và phân biệt được sức mạnh của tự nhiên và sức mạnh của mình trong chế ngự tự nhiên và quản lý xã hội. Từ đó quyền lực bắt đầu xuất hiện.

    Quyền lực, khởi nguyên là của nhân dân, của cộng đồng mà không phải cá nhân ai bỗng nhiên có được. Khi mọi người tự nguyện đồng lòng tôn vinh ai đó là thủ lĩnh, là người phụ trách để thay mặt họ xử lý công việc chung, thì đồng thời cũng là trao quyền lực cho người ấy. Bắt đầu từ đó, người thủ lĩnh, người phụ trách có quyền lực. Về bản chất thì quyền lực không phải của họ mà họ được nhân dân trao quyền, ủy quyền để sử dụng cho mục đích chung.


    Khi quyền lực được trao cho người có nhân cách tốt thì nó được sử dụng đúng mục đích, bảo vệ và đem lại lợi ích cho cộng đồng. Người xưa có câu: “Đức trọng, quyền cao”. Câu ấy có thể hiểu là dựa trên cơ sở của đạo đức, nhân cách mà trao quyền lực. Người có đạo đức là mười thì có thể trao quyền lực đến bảy, tám, tức là trao quyền lực ít hơn, càng không trao vượt quá. Người có đạo đức ít, thấp mà trao quyền lực nhiều, cao thì vô cùng nguy hiểm, giống như “gửi trứng cho ác”, sai lầm, tai họa là nhất định không tránh khỏi. Theo đó, người có chức quyền càng lớn thì đạo đức, nhân cách phải càng lớn hơn. Không biết từ bao giờ, câu “Đức trọng, quyền cao” lại bị người ta nói chệch sang là “Chức trọng, quyền cao”, tức là trọng chức tước chứ không phải trọng nhân cách.

    Khi quyền lực trao cho người không đủ nhân cách, thì nó trở thành công cụ phục vụ cho lợi ích cá nhân, “lợi ích phe nhóm”, thậm chí là công cụ để làm việc ác. Trong lịch sử thế giới và Việt Nam đã có nhiều trường hợp nhân dân trao quyền và bị mất quyền, trở thành đối tượng cho quyền lực cai trị. Như vậy, quyền lực có thể đem lại công bằng, hạnh phúc và cũng có thể đem lại tai họa, đau khổ cho con người. Điều đó phụ thuộc vào việc quyền lực được trao vào tay ai.

    Trong thực tế đời sống xã hội có nhiều trường hợp quyền lực của một cộng đồng đã bị người khác (hoặc một nhóm người) dùng thủ đoạn tước đoạt, tranh cướp mất. Quyền lực vốn là của nhân dân, nhưng trong chế độ chiếm hữu nô lệ, các chủ nô đã chiếm giữ và sử dụng nó để cai trị xã hội, biến nhân dân (vốn là chủ nhân của quyền lực) thành những người bị mất quyền, phải làm nô lệ. Trong chế độ phong kiến, quyền lực của nhân dân rơi vào tay vua và tập đoàn phong kiến, còn nhân dân nói chung không có quyền, ngoài một số quyền ít ỏi nào đó do nhà vua ban cho; ngay cả đến quyền sống cũng không có, “ý vua là ý trời”, vua đại diện cho pháp luật, muốn giết ai thì giết, thậm chí giết luôn cả dòng họ, cả mấy đời (tru di tam tộc, tru di cửu tộc) của người đó. Thời kỳ đầu của chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền lực do giai cấp tư sản, nhất là giới tài phiệt chi phối, chiếm giữ và sử dụng. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã tiến bộ rất nhiều theo hướng dân chủ, tuy vậy, nhìn chung, giới tài phiệt ở các nước vẫn còn chi phối đáng kể quyền lực. Dân chủ là một vấn đề khách quan, tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, nhất là trình độ dân trí, quan trí và sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.

    Quyền lực luôn có mặt trái là làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng quyền lực nếu như họ không đủ nhân cách. Với những người như vậy, nếu quyền lực mà họ nắm giữ càng lớn thì nguy cơ tha hóa của họ càng nhiều. Một người khi giữ chức vụ thấp hơn thì nguy cơ tha hóa ít hơn. Mặc dù vậy, nói chung phần lớn quan chức đều tham vọng có nhiều quyền lực. Không có gì hấp dẫn, cám dỗ bằng quyền lực. Nó là “ma túy” gây nghiện, là “ma quỷ” xui khiến. Khi có quyền lực là có thể có gần như tất cả, nếu muốn. Vì vậy, quyền lực hấp dẫn bằng các thứ hấp dẫn khác cộng lại. Người ta đam mê nó, suốt ngày nghĩ về nó, dùng mọi thủ đoạn sống chết để giành và giữ lấy nó, dù phải mất nhân cách, dù phải làm việc ác. Có quyền lực rồi thì muốn có quyền lực lớn hơn, lớn rồi vẫn chưa đủ lại muốn lớn hơn nữa. Cứ thế, gần như không có điểm dừng, thậm chí không cần biết có nhiều quyền lực để làm gì. Bản thân việc ấy đã là biểu hiện của sự tha hóa. Quyền lực làm tha hóa con người một cách nhanh nhất. Không ít người chỉ cần sau một cuộc bỏ phiếu hoặc sau một quyết định phong chức, họ có thể bỗng nhiên khác hẳn, họ bắt tay theo kiểu khác, chào hỏi kiểu khác, dáng đi bệ vệ hơn, nói năng ra oai hơn...

    Quyền lực không chỉ làm tha hóa mấy con người cụ thể, mặc dù đúng là bắt đầu từ đó, mà còn làm tha hóa cả một chế độ, một vương triều. Nhìn lại các triều đại phong kiến Việt Nam, hầu hết, lúc đầu được nhân dân ủng hộ lên nắm quyền, làm được nhiều việc lớn cho đất nước, dân tộc nhưng sau đó thì bị tha hóa bởi quyền lực, từ tha hóa ở một số người đến một bộ phận rồi thành việc phổ biến của một vương triều, rồi sụp đổ, vương triều khác lên thay, sau một thời gian lịch sử lặp lại y như vậy. Nhà Ngô, nhà Đinh, Tiền Lê có công lớn nhưng mỗi triều đại chỉ tồn tại trong khoảng 15 - 30 năm. Nhà Lý, nhà Trần nhiều lần đánh thắng quân Tống và quân Nguyên nhờ biết “lấy dân làm gốc” mà chiến thắng, cầm quyền được lâu nhất, trên dưới 200 năm mỗi triều đại, dù vậy nhưng cuối cùng cũng do bị tha hóa mà kết thúc. Nhà Hồ tồn tại quá ngắn, mặc dù có một số tư tưởng và chủ trương cải cách nhưng ngay từ khi mới lên đã không được dân chúng đồng tình, mâu thuẫn quyền lực trong giới quý tộc và mất nước vào tay ngoại xâm. Nhà Hậu Lê (Lê sơ) mặc dù lúc đầu được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ, đứng lên làm khởi nghĩa Lam Sơn, thắng giặc Minh hung bạo, nhưng khi lên cầm quyền rồi lại tha hóa, sát hại các trung thần vì họ can ngăn những việc làm sai trái và sợ họ chi phối quyền lực. Nguyễn Trãi cũng bị mưu hại trong giai đoạn này. Nhờ có minh quân mà nhà Hậu Lê gượng lại được một thời gian gần trăm năm, nhưng cuối cùng cũng tha hóa. Nhà Mạc cũng vậy, chỉ tồn tại khoảng 65 năm. Tiếp theo là thời kỳ vừa có vua, vừa có chúa, chúa giành nắm hết quyền lực, nhiều khi vua chỉ là hình thức cho có vì, các chúa cũng tranh giành nhau quyền lực, đến mức phải cát cứ vùng này, vùng kia, chia cắt đất nước ra để mỗi bên cai trị một vùng. Triều Tây Sơn với chiến công oanh liệt, lẫy lừng là thế, vậy mà sau khi Quang Trung mất thì tha hóa, tham nhũng và sụp đổ, tồn tại chỉ có 24 năm. Phần lớn các triều đại ấy đã thoái hóa ngay cuối đời vua thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, chứ không lâu, ngoại trừ một ít trường hợp. Lâu nay lịch sử nước ta đã ghi lại khá rõ các chiến công lừng lẫy của cha ông, nhưng lịch sử chưa viết kỹ về thời kỳ suy thoái, sự tha hóa quyền lực và nhất là nguyên nhân của nó. Đây rất có thể là một khiếm khuyết trong viết sử. Chính vì vậy mà không rút được kinh nghiệm đầy đủ để phòng ngừa, nên tha hóa quyền lực cứ lặp đi lặp lại.

    Liên Xô trước đây cũng vậy, thời kỳ đầu thực hiện khá tốt tư tưởng nhà nước của dân, quyền lực về tay các xô-viết là cơ quan thật sự đại diện cho đại đa số nhân dân, làm việc vì nhân dân nên đã lập nên nhiều công tích lớn lao, vĩ đại, đánh thắng 14 nước đế quốc đến bao vây, bảo vệ được chính quyền nhân dân non trẻ, chiến thắng trong Đại chiến thế giới thứ 2, cứu nhân loại khỏi thảm họa phát-xít, thực hiện thành công công nghiệp hóa ở một đất nước rộng lớn nhất thế giới trong thời gian ngắn, đưa một nước chủ yếu còn nông nghiệp, thủ công lên thành một nước công nghiệp hàng đầu thế giới, một cường quốc, dẫn đầu nhiều lĩnh vực; vậy mà sau đó không lâu giới lãnh đạo đất nước bị tha hóa về quyền lực, về đạo đức, bảo thủ và giáo điều, không chịu đổi mới, ai nói khác thì bị quy chụp là “xét lại”, là “muốn đưa đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”... và cuối cùng thì Liên bang Xô-viết bị sụp đổ đến mức khó hiểu nổi. Trước đây có nhiều lần giải thích rằng, Liên Xô đổ là do các thế lực thù địch phá bằng thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Địch thì lúc nào chẳng phá, do nó phá nên mới gọi là địch, mà phá sao bằng trước đó, khi 14 nước đế quốc đến bao vây Nhà nước Xô-viết còn non trẻ, khi trong Đại chiến thế giới thứ 2 quân đội phát-xít tập trung toàn lực tấn công Liên Xô làm chết hàng chục triệu người. Liên Xô sụp đổ chính là “tự đổ”, do suy thoái, tha hóa mà đổ. Liên Xô đã tự đánh gục chính mình.

    Sự tha hóa về quyền lực có thể dẫn đến cha con, anh em, chồng vợ giết nhau, người ta giết cả vua, gây ra những cuộc chiến tranh mất bao nhiêu sinh mạng để tranh giành quyền lực, thậm chí người ta bán rẻ Tổ quốc và đem dân tộc làm nô lệ cho ngoại bang để đổi lấy ngai vàng.

    Tất nhiên trong xã hội thời nào cũng có nhiều người tốt, nhiều nhân cách đáng trọng. Đối với họ, quyền lực được giao là để phụng sự nhân dân, dùng để bảo vệ dân, đất nước và bảo vệ lẽ phải, đạo nghĩa, chống gian trừ tà. Họ luôn sẵn sàng trao trả quyền lực trở lại cho nhân dân khi đủ điều kiện. Đã có những ông quan thanh liêm treo ấn từ quan vì xét thấy mình không còn đủ sức gánh vác chuyện sơn hà hoặc là không muốn có lỗi với dân vì không ngăn cản nổi những điều ngang trái. Đã có những ông vua từ bỏ ngai vàng, trao quyền lực cho lớp người trẻ, kể cả vào chùa để thúc đẩy các công việc thánh thiện cho đời và cho muôn dân.

    Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, giành lại được một đất nước đã mất, người có công lớn nhất lãnh đạo cuộc cánh mạng là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng lúc đầu Người kiên quyết từ chối làm Chủ tịch nước, không muốn công danh quyền lực. Chỉ khi tập thể phân tích đây là trách nhiệm trước quốc dân đồng bào, là gánh vác trọng trách và khó khăn, Người mới nhận lãnh trách nhiệm, phát biểu trước đồng bào sẽ làm hết sức mình để phụng sự nhân dân và mong nhanh có người thay thế để được về vui sống với điền viên, giản dị và thanh bạch. Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng cũng là một con người như vậy. Khi đang ở ẩn trong vườn mít ở miền tây tỉnh Quảng Nam, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra làm Phó Chủ tịch nước, rồi làm Quyền Chủ tịch nước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, ông không cần mong vinh hoa phú quý, chỉ đem toàn bộ tâm lực phục vụ nhân dân. Đó là những con người có nhân cách lớn, quyền lực không đe dọa được và cũng không cám dỗ được. Thời gian vừa qua, ở nơi này nơi khác, thỉnh thoảng có những đồng chí bí thư thành ủy, thường vụ tỉnh ủy đã tự nguyện chủ động từ chức sớm, khi chưa hết tuổi và chưa hết nhiệm kỳ, để những vị trí lãnh đạo cho các đồng chí trẻ hơn... Tất cả những con người ấy đều đáng trân trọng, không được “vơ đũa cả nắm” đối với những người có quyền lực được trao.

    Ngược lại, trong xã hội, ở chốn quan trường, không ít người đầy tham vọng quyền lực. Khi quyền lực được gắn với chữ “tham”, lòng tham, thì đó chính là động cơ, nguyên nhân và biểu hiện của tha hóa quyền lực. Không thể hy vọng và tin tưởng gì ở họ, ngược lại phải hết sức cảnh giác, đề phòng bị lừa phỉnh, phủ dụ, mị dân, đừng “gửi trứng cho ác”, đừng đem sự nghiệp của dân, của nước trao vào tay họ.

    Mặt khác, quyền lực không thể trao cho ai mà không cần kiểm soát. Nó là con dao hai lưỡi. Nó có thể biến người sử dụng nó từ một người chưa xấu trở thành người xấu, biến người sử dụng nó thành nô lệ cho nó. Mấy chục năm sau khi thống nhất đất nước, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng Đảng. Nội dung các văn bản ấy nhìn chung đều đúng, không sai, việc tổ chức thực hiện cũng tích cực, thậm chí có lúc vất vả nữa, nhưng tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “mua quan bán chức”,... gọi chung là thoái hóa, không dừng lại mà còn tăng lên, lan rộng hơn, gây nhức nhối hơn, làm cho lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước tiếp tục giảm sút đến mức báo động. Vì sao vậy? Chắc chắn không phải việc chống các tiêu cực ấy là ta chủ trương giả vờ, không chống thật; mà là chống chưa được, chưa hiệu quả. Vậy còn thiếu cái gì? Có hai vấn đề còn thiếu, coi như chưa làm, mà nếu không làm thì không khắc phục được tình trạng trên và có thể nó sẽ còn tiếp tục trở nên xấu hơn, không tránh được. Đó là tập trung kiểm soát quyền lực và bổ sung mạnh các cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội.

    Quyền lực, như đã nói, luôn có mặt trái là làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng nó mà không đủ nhân cách. Nó như con dao hai lưỡi, con ngựa bất kham, luôn lồng lên quật ngã những người cưỡi nó, nếu họ không đủ nhân cách, bản lĩnh, năng lực cầm cương. Nhất thiết phải kiểm soát quyền lực, không thể chủ quan, lơ là, không thể đùa với lưỡi dao nhọn. Đã có rất nhiều bài học thực tiễn, thực tế đã chứng minh điều đó; phải bàn kỹ và có quyết tâm chính trị để thực hiện. Đảng ta phải tập trung cao, tích cực lãnh đạo công việc này. Đây là công việc quan trọng vào bậc nhất, trong đó có các việc, như cơ cấu và phân bổ lại chức năng, quyền hạn của các cơ quan nhà nước theo hướng kiểm soát và điều chỉnh lẫn nhau (để Nhà nước thật sự là một cơ thể thống nhất và tự kiểm soát, tự điều chỉnh được mình, có sức đề kháng cao với căn bệnh thoái hóa quyền lực, có khả năng sửa sai nhanh nhất...); đổi mới căn bản nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó có phương thức lãnh đạo xây dựng Nhà nước thật sự của nhân dân, bảo đảm quyền lực là của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước. Ủy quyền mà không mất quyền. Ủy quyền và kiểm soát được quyền lực, không để lộng quyền.

    Một dân tộc muốn tiến lên cần phải có bộ tham mưu chiến lược. Có sự lãnh đạo của một đảng chân chính và trí tuệ là yêu cầu khách quan. Nhưng khi trở thành đảng cầm quyền thì hoạt động của đảng không tránh khỏi có nhiều việc liên quan với quyền lực. Đảng ta luôn ý thức về sự lãnh đạo của mình chủ yếu phải bằng giá trị (văn hóa) chứ không phải bằng quyền lực, và Đảng phải nghĩ ra các cơ chế để đảng viên, nhân dân và pháp luật kiểm soát mình, kể cả nhân cách và việc sử dụng quyền lực, để Đảng được rèn luyện liên tục, thường xuyên; từ đó mà không bị thoái hóa và ngày càng trưởng thành hơn. Thực hiện điều ấy bằng cơ chế kiểm soát quyền lực và cơ chế thực thi dân chủ. Để có thể thành công, bản thân Đảng phải gương mẫu, từng cấp ủy và từng cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu, vượt qua chính mình. Đảng phải là “con” của nhân dân, là “con nòi” của dân tộc, là đứa con trung hiếu và trưởng thành, để “lòng dân yêu Đảng như là yêu con” như cách nói của Bác Hồ và nhà thơ Tố Hữu. Làm được như vậy, Đảng sẽ được nhân dân luôn tin yêu, nhờ đó mà giữ vững được vai trò lãnh đạo của mình để làm tròn sứ mệnh phụng sự nhân dân và Tổ quốc./.
    Vũ Ngọc HoàngTS, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương

    Không thể chối bỏ Triệu Đà và nước Nam Việt?

    Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sử luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những nhận thức và quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường. 

    Bài viết của tác giả Hà Văn Thùy đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ An về vấn đề Triệu Đà và nước Nam Việt - một vấn đề lịch sử đang có nhiều ý kiến khác nhau. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
    Những ai quan tâm tới lịch sử dân tộc Việt đều biết rằng, khi nhà Tần diệt nước Thục, giết vua và thái tử Thục ở núi Bách Lộc năm 316 TCN, Thục Chế cùng di duệ nhà Thục chạy xuống tá túc trên đất của vua Hùng. Nhiều lần Chế tấn công Hùng Duệ Vương nhưng không thành, tới đời con ông là Thục Phán đã diệt vua Hùng, lập nước Âu Lạc.
    Năm 257 TCN, Triệu Đà vua nước Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Quốc sử của ta, từ đời Nguyễn về trước, đều ghi nhận Âu Lạc và Nam Việt là nhà nước chính thống của người Việt. An Dương Vương và Triệu Vũ Đế đều được ghi công lớn. Không những thế, Triệu Đà còn được suy tôn là vị vua mở đầu của lịch sử đất nước. Tuy nhiên, giới sử gia miền Bắc vào thập niên 1960 phán quyết rằng Triệu Đà là ngoại xâm nên bỏ Kỷ nhà Triệu khỏi chính sử.
    Từ đó tới nay, trong dư luận xã hội cũng như học giới có nhiều ý kiến không đồng tình với việc làm trên, đưa ra nhiều bằng chứng cùng luận cứ cho thấy nhà Triệu là nhà nước của người Việt. Bản thân người viết cũng hơn một lần lên tiếng về việc này. Nay xin trình bày những di hại của việc trục xuất nhà Triệu khỏi chính sử.
    Truyền thuyết cũng như chính sử Việt Nam ghi rằng, Xích Quỷ là nhà nước đầu tiên tiên của người Việt được thành lập năm 2879 TCN. Sau này, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng hình thành trên cương vực của nước Xích Quỷ. Vào thời Chiến Quốc, nhà nước Văn Lang tan rã, một số thủ lĩnh khu vực thành lập những nhà nước của người Việt như Ngô, Việt, Sở… Tần Thủy Hoàng diệt nước Sở, sáp nhập đất đai cùng dân cư nước Văn Lang cũ vào đế chế Tần. Khi nhà Tần sụp đổ, Triệu Đà, một viên huyện lệnh người Việt đã lãnh đạo dân Việt phía nam Dương Tử lập nước Nam Việt. Việc Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào mình, về bản chất lịch sử không khác gì việc Quang Trung diệt nhà Lê Trịnh để lập Đại Việt thống nhất bao gồm cả vùng đất phía Nam. Dù gì đi nữa, cũng không thể bác bỏ sự thật là, trong một thế kỷ tồn tại, Nam Việt là cái cầu, là sợi dây nhau cuối cùng kết nối Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt.
    Vì vậy, việc trục xuất nhà Triệu khỏi sử Việt đưa tới những hệ lụy nghiêm trọng sau:
    1. Tước bỏ tư cách thừa kế của người Việt Nam với quá khứ của đại tộc Việt. Từ những phát hiện của di truyền học đầu thế kỷ XXI cho thấy, người Việt không chỉ sinh sống lâu đời ở Nam Dương Tử mà hàng vạn năm trước là chủ nhân của đất Trung Hoa. Trên đất này, đại tộc Việt đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ.
    2. Tước bỏ vai trò chủ nhân Việt đối với ngôn ngữ gốc mà người Trung Hoa đang sử dụng hiện nay. Trong tám phương ngữ được xác định trên đất Trung Hoa thì tiếng Việt Quảng Đông được coi là ngôn ngữ gốc. Trong khi đó, nguồn cội của ngôn ngữ Quảng Đông chính là ngôn ngữ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, trung tâm của người Việt khoảng 15.000 năm trước.
    3. Tước bỏ vai trò sáng tạo chữ Giáp cốt của người Việt. Chữ Giáp cốt được phát hiện đầu tiên vào thời nhà Ân ở Hà Nam. Nhưng khảo cổ học xác định rằng tại văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước đã có ký tự hình vẽ trên yếm rùa. Cuối năm 2011, tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây phát hiện ký tự tượng hình khắc trên xẻng đá có tuổi 4000 tới 6000 năm trước. Những ký tự kiểu Giáp cốt này xuất hiện trước khi người Hoa Hạ ra đời. Do vậy nó hoàn toàn là sản phẩm sáng tạo của người Vịệt.
    4. Tước bỏ mối liên hệ huyết thống và văn hóa với những bộ tộc người Việt đang sống trên đất Trung Hoa. Những khám phá lịch sử cho thấy, trước cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng thì phần lớn đất Trung Hoa do người Việt làm chủ: Thục và Ba phía tây nam; Ngô, Sở, Việt ở trung tâm và phía đông; Văn Lang phía nam. Do cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng, phần lớn đất đai và dân cư Việt bị sáp nhập vào đế chế Tần. Trong phần đất bị chiếm, đại bộ phận người Việt bị Hán hóa. Tuy nhiên, có không ít nhóm Việt không chịu đồng hóa, đã lui sâu vào cư trú trong vùng rừng núi. Lâu dần, từ người Lạc Việt – tộc đa số trong dân cư- họ bị thiểu số hóa. Những nhóm người như tộc Thủy, Bố Y ở Quý Châu vẫn giữ nhiều nét văn hóa Việt cổ, có thể nói đó là nền văn hóa Việt hóa thạch. Nếu nghiên cứu văn hóa của những tộc người bà con này, chắc chắn sẽ khám phá lại nhiều điều quý giá của văn hóa Việt cổ. Đặc biệt tộc Thủy với 340.000 người vẫn giữ được sách Thủy (Thủy thư -水书)  viết bằng chữ Thủy (Thủy tự), loại chữ tượng hình gần gũi Giáp cốt văn nhưng hành văn theo cách nói xuôi của người Việt, một loại văn tự hóa thạch sống, được Trung Quốc coi là bảo vật.
    5. Mất quyền thừa kế với truyền thống và văn hóa Nam Việt.
    Sáp nhập đất đai và dân cư Âu Lạc, Nam Việt thành quốc gia lớn trong khu vực. Trái với quan niệm phổ biến cho đến nay là Triệu Đà dùng kế sách “nội đế ngoại vương” (bên trong xưng đế nhưng đối với nhà Hán thì xưng vương), suốt đời mình, Triệu Đà xưng danh hiệu Triệu Vũ Đế và cháu ông cũng xưng đế mà bằng chứng là chiếc ấn bằng vàng, kich thước 310 x 310 mm (lớn hơn mọi con ấn của vua Hán) khắc bốn chữ Văn Đế hành tỷ (文帝行璽) tìm thấy trong lăng mộ. Sau khi phát hiện lăng mộ Triệu Văn Đế, người Trung Hoa đã lập khu trưng bày di tích này với khoảng 2500 hiện vật đặc sắc, trong đó đại đa số là thuộc văn hóa Việt. Do coi đây là của người Trung Hoa nên giới sử học Việt chưa hề có nghiên cứu nào về di chỉ quan trọng này.
    Để mất những mối liên hệ trên, không chỉ là nỗi đau của người Việt Nam, dòng cuối cùng của Bách Việt còn độc lập và giữ được cương thổ. Nguy hại hơn, nó cắt đứt mối liên hệ với quá khứ, khiến cội nguồn, lịch sử và văn hóa Việt trở nên chông chênh trên không chằng, dưới không rễ!
    Từng có cuộc tranh biện giữa học giả hai nước Trung Việt về trống đồng Vạn Gia Bá và Đông Sơn, cái nào có trước? Do từ chối Nam Việt nên học giả Việt Nam bỏ mặt trận, thúc thủ lui về biên giới Việt Nam hiện tại, để rồi cố sức một cách vô vọng cho rằng trống Đông Sơn có trước!  Nếu không tự từ bỏ Nam Việt, học giả Việt Nam có thể dõng dạc tuyên bố: “Với công nghệ định tuổi đồ đồng hiện nay cùng tình trạng cổ vật khi thu hồi, không thể định tuổi chính xác hai loại trống đồng trên. Tuy nhiên điều này không thật có ý nghĩa vì trống Đông Sơn cũng như Vạn Gia Bá đều là sản phẩm sáng tạo của người Lạc Việt, tổ tiên chúng tôi trên đất đai mênh mông của người Lạc Việt từ nam Dương Tử tới miền Trung Việt Nam, ở thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên!”
    Tuy là chuyện của quá khứ nhưng lịch sử luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống hiện tại. Những nhận thức và quyết định không thỏa đáng về lịch sử đưa tới những di họa khó lường. Bởi vậy, thiết nghĩ, chúng ta cần có những nghiên cứu nghiêm túc và kĩ càng về vấn đề này và các vấn đề khác của lịch sử dân tộc.
    HÀ VĂN THÙY (TẠP CHÍ VĂN HÓA NGHỆ AN)

    Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

    Học để làm nông dân

    Một đất nước có tới 70% dân số sống bằng nghề nông, thế nhưng hầu hết thanh niên nông thôn ưu tú đều muốn “ly nông”. Trong khi nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với vô số vấn đề cần phải được giải quyết từ vĩ mô tới vi mô. Thiếu vắng những người có tri thức và tâm huyết với nông nghiệp, rõ ràng sẽ không thể tận dụng được các lợi thế của lĩnh vực này cho yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội nói chung.

    Trong một thế giới hội nhập ngày càng sâu sắc, phần lớn các nông sản xuất khẩu của nước ta sau mấy thập niên tham gia “chợ toàn cầu” vẫn khiêm tốn đứng mãi ở quầy hàng giá trị thấp. Chúng ta tự hào là nước xuất khẩu nông sản với sản lượng đứng hàng nhất, nhì thế giới liên tục nhiều năm nhưng lại để mặc cho nông dân gánh chịu cảnh may rủi, bấp bênh trong việc tiêu thụ nông sản với điệp khúc “tới mùa rớt giá”. Thói quen sản xuất theo phong trào, bất chấp nhu cầu thị trường, chạy theo số lượng, coi thường chất lượng , bỏ qua các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm,  của nền nông nghiệp nước ta đang khiến người nông dân và nền kinh tế ngày càng trả giá đắt.

    Sự bất cập ấy đã bộc lộ rõ trong tám tháng đầu năm 2015 khi xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chỉ đạt 19,31 tỷ USD, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Phần lớn các sản phẩm xuất khẩu chủ lực đều giảm sút. Chỉ có vải thiều, lần đầu tiên được chiếu xạ tiệt trùng, xuất được sang Mỹ, Úc, EU đạt giá trị 2.900 tỷ đồng là một bước tiến mới đáng ghi nhận. Còn tại thị trường trong nước, việc giá gà nhập khẩu từ Mỹ rẻ hơn gà ta, trái cây Thái Lan tràn vào Việt Nam đạt tới 54 triệu USD là chỉ dấu cho thấy nông sản Việt Nam có thể thua ngay trên sân nhà.

    Trong năm 2015, Việt Nam kết thúc đàm phán hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) và cam kết thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) từ 1-1-2016, nông sản các nước ASEAN vào thị trường Việt Nam với thuế suất bằng 0%.  Nếu như các FTA mở ra cơ hội xuất khẩu sang các thị trường có cơ cấu kinh tế bổ sung cho nền kinh tế nước ta thì AEC là cộng đồng kinh tế của những nước có cấu trúc kinh tế tương tự  và cạnh tranh với ta trên nhiều mặt, trong đó có nông sản.  Các FTA cho phép mở cửa thị trường bằng giảm thuế suất nhập khẩu, song đồng thời cũng quy định những điều kiện khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm  (như dư lượng kháng sinh trong thủy sản, dư lượng thuốc trừ sâu trong rau củ quả), cũng như những yêu cầu về nhãn mác, bao bì đóng gói, mã vạch.... Nếu không đáp ứng được những yêu cầu rất cao đó, nông sản Việt Nam sẽ khó nắm bắt được cơ hội xuất khẩu mà các FTA đã mở ra.

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát thừa nhận, mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định nhưng tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong thực tiễn mới chỉ là bước đầu và chưa tạo được chuyển biến rõ rệt; tăng trưởng ngành chưa vững chắc. Hơn nữa, thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài và các nguồn lực xã hội vào thực hiện tái cơ cấu còn hạn chế.  Nguyên nhân của mọi nguyên nhân, theo Bộ trưởng Phát, là do sự chuyển biến trong nhận thức còn chưa theo kịp thực tiễn, thậm chí còn lúng túng. Nhiều địa phương, lãnh đạo chưa thực sự quan tâm chỉ đạo. Đặc biệt, đến nay cả nước còn 16 tỉnh,thành phố chưa phê duyệt đề án, kế hoạch hành động tái cơ cấu nông nghiệp tại địa phương mình.

    Chưa bàn tới năng lực, tư duy của những người có trách nhiệm trong việc hoạch định chính sách vĩ mô cho nông nghiệp nước nhà, chỉ nói tới nhận thức chung phổ biến của giới trẻ ngày nay đã thấy có vấn đề. Hãy nghe một chuyên gia nông nghiệp Israel nhận xét về định hướng nghề nghiệp của giới trẻ Việt Nam để tự hiểu mình hơn: “Đôi khi thế hệ trẻ Việt Nam nghĩ rằng nông nghiệp không dành cho họ. Họ muốn trở thành doanh nhân. Hay mọi người đều muốn làm trong ngành ngân hàng. Điều đó cũng tốt thôi. Nhưng tôi cho rằng ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, bằng những đột phá công nghệ, có thể làm mới chính mình. Các bạn cần đột phá công nghệ khi trước khi làm ra sản phẩm. Nhưng các bạn cũng phải làm mới nông nghiệp, chỉ cho thế hệ trẻ thấy rằng nông nghiệp không nhất thiết phải làm theo cách cũ. Rằng nông nghiệp chính là tương lai. Đây không chỉ là nhu cầu riêng của Việt Nam mà còn là nhu cầu của toàn thế giới”.

    Một mô hình được xem là tiên phong cho xu hướng đổi mới tư duy trong sản xuất nông nghiệp là Công ty Bảo vệ thực vật An Giang. Với điểm nhấn là chương trình “Cùng nông dân ra đồng” từ năm 2006, tạo nên chuyển biến nhảy vọt trong việc tiếp cận kỹ thuật canh tác hiện đại cho nông dân cả nước. Mới đây, công ty này đã chính thức đổi tên thành Tập Đoàn Lộc Trời. Ngay trong buổi lễ ra mắt, ông Huỳnh Văn Thòn, chủ tịch tập đoàn, nhiều lần nhấn mạnh: nông dân là lực lượng quan trọng trong sự phát triển của tập đoàn, là những người chủ thực sự của tập đoàn. Triết lý kinh doanh này được ông Thòn đúc kết ngắn gọn mà sâu sắc: “Nông dân thịnh vượng, Lộc Trời bền vững”.

    Thế giới đang tiến đến giai đoạn cần phải sản xuất nhiều hơn trong điều kiện tài nguyên ít hơn do sự gia tăng dân số toàn cầu, điều đó đòi hỏi sự chính xác cao trong nông nghiệp, hay nói cách khác là cần ứng dụng công nghệ và sự đổi mới trong công nghệ. Với tốc độ hội nhập thế giới ngày càng sâu rộng hơn, nông nghiệp nước ta đang đứng trước tình trạng không còn chỗ để lùi. Phải gấp rút tái cơ cấu, chuyển sang canh tác trên những cánh đồng mẫu lớn, chuyển nông dân và ngư dân hoạt động đơn độc theo truyền thống trở thành những công nhân nông nghiệp, ngư nghiệp được đào tạo, có kỹ năng, biết liên kết, biết hợp tác và tuân thủ kỷ luật thị trường. Vai trò của Nhà nước từ trung ương đến địa phương là cực kỳ quan trọng trong cuộc thay đổi bước ngoặt này.

    Hữu Nguyên




    Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

    Xin - Cho

    Trong khi ngân sách quốc gia đang gặp nhiều khó khăn, nợ công đè nặng trên vai mỗi người dân thì ở một số địa phương lại xuất hiện nhiều “dự án nghìn tỷ” gây bức xúc dư luận. Các chuyên gia cho rằng, hiện tượng này có nguồn gốc từ cơ chế xin – cho trong phân bổ ngân sách. Muốn xin,  việc đầu tiên là phải “vẽ” ra dự án. Dự án được “vẽ” ra thì không phải lúc nào cũng thể hiện “ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ” của nhân dân.

    Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành cho phép nguồn tiền từ ngân sách quốc gia do trung ương quản lý có thể được bổ sung cho các địa phương để cân đối ngân sách hoặc chi theo các mục tiêu cụ thể. Khi còn chuyện trung ương rót tiền cho địa phương chi tiêu thì không thể tránh khỏi cơ chế “xin – cho”. Cơ chế này tự nó sẽ làm cho việc phân bổ nguồn lực tài chính quốc gia bị méo mó, bởi rất nhiều lý do không thể kiểm soát. Riêng chỉ để thực hiện việc “xin – cho” cũng đã phát sinh nhiều chi phí bất hợp lý, chẳng hạn như chi phí “vẽ” dự án, chi phí đi xin, chi phí xem xét, duyệt cho… Chưa kể dự án đi xin thường được “vẽ” vống lên, to hơn, đắt hơn để trung ương xem xét, cắt bớt là vừa.

    Để giải quyết vấn nạn này, các chuyên gia cho rằng cần thiết kế lại hệ thống phân bổ nguồn lực tài chính quốc gia theo hướng phân quyền, phân cấp mạnh mẽ cho địa phương. Việc phân cấp, phân quyền cho địa phương là rất cần thiết trong tình hình hiện nay ở nước ta mà đặc biệt trong lĩnh vực tài chính. Hệ thống phân cấp này được xây dựng theo nguyên tắc cái gì thuộc trách nhiệm của quốc gia thì trung ương quyết, còn những gì của địa phương thì không nên để địa phương phải chạy vạy đi xin trung ương. Luật pháp và kỹ thuật quản trị nhà nước phải tạo ra được hành lang pháp lý, cơ chế để thực thi việc phân quyền đó phù hợp với thực tế phát triển quốc gia cũng như đặc thù của từng địa phương. Sao cho mỗi cấp phân quyền phải tự mình quyết định thứ tự ưu tiên cho việc chi tiêu ngân sách và tự mình phải chịu trách nhiệm trước cử tri, trước pháp luật về những quyết sách đó. Cái gì thuộc về trách nhiệm quốc gia, cái gì là của địa phương trong niên khóa tài chính hàng năm cũng như trong dài hạn thuộc về trách nhiệm của Quốc hội và các cơ quan dân cử các cấp. Công việc đó căn cứ vào chiến lược phát triển và quy hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt và tất nhiên phải đảm bảo nhận được sự đồng thuận của nhân dân.  

    Đồng thời với việc phân cấp, phân quyền cũng cần xác lập chế độ chịu trách nhiệm đối với chính quyền các cấp; trách nhiệm giải trình trước nhân dân; và cơ chế giám sát, kiểm soát dành cho mọi công dân, tổ chức khi có nhu cầu. Quản trị quốc gia nói chung và quản lý nhà nước nói riêng trong một xã hội dân chủ luôn đòi hỏi sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Điều này có nghĩa rằng xã hội và mỗi công dân phải có quyền được biết, được bàn, được giám sát và phản biện đối với các quyết sách của các cấp chính quyền. Trong đó bao gồm cả các dự án có ý nghĩa, có tác động xã hội, tiêu tốn ngân sách, tiền của nhân dân ngay từ khi nó chỉ mới được khởi thảo và chuẩn bị chứ không phải buộc người dân chấp nhận một việc đã rồi. Thời gian qua, các dự án mang tầm vóc quốc gia như Đường sắt cao tốc Bắc – Nam, Sân bay Long Thành… đã trải qua quy trình được coi là “phản biện xã hội tiền chính sách” này, cả bên trong và bên ngoài Quốc hội. Vấn đề ở đây là các dự án địa phương có được thực hiện theo một quy trình nghiêm túc tương tự hay không?

    Gần đây nhất là câu chuyện về dự án xây dựng tượng đài, quảng trường… lên đến hơn nghìn tỷ đồng ở Sơn La. Dù dự án này đã được Hội đồng Nhân dân tỉnh phê duyệt, trong đó có căn cứ vào văn bản chỉ đạo của cơ quan cấp trên, song vẫn thiếu một căn cứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đó là ý chí, nguyện vọng thực sự của người dân, được thể hiện và bảo dảm thông qua một cơ chế phản biện xã hội tiền chính sách. Các đại biểu HĐND do dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Có nghĩa là đại biểu dân cử phải lấy ý chí, nguyện vọng của nhân dân làm tiêu chí hàng đầu cho các quyết định của mình liên quan tới các vấn đề có ý nghĩa và tác động xã hội. Thế nhưng, khi HĐND tỉnh Sơn La bỏ phiếu thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề án xây dựng tượng đài với tổng kinh phí 1.400 tỷ đồng, bao gồm nguồn ngân sách trung ương, địa phương và vốn xã hội, trong các căn cứ được viện dẫn không hề có nội dung nào thể hiện “ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân”.

    Càng không thể viện dẫn lý do các quan chức, đại biểu đã được dân bầu rồi thì không cần phải hỏi ý kiến của dân như vụ “chặt cây xanh ở Hà Nội”. Đúng là không phải bất kỳ việc gì cũng phải hỏi dân, song vởi các chính sách,  dự án lớn, tốn kém nhiều tiền và có tác động xã hội nhất thiết không thể không có sự đồng thuận của dân, được thể hiện và đảm bảo thông qua một quy trình “phản biện xã hội tiền chính sách” như đã nói. Ngoài ra, quyền lực đại diện của các vị đại biểu do dân bầu về bản chất không phải là cơ chế ủy quyền pháp lý mà chỉ thể hiện sự tín nhiệm chính trị của các cử tri đối với phẩm chất và năng lực của những người được lựa chọn. Do đó,  phải có sự bảo đảm một cách khách quan rằng họ luôn luôn quan tâm và hành động vì lợi ích của nhân dân.

    Hữu Nguyên