Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

“Bạn vàng” tái diễn vở tuồng bắt người đòi tiền chuộc


Lại tái diễn kịch bản không lạ, tàu hải giám cùng các lực lượng chuyên trách của nhà nước Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam đang đánh cá trong khu vực quần đảo Hoàng Sa, nơi mà Việt Nam tuyên bố có chủ quyền ít nhất từ thế kỷ thứ XVII, bị hải quân Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm ngày 19/1/1974 từ tay hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Các lực lượng chuyên trách của nhà nước Trung Quốc thi hành ngay cách thức mà họ từng đối xử nhiều lần với ngư dân Việt Nam mà họ bắt được trên vùng biển Hoàng Sa là đánh đập, tịch thu hải sản, trang thiết các loại (đánh cá, đi biển, viễn thông liên lạc…), cũng như các tài sản có giá trị khác rồi kéo tàu cùng các ngư dân Việt Nam về một trong các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (thông thường là đảo Phú Lâm) nơi mà hải quân Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép một phần lãnh thổ trên biển của Việt Nam, để giam giữ.
Những sự kiện liên quan tới tính mạng, tài sản của ngư dân và hơn nữa liên quan tới chủ quyền đất nước như vậy, nhưng thông thường phải mất từ hơn mười ngày tới một tháng các cơ quan chức năng của Việt Nam mới có thông tin chính thức cho giới truyền thông trong nước. Cụ thể, vụ Trung Quốc bắt giữ 2 tàu đánh cá của ngư dân Quảng Ngãi mới đây diễn ra vào ngày 3/3/2012, nhưng tới ngày 21/3/2012 cơ quan ngoại giao của Việt Nam mới công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lại tiếp tục phát biểu những điều quen thuộc: khẳng  định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phản đối phía Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam; phản đối các hành động bắt bớ, đánh dập ngư dân Việt Nam; đòi phía Trung Quốc bồi thường thiệt hại; cho biết đã tiếp xúc ngoại giao với sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để truyền đạt các thông tin như trên…
Trong lúc cơ quan ngoại giao Việt Nam phản ứng từ tốn với những lời lẽ ngoại giao hết sức “mềm mỏng”  như vậy thì phía Trung Quốc như thường lệ đã kịp liên lạc với người nhà của từng ngư dân bị bắt giữ để đòi tiền chuộc, cái giá “hữu nghị” cho thương lượng này là 70.000 nhân dân tệ mỗi người. Xem hết các nguồn thông tin trong và ngoài nước, vẫn không thể biết được cái “tổ chức” của phía Trung Quốc đứng ra thương lượng đòi tiền chuộc kia là thuộc vào thành phần nào của nhà nước Trung Quốc? Các giao dịch giữa hai bên nếu có xảy ra hoàn toàn nằm ngoài phạm vi kiểm soát của nhà nước hai bên. Có thể tạm gọi đó là “đường dây giao dịch đen”, vì có quá nhiều ẩn số trong các giao dịch loại này. Trên thực tế thì giao dịch kiểu này đã được hai bên thực hiện thành công khá nhiều vụ. Bởi vì trong khi các cơ quan ngoại giao hãy còn đang ra sức tìm kiếm giải pháp, thời gian giam giữ ngư dân kéo dài, người thân sốt ruột cho tính mạng, sức khoẻ của các ngư dân bị giam giữ vô hạn định đành phải bấm bụng chấp nhận tham gia các vụ  “đàm phán đen” để mau chóng cứu người. Mặc dù, cơ quan ngoại giao Việt Nam vẫn luôn khuyến cáo bà con ngư dân không nên nộp tiền chuộc người vì phải tin tưởng vào khả năng đàm phán, kết quả làm việc của cơ quan này với phía “bạn” Trung Quốc cái đã.
Vừa lạ lại vừa quen là mặc dù trên bàn đàm phán chính thức kéo dài có khả năng là vô tận, song bên ngoài là “tiền trao thì chao múc ngay”. Vậy không biết chủ trương này có liên quan gì tới ông bạn vàng nhà nước Trung Quốc không? Người thì bị cơ quan chức năng chính thức của nhà nước Trung Quốc bắt giữ, đàm phán chính thức giữa cơ quan ngoại giao hai bên thì kéo dài không có hồi kết. Trong khi “đàm phán đen” theo kiểu “xã hội đen”,  bắt cóc tống tiền, đòi tiền chuộc mà bọn cướp biển hay làm thì “tiền trao chao múc”, thả người ngay, hết sức “uy tín” theo kiểu quân tử Tàu.
Kịch bản này vừa quen lại vừa lọa… Loạ là vì người  nằm trong tay cơ quan chức năng của nhà nước Trung Quốc, nhưng quyết định thả người và đòi tiền chuộc lại nằm ở đâu đâu? Lọa quá! Vì cái nằm ở đâu đẩu, đâu đâu đó lại có thể sai khiến được cơ quan chức năng của nhà nước Trung Quốc.


Những tác phẩm đoạt giải thưởng Ảnh Quốc tế của Năm




Tạp chí National Geographic đăng những bức ảnh đoạt giải thưởng Ảnh Quốc tế của Năm (POYi).


Giải được tổ chức bởi Viện Báo chí Donald W. Reynolds lần đầu năm 1944 để trưng bày những bức ảnh chụp trong Thế chiến thứ II. Ngày nay, mục tiêu của giải thưởng vẫn là “tôn vinh những bức ảnh phóng sự tốt nhất trên thế giới, nhằm cung cấp những hình ảnh phản ánh xã hội, củng cố nhận thức của con người về những vấn đề mà nhân loại đang đối diện.
Năm nay, hội đồng giám khảo của POYi bao gồm 17 nhiếp ảnh gia nổi tiếng, những người được phân công chấm các hạng mục – như thể thao hay minh họa tin tức – phù hợp với kinh nghiệm của họ.

Không giống các cuộc thi ảnh khác, việc chấm thi của POYi hoàn toàn công khai minh bạch, được tổ chức tại Trường Nhiếp ảnh Missuori của Mỹ, nơi mọi người đều có thể tới xem công tác chấm thi. Việc chấm thi cũng được truyền tải trực tuyến trên mạng, giám đốc Shaw cho biết.

1. Giải nhất ảnh tin phóng sự


Tác giả là Yuri Kozyrev, chụp cho tạp chí Time. Trong ảnh là một người đàn ông khiêng một con cá mập ra chợ ở Aden, Yemen. Theo Rick Shaw, giám đốc của POYi, các giám khảo của giải đã bị ấn tượng sự kết nối giữa đôi mắt người đàn ông với người xem, và bố cục tạo thành bởi vây cá mập cùng những bóng người ở hậu cảnh.

2. Ảnh thể thao của năm


Tác giả là Donald Miralle. Ảnh chụp những vận động viên bơi bên trên một đàn cá, vào lúc khởi đầu cuộc đua Ironman World Championship 2011, tổ chức tại Kona, Hawaii. Tương quan giữa con người và đàn cá nhỏ bơi ngược chiều đã tạo được ấn tượng với các giám khảo của POYi.

3. Giải nhất ảnh câu chuyện báo chí cho các nhà báo và đơn vị thông tấn độc lập


Tác giả là Yuri Kozyrev, chụp cho tạp chí Time. Trong ảnh là những người biểu tình ở miền Đông của thành phố Benghazi, Libya, đang kêu gọi lật đổ Chính phủ của Qaddafi.

“Yuri đã tự đặt mình vào giữa tâm điểm cuộc bạo động, và thực sự lưu giữ, lột tả được những xúc cảm cao trào của người dân, từ trạng thái trầm ngâm ở tiền cảnh tới sự phấn khích ở hậu cảnh”, nhận xét của Shaw về phóng viên ảnh người Nga, Kozyrev, người thường xuyên có mặt trong các cuộc cách mạng gần đây của phong trào Mùa xuân Ả Rập.

Kozyrev từng nói với tờ New York Times: “Lenin được chứng kiến hai cuộc cách mạng. Nhưng tôi có cơ hội được chứng kiến tới bốn cuộc”.

4. Giải Tầm nhìn Toàn cầu


Tác giả là Steve Winter, ảnh đăng trên National Geographic. Trong ảnh một con hổ nhìn vào máy ảnh đặt chụp tự động, trong một cuộc săn buổi sáng ở phía Bắc Sumatra, Indonesia. Steve Winter chụp bức ảnh cho tạp chí National Geographic và nhóm bảo tồn động vật hoang dã họ mèo Panthera. Ảnh thắng giải Tầm nhìn Toàn cầu dành cho “những dự án công phu dài hạn tập trung vào môi trường, khoa học, và lịch sử tự nhiên”, Shaw cho biết. Giá trị tác phẩm của Steve không chỉ ở hình ảnh của con thú mà ở cả sự phản ánh những tương tác của con người với thế giới tự nhiên, cả theo nghĩa tích cực lẫn tiêu cực”.

5. Giải nhất Ảnh Phóng sự


Tác giả là Stephanie Sinclair, ảnh đăng trên National Geographic. Trong ảnh các cô dâu tuổi thiếu niên đứng chụp hình cùng những người chồng của họ ở một làng ven Hajjah, Yemen. “Nghệ thuật nhiếp ảnh của Stephanie thật đáng kinh ngạc”, Shaw nói. “Cô ấy có khả năng đặc biệt trong việc tiếp xúc với những nền văn hóa mà đa số mọi người không thể tiếp cận”. Nhận xét về bức ảnh, Shaw nói: “gương mặt hai cô bé cho thấy họ vẫn còn ở tuổi thơ ấu. Tôi thích bố cục với những đường nét của núi đồi giao cắt với đầu và mặt các nhân vật. Những chi tiết tinh tế như vậy đẩy một bức ảnh giá trị lên một tầm cao hơn”.

6. Giải nhất cho Ảnh Lịch sử KH/Tự nhiên


Tác giả là Jay Janner, chụp cho tờ Austin American-Statesman. Bức ảnh chụp những gia súc suy dinh dưỡng đang chờ bán đấu giá tại Công ty Gia súc Gillespie, ở Fredericksburg, Texas, hôm 10/04/2011, trong giai đoạn khô hạn chưa từng có ở bang này. “Trận hạn hán thực sự ảnh hưởng tới các cộng đồng nông thôn và nông nghiệp ở Texas, nhưng làm cách nào để biểu đạt điều này?”, Shaw nói về bức ảnh. “Chúng ta đã được xem bao nhiêu hình ảnh mặt đất bị cháy sém, cánh đồng nứt nẻ? Chúng đã trở nên gần như sáo mòn. Khi một bức ảnh có thể kể một câu chuyện mà không lặp lại những điều sáo mòn, thì âm hưởng của nó tới người xem sẽ lớn hơn”.

7. Giải nhất Biên tập ảnh phóng sự cho tạp chí 


Tác giả là Lynsey Addario, chụp cho tạp chí National Geographic. Trong ảnh một người đàn ông Irar đang cho hải âu ăn vào lúc bình minh, trong bài báo “Baghdad sau cơn bão”. Bức ảnh này giúp đem lại giải thưởng cho Lynsey Addario, một nhiếp ảnh gia tự do, và cả giải về biên tập cho Sarah Leen, người phụ trách biên tập ảnh, cùng giám đốc thiết kế David Whitmore.

Với Addario, nhiệm vụ của cô tại Baghdad xen cả vui lẫn buồn, khi tình cờ xảy ra cùng lúc với cuộc Cách mạng Ai Cập. “Tôi làm việc ở Trung Đông và Nam Á từ 11 năm nay. Lần này khi Ai Cập không nằm trong câu chuyện mà tôi được giao nhiệm vụ, thật vô cùng bứt rứt khi tôi phải xem lịch sử diễn ra trên TV”, cô nói với tạp chí National Geographic. “Tôi vốn quen được ở ngay giữa tâm điểm của nó!”.

8. Giải nhất Ảnh Câu chuyện Lịch sử Khoa học/Tự nhiên


Tác giả là Brent Stirton, chụp cho Getty Images và National Geographic. Ảnh chụp cánh tay một người đàn ông đang cầm chiếc sừng tê giác trắng ở Klerksdorp, Nam Phi, ngày 25/03/2011. Chiếc sừng được cắt để giữ tính mạng con vật khỏi sự săn đuổi của những kẻ săn trộm. “Đôi khi những bức ảnh càng đơn giản càng nói được nhiều”, Shaw nhận xét. “Cánh tay, nắm vào chiếc sừng, đường cong của sừng tương đồng với hướng xô dạt của cỏ dại ở hậu cảnh – rất đơn giản, nhưng biểu đạt rất mạnh mẽ”.

9. Giải nhất cho Biên tập ảnh cụm bài của tạp chí



Tác giả là Jens Neumann và Edgar Rodtmann, chụp cho tạp chí National Geographic. Bức ảnh chụp thành phố Dubai như đột nhiên mọc lên từ Sa mạc Ả Rập, được dùng trong cụm bài “Dân số 7 tỷ” của tạp chí National Geographic, cụm bài đã đem về giải thưởng cho nhiều nhiếp ảnh gia, nhà thiết kế, và biên tập viên. “Một trong những nguyên tắc của biên tập ảnh là tôn trọng cái nhìn của người chụp. Đây là một trong những tiêu chí chúng tôi yêu cầu các giám khảo khi thẩm định xét giải”, Shaw cho biết.

Công chúng cũng sẽ có cơ hội được thẩm định nhiều tác phẩm đoạt giải từ POYi năm nay, tại một cuộc triển lãm ở Washington D.C., nơi Shaw ước tính sẽ có khoảng 400 nghìn người tới xem.

“Các giải thưởng và cúp kỷ niệm cũng quan trọng, nhưng các nhiếp ảnh gia cũng mong là ảnh của họ được công chúng thưởng ngoạn”, Shaw nói.

Lược dịch theo bài của Ker Than, National Geographic, 05/03/2012

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

Phương tiện hay cứu cánh?


Thực tế về quy hoạch, phát triển hệ thống đường bộ ở Việt Nam trong nhiều năm có thể nói là quá kém. Dẫn tới các hệ lụy nan giải hiện nay là đường bộ thường xuyên quá tải, giao thông công cộng nội thị hoàn toàn không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Do vậy, phương tiện giao thông cá nhân hầu như trở thành “cứu cánh”, vì người dân không hề có sự lựa chọn nào khác.

Nếu nhìn một cách hạn hẹp, sự phát triển mang tính chất “bùng nổ” của các loại phương tiện giao thông cá nhân, đặc biệt là ở các thành phố lớn trong giai đoạn đổi mới kinh tế mạnh mẽ đã góp phần đáng kể tạo ra vấn nạn ùn tắc giao thông nghiêm trọng, trở thành “nan đề” trầm kha cho các nhà chức trách. Người ta dễ dàng đổ lỗi các vấn nạn nghiêm trọng về giao thông hiện nay cho hiện tượng “bùng nổ” số lượng phương tiện giao thông cá nhân. Thế nhưng, công bằng mà nói, khi nền kinh tế phát triển nhu cầu đi lại và ngày càng nâng cao chất lượng cũng như hiệu suất đi lại của cộng đồng là một nhu cầu chính đáng và có thật.  Các nhà hoạch định chính sách phát triển không thể từ chối nhu cầu thực tế và hết sức chính đáng này của xã hội. Trong khi các phương tiện giao thông công cộng không được hoạch định để phục vụ đầy đủ cho kế hoạch phát triển, các chính sách mang tính “lợi ích nhóm” từng một thời mở cửa tối đa cho sự “bùng nổ” phương tiện giao thông cá nhân có vẻ như đã mang lại những giải pháp nhất thời. Người dân, ngoại trừ một số rất ít “đại gia” chơi xe để chứng tỏ “đẳng cấp” với những “con xe” siêu sang, hầu hết đều trông cậy vào phương tiện giao thông cá nhân tự mình trang bị để đối phó với tình trạng phương tiện giao thông công cộng cực kỳ kém cỏi do nhà chức trách cung cấp và giải quyết một cách chủ động nhu cầu đi lại để mưu sinh cho bản thân và gia đình mình. Chúng ta đã từng chứng kiến “làn sóng” xe gắn máy, ôtô con  “second-hand” nhập vào Việt Nam vô tội vạ từ nhiều thập niên trước và xe máy, xe con “hàng Tàu” giá cực rẻ trong mấy thập niên gần đây tràn ngập đường phố, ngỏ ngách đô thị và cả nông thôn, lẫn các miền núi cao nguyên Việt Nam. Hệ lụy là, trong khi đường xá chậm phát triển, phương tiện giao thông công cộng kém cỏi không phục vụ được nhu cầu đi lại chính đáng của xã hội thì đại bộ phận người dân chỉ còn cách buộc phải lựa chọn một phương tiện giao thông cá nhân thuận lợi nhất cho nhu cầu công ăn việc làm và sinh hoạt của mình. Phương tiện giao thông cá nhân thực ra trong bối cảnh này đã trở thành “cứu cánh”. Bởi lẽ, phần lớn người dân không còn sự lựa chọn nào khác để có thể chủ động và đảm bảo cho nhu cầu đi lại phục vụ cho việc mưu sinh của bản thân và gia đình mình.
Như vậy, trong một thời gian khá dài, phương tiện giao thông cá nhân như là xe máy, ôtô con… trở thành giải pháp hiệu quả, thuận lợi, bù đắp cho sự khiếm khuyết đến kém cỏi của ngành chức năng có trách nhiệm lo lắng về việc đi lại của người dân. Đồng thời, với nền kinh tế và các “nhóm lợi ích” thì nhu cầu đó là một nguồn lợi đáng kể, sản xuất, lắp ráp xe máy, ôtô từng được xác định là “ngành mũi nhọn” của nhiều địa phương, nhiều tập đoàn kinh tế mang lại nhiều lợi nhuận và giải quyết bao nhiêu là công ăn việc làm cho xã hội, cũng như đóng góp đáng kể vào ngân sách quốc gia. Thế nhưng, giờ đây, với tất cả những gì mà ngành chức năng đang áp dụng có liên quan tới chính sách về thu phí nhằm hạn chế phương tiện giao thông cá nhân thì chiếc xe máy, “con ôtô” vốn được đông đảo người dân xem là “cứu cánh” cho việc đi lại làm ăn của mình bổng chốc bị đối xử như là “kẻ thù” cần phải bị loại bỏ không thương tiếc.
Người ta đổ cho nó là tác nhân gây ra nhiều tai nạn giao thông nghiêm trọng, là nguyên nhân chính tạo nên vấn nạn tắc đường và có lẽ cũng là “thủ phạm” góp phần đáng kể nhanh chóng làm xuống cấp hệ thống cầu cống và đường bộ Việt Nam. Vì vậy, lập luận đưa ra là để giải quyết tất cả các “nan đề” trầm kha về giao thông hiện nay cần phải mạnh tay giải quyết các phương tiện giao thông cá nhân ngay lập tức. Phương thức thực hiện giải pháp này là gia tăng càng nhiều mức thuế và mức phí đánh trên đầu phương tiện khiến cho các “khổ chủ” không còn dám, hoặc mất khả năng đưa xe ra đường để tham gia giao thông là coi như đã thành công. Số tiền thu được từ các mức thuế và phí này sẽ gia tăng đáng kể và theo các nhà chức trách được đưa vào để bảo trì và phát triển đường bộ. Đáng tiếc là cơ chế giải trình về việc sử dụng nguồn tiền thu được từ chủ trương này minh bạch, công khai như thế nào thì chưa thấy các nhà chức trách đề cập tới. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chưa có nơi đâu trên thế giới này người tiêu dùng lại phải chịu quá nhiều mức thuế và phí để có thể mua về và sử dụng ôtô như ở Việt Nam. Điều này tạo ra một nghịch lý là giá xe và chi phí sử dụng xe ở một nước đang phát triển lại cao gấp 2,5 lần so với ở một đất nước phát triển và người dân có thu nhập cao rất nhiều lần như ở Mỹ chẳng hạn. Cũng vậy, trên thế giới, các quốc gia coi xe máy, ôtô là mặt hàng xa xỉ cần phải hạn chế tiêu dùng như ở Việt Nam có lẽ cũng hầu như hiếm có, đặc biệt khi các phương tiện giao thông cá nhân này lại đang đóng vai trò “cứu cánh” cho công việc mưu sinh và sinh hoạt chính đáng của một bộ phận rất lớn người dân.
Người dân sử dụng đường phải có trách nhiệm đóng phí cho nhà chức trách, đó là điều hợp lý và cần thiết. Tuy nhiên, ngoài các thứ thuế khá cao mà người dân đã đóng để có thể sở  hữu phương tiện ra, để tránh phí chồng phí, nhất là trong bối cảnh chúng ta cũng đang xây dựng Quỹ bảo trì đường bộ thì đòi hỏi cơ quan soạn thảo đề án phí lưu hành phương tiện phải đưa ra được các cơ sở khoa học tính phí. Bên cạnh đó, nhà chức trách cũng phải điều tra, đưa ra các luận chứng để thuyết phục rằng, mức phí đó nếu được áp dụng thì sẽ giảm được bao nhiêu phương tiện tham gia giao thông trên một tuyến đường. Mức độ hư hại của đường sẽ giảm đi được bao nhiêu, lợi ích mà xã hội thu được là gì? Thậm chí, khi người dân bỏ tiền ra để đóng phí, có nghĩa là mua dịch vụ, họ có quyền yêu cầu nhà cung cấp dịch dụ giải trình cơ chế sử dụng nguồn tiền và đảm bảo chất lượng dịch vụ, cũng như bồi thường thiệt hại khi chất lượng dịch vụ không đạt yêu cầu gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Nếu nhà chức trách không làm rõ được những việc này thì sẽ rất khó tìm kiếm được sự ủng hộ và chia sẻ của người dân.



          

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

Mặc cảm Võ Đắc Danh

NQL: Võ Đắc Danh email cho mình:”Hôm qua,sau khi trao cho em 50 bức thư mời thi khoảng 1g sau, cô Thu, BTV NXBPN gọi điện cho hay, cô vừa nhận được điện thoại từ BTC Hội sách thông báo rằng cấp trên ra lệnh hủy bỏ 3 sự kiện trong hội sách: Buổi giao lưu của Võ Đắc Danh, của Bùi Văn Nam Sơn và chương trình tặng sách có chữ ký của Nguyễn Quang Lập. không hiểu ai là người ra lệnh và cũng không hiểu lý do. Sáng nay, Cô Thu đại diện cho NXB PN gặp em nói lời cáo lỗi, chấm hết”.

Bài này mình viết tựa cho cuốn sách, gửi đăng báo Thanh niên, phút cuối cùng cũng bị tòa soạn cho out. Chẳng hiểu vì sao. Cuộc sống bây giờ lạ lắm, nhiều chuyện không thể hiểu lại diễn ra hằng ngày như là chuyện đương nhiên.

Đây là cuốn sách thứ năm, rút từ hơn một trăm bút kí, phóng sự, ghi chép của Võ Đắc Danh. Có lẽ gọi đấy là những ghi chép thì đúng hơn. Những ghi chép của “anh nông dân cầm bút”, một biệt danh đáng yêu, cũng là sở đắc của anh, một người suốt đời cầm bút cho nông dân, vì nông dân,  những người  nông dân khổ đau khắp cánh đồng Nam Bộ. Thật hiếm có nhà văn nào được như anh, suốt cuộc đời tìm kiếm những số phận khổ đau, những con người bất hạnh- những con người bị vùi dập- bị lừa đảo- bị đổ oan- bị đày đọa… nơi bùn lầy, chỗ hoang vu, chốn xơ xác, bến tiêu điều… Lắm kẻ chỉ nghĩ đến việc phải đến đó thôi cũng đã phải rùng mình kinh sợ.
Trả lời câu hỏi những nhân vật nào ám ảnh anh nhất, Võ Đắc Danh đã nói: “Những con người khát khao sự tử tế, khát khao được sống đàng hoàng tử tế nhưng bị xã hội đấy họ vào bước đường cùng.” Vâng, đó là nông dân, đích thị là nông dân, thời nào cũng thế. Viết về những con người như thế không thể nói viết để kiếm sống, để kiếm vinh quang lại càng không, trong khi đó  nhà văn phải đối diện với đòn trả thù của đám bất lương, những kẻ đã đẩy các nhân vật của anh đến đường cùng. Nhưng đó không phải là mối hiểm nguy số 1, sự hiểm nguy buả vây hết mọi nẻo đường anh đi, đó là đám quan tham, những kẻ luôn giấu diếm những tiêu cực và bất cập, trên mảnh đất họ trị vì chỉ có ấm no hạnh phúc, ai nói ngược lại người đó trước sau không có đất sống. Hơn một lần Võ Đắc Danh bị buộc phải treo bút và nguy cơ sa vào vòng lao lý, thật đáng sợ.
 Viết được như vậy, người viết chẳng những phải có tình yêu thương mà phải có lòng dũng cảm, chẳng những phải đức kiên trì mà phải có sự hy sinh, những thứ nói rất dễ nhưng làm được thật quá khó khăn, không phải ai cũng làm được. Nói thật, cả ngàn nhà văn hiện thời may lắm có dăm bảy người làm được điều đó, không hơn. Chính vì vậy mà dù ở đâu, thời nào, những trang văn đẫm mồ hôi và nước mắt của các nhà văn “cá biệt” này bao giờ cũng tỏa sáng và sống bền trong lòng bạn đọc, cho dù có thể tài dùng chữ của họ kém thua nhiều người khác.
 Đời chợ, chợ đời, cuốn sách thứ năm của Võ Đắc Danh vẫn tiếp tục dòng chảy cảm xúc của bốn cuốn sách trước. Vẫn là nước mắt nụ cười của những người nông dân khổ đau, chỉ có khác họ là những người đàn bà thôn quê hoặc từ thôn quê mà ra. Họ không phải là mẫu phụ nữ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang-mẫu “người hùng” phụ nữ một thời,- họ là những phụ nữ dám sống trên những nỗi khổ đau cùng cực. Chỉ vậy thôi cũng đủ cho hết thảy chúng ta yêu thương và khâm phục.
Đối với tôi đó là những người đàn bà kì lạ, bởi vì trên mỗi bước đường đời họ đều gặp khổ đau và oan trái, cay đắng và thất thiệt nhưng họ đã không gục ngã, không đầu hàng. Đối với họ, tuồng như trời không có mắt, bao nhiêu khổ đau của thế gian trời đều đổ lên đầu họ. Thế mà họ vẫn nuốt nước mắt nghiến răng dấn bước, quyết không đầu hàng số phận.  Yêu người bị người phụ, tin người bị người lừa. Ngày xưa cầm súng giữ đất bây giờ bị cướp đất giữa ban ngày. Ngày xưa cưu mang đùm bọc bây giờ bị phản bội bị chơi đểu. Rồi bà mẹ già cõng trên lưng những đứa con tật nguyên. Rồi người đàn bà “mười sáu năm lấy chồng, giật mình nhìn lại mình đã tám đứa con nhưng chưa có một ngày hạnh phúc”. Những người đàn bà có chồng là có thêm một gánh nợ, hết gánh nợ này đến gánh nợ khác, triền miên. Tôi đã bật khóc không chỉ một lần khi đọc Đồng cỏ cháy, nhiều khi muồn kêu to: trời ơi sao lại có những số phận khổ đau và oan nghiệt đến thế!
Đọc kĩ Võ Đắc Danh, đọc hết Võ Đắc Danh người ta buộc phải đặt câu hỏi: vì sao Võ Đắc Danh suốt đời đeo đuổi đề tài người nông dân cùng khổ, anh viết không để kiếm sống cũng chẳng để kiếm vinh. Vì sao như thế?
“Cũng có thể là tôi đang giận chính mình. Nhưng nói chính xác hơn là tôi luôn dằn vặt một mặc cảm tội lỗi với những nhân vật của tôi. Sau mỗi một bút ký, tên tuổi tôi ít nhiều được đánh bóng thêm, còn những nhân vật của tôi thì tiếp tục đắm chìm trong tiếng kêu oan vô vọng. Nhiều khi tôi tự hỏi, có phải mình đã làm sang cho mình bằng những thân phận thấp hèn của họ chăng ? Tôi cảm thấy đau lòng, thậm chí thấy ê chề, nhục nhã. Nhưng rồi sau đó gặp một thân phận khác, tôi lại dằn vặt muốn tiếp tục sẻ chia, muốn nói thay họ những điều mà họ không nói được. Cứ thế mà tôi cứ sống trong cái vòng lẩn quẩn buồn vui, cay đắng của cuộc đời, không thể tự tìm cho mình lối thoát nào khác.”
Võ Đắc Danh đã nói như vậy, và xin gọi đấy là mặc cảm Võ Đắc Danh. Không có mặc cảm ấy không phải Võ Đắc Danh. Giữa cái thời vinh thân phì gia là lẽ sống, Võ Đắc Danh đã chọn mặc cảm ấy và sống cùng mặc cảm ấy suốt cả cuộc đời. Phục  lắm thay, cảm động lắm thay!
Nguyễn Quang Lập

Biển Đông đang nổi sóng lừng khi những tính toán của Bắc Kinh ngày càng lớn lên


Nguyễn Hoàng Hà

Trung Quốc mấy tuần qua liên tục tuyên bố không gây hấn trên Biển Đông và cả trên biển Nhật Bản hòng thôn tính các khu vực còn lại trên biển của các nước láng giềng như Việt Nam, Philippines và Nhật Bản, Triều Tiên, v.v.
Trước tiên nói đến hoạt động nhộn nhịp và quy mô rất lớn của Trung Quốc trên Biển Đông trong đó có việc hợp lý hóa chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã ăn cướp được của Việt Nam thành của mình.
Mọi người đang rất quan tâm và bất bình về sự kiện Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc mời thầu dầu khí 19 lô ở bắc Biển Đông, trong đó có lô 65/24 cách đảo Cây (Tree Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa khoảng 1 hải lý. Ngày 2.3, biên đội tàu hộ vệ 11 của Trung Quốc tiến hành huấn luyện bắn đạn thật ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tờ China Daily dẫn lời quan chức Vương Nhu Long thuộc Ban Phát triển du lịch tỉnh Hải Nam cho hay Trung Quốc đang lập kế hoạch phát triển du lịch ở Hoàng Sa. Chưa hết, chính quyền tỉnh Hải Nam còn dự kiến tổ chức đua thuyền buồm từ Tam Á đến Hoàng Sa vào ngày 28.3… Bên cạnh đó, theo Tân Hoa xã, Cục trưởng Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc Lưu Tứ Quý tuyên bố Bắc Kinh sẽ tăng cường tuần tra khu vực quần đảo Trường Sa.
Trung Quốc phô trương lực lượng tàu chiến tại Thanh Đảo - Ảnh: AFP
Trung Quốc phô trương lực lượng tàu chiến tại Thanh Đảo - Ảnh: AFP
Trung Quốc nỗ lực hợp pháp hóa để nuốt các khu vực đảo biển đã chiếm được của Việt Nam bằng cách lập đặc khu hành chính và cho tiến hành khai thác du lịch cũng như khai thác dầu hỏa trên biển Hoàng Sa, Trường Sa
Phát biểu bên lề Hội nghị Chính trị hiệp thương nhân dân (Chính hiệp) mới đây, thiếu tướng La Viện, Giám đốc điều hành Viện Khoa học quân sự Trung Quốc, cho rằng Bắc Kinh nên thành lập lực lượng cảnh sát biển bán quân sự; triển khai thêm nhiều lực lượng đến các đảo đang tranh chấp; khuyến khích ngư dân và các công ty dầu khí bắt đầu hoạt động tại đây. Tờ PLA Daily của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) còn dẫn lời ông La kêu gọi thành lập đặc khu hành chính ở Biển Đông. Ông này không phải là phát ngôn viên chính thức của chính quyền nhưng quan điểm của tướng La được đăng trên cơ quan ngôn luận của PLA cho thấy đây có thể là suy nghĩ chung của một bộ phận tướng lĩnh.
Trung Quốc hiện chưa có lực lượng tuần tra bờ biển chính thức nhưng có ít nhất 6 bộ liên quan đến các công tác biển. Trong đó, khét tiếng nhất là lực lượng hải giám thuộc Cục Hải dương (Bộ Đất đai và Tài nguyên thiên nhiên) và ngư chính thuộc Cục Quản lý thủy sản (Bộ Nông nghiệp). Đây là 2 lực lượng tàu liên tục có các hành động gây lo ngại cho các bên ở Biển Đông, biển Hoa Đông trong thời gian qua và thường xuyên được tăng cường tàu, máy bay trực thăng… Vậy mà báo China Daily còn dẫn lời nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phúc Kiến Trần Minh Nghĩa chê hải giám và ngư chính “thiếu cứng rắn” và đề nghị lập thêm Bộ Các Đại dương. Ngoài ra họ đã mua toàn bộ các tàu và xà lan cũ sắp phải hủy chở đầy xi măng bê tông cho tàu kéo ra Hoàng Sa, Trường Sa rồi đánh đắm thành pháo đài nổi ở những nơi đã chiến được.
Trung Quốc khẩn trương khai thách và ve vãn các công ty quốc tế thăm dò và khai thách tại các khu vực chiếm được của Việt Nam trên Biển Đông.
Cũng trong năm nay, Bắc Kinh sẽ triển khai tàu thăm dò dầu khí nước sâu Ocean Oil 708, với khả năng hoạt động ở độ sâu 3.000m và khoan đến 600m dưới thềm biển, theo tờ nhật báo Dầu khí Trung Quốc. Giàn khoan nước sâu đầu tiên của nước này là Ocean Oil 981 cũng được triển khai đến vùng phía Bắc của Biển Đông, nhưng không rõ là nơi nào. Đến nay vẫn chưa có thông tin cụ thể là giàn 981 đã tới đâu, càng làm tăng lo ngại về sự thiếu minh bạch trong các hoạt động của Trung Quốc ở các vùng tranh chấp. Bên cạnh đó, nước này cũng không ngừng gia tăng các hoạt động quân sự dù vẫn đưa ra các tuyên bố hòa bình. Mới đây, báo chí Trung Quốc dẫn lời giới chức cho hay tàu sân bay đầu tiên của nước này có thể sẽ được triển khai ở Biển Đông từ ngày 1.8 dù mục đích chính hiện nay vẫn là “huấn luyện và nghiên cứu”. Vào đầu tháng 2, Hạm đội Nam Hải cũng tiến hành tập trận với tàu đổ bộ lớn Tỉnh Cương Sơn. Đó là chưa kể thông báo tăng ngân sách quốc phòng năm 2012 lên 106,4 tỉ USD.
Trung Quốc đang mời các công ty của Anh, Pháp và nhiều quốc gia khác đến thăm dò và khai thác trên các vùng đã thôn tính được của Việt Nam. Nhưng hiện nay các công ty quốc tế này không muốn tham gia sợ bị lên án. Nhiều công ty đã bày tỏ sự lo ngại là Việt Nam sẽ có các cuộc tập trận bằng tên lửa tầm xa và tầm trung ở khu vực này khi các cuộc thương thuyết không thành công, khiến tình hình có thể diễn biến căng thẳng hơn, không thể an toàn cho tính mạng của họ cũng như vốn liếng khi đầu tư bỏ ra làm ăn ở đây với Trung Quốc. Việc Việt Nam đang khẩn trương mua sắm cũng như mở xưởng sản xuất hỏa tiễn tầm xa và tầm trung hiện đại chính xác để diệt mục tiêu trên biển đã khiến Trung Quốc lo lắng và như nhiều báo chí Trung Quốc cho rằng cứ đà này một khi thương thuyết về biển giữa hai nước không thành công và khả năng Trung Quốc gây áp lực mạnh thì chắc chắn Việt Nam phải tính đến thử hỏa tiễn trên biển như Bắc Triều tiên đã làm, nhất là các khu vực mà Trung Quốc đã chiếm được của Việt Nam và đang tính chuyện khai thác. Họ cho rằng, lúc đó Trung Quốc chẳng những không khai thác làm ăn được gì mà trái lại, Biển Đông sẽ bị khóa, các tàu của Trung Quốc kể cả các tuần dương hạm và tàu sân bay lẫn tàu cá không thể đi lại nghênh ngang trong khu vực này. Nhưng Việt Nam có làm điều này hay không thì phải chờ xem bước sắp tới đây.
Tình hình hiện nay nhiều nhà khoa học quân sự và đa số lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam đều cho rằng thương thuyết không còn tác dụng và tình hữu nghị láng giềng tốt như đã rêu rao giờ đã chết. Người Việt ở trong nước và ở nước ngoài đang rất phẫn nộ về vấn đề này. Các tiếng nói ca ngợi tình hữu nghị truyền thống Việt Trung giờ đã phải tắt ngấm. Bộ Ngoại giao Việt Nam nay đã phải lớn tiếng phản đối đến khản cổ về các hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc trên các vùng lãnh dải và hải đảo của Việt Nam.
Trước sự quan ngại của nhiều phía cũng như việc Mỹ tỏ rõ ý định tăng cường hiện diện ở châu Á – Thái Bình Dương, tân Đại sứ Trung Quốc tại Philippines Mã Khắc Khanh ngày 15.3 tiếp tục tuyên bố Bắc Kinh “chỉ muốn bảo vệ chủ quyền lãnh hải chứ không hề có ý định gây hấn với các quốc gia láng giềng”. AFP dẫn lời Đại sứ Mã nói thêm: “Thái Bình Dương đủ rộng để chứa cả Mỹ và Trung Quốc”.
Trên biển Nhật Bản thì Trung Quốc ngày 16 tháng 3 cũng cho tàu tuần tra đến khu vực đảo Senkaku (Điếu Ngư) của Nhật Bản và khi bị tàu tuần tiễu của Nhật bắt phải dời thì họ đã công khai tuyên bố là khu vực này là chủ quyền của Trung Quốc và cũng đang tiến hành chính sách kiểu đang làm ở Biển Đông như đối với vùng đã chiếm cứ được của Việt Nam. Đặc biệt họ cũng còn vươn tay ra xa hơn đến của vùng biển của Nam Triều Tiên và cho rằng đảo ở đây cũng là của họ khiến phía Nam Triều Tiên rất lo ngại và cũng phản đối gay gắt. Trên vùng biển của Philippines ngoài khơi vùng biển thuộc Palawan của nước này Trung Quốc cũng cho là vùng biển của mình.
Giới quan sát nhận định các hành động và tuyên bố vừa qua một mặt tiếp nối chính sách và chiến lược lâu nay của Bắc Kinh trong khu vực. Mặt khác, chúng được đưa ra trong thời gian diễn ra hai kỳ họp quan trọng ở Trung Quốc là Hội nghị Chính hiệp và Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc. Do đó, có thể mục đích còn nhằm gây thanh thế, tạo tiếng vang và khẳng định đường lối trước khi Trung Quốc có việc chuyển đổi thế hệ lãnh đạo cấp cao.
Thời gian không còn nhiều. Biển Đông đã nổi sóng cồn đang chứa đựng những nguy cơ lớn của một loạt quốc gia phải đối phó với một kẻ hiếu chiến và bành trướng đầy tham vọng.
Ngày 17 tháng 3 năm 2012.
N. H. H.

Hãy ghi nhớ sự cẩu thả và tham lam của con người ngày 4/10/2010


Phan Tất Thành

Cách đây ít lâu, tôi đọc một bài báo có tin về việc cư dân sống gần công trình bauxite nhôm Tân Rai (huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng) phản ánh, nguồn nước từ nhà máy alumin thải ra có mùi hắc, sủi bọt, nhờn, nước nhiễm bẩn khiến cá nuôi chết hàng loạt.
Sở Tài nguyên Môi trường Lâm Đồng đã lập đoàn thanh tra, lấy mẫu nước nhiễm bẩn tại khu vực dân cư và trong nhà máy alumin. Kết quả đo nhanh các thông số, độ PH của nguồn nước thoát ra môi trường là 10,53, vượt quá quy chuẩn Việt Nam (6-9 độ). Ngoài ra, nhiệt độ trong nước lên tới 31,2 độ C, cao hơn 20% so với tiêu chuẩn cho phép.
Theo kết luận thanh tra, việc tập kết nguyên vật liệu để chuẩn bị cho nhà máy alumin hoạt động đã diễn ra từ đầu năm 2011, xút rắn được bơm vào các bồn chứa từ tháng 5. Việc thẩm thấu và thoát lượng xút cao hơn quy định ra bên ngoài đến tháng 8 mới được phát hiện.
Tại khu vực pha trộn xút, nơi để các bao hóa chất chỉ có mái che một phía, dẫn đến nước mưa tạt vào làm tan chảy và thẩm thấu xuống đất. Các bao bì sau khi pha trộn chưa được thu gom vào nơi quy định, vứt bỏ ngoài trời không che đậy.
Hiện bể pha trộn xút có một số vị trí bị hư hỏng, có nơi gạch bao lát tường bị sạt lở và một số vị trí gạch lát tường, đáy nền bị ăn mòn tạo ra các khe hở.
“Theo VNN - Vào lúc 9h45p sáng 2/9/2011. Được sự cấp báo của quần chúng nhân dân, các kỹ sư với sự tận tâm của mình đã phát hiện ra vết nứt nhỏ ở hồ chứa sản phẩm thải loại trong quá trình xử lý bauxite. Công nghệ xử lý bauxite được xử dụng ở Tây Nguyên là công nghệ tiên tiến số một thế giới được Trung Quốc phát minh và được ứng dụng đầu tiên tại Việt Nam dựa trên những thỏa thuận về ưu đãi chuyển giao công nghệ được lãnh đạo hai Đảng và hai Nhà nước ký kết. Công nghệ này có ưu điểm hồ chứa chất thải loại chống được động đất 11 độ rích te, bảo quản bùn đỏ trên 1000 năm. Sự cố xảy ra được các kỹ sư Trung Quốc đánh giá là do khách quan, ngoài ý muốn, và cũng không nghiêm trọng, tuy nhiên lãnh đạo TKV và công ty khai thác đã đôn đốc chỉ đạo cấp dưới triệt để giải quyết tình hình.
Tuy là sự cố nhỏ nhưng đã bị các thành phần bất mãn chống phá nhà nước, chống phá XHCN và cái nhìn thiếu khách quan, thiếu thiện cảm của các hãng thông tấn, báo chí nước ngoài thổi phồng gây hoang mang lòng dân, gây mất trật tự an ninh xã hội. Chính phủ đã đôn đốc chỉ đạo xử lí nghiêm khắc các hành vi tuyên truyền chống phá này.
Đồng thời có kế hoạch di tản, cứu trợ nhân dân ở các vùng bị bùn đỏ để nhân dân an tâm đi vào ổn định đời sống.”
(Hết trích – những dòng chữ in đậm là do tôi nhấn mạnh)
Tại sao không suy xét đến những việc:
-  Các chỉ số vượt quá tiêu chuẩn cho phép của quy chuẩn Việt Nam kéo dài trong mấy tháng trời mà nếu không được dân phát hiện thì hậu quả sẽ ra sao????
-   Công nghệ xử lý bauxite được sử dụng ở Tây Nguyên là công nghệ tiên tiến số một thế giới được Trung Quốc phát minh và được ứng dụng đầu tiên tại Việt Nam. Ai công nhận là số 1? Ứng dụng đầu tiên có phải là lấy Việt Nam làm nơi thí nghiệm để kiểm chứng cho công nghệ mới của “ông anh 4 tốt”, bất chấp mọi hậu quả rủi ro có thể xảy ra đối với môi trường và đối với một nhà máy khai thác và luyện quặng bauxite hàng đầu của nước ta??? Như thế hoá ra có những hiệp định ngầm giữa hai nhà nước cho phép nước “anh” tự do thí nghiệm trên đất của nước “em” mà dân không mảy may được biết?
-   “Hiện bể pha trộn xút có một số vị trí bị hư hỏng, có nơi gạch bao lát tường bị sạt lở và một số vị trí gạch lát tường, đáy nền bị ăn mòn tạo ra các khe hở…”. Thế này là thế nào? Thí nghiệm công nghệ tiên tiến quái quỷ gì mà chỉ mới một thời gian tí tẹo bể chứa bùn đỏ đã hỏng đáy, gạch lát tường đã sạt lở rồi? Vậy làm sao mà chống đỡ được với sự ăn mòn hàng nghìn năm? Thật cứ như đùa. Cứ cho đi là cái anh TKV nói liều nói lĩnh thì chẳng lẽ các vị nhà báo đưa tin lại không đủ trí khôn để suy xét hay sao?
Nhưng khôi hài nhất là trong khi không thấy nguyên nhân, hậu quả, trách nhiệm thì đã thấy ngay ĐỊCH. Địch lúc nào cũng nhăm nhăm phá hoại và có lẽ sẽ còn phá hoại đến hàng nghìn năm cái nhà nước XHCN tốt đẹp của chúng ta. Ghê gớm thật!
Hãy chịu khó để mắt nhìn sang nước Hung-ga-ri xa xôi, nơi bùn đỏ vừa gây tai họa cách đây một năm. Người Hung đã ngầm ý so sánh thảm họa bùn đỏ với Thế chiến thứ 2 khi trên cây cột tưởng niệm Thế chiến II, xuất hiện thêm phiến đá cẩm thạch mới khắc dòng chữ: Ghi nhớ sự cẩu thả và tham lam của con người ngày 4/10/2010”.
P. T. T. 

Trà Vigia: Chăm trong lò hạt nhân


Nhà thơ Inrasara *
Người xưa có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” cho nên tôi luôn thận trọng khi phải nói điều gì. Lời nói mây bay gió thoảng chỉ nên cao hứng khi trà dư tửu hậu, còn bút sa thì gà chết nên khi viết lại càng cân nhắc hơn! Khổ là: nghe người xưa chưa đủ mà còn phải biết nghe người nay mà hậu sinh thì luôn khả úy, và chưa chắc tôi đã thông minh hơn học sinh lớp Năm! Tất cả vì tương lai con em của chúng ta không chỉ là khẩu hiệu mà phải là hành động trong định hướng và dẫn đường. Sai một ly đi một dặm, những gì có thể nói và đáng được làm trong hôm nay thì không nên để ngày mai.
Tôi không biết gì nhiều về điện hạt nhân, chỉ nghe phong thanh đâu đó ở các nước tiên tiến Âu Mỹ có nền khoa học kỹ thuật cao. Cứ tưởng nước mình còn nghèo vì mới ngày nào còn ăn bo bo mì lát ngơ ngác con trâu đi trước cái cày theo sau, nay phút chốc có ĐHN mới biết mình sánh vai cùng cường quốc năm châu lúc nào không biết! Rõ là mình lạc hậu tình hình, cũng nhờ chủ trương đi tắt đón đầu đốt cháy giai đoạn nên ta mới tiến nhanh tiến mạnh đến thế. Việt Nam có ĐHN là niềm tự hào chung của cả dân tộc, cơ hội xóa đói giảm nghèo là nhãn tiền không thể chối cãi; lại nằm chình ình trên Ninh Thuận quê tôi thì còn gì sướng hơn.
Vừa mừng vừa lo vì không biết thực hư thế nào, xem báo đài trong nước thì toàn tin thắng trận nên tôi cũng phấn khởi hồ hởi chẳng thua ai.  May ra mình kiếm được chân bảo vệ nhà máy có cơm cháo sống qua ngày, lại góp chút công sức vào tiến trình hạt nhân hóa đất nước thì một kiếp người coi như viên mãn. Tuy nhiên, càng tìm hiểu càng thấy không đơn giản nếu không muốn nói đó là một nhiệm vụ bất khả thi bởi chúng ta chưa đủ tâm, đủ tầm và đủ tài để hiện thực hóa. Có một mắt xích quan trọng và vô cùng nhạy cảm nhưng tuyệt nhiên không ai để ý hay đếm xỉa một cách vô tình đến lạnh lùng. Người ta chỉ đề cập đến lợi ích của ĐHN nhưng không một ai nhắc nhở hay quan tâm đến sự tồn vong của Chăm một khi ĐHN có sự cố. Có thể nói như đinh đóng cột: ĐHN là khắc tinh của Chăm, không thể cùng nhau sống chung hòa bình lâu dài dưới một mái nhà cho dù được sơn son thếp vàng rực rỡ đến mấy! Biết thế nhưng chỉ thế, biết nói với ai và nói ở đâu?!
Nhiều bạn già và trẻ có đến hỏi tôi mà có lẽ nhầm người và địa chỉ:
- Sao chú bác mày không lên tiếng cho đồng bào nhờ với?
- Sao chú bác mày không nói mà lại nhờ tui? – Tôi hỏi.
- Ờ cũng vì tui khó nói, không biết nói, không dám nói mới nhờ chú bác mày!
Nói như thế để thấy rằng: quyền được nghe, quyền được nói, quyền được sống ở ta còn nhiều hạn chế. Không phải ai cũng nói lên được tâm tư tình cảm và nguyện vọng của mình mà sự nghiệp xây dựng, phát triển bảo vệ đất nước là của toàn dân. Có cảm tưởng như một phát ngôn phản biện xã hội là một hành động liều lĩnh thiếu suy xét và hứng chịu nhiều rủi ro. Đành vậy, tôi chỉ là một nông dân chứ không là trí thức (nói nông dân cho oai thôi chứ thực ra tui chỉ biết cuốc, chả biết cày gieo gặt hái là gì) mà nông dân là lực lượng nồng cốt của xã hội Chăm nên tiếng nói của họ mang tính quyết định. Lẽ ra các bạn phải tìm đến những quan chức chính quyền là người có quyền nói, những kẻ sĩ có học hàm học vị cao là người biết nói, những vị bô lão có uy tín là người dễ ăn nói. Không thì biết rồi khổ quá nói mãi chỉ thêm rách việc! Chỉ xin dẫn lại một số ý kiến của các chuyên gia để nhận diện vấn đề:
1.   Gs Phạm Duy Hiển – nguyên Viện trưởng Viện nguyên tử Đà Lạt:
-         Việt Nam ta chẳng có chút lợi thế nào về ĐHN cả. Tài nguyên Uranium hầu như không có. Tri thức khoa học công nghệ còn ở mức a, b, c… Tiền bạc phải đi vay mượn. Cơ sở hạ tầng công nghiệp quá thấp. Trình độ quản lý và kỷ luật công nghiệp hiện đại kém, tai nạn lao động xảy ra liên tục mọi nơi…
-         Lại thêm vấn nạn tham những và lợi ích riêng. Cái chúng ta hiện có chỉ là ý muốn của một số người…
-         Làm ĐHN mà không đủ tri thức thì rất dễ trở thành một thứ con tin chính trị khi ai đó muốn gây sức ép lên chúng ta.

Qua những thông số trên, chúng ta hiện nguyên hình là con nhà nghèo chưa được học hành tử tế nhưng lại muốn chơi sang vung tay quá trán. Không, ta không nên ưu tiên ĐHN bằng cách định kế hoạch 2020 vận hành tổ máy đầu tiên, sau đó xây một lèo 16 lò phản ứng trong 10 năm!!! Và không biết phải thêm mấy chục lò nữa trong tương lai nếu cứ thừa thắng xông lên? Vô tình nước ta trở thành Khu chế xuất hạt nhân của thế giới lúc nào không hay và là nơi quy tập rác thải phóng xạ của địa cầu lúc nào không biết. Xưa, chất độc da cam từ ngoài mang đến con cháu ta gánh chưa xong. Hôm nay ta lại rước về điện hạt nhân tác hại phóng xạ ngàn lần hơn thì e là quá tải cho sự chịu đựng của đồng bào. Chỉ nên liệu cơm gắp mắm cho vừa sức, điện gió và điện mặt trời là ưu thế của miền đất đầy nắng gió này cần nên phát huy đúng mức và đúng sức. Dư dả chút đỉnh thì cho xây sân Gofl và Resort cho các đại gia và khách nước ngoài giải trí thì cũng chưa muộn. Còn nông dân chỉ cần yên ổn làm ăn, chiều sương sương cho tối ngủ ngon đã là phúc đức. Đó là giấc mơ của kẻ ăn mày, không biết trời có chìu lòng người?!
2.   Nhà văn Nguyên Ngọc – Tác giả tiểu thuyết Rừng Xà nu:
-         Thứ nhất: họ đe Việt Nam sắp thiếu nhiên liệu đến nơi rồi, cần nhanh chóng xây dựng ĐHN để tránh nguy cơ trở thành nước phải nhập khẩu năng lượng.
-         Thứ hai: ĐHN rất an toàn, kinh nghiệm của chính phủ Nhật Bản đấy, chẳng có gì phải lo.
-         Nghề đi chào hàng mà lại! Vấn đề là ở chỗ có người chào hàng thì phải có người dắt mối. Chứ sao, trong nghề buôn bán làm sao có anh này mà không có anh kia!
-         Họ tranh thủ công chúng không biết chuyên môn bằng những lời to tát và bằng những thuật ngữ rất chi là bác học, thuyết giảng hùng hồn và đầy tự tin và coi như chỉ dẹp một lần này nữa là xong.

Qua câu chuyện trên, ta thấy đây là một vụ mua bán xuyên quốc gia mà mặt hàng ở đây là ĐHN. Thủ phạm chính là nhiên liệu mà chúng ta sắp hết đến nơi, không nên để nước đến chân mới nhảy. Lo xa như thế là tốt nhưng đôi khi tính già hóa non, tính còn hóa mất chưa nói đến tiêu cực hay thằng khờ ra tỉnh. Ta có mỏ than dầu khí cho nhiệt điện, có mỏ nước cho thủy điện, mỏ gió mỏ mặt trời vô tận cho phong quang điện. Chỉ còn thiếu hạt nhân để thâu tóm năng lượng của vũ trụ cho nên phải cấp tốc đầu tư bằng mọi giá khi chúng ta đang là thượng đế được nhiều khách hàng mời chào. Rất tiếc mình không có tiền nên phải mua thiếu giống như đại gia nợ đầm đìa nhưng vẫn nổ banh bách để rồi giãy đành đạch! Không có lò ĐHN nào là an toàn tuyệt đối, còn bảo rằng chất thải không còn phóng xạ thì đúng là coi thường hiện tượng vật lý của những kẻ điếc không sợ súng! Thảm họa Tchernobyl trước kia và Fukushima mới đây là một minh chứng chưa kể những vụ rò rỉ lẻ tẻ chưa được công khai. Cứ để cho Nga Nhật xây dựng ĐHN ở chính quốc vì họ làm chủ được công nghệ này và chẳng phải chính Nhật Bản là nước chủ yếu nhập khẩu năng lượng mà vẫn là một nước công nghiệp phát triển hàng đầu đó sao? Còn chuyện chào hàng, bán hàng và mua hàng thì rõ ràng chúng ta đang nắm lưỡi, nguy cơ đứt tay có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Ham thì ham thật, nhưng thôi cứ đi cày dành dụm tiết kiệm, khi nào có đủ tiền thì mua cho chắc ăn!
3.    Gs Nguyễn Minh thuyết – Cựu đại biểu Quốc hội:
-         Khá nhiều quốc gia đã đình chỉ, tiến tới gỡ bỏ các nhà máy ĐHN. Không có lý do gì mà chúng ta cứ cố kết làm một việc đi ngược lại xu hướng chung của khoa học kỹ thuật thế giới như vậy, mà những khả năng xảy ra mất an toàn cũng rất dễ.
-         Chúng tôi nghĩ rằng cần thay đổi tư duy. Nếu những gì đã đưa ra trong nghị quyết của Quốc hội, của Đảng, bây giờ so sánh với thực tế có những điều không phù hợp nữa, thì mình có thể thay đổi.

Nếu vị Đại biểu Quốc hội nào cũng công tâm như Gs Nguyễn Minh Thuyết thì đất nước này mới có cơ may tồn tại và phát triển. Chúng ta đã nhập nhiều thứ xa xỉ không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng khi đất nước còn nghèo. Nhập máy móc lỗi thời của các nước phế thải tạo thêm gánh nặng như một tệ nạn xã hội. Cần phải thay đổi tư duy thôi, nhưng thay đổi là một cụm từ rất khó định nghĩa và tư duy là một hiện tượng siêu hình rất khó nắm bắt. Đành nhờ Trời Phật!
4.  Gs Nguyễn Khắc Nhẫn – nguyên cố vấn chiến lược của Tập đoàn Điện tử Pháp Electricite:
-         Bây giờ không có gì là muộn, Muốn dừng là dừng ngay chớ có cái gì đâu. Bao giờ đã xây rồi, lúc đó anh tháo gỡ một nhà máy đã chạy anh sẽ tốn kém hàng chục tỷ đô la. Anh tốn ba, bốn, năm chục năm mới tháo gỡ xong.
-         Bây giờ vẫn còn thì giờ để rút lui, và tôi xin cam đoan là Chính phủ thế nào cũng rút lui. Không thể nào đi tiếp được, bởi vì đi tiếp nó sẽ là Fukushima đấy!
 
Thảm họa nhà máy điện Fukushima
Ừ cũng chỉ mới là dự định làm ăn lớn, nhưng nhiều người can quá nên chắc phải suy nghĩ lại cho thấu tình đạt lý. Nhưng nếu vì một lý do nào đó Chính phủ không thể rút lui thì làm sao?! Dĩ nhiên không một ai dù có đạo đức chân tu hay tài năng xuất chúng gì đi nữa cũng không ngăn lại được. Nói như ông Putin hồi còn là ở KGB khi nhận chỉ thị của cấp trên: Lệnh là Luật, cứ thế mà làm không phải bàn cãi. Một lò gaz bếp với cấu tạo đơn giản thôi nhưng nếu sử dụng không đúng cách vẫn bị xì nổ gây án mạng nói chi vận hành một nhà máy ĐHN. Cho nên những nghi vấn lo lắng của người Chăm là tất nhiên vì họ đang sống trong vùng phủ sóng hạt nhân tầm bán kính 30km chưa kể những nhà máy khác sẽ nối nhau mọc lên trong tương lai và nếu có sự cố sẽ gây phản ứng dây chuyền không lường được. Hội chứng tâm lý “bất an” thường trực dẫn đến khủng hoảng tinh thần là điều không tránh khỏi! Tôi rất cảm thông với bức xúc của Kiều Dung khi thắc mắc tại sao không đặt ĐHN ở nơi khác mà là Ninh Thuận quê mình. “Chính phủ có quyết định trên với lý do: đây là vùng ít cư dân, có thềm lục địa vững chắc và thuận tiện cho vận chuyển phục vụ vận hành nhà máy” (theo Inrasara). Mới nghe cũng có lý, nếu có sự cố thì vùng ít dân cư này chỉ chết có vài trăm ngàn; còn nếu đặt ở Hà Nội hoặc Sài Gòn thì tổn thất có thể lên vài triệu.
Thêm một thông tin thú vị, có một quan chức đầu ngành triệu tập một số trí thức Chăm phủ dụ: các anh chị đừng nghe kẻ địch tuyên truyền xuyên tạc chủ trương chính sách của Nhà nước. Nếu rủi ro có sự cố thì Chăm chết chỉ có một trăm ngàn, còn Kinh thì đến năm trăm ngàn hy sinh. Một tỷ số quá chênh lệch! Ngặt nỗi dân số Chăm (ở tỉnh này) chỉ có chừng ấy, chết hết thì coi như tiệt nòi trong khi thế giới đang nỗ lực bảo tồn những đông vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Cũng không nên đem sinh mạng người Kinh Ninh Thuận ra đánh cược vì ai cũng là người cho dù sống ở đâu, làm gì, đang vui hay buồn?! Có thềm lục địa vững chắc và thuận tiện cho vận chuyển thì xem ra ĐHN chỉ có thể trụ trì ở miền đất này, còn nơi khác thì không đủ điều kiện! Khía cạnh này, tôi nghĩ hơi khác Inrasara. Nhân mạng phải được đặt lên hàng đầu, không phải con người thiếu hụt mà phải là con người lành lặn để làm người. Vì một khi xì hoặc nổ thì một số người sẽ bỏ xác tại chỗ, một số không đui thì chột không cụt thì què. Số còn lại may mắn thoát chết thì cũng nhiễm xạ với những mầm bệnh tiềm ẩn. Cứ cho là di dời kịp thời thì họ sẽ sống như thế nào nơi vùng đất mới? Họ sẽ bỏ lại Tháp, Kut, Ghur… bỏ lại tổ tiên làng mạc quê hương đã thành miền đất chết đồng nghĩa với bỏ lại nghi lễ tôn giáo, phong tục tập quán ngàn đời. Di dời dân dành chỗ cho thủy điện có chuẩn bị trước còn gặp nhiều khó khăn bất cập nói chi đến cấp cứu sơ tán hàng trăm ngàn dân trong mưa bụi phóng xạ thì không đáng lo mới là chuyện lạ!
Tìm câu trả lời thỏa đáng cho những bất cập bất an đã nêu, tôi rất tâm đắc với mấy vần thơ (lúc dầu sôi lửa bỏng thế này mà còn thơ thì quả là siêu, Chăm nghệ sĩ có khác!) của Ma Kaiapa:
Ngày mai 11-3… Panduranga khải hoàn! Mơ ước là thế  nói làm gì chứ
Chúng ta luôn được vỗ vỗ rồi cho về
Luôn được tôn trọng mời tham dự tham quan lan man
Luôn được hỏi han trong tâm thế phải chấp nhận
Nói làm gì chứ
 Chernobyl - Một nhân viên chính phủ Ukraina đang quan sát thành phố bị bỏ hoang từ khách sạn Pripyat. Gần 26 năm sau thảm họa, thành phố vẫn bị bỏ hoang.
Ừ nói làm gì chứ, im lặng là vàng! Há miệng mắc quai thôi thì ngậm miệng ăn tiền là thượng sách. Không trách thế hệ trẻ Chăm như Kiều Dung có quyền “nghi ngờ”. Bởi kí ức về vụ 23 tiến sĩ viết cuốn sách miệt thị dân tộc Chăm đã có đơn khiếu kiện với nhiều chữ ký của thân hào nhân sĩ Chăm nhưng tác dụng chỉ như nước đổ đầu vịt, vẫn còn chưa xa.
Giả sử: Nếu người Chăm chúng tôi nhất định không chấp nhận làm lò hạt nhân này, các anh sẽ làm gì? Câu trả lời là: chúng tôi sẽ cố gắng giải thích để đồng bào hiểu, vì đây là dự án mang lại ích lợi cho đồng bào” (dẫn Inrasara).
Tôi không hiểu người Chăm hưởng lợi được gì nhưng tai họa mai sau không thể lường nổi. Xem ra vị tiến sĩ phụ trách Dự án này cũng không hiểu gì nhiều hơn đồng bào, chắc chỉ nghe người ta nói rồi rồi nhai lại cho trơn tru. Nói chung người Chăm không có lý do gì để chống ĐHN, chỉ vì ĐHN ở sát bên và thường trực đe dọa sự tồn vong của họ và cả cho bao thế hệ con cháu của họ. Trong quá khứ, họ đã nhiều lần phải sống trong nỗi sợ hãi này nên ngày nay không cần thiết phải lăp lại những sai lầm của lịch sử. Tổ tiên họ đã có công khai phá miền đất này cho chúng ta được thừa hưởng hôm nay, cho nên phải ghi nhận trân trọng và dành cho họ một khoảng trời để thở. Họ là người bản địa nên rất cần được hỏi ý kiến một cách công khai và dân chủ và họ có quyền chọn lựa cuộc sống của riêng mình. Một cuộc trưng cầu dân ý là cần thiết và phải có những giải pháp cụ thể. Ví dụ: nếu ai sợ chết hay không đồng ý thì di dời họ đến lục địa khác nếu có nước nào đồng ý tiếp nhận theo chính sách nhân đạo. Nói như vậy không có nghĩa là ai cũng chống đối, cũng có nhiều người Chăm ủng hộ triệt để. Nếu con mắt quáng gà của tôi nhìn thấy vận mệnh Chăm nằm lọt thỏm trong nồi hạt nhân thì nhiều người khác lại phấn khích hô hào ĐHN trong trái tim người Chăm và sẵn sàng làm nguyên liệu để đốt lò. Cũng không nên làm khó cho Đại biểu Quốc hội Chăm hay hy vọng vào một ai đó có chức năng thẩm quyền vì nếu có trách nhiệm họ đã lên tiếng từ lâu dù trong vô vọng. Chỉ là một tiếng kêu cứu cho người đời sau không oán trách tại sao lúc đó cha ông họ không một phản đối hay trần tình?!
Tối qua tôi gặp cơn ác mộng kinh hoàng, có lẽ tôi bị ám ảnh quá nhiều về hiểm họa hat nhân nên tôi thấy bão lửa từ Hiroshima hay Fukushima gì đó với nhiều xác chết dị hình. Viễn cảnh hạt nhân còn liên quan đến chiến tranh từ Iran, Bắc Triều Tiên hay một nước nào đó lấy hạt nhân làm vũ khí răn đe dưới chiêu bài hòa bình. Tôi rùng mình tỉnh dậy trong hơi thở gấp và tim đập mạnh, hình như tôi đã la lên lúc đầu còn ú ớ nhưng rồi cũng thét thành lời:
Trời biển ơi cứu tôi với, cứu Chăm tôi với!
Bạn chú bác mày ơi, tôi đã kêu cứu rồi đó, dù chỉ trong giấc mơ!
Nguồn: Inrasara.com