Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2016

Tôi biết gì về Trung Quốc?

* KTS. TRẦN THANH VÂN
Lâu nay mọị người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thuỷ Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thuỷ của kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nôị mở rộng ngày nay thì họ hay hoỉ tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhậy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hôị, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế!
Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hoá 1000 năm Thăng Long. Một nhóm nghiên cưú của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giưã chừng câu chuyện, họ hoỉ tôi “Chị nghiên cưú đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”.
KTS.Trần Thanh Vân
- “Cái gì? 55 năm?”. 
- “Vâng! từ ngày còn là con bé con”. Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ. Vào đại học , tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thuỷ cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết. 
             Sự thật và trải nghiệm
Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Quốc mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của môí quan hệ hưũ nghị Việt Nam - Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cưú chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng vơí trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít có ai có cơ hôị để “hiểu” Trung Quốc hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải noí ra hôm nay để moị người cùng biết.
Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời moị người hay hát “Việt Nam- Trung Hoa nuí liền nuí, sông liền sông/ Chung một Biển Đông, thắm tình hưũ nghị…” trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung quốc.
Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953.
Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chiụ cảnh máy bay bắn phá. Nhưng , cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cưú sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng goị bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông tôi ngoại không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tạ ơn cưú mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp , mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi…Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.
Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nôị nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nôị. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cuị làm việc đó, mẹ tôi vưà nuôi sống cho gia đình và bản thân, vưà đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may /xào xạc rung cây lá lá bay/một mùa đông bao người đan áo…” chính là noí về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cưú quốc.Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sơị bông, nhuộm sơị thành các mầu xanh, mầu nâu, mầu cỏ úa rôì đan thành áo gưỉ ra chiến trường, đã được ca ngơị như một chiến công lớn.
Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tôị, có một người bạn thân hôì nhỏ của mẹ tôi là Bí thư chi bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.
Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vôị vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vưà đặt chân đến Chợ Chu - Định Hoá - Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối vơí một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay moị người vẫn còn nhớ.
Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.
Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, moị người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.
Kỷ niệm thứ 2: Trời phạt
Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hưũ nghị Việt -Trung -Xô.
Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Quốc thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường là dù chưa quen biết người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hoà Bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Quốc. Còn nhỏ xiú nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gôí, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Toà dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Quốc. Mỗi buôỉ sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột cờ.
Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón TW Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Quốc tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buôỉ chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị- Phủ Tây Hồ.
Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn qủàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thôỉ sáo Phùng Tử Tồn và hai người nưã. Mộ của họ mai táng ở nghiã trang Bất Bạt huyện Ba Vì.
Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít và vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới con lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Quốc và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nôỉ thứ tình hưũ nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tôị nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ?
Mấy chục năm sau, để giải toả tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh ở làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu/ Dấu nhà Trời ai thấu được đâu/ Một dải khăn đào kết một cái cầu/ Để hồ thẳm nước sâu/ Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.
Du học ở Trung Quốc
Tuôỉ trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hôì nhỏ.
Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Quốc theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dậy giỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình.
Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông hoạ sĩ già thì hai bàn tay bôi mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà vơí cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.
Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hoỉ “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ reo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hoỉ như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Quốc ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Quốc phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chôị của ký túc xá, bưã cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.
Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nưã ở cùng trong một ngôi nhà giành riêng cho giáo viên và trợ giảng. Đó là một Toà nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một giành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hoá ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi?. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan thận gì đó rất cần ăn đường nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xiủ, thấy vậy tôi hay đi mua đường mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngôì hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hôị, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn.
Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hoá nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các giáo sư trong trường đã từng giảng dậy chúng tôi, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tiũ.
Là một đưá con gái xuất thân trong một gia đình có giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và xỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một nước Trung hoa có truyền thống văn hoá lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Tôi không sao chấp nhận nôỉ, những người bị hành hạ là những giáo sư đáng kính của chúng tôi, những người hành hạ các giáo sư lại là những bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy. Nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố.
Chúng tôi rất sợ bị liên luỵ nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”
Đó là giưã năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký, chúng tôi khăn goí vôị vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh trường Đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Quốc, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nôỉ tiếng Lý Đức Hoá, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu?. Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bưã cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.
Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Quốc rất tốt, giới trí thức Trung Quốc cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nôỉ các nhà cầm quyền và thứ “tình hưũ nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.
Chúng tôi rơì Thượng Hải buồn bã và vôị vàng như ma đuổi.
Thời kỳ đã trưởng thành
Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chiụ của những ngày cuôí cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi vơí khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến.
Sau đó, môĩ người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.
Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngôì tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.
Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể noí ra vơí ai. Tôi ở cùng nhà vơí một chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Quốc giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Míc bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói.
Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự qúa đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo roĩ và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nôị bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Quốc thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời trung cổ của họ mà thôi.
Trung quốc hôm nay?.
Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Quốc đã thay đôỉ rất nhiều và rất đáng kính nể.Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung quốc đại nhâỷ vọt mà họ đang ra sức qủang bá, vẫn còn có một Trung Quốc khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung hoa đã từng bị chà đạp, bị xỉ nhục và chiụ nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyền hiện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào.
Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đôỉ rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vưà gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hôị ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng ” noí về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi.“Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rôì đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi noí vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”
Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã giành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đôỉ của nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Quốc hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa noí, còn lớp người Trung Quốc thứ ba đang vưà là chỗ dựa vưà là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung quốc: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thoí quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa”để đối phó vơí các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nưã hoặc không sử dụng được nưã thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.
Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển hơn một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp vơí công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vưà qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả giám đốc sở tư pháp và nhiều sĩ quan công an.
Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Quốc hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Quốc đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều vơí vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tôị phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lưà đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nôị ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này.
Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.

Ông Vũ Duy Phú và KTS Trần Thanh Vân. Ảnh: N.X.D.
Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nôi bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta. Tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cưú các lý thuyết về phong thuỷ địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.
Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc xử dụng chữ gốc La Tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ 16-17 như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes ( 1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ thứ 19 để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ 20 là Bá Đa Lộc - Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine. Cám ơn các vị giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khoỉ ảnh hưởng của văn hoá nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ thứ 20 đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong Thuỷ, Địa Mạch và Kinh Dịch.
Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lưá tuôỉ của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thuỷ địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Quốc rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền Trung Quốc thèm muốn chư không phải nhân dân Trung quốc, bơỉ vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Quốc không hề được hưởng lợi gì, có khi còn bị thiệt thòi hơn.
Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich. Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, nuí, sông…chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich.

Hình quẻ Chấn
Theo phần tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của Kts Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giưã Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gẫy có nghiã là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có môí quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.
Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết qủa của một quá trình chiến tranh và đồng hoá lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nôị chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao … đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giầu có và trù phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đàn áp ở ngay giưã Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.
Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cưú kỹ phong thuỷ địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được yếu điểm cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi hại đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya trên qua Cao Tây Tạng, qua nguyên Vân Nam, qua Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống Vinh Hạ Long rôì đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở Vịnh Mindanao Philíppin. Đó cũng là mạch đất độc đáo nôí từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sendwich đó không cho nó trôi trượt đi, mà họ có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “Củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu.
* Sau hàng ngàn năm vơí nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán ( người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hoá thì nhiều).
* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và huỷ diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghiã là Nhà nước Trung Quốc sẽ không thể đạt được cái họ muốn.

Tây Tạng
Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bơỉ vì Phương Đông, Phương Tây và PhươngNam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền…Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?
Địa mạch Việt Nam : Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu
Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra dẫy nuí cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì Đồng bằng Bắc Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch đất này.( đọc Đại địa mạch quốc gia ) Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn vơí đỉnh Phan Xi Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, toả ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của THĂNG LONG NUÍ CHẦU SÔNG TỤ. Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng kinh đô Thăng Long thì người Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ bí này và Cao Biền Tấu Thư kiểu tự là một trong những kết qủa tìm kiếm công phu nhất. Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài gioỉ gốc Mãn Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hôị rất nhiều linh khí đất trời và sản sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt ông ta theo lệnh vua Đương Y Tôn yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã xây thành Đại La mưu đồ thực hiện mộng bá vương và đã bị vua Đường trị tôị. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn.
Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phiá Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.

Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á
Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên Vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có Vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có Vinh Bái Tử Long và ngoài khơi xa của Hải phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng..., cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xoè ra ở Đồng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc Vịnh Mindanao thuộc Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thưà của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước họ không thay đôỉ. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bơỉ vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu A và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không?
 
Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh.
Đồng bằng Bắc bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu/Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.
Cốt lõi Trục Phong thủy nước ta là:
ÂM DƯƠNG TƯƠNG ĐỒNG
Biển Đông Thái Âm
Đảo Hải Nam Thiếu Dương
Bán đảo Đông Dương Thái Dương
Biển Hồ Thiếu Âm
Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi Đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ 16 trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần muĩ thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bơỉ vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác đinh thái độ và hành động của mình.
LỜI CUỐI BÀI
Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong môí quan hệ vơí Trung Quốc hiện nay. Bơỉ vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khoỉ cõi u mê của sự hoang tưởng trong môí quan hệ với Trung Quốc. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dậy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dậy bảo của cha ông.
Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở sức mạnh Trung Quốc và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?..
Đông dân là một sức mạnh.
Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Quốc mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào noí rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt.
Trong thế vận hôị 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động tổ chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.
Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân... tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để doạ nạt chúng ta và các nước trong vùng.
Có điều, một thảm hoạ đông dân mà Nhà nước không vì dân, thì Nhà nước sẽ khốn đốn vì sự phản ứng của dân. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thâm Quyến, Thượng Hải, Qủang Châu... đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không ? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.
Vậy thì moị nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không ?
(KTS. Trần Thanh Vân’s FB/TTHN)

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Thảm hoạ môi trường Vũng Áng - Một tháng khủng hoảng

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức

 Ngư dân sẽ sống ra sao?
 Khủng hoảng khởi đầu tại Vũng Áng, Hà Tĩnh. Ngày 6.4, ngư dân xã Kỳ Lợi, Kỳ Anh phát hiện cá nuôi lồng bè trên biển chết hàng loạt. Cùng ngày, hàng loạt cá tự nhiên chết dạt vào bờ, và  nhanh chóng bùng phát như dịch bệnh. Cả nước chấn động tin tức, hình ảnh video dồn dập, cá chết hàng loạt khủng khiếp dọc mấy trăm cây số duyên hải từ Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế, đến ngày 29.4 tới Đà Nẵng. Tỉnh Quảng Bình nặng nhất, tới ngày 29.4, thu gom được trên 100 tấn cá chết. Dự báo nếu không ngăn chặn có thể lan tận Phú Quốc. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển, riêng Quảng Bình có 18 xã với hơn 14.000 hộ và 24.000 lao động nghề biển. Ngư dân đánh bắt vùng biển xa, cập bến, các đầu mối tiêu thụ quen từ chối mua, bởi ai cũng sợ nhiễm độc.
Nhiễm độc: Ở huyện Phúc Trạch, Quảng Bình, có ít nhất hơn 20 trường hợp phải tới bệnh viện tỉnh cấp cứu, vì ăn các loại hải sản nghi bị nhiễm độc. Tại huyện Quảng Trạch khoảng 200 thực khách dự tiệc khai trương một nhà hàng bị trúng độc sau khi ăn hải sản.
Dân hoảng loạn: Đổ xô đi mua nước mắm, đồ khô, lo dự trữ. Sợ ăn phải cá biển nhiễm độc, người dân chuyển sang các thực khác đẩy giá thịt heo tăng 10%. Mặt hàng nước mắm, muối, đồ khô, sức mua tăng gấp 5 lần.

● Formosa và khu kinh tế Vũng Áng
Khu kinh tế này được thành lập vào tháng 4.2006 theo Quyết định số 72/2006/QĐ-TTg ngày 3.4.2006, có diện tích 22.781 ha, trên cơ sở khu công nghiệp – cảng biển Vũng Áng đã được thành lập từ năm 1997.  Tập đoàn Formosa đầu tư vào đây, được thành lập năm 1954 bởi hai anh em Vương Vĩnh Khánh và Vương Vĩnh Tại có trụ sở tại Đài Loan. Theo Forbes xếp hạng, 4 công ty con đều đứng trong Top 1000 công ty đại chúng lớn nhất thế giới năm 2015. Tổng doanh thu 4 tập đoàn này đạt hơn 60 tỷ USD và vốn hóa thị trường đạt gần 70 tỷ USD. Tại Việt Nam, dự án lớn nhất của Formasa là khu liên hợp gang - thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh do 9 cổ đông góp vốn, Formosa Group nắm gần 95% cổ phần. Tổng mức đầu tư giai đoạn 1 của dự án vào khoảng 10 tỷ USD, bao gồm khu liên hợp sản xuất thép, nhiệt điện và cảng nước sâu tại khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh. Tiền sử Foamasa vào 1999, họ mua chuộc quan chức Campuchia và xả 3000 tấn chất thải chứa thủy ngân ở thành phố Sihanouville. Năm 2004 và 2005 đã xảy ra hai vụ nổ của tập đoàn này (ở Mỹ) khiến 5 người chết và nhiều người bị thương. Từ 2003 đến 2013, Formosa vi phạm nhiều quy định bảo vệ môi trường bị phạt tại Mỹ với số tiền lên đến 5 triệu USD.
Formosa và ngân sách tỉnh Hà Tĩnh. 9 tháng đầu năm 2013, thuế, phí bảo vệ môi trường Formosa nộp cho Hà Tĩnh 1.299 tỷ đồng, 9 tháng đầu năm 2014 nộp cho Hà Tĩnh 492 tỷ đồng. Vậy trung bình một tháng Formosa nộp 99,5 tỷ, một năm khoảng 1200 tỷ VNĐ (khoảng 54 triệu đô la đô la một năm). Dự án có tổng diện tích hơn 3.300 ha, bao gồm cả diện tích mặt đất và mặt biển (cảng Sơn Dương), tổng số tiền cho thuê đất, mặt nước trong thời gian 70 năm là khoảng hơn 96 tỉ đồng. Một năm khoảng 1,37 tỷ đồng, (khoảng 60 nghìn đô la). Vậy Formosa nộp cho Hà Tĩnh khoảng 1/5 tổng ngân sách khoảng 6065 tỷ. Trong khi đó, với thảm hoạ môi trường,  trước mắt tỉnh mất khoảng vài chục tỷ đô la một năm do thất thu du lịch, đánh cá vận tải, chăn nuôi thủy sản, tức gấp khoảng vài chục lần số tiền thu được.
Formasa lên tiếng trước khủng hoảng môi trường: Ngày 25.4, báo Tuổi trẻ phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại Hà nội, Ông Phàm trả lời thách thức: ”Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây. Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được…”.

● Nguyên nhân
Nguồn độc có khả năng lan xuống tận Phú Quốc. KS Doãn Mạnh Dũng, phó Chủ tịch – Tổng thư ký Hội Khoa học kỹ thuật và kinh tế Biển TP.HCM, giải thích (theo Người Đô Thị): Trong đặc điểm tự nhiên của bờ biển Việt Nam, do chênh lệnh nhiệt độ giữa Bắc Cực và Xích đạo, trái đất quay từ Tây sang Đông, bờ biển Trung Quốc khi xuống phía Nam thì lệch về hướng Tây nên trong 365 ngày/năm luôn luôn có dòng hải lưu tầng đáy chạy dọc bờ biển Việt Nam từ Bắc xuống Nam, nhưng mạnh nhất từ Vũng Áng – Sơn Dương, Hà Tĩnh đến mũi Cà Mau. Tốc độ dòng tầng đáy tính toán được khỏang 0.38 m/s. Về mùa đông, ảnh hưởng gió đông bắc nên có dòng chảy mặt theo hướng từ Bắc xuống Nam với tốc độ bình quân 0.757 m/s. Theo tính toán dòng chảy như trên, thì chất độc không chỉ ở 5 tỉnh miền Trung mà còn có nguy cơ lan chảy từ Hà Tĩnh xuống Phú Quốc. Vấn đề cần làm hiện nay là phải cắt ngay nguồn độc này!
Độc tố. Theo giáo sư Lê Huy Bá, độc tố thứ nhất phải mạnh, nhiều, tải lượng cao, nồng độ lớn thì mới có thể gây chết cá hàng loạt như thế. Những chất đó thường là chất hóa học hoặc kim loại nặng, có thể dưới dạng ion hoặc dạng axit mạnh hoặc những kim loại nặng gây chết hàng loạt như crom, niken, thủy ngân hoặc đồng, chắc chắn từ công nghiệp. Tác hại nhiễm độc rất lâu dài, bởi phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự làm sạch của biển (detoxification). Lịch sử Nhật đã chứng minh, 30 năm sau vẫn còn bị mặc dù họ đã có biện pháp tức thời để tẩy rửa nhưng không ăn thua. Nó nằm ở trầm tích biển thì làm sao vớt lên được mà loại trừ. Cái nguy hiểm nhất là nó đi vào dây chuyền thực phẩm. Khi thực vật trôi nổi (phytoplankton) nhiễm arsen, hay crom thì trong những con sinh vật phù du (plankton) sẽ ăn và tích lũy hơn rất nhiều lần. Lần lượt chim cá ăn, rồi người ăn chim cá tích lũy cao nhiều lần nữa. Hậu quả cuối cùng, con người là sinh vật tiêu thụ cao dễ bị ung thư hơn cả, nguy cơ tiềm tàng cho cả mọi thế hệ.
Thực nghiệm: Chiều 26-4, tại Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, trước sự chứng kiến của đại diện Trung tâm Quan trắc môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh và nhiều người dân, phóng viên VTC đổ nước vàng đục lấy từ vùng biển Vũng Áng – nơi Formosa xả thải khỏi nhà máy luyện thép, bị nghi là nguyên nhân gây ra tình trạng cá chết hàng loạt gần 1 tháng qua – ra thau nhựa rồi cho 2 con cá đang sống khỏe vào. Sau 2 phút tung tăng, 2 con cá đuối dần rồi chết ngay đơ.

● Những phát hiện
Đường ống thải. Ngày 4.6.2016, ngư dân Nguyễn Xuân Thành, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tìm thấy một đường ống khổng lồ dài khoảng 1.5 cây số, đường kính khoảng 1.1 mét, chạy từ Formosa Vũng Áng ra biển. Đặt trên bề mặt đáy biển và được che đậy bằng các bao cát và đá hộc. Chất lỏng bơm rất mạnh từ trong lòng ống vào lòng biển có màu vàng đục, sền sệt, nặng mùi. Ông Thành báo cho Đồn Biên Phòng Đèo Ngang, thuộc Bộ Chỉ Huy Biên Phòng Hà Tĩnh. Sau khi đưa tin trên,  ngư dân Nguyễn Xuân Thành đã đột nhiên rời khỏi địa phương không thể liên lạc.
Chất độc hại. Theo báo Giao Thông, từ đầu năm 2016, Formosa đã nhập 297 tấn hoá chất độc hại để phục vụ thi công và súc rửa đường ống để chuẩn bị cho giai đoạn vận hành. Một phóng sự khác của báo Tuổi Trẻ, cho biết, có hàng trăm tấn hoá chất cực độc phục vụ súc xả đường ống đã được Formosa nhập khẩu và sử dụng mà không hề thông báo cho cơ quan quản lý tại địa phương theo luật định. Formosa thừa nhận nhưng giải thích ngắn gọn là không thông báo vì không biết đến quy định đó.
Thừa nhận. Người phát ngôn Formosa thừa nhận họ đã thải khoảng 12 nghìn m3 nước thải ra biển mỗi ngày thời gian qua, và khẳng định rằng mọi mẫu nước thải do họ tự kiểm nghiệm đều đạt chuẩn. Theo một ước tính khác, với quy mô của đường ống xả thải chôn ngầm 1,5 km dưới đáy biển, có khả năng thải ra môi trường tối đa 300 nghìn m3 nước thải mỗi ngày. Nếu chứa độc chất, thì tuỳ từng loại nhưng dễ dàng gây thảm hoạ huỷ diệt một vùng biển rộng nếu độc tính cao.
Diễn biến cá chết. Diễn ra theo một lộ trình xác định bắt đầu từ Vũng Áng - Hà Tĩnh, cá bắt đầu chết lan dần ra các vùng ven biển của Quảng Bình, Quảng Trị rồi tới Huế, đúng với dòng chảy hải lưu theo bản đồ của Viện Khoa học thuỷ lợi. Vào mùa đông, dòng hải lưu ven biển Việt Nam chảy theo hướng Bắc Nam, tức là nếu từ Hà Tĩnh, nó sẽ chảy vào Quảng Bình, Quảng Trị rồi tới Huế. Thời điểm cá bắt đầu chết là đầu tháng 04/2016, lan đúng theo dòng hải lưu. Vào khoảng tháng 8, mùa hè, dòng hải lưu sẽ đổi chiều và chảy từ Nam lên phía Bắc. Rõ ràng một tỉnh nằm kề Hà Tĩnh là Nghệ An nhưng ở phía Bắc ngược hướng dòng hải lưu không hề có cá chết.
Kiểm tra nồng độ kim loại nặng. Theo VTV.vn, ngày 27/4, Sở Tài nguyên Môi trường Thừa Thiên Huế cho biết, kim loại nặng Crom có trong mẫu nước lấy từ khu vực đầm Lập An và cửa biển Lăng Cô, huyện Phú Lộc, cao gấp 9 lần mức cho phép theo quy chuẩn quốc gia.

● Cơ sở pháp lý xả thải của Fomosa (trích FB Phạm Hồng Phong)
Giấy phép xả thải cấp cho Formosa được áp dụng Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp sản xuất thép: QCVN 52: 2013/BTNMT. Formosa có công suât xả thải lên tới 45.000m3/ngày đêm. Treo quy chuẩn trên, với mức này được áp dụng ngưỡng xả thải trên 5000m3/ngày dù ở mức gấp 9 lần.
Áp dụng quy chuẩn trên, Formosa được giấy phép xả thải có ngưỡng thông số: Nhiệt độ nước xả thải < 40 độ C; độ pH trong khoảng 5,5-9; Chất rắn lơ lửng: 117mg/l; Tổng dầu mỡ khoảng 11,7mg/l; Tổng phenol: 0,585mg/l; Tổng xyanua: 0,585mg/l; Ni tơ: 70,2mg/l; Thủy ngân: 0,0117mg/l. Công suất xả thải tối đa: 45,000m3/ngày đêm. Như vậy, sau khi xử lý, nước có hàm lượng dưới các ngưỡng trên được phép xả thẳng ra biển.
Trong khi đó, nếu áp dụng Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước biển QCVN 10-MT: 2015/BTNMT quy định giá trị giới hạn các thông số chất lượng nước biển, phục vụ mục đích thể thao, giải trí dưới nước, nuôi trồng thủy sản, bảo vệ môi trường biển và các mục đích khác, thì với giấy phép xả thải được cấp theo Quy chuẩn QCVN 52: 2013/BTNMT, Formosa đã xả thải ra vịnh Sơn Dương, nồng độ Xyanua cao gấp 58,5 lần, Cadimi, Crom 6+ được phép vượt quá 11,7 lần, Thủy ngân 2,34 lần, Tổng Phenol 19,5 lần, Tổng dầu mỡ khoáng 23,4 lần.
Như vậy, dù Formosa xả ra biển đúng quy định trong giấy phép, vẫn có thể gây chết hầu hết các loài thủy sinh xung quanh luồng nước thải đi qua, do vẫn vượt quá quy chuẩn QCVN 10-MT: 2015/BTNMT. Vì lưu lượng 10-40.000m3/ngày đêm là rất lớn, xả thải liên tục, cục bộ, nước biển sẽ không kịp trung hòa hết được các chất gây ô nhiễm. Đó chính là lý do tại sao Formosa khẳng định họ làm theo tất cả các quy định, quy chuẩn của Việt Nam. Không phải cứ nước đã qua xử lý, đúng quy định, quy chuẩn thì đồng nghĩa với nước sạch không thể chết tôm cá được.
Trong khi đó, Fornosa hiện đang ở giai đoạn khởi động, xúc rửa đường ống, chỉ xả thải chưa đến 1/4 công suất tối đa được phép (45.000m3/ngày đêm). Nếu Formosa đi vào sản xuất thực sự và xả thải tới công suất được phép, có thể khẳng định thảm họa môi trường hiện nay sẽ kéo dài đến Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu thậm chí đến Cà Mau. Dù họ hoàn toàn theo đúng các quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn Việt Nam. Nếu dòng hải lưu biển Đông đổi chiều vào mùa hè thì vịnh Bắc bộ cũng sẽ bị ảnh hưởng cá chết sẽ lan ra khắp 3.000 km bờ biển Việt Nam. Đó thực sự sẽ là một thảm họa kinh hoàng.
Giải pháp nào cho Việt Nam và Formosa. Trường hợp 1, cá chết do nước từ Formosa thải ra nhưng vẫn theo đúng các quy định luật pháp của Việt Nam, thì khẳng định luôn lỗi do Chính phủ. Nếu họ phải khắc phục, nhà nước rất có thể phải bồi thường, nếu theo đúng tập quán quốc tế. Trường hợp 2, nếu phát hiện lỗi ở Formosa áp dụng sai giấy phép thì đã có luật pháp, họ phải bồi thường hoặc phá sản. Với trường hợp 1, phía Bộ Tài nguyên Môi trường phải xem xét lại QCVN 52: 2013/BTNMT. Một Quy chuẩn của con người đưa ra không thể coi là chuẩn nếu nó giết chết môi trường sống. Trừ phi có cơ sở khoa học khẳng định, phải theo quy chuẩn đó và chúng ta phải chọn được cái này thì phải mất cái kia. Nếu xảy ra trường hợp 2, rút kinh nghiệm cần từ chối thẳng thừng những Dự án công nghệ lạc hậu, có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Minh bạch các quy trình cấp phép, giám sát dự án từ đầu để đảm bảo không có các thỏa thuận ngầm, hay tư túi, lợi ích nhóm. Để khẳng định 1 trong 2 trường hợp trên, chỉ cần mở van xả thải như bình thường theo giấy phép Bộ Tài nguyên môi trường đã cấp, là biết ngay.
 Vụ Formosa, tất cả phải dựa trên luật pháp, chứ không thể đấu tố. Vụ biểu tình, đập phá các nhà máy, xí nghiệp có chữ Tàu năm 2014 khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan ở Biển Đông đã làm người nước ngoài nhìn Việt Nam rất xa lạ.

● Hoạt động của các cấp lãnh đạo
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ngày 22/04/2016, hơn mười ngày xảy ra khủng hoảng môi trường, TBT Nguyễn Phú Trọng tới thăm và kiểm tra tiến độ dự án Formosa. Ban giám đốc báo cáo thành tích, đến nay một số hạng mục như: nhà máy sản xuất thép, cầu cảng, nhiệt điện… đã đi vào hoạt động sản xuất, đạt công suất, chất lượng thiết kế. Từ tháng 12.05 Formosa đã cho ra lò sản phẩm thép đầu tiên và nay hơn 7.000 tấn thép được tung ra thị trường trong và ngoài nước.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng. Tại cuộc họp với các bộ, ngành và tỉnh Hà Tĩnh, ông yêu cầu Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngay đường dây nóng để phối hợp với địa phương thu mua toàn bộ hải sản đánh bắt xa bờ của ngư dân. Không để bất cứ một tàu thuyền nào của ngư dân có hải sản mà không tiêu thụ được.
Phó Thủ tướng  Trương Hòa Bình. Yêu cầu các cơ quan chức năng kiểm tra, làm rõ thông tin về nghi vấn ống xả thải khổng lồ dưới biển Vũng Áng của Formosa.
Bộ trưởng Tài nguyên – môi trường Trần Hồng Hà.  Sau chuyến kiểm tra trực tiếp Công ty TNHH Hưng nghiệp Formosa, ông phát biểu nhận trách nhiệm của một người đứng đầu lĩnh vực mình quản lý, khi chưa trả lời được vấn đề này trước dân. Luật bảo vệ môi trường quy định: bất cứ đường ống nào – nhất là đường ống xả thải – đều phải tạo điều kiện cho quá trình giám sát, tiếp cận, kiểm tra một cách dễ dàng. Và ngay tới đây Formosa phải đưa đường ống ngầm lên.

● Truyền thông trong bối cảnh khủng hoảng
Báo Tuổi Trẻ.  Chiều 28/4, báo có cuộc phỏng vấn facebook live với Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Lê Huy Bá – chuyên gia độc học môi trường & và bà Cao Thu Thủy – Viện công nghệ sinh học thực phẩm Đại học Công nghệ Tp HCM, diễn ra gần 1 giờ đồng hồ. Tuy nhiên sau 1 tiếng lên mạng thì biến mất.
Báo Dân trí. Sau khi đăng bài, loại trừ nguyên nhân “thủy triều đỏ”, làm cá chết ở miền Trung, của Hà Nguyễn lúc 19h06 ngày 28-4-2016, cũng gỡ bỏ.
Họp báo. Theo nhà báo Trần Ngọc Kha, buổi chiều 27.4, nghe tin có cuộc họp báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, phóng viên các báo đổ về. Tới gần 15h chiều một người tự xưng là cán bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường xuất hiện thông báo: “Hôm nay không có cuộc họp báo nào cả“. Đến cuối giờ chiều, lại có tin họp báo vào lúc 19 giờ. Nhưng mãi đến gần 20 giờ Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân mới xuất hiện cầm trên tay đọc một mạch tờ thông cáo báo chí.
Theo tờ Thanh niên, phóng viên hỏi “thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ? - Chúng tôi chưa phát hiện ra. Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận. Tới một nữ nhà báo đặt câu hỏi: “... Chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng... vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”. Ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”. Cuộc họp kết thúc sau 10 phút.

● Phản ứng của người dân
Biểu tình tự phát. Tại nhiều xã huyện Quảng Trạch Quảng Bình xảy ra nhiều cuộc biểu tình phản đối Formosa từ ngày 28.4, qua cả đêm 29.4 diễn ra trên trục đường quốc lộ 1A, dựng lều bạt ngủ. Ngư dân đánh bắt cá về không bán được đổ hết ra đường quốc lộ. Từ thị xã Ba Đồn cách đầu cầu Room khoảng 20km bị ùn tắc giao thông hoàn toàn. Rất đông lực lượng CSCĐ có trang bị nhiều loại vũ khí, xe đặc công, xe chữa cháy đang túc trực trước cổng chính Fomosa. Tại Quảng Xuân, biểu tình nổ ra tại giáo xứ Xuân Hòa, xã Quảng Xuân.
Bản tuyên bố về tội ác đầu độc biển miền Trung (trích): Trước đại nạn biển miền Trung nhiễm độc và những hệ lụy của nó, chúng tôi, những người tha thiết với vận mệnh đất nước, yêu cầu nhà cầm quyền: 1/ Thi hành mọi biện pháp hỗ trợ người dân ven biển. Tạm đình chỉ ngay việc sử dụng đường ống xả thải. 2/ Nhanh chóng đưa thủ phạm vụ đầu độc biển miền Trung ra trước pháp luật; bồi thường mọi thiệt hại. 3/ Gấp rút điều tra để trả lời câu hỏi: Vì sao Formosa, một công ty sản xuất thép với công nghệ lạc hậu lại được hưởng những ưu đãi chưa từng có? 4/ Có biện pháp kiểm soát chặt chẽ, không để Formosa thi hành việc xả thải gây ô nhiễm từ từ thay vì gây độc cấp tính như vừa qua. 5/ Sẵn sàng xoá bỏ dự án Formosa, nếu những nguy hiểm tiềm tàng mà dự án gây ra không thể triệt tiêu được. 6/ Kỷ luật các quan chức trung ương và địa phương vô trách nhiệm và có thể có tham nhũng, tiêu cực trong việc xử lý vụ đầu độc biển miền Trung. Xin mời quý ông/bà/anh/chị/em ký tên vào Tuyên bố này với tên họ, nghề nghiệp/ chức danh (nếu có), nơi cư trú, và gửi về địa chỉ:tuyenboformosa@gmail.com. (Khởi đầu 114 sỹ trí thức, cán bộ lão thành ký tên).
Tin giờ chót biểu tình ngày 1.5. Nhóm vì môi trường Việt Nam đã kêu gọi trên mạng cá nước xuống đường biểu tình vào ngày 1/5/2016 với chủ đề, vì môi trường trong sạch. Tại các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Quảng Bình, Nghệ An, người dân biểu tình từ hàng chục tới hàng nghìn người.

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

Chuyện bé như hạt gạo hay thảm họa quốc gia?

ThS. Trần Thị Thanh Thoả1, Thiều Mai Lâm 2, và GS.TS. Trương Nguyện Thành3
Khoa Sinh học, Trường Đại học Thủ đô Tôkyo, Nhật Bản (thoa.tran@riken.jp)
2Viện Khoa học Cao phân tử, Đại học Kỹ thuật Virginia, Mỹ (thieu@vt.edu)
3Khoa Hóa Học, Đại Học Utah, Mỹ (Thanh.Truong@utah.edu)
Hiện tượng cá biển chết hàng loạt ở Vũng Áng và dọc bờ biển dài hàng trăm km ở các tỉnh miền Trung đã khiến dư luận cả nước quan tâm, bức xúc, cuộc sống của nhân dân các tỉnh liên quan gần như bị đảo lộn [1]. Biển và nguồn lợi biển không chỉ là nguồn sống của rất nhiều ngư dân dọc bờ biển, nó còn là một trong những nguồn kinh tế trọng yếu của nước ta. Bên cạnh đó, việc ngộ độc do ăn đồ biển nhiễm độc đã khiến người dân trở nên hoang mang. Những hiện tượng tương tự như thế này và hậu quả nghiêm trọng của nó đã từng được ghi nhận trong lịch sử môi trường thế giới [2].  Do tính nghiêm trọng của vấn đề, ngay khi hiện tượng này xảy ra, GS.TS Trương Nguyện Thành đã lập tức cảnh báo vào ngày 20 tháng 4 năm 2016 trên Mạng Kết Nối Các Nhà Khoa Học Việt Nam ở Toàn Cầu [3].
Với nghi vấn là việc cá chết liên quan đến nhiễm độc kim loại nặng (KLN) và những tác hại lâu dài của nó, giáo sư và cộng sự đã có bài viết trao đổi về vấn đề này dưới góc nhìn của những người làm khoa học.
Kim loại nặng là gì? Nguồn gốc của kim loại nặng là như thế nào?
Kim loại nặng (KLN) là những nguyên tố kim loại có khối lượng riêng lớn (>5g/cm3), có thể gây độc tính mạnh ngay cả ở nồng độ thấp. Ví dụ về kim loại nặng gồm có: chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), cadimi (Cd), arsen (As), bạc (Ag)...KLN có rất nhiều ứng dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế, cũng như các sản phẩm công nghệ cao như điện thoại thông minh, xe hơi điện … [4]
Kim loại nặng (kim loại quí hiếm) thường có trong lòng đất và thường bị khóa chặt trong cấu trúc của một số loại đá nên bình thường trong thiên nhiên thì vô hại. Ngay cả trong cơ thể sống, với nồng độ cực thấp KLN cũng có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất. Lượng kim loại nặng tích luỹ trong lòng đất rất ít trong khi nhu cầu sử dụng nó ngày càng tăng do đó kim loại nặng càng trở nên quí hiếm.  Trong qui trình khai thác, các kim loại này được giải phóng; một số còn tồn lại trong chất thải (đa số là chất lỏng nhưng đôi khi chất khí) sẽ thoát ra môi trường chung quanh qua các ống thải. Nó có thể bay trong không khí, ngấm xuống nguồn nước ngầm, hấp thụ bởi cây cỏ, hải sản, và súc vật [4].
Đường xâm nhập của các kim loại nặng và tác hại của nó với sức khoẻ.
Kim loại nặng thường có tính bền vững rất cao. Do vậy, nó sẽ tồn tại rất lâu trong đất, nước, không khí. Nếu các sinh vật hấp thụ các KLN này thì chất độc sẽ được tích luỹ và chuyển qua các sinh vật (động vật cũng như thực vật) khác nhau qua chuỗi thức ăn. Con người thường là mắt xích cuối cùng của chuỗi thức ăn và các KLN này sẽ đi vào cơ thể qua ăn uống. Ngoài ra, chúng cũng có thể xâm nhập qua đường hô hấp và qua niêm mạc (da) [5].
Nếu hàm lượng KLN vượt quá ngưỡng cho phép sẽ rất độc và gây tác hại lâu dài đến cơ thể con người. Những nguyên tố KLN như arsen, cadimi, crom, chì, thủy ngân đều được cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) và Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (IARC) coi là tác nhân gây ung thư ở người [4]. Nguy hiểm hơn nếu cơ thể tích lũy hàm lượng lớn kim loại nặng sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nặng nề, gây tổn thương não, co rút các bó cơ, biến dạng các ngón tay, chân, khớp, làm người bệnh phát điên và tử vong sau khi tiếp xúc từ vài giờ đến vài tháng hoặc năm. KLN có thể tiếp xúc với màng tế bào, ảnh hưởng đến quá trình phân chia DNA, dẫn đến thai chết, sự dạng, quái thai của các thế hệ sau. Tác hại về sức khỏe của kim loại nặng đã được cộng đồng khoa học quốc tế nghiên cứu và công bố trong thời gian dài [5].
Tại sao lại nghi ngờ cá chết ở Vũng Áng và miền Trung hiện nay là do nhiễm độc kim loại nặng?
Để khẳng định một cách chính xác, các phương pháp phân tích hóa chất thường dùng trong các phòng thí nghiệm hóa học, phân tích chất lượng nước, v.v. có thể xác định chính xác hóa chất gây cá chết.  Thí dụ dùng phương pháp Atomic Absorption Spectroscopy (AAS) có thể tìm ra những kim loại nặng hấp thụ trong cá chết hoặc Gas Chromatography Mass Spectroscopy (GC-MS) xác định hàm lượng vết các chất hữu cơ.  Những thí nghiệm này không quá phức tạp chỉ cần trình độ cử nhân hóa học là làm được. Tuy nhiên lý do vì sao cho đến giờ chưa có một báo cáo nào công bố cụ thể các chỉ số cho toàn dân biết để phòng tránh vẫn là một điều khó hiểu [6]. Trong lúc chờ kết luận của cơ quan chức năng, chúng tôi đưa ra những bằng chứng sau để có thể kết luận khả năng hai trường hợp có thể xảy ra.
Trường hợp 1:  Nhiễm độc kim loại nặng
  1. Chất có khả năng giết hàng loạt cá biển trên một diện rộng như thế phải là chất kịch độc như kim loại nặng và kể cả chất phóng xạ. Theo thiết kế của KCN, cổng xả thải được đặt ở vị trí 2 km ngoài khơi, nơi được cho là có khả năng làm loãng mọi hóa chất một cách nhanh chóng do dung lượng lớn của nước biển. Tuy nhiên, đối với các kim loại nặng như chì thì một lượng rất nhỏ chỉ cần 1 g trong 1,000,000 litter nước cũng đủ chết người (Nồng độ IDLH (Immediately Detrimental to Life and Health) từ Environmental Protection Agency (EPA -Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ) và 1 g trong 10 triệu litter nước đủ nguy hại đến cá (Xem bài báo khoa học của Solomon). 
  2. KLN khối lượng riêng nặng nên khi bị phát tán sẽ dần chìm xuống dưới nên mới gây chết rất nhiều cá ở tầng đáy. Như các thông tin báo chí đăng có thể thấy cá sống ở lớp nước sâu bị ảnh hưởng nhiều hơn cá sống ở lớp nước mặt. Điều đó có thể là dấu hiệu cho thấy do các hợp chất chứa kim loại nặng chìm xuống dưới làm chết các loại cá và sinh vật dưới đáy biển.
  3. Kết luận kiểm tra của Sở NN&PTNT Thừa Thiên - Huế cho biết, nguyên nhân cá chết hàng loạt là do pH nước thay đổi đột ngột, chất lượng phú dưỡng (PO43-) tăng cao đột ngột.  Câu hỏi đặt ra “PO4 từ đâu ra và tại sao pH nước tăng đột ngột?”
    1. Đá ở khu vực Vũng Áng rất giống loại đá phosphorite: có lỗ nhỏ và màu ngả vàng.
Hình 1- So sánh đá ở khu vực Vũng Áng và đá phosphorite
Hình 2- Nước thải từ Formosa (trái) và nước thải từ quá trình khai thác vàng (phải)
b. Trong qui trình khai thác đá phosphorite sẽ thải ra nước thải màu vàng. 
Nếu đúng như nhận định ban đầu nguyên nhân gây chết cá là từ nước thải của Formosa thì ta có thể liên hệ thấy nước thải này có màu vàng, rất giống với màu đặc trưng của nước thải khi khai thác phosphorite.
c. Cấu trúc của đá phosphorite điển hình thường có chứa gốc iôn kim loại nặng và PO43- :
(Một số ít ion bạc trong cấu trúc này có thể được thay thế bởi các loại kim loại nặng khác nhau). Khi khai thác đá phosphorite sẽ giải thoát một lượng lớn PO4, ion Ag cũng như một số kim loại nặng vào nước thải.
d. Phosphoric acid là một acid yếu do đó với lượng lớn PO4 3- ion, theo nguyên tắc chuyển dịch cân bằng Le Chatelie, chiều phản ứng sẽ bị đẩy ngược để tạo nhiều OH ion hơn và do đó nâng cao độ pH của nước. 
e. Theo nghiên cứu của Salamon, chỉ cần 0.1 ppb (part per billions) lượng ion bạc là đủ giết cá.  0.1 ppb tương đương với 1 g cho 10 triệu litter nước.   (hệ số biến đổi: 1 ppb = 1 g/1 triệu L) 2 
 Trường hợp 2:  Nhiễm độc bởi cyanide
Trong kỹ thuật khai thác mỏ kim loại, NaCN thường dùng để chiết xuất vàng và các kim loại quí hiếm.  Thí dụ trong trường hợp chiết xuất vàng từ quặng, NaCN giúp biến vàng thành chất có thể tan trong nước theo phản ứng sau và đồng thời sản xuất NaOH, một bazơ mạnh theo phương trình sau:
4 Au + 8 NaCN + O2 + 2 H2O → 4 Na[Au(CN)2] + 4 NaOH
NaCN là một loại muối rất dễ tan trong nước.   Do đó nếu không kết hợp với kim loại thì ion cyanua sẽ xuất hiện ở dạng ion trong nước thải.
  1. Vì phản ứng hóa học thải ra NaOH do đó nồng độ pH của nước sẽ tăng phù hợp với báo cáo của Sở NN&PTNT Thừa Thiên - Huế.
  2. Ion Cyanua (CN-) tan trong nước là một chất cực kỳ độc.  Nó làm hệ thống hô hấp của động vật mất chức năng tiêu thụ oxy. Nồng độ IDLH của CN là 25 g/ 1 triệu L. [14]. Tuy không độc bằng kim loại nặng nhưng với lượng lớn cyanua cũng có thể gây cá biển chết hàng loạt.
  3. Khu vực miền Trung được biết có nhiều mỏ vàng.  Do đó khả năng chất thải có từ việc khai thác vàng và kim loại quí hiếm cũng không phải là thấp (Xem hình 2- so sánh nước thải của Formosa và nước thải từ quá trình khai thác vàng)

Tác hại có thể dự đoán trên diện rộng của sự việc ở Vũng Áng.
Khi cống thải được đặt ở 2 km xa bờ biển thì cột nước thải có thể cao vài chục đến cả trăm mét.  Dòng hải lưu nơi đó đủ mạnh để phát tán chất độc trong diện rộng từ vài trăm đến ngàn km dễ dàng và nhanh chóng. Thực tế cho thấy tác hại đã lan ra trên 250 km bờ biển. 
Hình 3- Cột nước thải và sơ đồ vùng biển nhiễm độc [8]
Theo lí thuyết, những chất này nếu là kim loại nặng thì tác hại của nó có thể là khôn lường và rất khó ước đoán. Các loại hải sản ở khu vực nhiễm độc đều có thể bị nhiễm nặng. Lượng độc tố có thể ngấm sâu xuống mạch nước ngầm và gây hại lâu dài. Tình trạng ở Vũng Áng có tầm nguy hại đến sức khỏe và mưu sinh của dân chúng trên diện rộng do dòng hải lưu và phân phối hải sản tiêu thụ trên cả nước chứ không chỉ giới hạn ở Vũng Áng. Lịch sử thế giới đã ghi nhận rất nhiều trường hợp thương tâm về việc nhiễm kim loại nặng từ môi trường và cuộc đấu tranh pháp lí không hề dễ dàng.
Một vài ví dụ đau thương được ghi nhận về nhiễm độc kim loại nặng
Hình 4- Nạn nhân bị nhiễm bệnh Minamata
Bệnh Minamata là đại thảm họa môi trường của Nhật-như cái giá phải trả cho việc quá nôn nóng phát triển kinh tế mà bỏ qua việc bảo vệ môi trường.  Từ năm 1932-1968, công ty Chisso (Nhật) sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Methyl thủy ngân là chất kịch độc, độc đến nỗi chỉ vài giọt rơi vào da có thể dẫn đến tử vong ngay lập tức. Trong quá trình sản xuất, methyl thủy ngân được sinh ra và đổ thẳng xuống vịnh Minamata mà không qua bất kì một sự xử lý nào. [9]
Thủy ngân phát tán trong môi trường nước, bám vào phù du và lắng xuống bùn. Cá hấp thụ oxy trong nước qua mang cá, tích lũy thủy ngân trong cơ thể.  Khi ăn phải những con cá bị nhiễm độc đó dần dần, người ăn sẽ tích lũy lượng thủy ngân đáng kể trong cơ thể. Khi đi vào trong cơ thể người, thủy ngân tấn công thẳng vào hệ thần kinh trung ương, hệ nội tiết, và các cơ. Thủy ngân làm con người trở nên loạn trí, các khớp xương bị co rút, dẫn đến biến dạng cơ thể. Người mẹ nhiễm thủy ngân sẽ đẻ con ra quái thai, dị dạng hoặc bị nhiễm bệnh Minamata bẩm sinh. Hậu quả là hơn 17 000 người dân phải gánh chịu căn bệnh này suốt hơn 60 năm. [10]
Tác hại của việc khai thác KLN cho môi trường có thể biểu hiện trực quan hơn ở chung quanh khu vực nhà máy khai thác kim loại nặng ở Baotou, Trung Quốc năm 2012 súc vật bị chết do nhiễm khí độc. Ngay cả cây ăn trái cũng èo uột và trái có mùi hôi thối [11].
Nếu là NaCN thì sao?
Tuy tính độc hại lâu dài của cyanua không tàn khốc như kim loại nặng, chất độc này có thể phá hủy hệ thần kinh và bộ phận hô hấp, thay đổi hồng cầu. [15]. Người bị nhiểm độc rất khó thở và dễ bị chảy máu mũi. Những triệu chứng này không phù hợp lắm với triệu chứng tìm thấy ở những người bị ngộ độc do ăn cá nhiễm độc báo chí đã đưa thời gian gần đây. [12]
Không ăn cá chết thôi chứ hải sản sống thì ăn không sao? Tắm biển cũng không sao?
Đây là một nhận định sai lầm trầm trọng.  Khi cá chết có nghĩa nồng độ chất độc đã vượt ngưỡng.  Nhưng cá còn sống không có nghĩa là không có bị ngấm chất độc. Tuy trường hợp cá chết do NaCN thì ít nguy hại hơn nhưng nếu là kim loại nặng thì hệ quả lớn hơn nhiều.  Xin nhắc lại tất cả hải sản từ vùng ô nhiễm có xác suất hấp thụ độc tố rất cao đặc biệt là những loại sinh vật sống sát đáy. Những độc tố này tồn dư, tích luỹ qua chuỗi thức ăn. Do cơ thể con người không có khả năng thải kim loại nặng hiệu quả, nó sẽ tích lũy dần dần và gây tác hại lâu dài như nói trên.  Đã có nghiên cứu chỉ ra lượng nhiễm độc thuỷ ngân vào cơ thể người từ việc ăn cá lên đến 95%. [10] Ngay cả lí do lần này không liên quan đến kim loại nặng thì việc chất độc tồn dư ở những con cá chưa đủ liều lượng giết chêt cá là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thậm chí đã có ngộ độc với người xảy ra ở Quảng Bình (Bố Trạch), Hà Tĩnh (Kì Anh) [12]. Do vậy, đây là một nhận định vô cùng nguy hiểm.  Người ngộ độc KLN qua đường tiêu hóa thường có triệu chứng bụng quặng đau, buồn nôn, tiêu chảy, nhức đầu và kiệt sức.
Bên cạnh đó, như chúng tôi đã đưa ra trước đó bên cạnh sự nhiễm độc do hô hấp và qua đường thức ăn thì chất độc có thể đi vào cơ thể qua da (niêm mạc). Do vậy, trong thời gian này hạn chế việc tắm biển, thậm chí các bạn tham gia điều tra nên có bảo hộ khi lặn sâu vào vùng nhiễm độc.
Không đưa ra lời cảnh báo để tránh việc chặn đi đường sống của hàng triệu dân nghèo?
Cũng có một vài ý kiến cho rằng, khi chưa có bằng chứng cụ thể chúng ta không đưa ra nhận định để tránh làm mất đi nguồn sống của người dân hay làm nhân dân hoang mang. Theo chúng tôi đây là một nhận định hết sức sai lầm. Khoa học ngoài việc tìm ra bằng chứng còn có chức năng dự báo để đề phòng trường hợp xấu nhất. Chúng ta đề phòng trường hợp xấu nhất nhưng mong đợi vào tình huống khả quan nhất. Nếu chúng ta không cảnh báo kịp thời, hậu quả sẽ lan nhanh, sâu và rộng hơn cho cộng đồng đến mức độ không còn khả năng kiểm soát được. Như ví dụ trên: vụ nhiễm độc Minamata cũng được phát hiện nhờ vào lời cảnh báo của viện trưởng Hosokawa của bệnh viện Kumamoto khi nghi ngờ nhiêm độc thủy ngân hữu cơ của các bệnh nhân. Tại thời điểm đó, sự việc như này chưa hề có tiền lệ trước đó [10].  Chúng ta đi sau nên học những bài học của người đi trước để tránh sai lầm. Hơn nữa việc chúng ta được cảnh báo là để chúng ta biết và đề phòng chứ không hề vì thế mà sợ hãi.
Những phát ngôn thiếu trách nhiệm
Thời gian gần đây nhiều cơ quan chức năng nhà nước đưa ra kết luận “nguyên nhân cá biển chết hàng loạt là do độc tố” [13]. Về điều này, một người dân không có hiểu biết về khoa học cũng có thể kết luận được, đặc biệt là những nạn nhân trúng độc phải cấp cứu do ăn đồ biển ở khu có cá chết.  Có hai nguyên nhân cá biển chết hàng loạt: 1) báo hiệu sắp có thiên tai từ động đất hay núi lửa ở thềm lục địa (điều này xưa nay chưa bao giờ xảy ra ở Việt Nam), 2) có sự thay đổi lớn về số lượng vi sinh vật trong vùng nước (hiện tượng nước nở hoa, hay dịch bệnh) và 3) chất kịch độc do con người thải ra trong nước biển.  Kết luận của cơ quan chức năng chỉ khẳng định rằng chúng ta sẽ không có thiên tai.  Điều 90 triệu dân Việt cần biết từ cơ quan chức năng là xác định cá chết và người dân bị ngộ độc là do hóa chất gì để cộng đồng khoa học có thể hổ trợ tìm phương án giải quyết.   
Lãnh đạo Formosa nói 300 tấn hóa chất nhập về sử dụng để tẩy rửa một số đường ống không gây hại và với khu công nghiệp thì chỉ “bé như hạt gạo” [13].  Kết luận của lãnh đạo Formosa rất mập mờ và khó hiểu, gây phẫn nộ cho rất nhiều người dân Việt Nam.  Xin phép được hỏi hóa chất tẩy rửa đường ống đó có tên hóa học là gì?  Nếu lãnh đạo Formosa không trả lời được thì xin cho biết tên thương mại là gì? Chi cục Hải Quan Hà Tĩnh có thể cho dân biết thông tin cụ thể về 300 tấn hóa chất này không?
Mới đây lãnh đạo Formosa còn tuyên bố để phát triển kinh tế việc chết vài con cá biển là chuyện nhỏ và là cái giá phải đánh đổi.  Chỉ tiếc là việc chết cá biển không phải là chuyện “bé như hạt gạo” mà nó có thể là cảnh báo cho một tai họa còn khủng khiếp hơn chất độc màu da cam sắp đổ xuống các thế hệ tiếp theo của Việt Nam.
Kết luận:
Có thể coi sự việc nghiêm trọng này là một thảm họa quốc gia, một quốc nạn tác hại khôn lường và lâu dài. Với sự nguy hiểm của chất độc chúng tôi cho rằng cần có một nghiên cứu toàn diện với sự hỗ trợ của cộng đồng khoa học quốc tế như World Health Organization (WHO) và nên khẩn cấp trong thời gian này.  Chính phủ cần yêu cầu Formosa dừng ngay việc xả nước thải ra biển cho đến khi có kết quả điều tra chính thức. Các cơ quan luật pháp cũng như các luật sư cần thu thập thông tin đầy đủ để có thể bắt buộc Formosa bồi thường thiệt hại cho dân về sức khỏe cũng như thiệt hại kinh tế nếu sự thật chất độc là do Formosa thải ra.  Trong khi chờ kết luận của cơ quan điều tra thì người dân tạm dừng tiêu thụ các loại hải sản và không đi tắm biển.  Người dân ở vùng bị nhiễm, cần phải xét nghiệm mẫu nước sinh hoạt và sản xuất nơi mình đang sống. Chúng tôi đã có bài viết hướng dẫn cách lấy mẫu và gửi đi xét nghiệm để có kết quả chính xác. Nếu các bạn cần tư vấn thêm về cách xử lý nước hoặc trao đổi về các kết quả nhận được có thể gửi email cho chúng tôi. Nếu có điều kiện hãy dùng máy lọc để lọc nước trước khi dùng kể cả đó là nguồn nước sinh hoạt.  Đồng thời chúng ta cũng nhanh chóng phổ biến đến người dân, để nhân dân an tâm, có biện pháp đề phòng và cũng cần đề phòng các lực lượng mê tín dị đoan lợi dụng hiện tượng này để tung tin đồn nhảm và trục lợi. Hơn lúc nào hết người dân cần tự mình trang bị những kiến thức cần thiết để bảo vệ cho chính bản thân và gia đình.
Tài liệu tham khảo
1- http://m.vietnamnet.vn/vn/thoi-su/300459/ca-chet-trang-bien-mien-trung-nghi-nhiem-doc-tu-vung-ang.html
2- Frances Solomon, ‘Impacts on aquatic ecosystems and human health’, Mining.com (April, 2008) 
3- https://www.facebook.com/groups/ivanet.org/
4-Tác hại của KLN : ” Heavy Metals Toxicity and the Environment”. 
5- Lars Järup, Hazard of heavy metal contamination, British Medical Bulletin 2003; 68: 167–182 
10- Sách của bộ Môi trường Nhật Bản (Japanese Ministry of the Environment -環 境 省
12-http://thanhnien.vn/doi-song/vu-ca-bien-chet-bat-thuong-mua-ca-chet-ve-an-nguoi-dan-bi-ngo-doc-693922.html
15- http://nj.gov/health/eoh/rtkweb/documents/fs/1693.pdf

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

“Cây tỷ đô”?



Ít có loại cây nào khi vào Việt Nam lại tạo ra ý kiến đa chiều, tranh luận sôi nổi như mắc-ca (macadamia). Chủ trương thay đổi cây trồng phù hợp, năng động hóa tư duy làm ăn của nông dân, giúp họ thoát nghèo và từng bước vươn lên giàu có trên chính đất đai của mình là hoàn toàn đúng đắn. Tranh luận đa chiều về cây mắc-ca càng cho thấy nhận thức và tư duy kinh tế của nông dân cũng như của chính các cơ quan chức năng đang chuyển biến tích cực.

Dù muộn vẫn còn hơn không, khi mà các phong trào trồng “cây mũi nhọn, nuôi con mũi nhọn” trong nhiều thập niên qua thiếu sự kiểm soát, giám sát, khiến cho người ta buộc phải nhận lấy những bài học đắt giá. Một trong các bài học đắt giá là việc cung cấp thông tin minh bạch cho nông dân trong hệ thống còn hạn chế, hoặc chưa được quan tâm đã dẫn tới nhiều thảm cảnh. Chúng ta từng chứng kiến nhiều phong trào “bốc lên” rất nhanh nhưng cũng mau chóng “lụi tàn” vì thiếu thông tin, nhắm mắt làm bừa.

Gần đây nhất là phong trào phát triển “thần tốc” cây cao su, khi giá mủ lên cao ngất trời xanh. Bất chấp cảnh báo của nhiều chuyên gia người ta đã đổ xô nhau phát triển cây cao su ngay trên những vùng mà khoa học đã chứng minh là hoàn toàn không thích hợp với loại cây này. Thảm kịch, “giấc mơ cao su” hiện vẫn còn chưa kết thúc.

Tất nhiên, không loại trừ những kế hoạch chủ quan có mục tiêu rõ ràng của một số các nhà đầu tư có khả năng điều khiển được “phong trào”. Họ bất kể hậu quả cho xã hội, cho số đông tham gia, chỉ nhằm mang lại lợi nhuận cho chính họ và nhóm lợi ích theo kiểu “thương trường là chiến trường”.

Mắc-ca khi du nhập vào Việt Nam những năm đầu thế kỷ này vô tình hay cố ý được gọi với nhiều cái tên mỹ miều như là “hạt nữ hoàng” hay “nữ hoàng của các loại hạt”…  theo bản dịch từ cách gọi của thế giới. Rồi bổng dưng lại xuất hiện thêm một cái tên “nội địa” khác cho mắc-ca, nhưng nghe qua thì cực kỳ hấp dẫn: “cây tỷ đô”.

Những người vận động cho “cây tỷ đô” thì ra sức truyền thông mọi cách rằng đây là cây sẽ nhanh chóng giúp nông dân Việt Nam làm giàu, thật dễ dàng, thật đơn giản. Thậm chí, nếu không ai chịu làm, chịu trồng “cây tỷ đô” thì họ sẽ tự bỏ tiền ra hàng chục nghìn tỷ đồng để tự trồng, tự phát triển “cây tỷ đô”. Đơn giản, bởi vì khả năng sinh lợi của loại cây này có thể tính lên tới nhiều… “tỷ đô” (dollar). Xuất hiện không ít lần trên báo chí các thông tin cam kết về việc ngân hàng sẽ tài trợ, sẽ có các chương trình cho vay ưu đãi lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng cho những ai tham gia vào việc phát triển “cây tỷ đô”.

Trong vòng hơn một thập niên qua, không ít nông dân và kể cả một số chủ trang trại lớn, nhỏ ở các vùng đất được cho là có tiềm năng với “cây tỷ đô” đã ào ạt “thử nghiệm” loại cây này một cách tự phát. Kết quả của việc thử nghiệm “giấc mơ tỷ đô” tự phát này đã đưa tới nhiều câu chuyện trái ngược nhau và trở thành đề tài gây tranh cãi nhiều năm qua trên truyền thông và cả trong các hội thảo về đề tài mắc-ca.

Một số ít nông dân trồng tự phát đã thành công còn phần lớn thì kết quả không như mong muốn. Một mô hình trồng mắc-ca quy mô gia đình cỡ nhỏ được đánh giá là thành công ở thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Đó là gia đình ông Nguyễn Đức Ba, với chưa đầy một hec-ta  mắc-ca trồng từ đầu năm 2.000. Theo ông Ba, ông may mắn tìm được giống mắc-ca chất lượng tốt và với kinh nghiệm của một lão nông ông đã ương giống và chăm sóc thành công loại cây trồng mới lạ này trên vùng đất chưa từng có tiền lệ.  Nhờ chất lượng của hạy mắc-ca của ông khá tốt nên thị trường đã chấp nhận. Hiện ông còn tổ chức chế biến khép kín để có hạt mắc-ca thành phẩm, qua một công ty gia đình thương hiệu “Maca Ông Ba” đang có mặt trên nhiều thị trường. Giờ đây, mỗi năm gia đình ông kiếm được “tiền tỷ” (đồng) từ vườn mắc-ca chưa tới một hec-ta.

Khảo sát thêm tại khu vực Tây Nguyên cho thấy không ít nông dân trồng mắc-ca theo lý thuyết đã đến tuỏi thu hoạch nhưng cây vẫn chưa có trái hoặc trái nhỏ, số lượng ít. Ông Chu Văn Trịnh, một nông dân trồng mắc-ca ở Tà Nung, Đà Lạt, Lâm Đồng cho hay, nếu trồng từ các loại giống trôi nổi thì rất may rủi. Phần lớn là không ra trái hoặc ra trái nhất nhỏ, chất lượng thấp. Tuy nhiên, điều mà ông Trịnh băn khoăn nhất chính là đầu ra của hạt mắc-ca. Nhiều khảo sát khác tại các khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc… cũng có kết quả tương tự. Đáng lưu ý, một số địa phương đã chính thức khuyến cáo nông dân thận trọng khi đầu tư phát triển “cây tỷ đô”.

Từ 2002, Bộ NN&PTNN đã tiến hành nhập giống và trồng thử nghiệm mắc-ca  ở nhiều địa phương trong cả nước. Ở các khu vực thử nghiệm của Bộ NN&PTNT, cây mắc ca có khả năng sinh trưởng và phát triển nhưng tỷ lệ đậu trái, sản lượng trái rất khác nhau. Sản lượng hạt tươi cao nhất vào năm thứ 10 đạt 17,5-21,5kg/cây, tương đương 8-10 kg hạt khô/cây, thấp nhất đạt 9,4-12,4kg/cây, tương đương 4-5 kg hạt khô/cây. Ở một số nơi cây không có trái. Tây Nguyên được cho là khu vực có điều kiện thích hợp nhất với kế hoạch phát triển mắc-ca.

Tuy nhiên, điều mà các nhà hoạch định chính sách vẫn băn khoăn giống như lo lắng của một nông dân ở Đà Lạt, chính là đầu ra cho mắc-ca. Theo các chuyên gia, giá cả hạt mắc-ca thành phẩm tại thị trường Việt Nam mấy năm gần đây “sốt cao” là hiện tượng cục bộ, bất thường. Mức giá ảo này không phản ánh đúng tình hình thị trường mắc-ca thế giới. Do đó, nếu căn cứ vào hiện tượng “sốt ảo” để đánh giá tiềm năng “cây tỷ đô”  thì rất dễ đi vào vết bánh xe đã đổ của nhiều loại cây trồng khác trước đây.

Do vậy, Bộ NN&PTNT mới đây công bố Quy hoạch phát triển cây mắc ca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên đến năm 2020, tiềm năng phát triển đến năm 2030 với diện tích khá khiêm tốn: 9.940 hec-ta cho năm 2020 và 34.500 hec-ta cho năm 2030. Trong đó chủ yếu là trồng xen vào cây cà phê đang thoái hóa để dần dần thay thế bớt loại cây này. Bộ NN&PTNT nhấn mạnh phải xây dựng và đảm bảo các cơ sở để có một thị trường ổn định cho đầu ra của mắc-ca.

Sự thận trọng lần này của ngành chức năng, của các nhà khoa học và bản thân người nông dân với “cây tỷ đô” có lẽ chính là sự cần thiết để không phải trả thêm những bài học đắt giá khác nữa.

Hữu Nguyên





Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Tăng tốc hay gánh nặng?

Tình trạng thiếu minh bạch, thiếu cơ chế kiểm soát sẽ dễ dẫn tới sự bắt tay, móc ngoặc và lợi ích nhóm trong thực hiện các dự án BOT giao thông. Khi người dân và các doanh nghiệp bị buộc phải chi trả các mức phí cao ngất ngưỡng vô lý, gánh nặng sẽ đè lên nền kinh tế.

Các dự án BOT giao thông ở nước ta hiện nay về hình thức là do nhà đầu tư bỏ vốn nhưng bản chất vẫn là sử dụng nguồn lực của xã hội, từ nguồn vốn tham gia của Nhà nước, vay ngân hàng cho tới việc thu phí của doanh nghiệp và người dân. Do vậy, cơ quan chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này về nguyên tắc phải đảm bảo việc vận hành dự án sao cho lợi ích của các bên phải cân đối và hài hòa. Thế nhưng, trong thực tế nhiều dự án BOT giao thông vừa đưa ra vận hành đã gặp phải sự phản đối gay gắt của người sử dụng, cũng là người trả phí.

Hầu hết các ý kiến phản đối đều tập trung vào chuyện mức giá phải trả cho các dịch vụ BOT giao thông này quá cao so với mặt bằng xã hội cũng như khả năng cân đối của các doanh nghiệp và người dân. Trừ một số tuyến đường mà người dân không còn sự lựa chọn nào khác, các tuyến độc đạo, hầu hết các BOT giao thông gần đây khi đưa vào khai thác đã không đạt kết quả như kỳ vọng.  Các lái xe phải chấp nhận việc đi xa hơn, vòng vèo vào những con đường dân sinh để tránh phải trả mức phí quá cao so với khả năng của họ.

Hiện tượng này dẫn tới một nghịch lý, hàng nghìn tỷ đồng đầu tư vào con đường chất lượng cao, để đẩy nhanh tốc độ giao thông, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển đã bị từ chối và trở nên không hiệu quả. Trong khi, những con đường dân sinh đột nhiên phải oằn mình cõng thêm một lưu lượng xe hạng nặng. Các doanh nhiệp và người dân do tránh trạm thu phí đã phải đi xa hơn, tốn kém và mất thời gian hơn. Và điều đó cũng chính là sự thiệt hại chung của cả nền kinh tế, cả xã hội chứ chẳng phải của riêng ai.

Hầu như những người phải trả phí sử dụng BOT giao thông trong suốt những năm qua chỉ có vai trò… trả tiền và trả thêm tiền cho những chu kỳ tăng giá theo quy trình. Họ chẳng có vai trò gì trong việc giám sát và vận hành dự án sao cho phải đảm bảo các yêu cầu hài hòa lợi ích giữa các bên. Người phải chịu thiệt thòi và luôn giữ “thế yếu” trong quy trình này lại chính là người chi tiền. Các dự án BOT trong thời gian qua hầu hết là chỉ định thầu. Thông tin về nhà thầu cũng hết sức mù mờ đối với nhận thức chung của xã hội. Yếu tố minh bạch và công khai ngay trong việc lựa chon, chỉ định thầu các dự án BOT hầu như chưa được coi trọng. Do vậy, hệ lụy là hầu hết các dự án đều đội giá ngút trời. Giá thành cao ngất ngưỡng đương nhiên tác động trực tiếp tới mức giá mà người sử dụng phải trả thường là quá cao so với mặt bằng chung của xã hội.

Có một thực tế là hầu hết các con đường BOT trong những năm qua đều có mức giá thành xây dựng rất cao so với thế giới. Các nhà đầu tư thì ra sức lý giải do tính đặc thù của địa hình, địa lý và xã hội Việt Nam nên giá thành xây dựng giao thông ở Việt Nam phải cao gấp nhiều lần các nước khác. Họ kết luận, chi phí làm đường ở Việt Nam đắt hơn thế giới, nhưng là đắt một cách… hợp lý, vì tính đặc thù! Vấn đề là cái mà các nhà đầu tư cho là hợp lý đó mặt mũi như thế nào trước khi thuyết minh dự án để được chấp nhận đầu tư thì những người cuối cùng phải trả tiền không hề hay biết, không hề được hỏi ý kiến. Sự thiếu minh bạch khiến người ta không khỏi đặt câu hỏi, có hay không chuyện các nhà đầu tư “bắt tay” với nhóm lợi ích để khai khống, nâng giá xây dựng để được kéo dài thời gian thu phí cũng như đẩy mức phí lên tột cùng?

Chủ trương phát triển BOT giao thông là nhằm huy động nguồn vốn và năng lực của tư nhân, của các nhà đầu tư trong khi nguồn vốn của ngân sách còn hạn chế. Tuy nhiên, trong thực tế, nguồn vốn của nhà đầu tư  BOT trong những năm qua chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn, 85% lượng tiền đầu tư họ phải đi vay ngân hàng.  Con số này cho thấy, nhiều nhà đầu tư BOT không có thực lực về tài chính cũng nhận được dự án. Vay ngân hàng và tất nhiên lãi suất đi vay cũng được đưa vào giá thành để tính thời gian thu phí cùng mức phí. Ngoài việc góp phần đội giá, tạo thêm gánh nặng cho nền kinh tế, tỷ lệ vay vốn ngân hàng đầu tư BOT quá lớn tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng. Đặc biệt trong bối cảnh dự án BOT phát triển rầm rộ, thiếu kiểm soát và kém hiệu quả, càng làm gia tăng thêm các nguy cơ vỡ trận như thị trường bất động sản một thời.

Cá biệt, thời gian qua từng có BOT giao thông nghìn tỷ trong khi nhà đầu tư không có đồng nào cũng được nhận dự án. Đó là dự án BOT Quốc lộ 51 nối Biên Hòa với Vũng Tàu, nguồn vốn khoảng 4.000 tỷ đồng, trong đó vay ngân hàng 90%, nhà đầu tư 10%.  Thế nhưng từ hơn 4 năm qua, nhà đầu tư cũng chưa góp đủ 10%  phần vốn ít ỏi của mình. Để bù vào khoản thiếu vốn đó, xảy ra hiện tượng lạ là nhà đầu tư đã được phép thu phí khi dự án chưa làm xong. Theo quy định, dự án chỉ có thể được thu phí sau khi được quyết toán. Nhưng tại dự án trên, nhà đầu tư chưa xây đường xong, hồ sơ thanh quyết toán chưa hoàn thành mà phí vẫn thu. Với cách làm như vậy, công trình này gần như là “tay không bắt giặc”.

Ngoài ra, không ít tuyến đường  trước đây là quốc lộ, là đường  độc đạo đột nhiên được biến thành BOT và thu phí. Người dân và doanh nghiệp cũng đột nhiên mất quyền lựa chọn, vì khôngc òn cách nào khác. Cuộc chiến tranh chấp xung quanh việc xây dựng ụ cầu bít lối lên cầu Việt Trì đã diễn ra giữa người dân và nhà đầu tư dự án BOT cầu Hạc Trì cũng chính từ cách làm này. Với lý do cầu Việt Trì đã xuống cấp, Nhà đầu tư BOT đã dựng ụ bê tông chắn ngang cầu Việt Trì để ngăn ô tô đi qua nhằm buộc họ phải đi qua đường trả phí, nhưng bị người dân phản ứng mạnh.

Mặc dù xã hội ủng hộ chủ trương nâng cấp đầu tư hạ tầng nhưng phải phù hợp với thu nhập của người dân và khả năng chi trả của nền kinh tế. Nếu đưa ra nhiều trạm, nhiều dự án BOT giao thông thiếu kiểm soát, buông lỏng quản lý để các dự án xây dựng mức phí quá cao một cách vô lý, rồi lại lần lượt tăng phí theo lộ trình, chưa kể vẫn còn hiện tượng phí chồng lên phí, thì người dân sẽ “ngạt thở” , còn nền kinh tế mà cụ thể là các doanh nghiệp lại tăng thêm gánh nặng.

Hữu Nguyên