Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Để lòng yêu nước thành sức mạnh đại đoàn kết

Từ nhiều năm qua, với cộng đồng người Việt đang sinh sống ở nước ngoài, nhà nước Việt Nam đã có những đường hướng chiến lược phù hợp với tinh thấn đại đoàn kết dân tộc. Trước hết là các nhận định và đánh giá đúng vị thế, tiềm lực. Kiều bào được xem là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Kế tiếp là việc thực thi chủ trương này một cách kiên trì, quyết liệt và cầu thị hướng tới mục tiêu tạo mọi điều kiện thuận lợi để kiều bào gắn bó với quê hương, huy động sức mạnh của nguồn lực kiều bào một cách tốt nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Trong thực tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng có những đóng góp to lớn cho đất nước, góp phần không nhỏ cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội đất nước trong nhiều thập niên qua. Một báo cáo nghiên cứu về toàn cảnh kiều hối tại Việt Nam và những đóng góp của kiều bào co sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước mói đây của Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy lượng kiều hối gởi về Việt Nam trong giai đoạn 1991-2014 đã vượt mức 90 tỷ USD. Đây là nguồn vốn lớn thứ hai chỉ sau vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và lớn hơn cả nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA). Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ rõ trong năm 2014 dòng vốn kiều hối chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh đã giảm đáng kể so với giai đọan từ 3-5 năm trước đây. Phần lớn người nhận kiều hối gởi tiền vào ngân hàng để lấy lãi, một phần đáng kể khác thì mua vàng tích trữ và  đổ tiền vào bất động sản. Số liệu của tổ chức Western Union cũng cho thấy Việt Nam là một trong top 10 quốc gia nhận nhiều kiều hối nhất trên thế giới. Hiện có khoảng 4 triệu người Việt Nam sống ở nước ngoài, hàng năm chuyển tiền về từ 187 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Có thể nói chính sách thông thoáng, kinh tế cởi mở và nhiều cố gắng cải thiện môi trường, thủ tục hành chính của nhà nước Việt Nam trong mấy thập niên qua trên thực tế đã tạo điều kiện rất lớn cho dòng kiều hối chảy về nước mỗi năm một tăng cao bất chấp khủng hoảng kinh tế thế giới. Việc sử dụng nguồn vốn này tuy còn nhiều điều đáng nói, song cũng đã góp phần không nhỏ ổn định và thúc đẩy kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, ngoài nguồn lực tài chính,  kiều bào Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài còn  một tiềm lực khác có giá trị vô song nhưng chưa được thu hút về nước đúng tầm vóc của nó. Theo các chuyên gia, nguồn lực quan trọng này vẫn còn đang gặp phải nhiều khó khăn trong việc huy động đóng góp cho việc xây dựng và phát triển đất nước một cách hiệu quả hơn do các chính sách bất cập. Đó là nguồn lực chất xám, sức mạnh trí tuệ của hơn 400.000 nhà khoa học, trí thức, chuyên gia người Việt đang làm việc trong các cơ quan nghiên cứu cao cấp của các nước phát triển trên thế giới. Cho đến nay, số lượng trí thức hàng đầu của cộng đồng người Việt ở nước ngoài về nước làm việc trong thời gian qua còn rất khiêm tốn.

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng luật hóa chủ trương thu hút nguồn lực kiều bào về quê hương đóng góp xây dựng, phát triển đất nước trong thời gian qua. Song  trên thực tế cho tới nay theo đánh giá của giới chuyên gia, Việt Nam vẫn chưa có chính sách phù hợp, thực sự có khả năng thu hút nguồn lực chất xám kiều bào. Vẫn còn độ vênh khá lớn giữa môi trường nghiên cứu khoa học, môi trường làm việc tại các quốc gia phát triển và Việt Nam. Đặc biệt với các nhà khoa học hàng đầu thế giới trong các lĩnh vực công nghệ cao, ví dụ như nghiên cứu vũ trụ, nghiên cứu hạt nhân, chế tạo máy bay, y khoa, giáo dục sau đại học… Phần lớn những nhà khoa học có trình độ, năng lực đều đang được các chính phủ, hoặc các tổ chức nghiên cứu danh giá đang trọng dụng. Họ có công việc và môi trường nghiên cứu, làm việc rất tốt để phát triển khả năng sáng tạo của mình.

Ngay cả việc tạo diều kiện, tạo cơ chế để trí thức kiều bào có điều kiện thuận lợi và cơ hội giúp nước trong việc đóng góp chất xám từ xa cho các đề tài, dự án, chính sách phát triển của đất nước cũng còn gặp không ít hạn chế.  Thứ trưởng Bộ Ngoại giao,  Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn cũng từng phàn nàn về việc một số cơ quan nghiên cứu trong nước còn có thái độ chưa cầu thị với trí thức kiều bào. Ông Sơn cho biết, đề án về điện hạt nhân được sự đóng góp ý kiến của rất nhiều chuyên gia kiều bào là các nhà khoa học hang đầu trong lĩnh vực này trên thế giới. Những ý kiến đóng góp đó đã được chuyển tới các cơ quan chức năng để nghiên cứu, đánh giá xem đúng hay không đúng như thế nào. Song hầu như các cơ quan chức năng của Việt Nam đều im lặng, không có sự trả lời nào.

Đặc biệt, cộng đồng người Việt Nam sống ở nước ngoài luôn giữ trong trái tim tình yêu Tổ quốc sâu sắc và đau đáu trước các diễn biến, nguy cơ xâm phạm chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông. Gần đây, nhà nước Việt Nam tổ chức nhiều hội thảo khoa học chuyên đề trong và ngoài nước về tình hình Biển Đông có sự tham gia của nhiều nhà khoa học Việt Kiều trong lĩnh vực này. Đây là một cố gắng đáng kể của chính quyền nhằm minh bạch thông tin Biển Đông đồng thời tìm kiếm sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu về chủ quyền tai khu vực này, trong đó có các nhà nghiên cứu kiều bào. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nhà nước cần tổ chức hẳn các đơn vị nghiên cứu chính thức  tạo điều kiện huy động nguồn lực chất xám trong lĩnh vực này trong cộng đồng người Việt Nam đang sống ở nước ngoài, Trong đó có không ít các chuyên gia giỏi về công pháp quốc tế, có kinh nghiệm về luật pháp liên quan tới vấn đề chủ quyền lãnh thổ,

“Mọi lý thuyết đều một màu xám xịt, chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi”. Chủ trương đúng đắn khi còn nằm trên giấy thì cũng chỉ là một màu xám xịt. Triển khai thực hiện, biến chủ trương thành hành động cụ thể, đúng đắn mới có thể phát huy được hiệu quả của ý tưởng và đạt được các mục tiêu mong muốn. Các chủ trương, chính sách thu hút, huy động được nguồn lực kiều bào cũng cần phải được cụ thể hóa như “cây đời mãi mãi xanh tươi”. Đối với các nhà khoa học, trí thức, ngoài việc cần phải có cơ chế chính sách, luật hóa cụ thể về vai trò, vị thế, điều kiện làm việc còn phải quan tâm đến các giá trị nhân văn. Coi trọng tri thức, coi trọng con người và hướng tới mục tiêu chung xuất phát từ lòng yêu nước chính là các tiền đề cơ bản. Các chủ trương chỉ thoát khỏi màu xám xịt, khi nó không chỉ dừng lại ở mức được luật hóa  mà còn phải phù hợp với thực tế, coi trọng cái tình, cái đạo lý. Đặc biệt là các chính sách, mục tiêu luôn phải hướng tới việc khơi gợi được lòng yêu nước vô bờ bến vốn là truyền thống, máu thịt của mọi người Việt Nam dù đang sinh sống ở bất cừ nơi đâu. Lòng yêu nước luôn gắn kết mọi người Việt dù trong bất cứ tình huống nào, bất cứ thời đại nào. Và đó chính là cội nguồn của sức mạnh đại đoàn kết giúp dân tộc ta vượt qua mọi tình huống hiểm nghèo nhất để tồn tại và phát triển tới ngày nay.

Hữu Nguyên




Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Mọi chính sách phải vì dân

Nếu những người hoạch định chính sách, những người "bấm nút” thông qua chính sách chỉ cần tôn trọng một nguyên tắc đơn giản thì có lẽ chúng ta đã tránh được nhiều tình huống éo le, xa rời thực tế đến đau lòng. Đó là nguyên tắc mọi chính sách phải vì dân, xuất phát từ lợi ích chính đáng của dân và để bảo vệ các quyền hợp pháp của dân.


Ngày cuối năm giáp Tết Ất Mùi, bên cạnh không khí tưng bừng chuẩn bị đón mừng năm mới theo phong tục cổ truyền, người dân TP. Hồ Chí Minh cũng đau lòng chứng kiến những giọt nước mắt buồn của không ít người trồng hoa, bán hoa vì ế ẩm, lỗ vốn. Vì sự thuận tiện cho công tác vệ sinh đô thị mà thành phố này đã đưa ra quy định đóng cửa chợ hoa Tết vào đúng 12 giờ trưa ngày 30 tháng Chạp. Trong khi, rất nhiều người lao động của thành phố lại có thói quen hoặc chỉ có thời gian và khả năng đi chợ Tết vào chiều 30. Theo thông lệ sức mua lúc chiều 30 Tết là rất đáng kể, nhất là với mặt hàng hoa kiểng.

Một quy định chỉ nhìn thấy sự thuận tiện cho bộ máy hành chính, xa rời thực tế, không tính tới lợi ích và tập quán lâu đời của người dân không ít thì nhiều đã vô tình trở thành tác nhân khiến cho nhiều giọt nước mắt buồn đã rơi xuống khi chỉ còn ít giờ nữa thôi cả nước sẽ vui mừng đón Tết cổ truyền của dân tộc. Quyết tâm nhà nhà có Tết, người người có Tết của chính quyền e rằng trong trường hợp này đã khó có thể hoàn thành như mong muốn.

Có lẽ sẽ không ai tranh cãi nếu nói rằng sau gần ba thập niên đổi mới đất nước và người dân Việt Nam đã mạnh hơn, giàu có hơn rất nhiều. Nỗ lực cải cách và ra sức xây dựng một đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh là điều mà không ai có thể phủ nhận đối với Nhà nước Việt Nam hiện nay. Thế nhưng, con đường xây dựng và phát triển đất nước xưa nay luôn đầy chông gai, gập ghềnh. Khi thì phải dồn mọi nguồn lực cho việc bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, lúc thì do các sai lầm về chủ quan, duy ý chí. Tuy vậy, toàn thể dân tộc Việt Nam dù đang sinh sống ở trong hay ngoài nước đều luôn một lòng mong mỏi tới một ngày Việt Nam trở nên hùng mạnh, sánh vai các cường quốc năm châu, người Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích chính đáng có giá trị phổ quát như toàn thể nhân loại văn minh. Một khi chính quyền xem lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền lợi của người dân là hàng đầu trong mọi quyết sách thì khi đó chính quyền luôn nhận được sự ủng hộ, có được sức mạnh của lòng dân.

Lịch sử Việt Nam hàng nghìn năm cho thấy, trong quá khứ ông cha ta đã từng có những giai đoạn phát triển cực thịnh, không chỉ về kinh tế mà cả về văn hóa và quân sự. Đó là những lúc mà chính quyền đương thời coi trọng các giá trị thực tiễn xuất phát từ ý nguyện của lòng dân. Các chính sách, đường lối đều được bàn bạc, cân nhắc, xây dựng trên cơ sở cội rễ lòng dân. Ý dân còn được không ít các nhà lý luận chính trị đương thời coi là ý Trời, trong khi nhà Vua chỉ được coi là con Trời.

Năm 2015 sẽ là năm tổng kết 30 năm đất nước đổi mới và phát triển. Cũng với khoảng thời gian đó, nhiều nước xung quanh ta từ những cuộc chiến điêu tàn, tang thương đã vươn lên thành những con rồng châu Á, trở thành các quốc gia phát triển hàng đầu thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc… Cũng cần phải thấy rằng con đường phát triển không phải lúc nào cũng bằng phẳng, không phải lúc nào cũng chỉ biết có bánh mì. Không thể thiếu hoa hồng kể cả trong những thời kỳ gian khó nhất. Không phải lúc nào cũng chỉ nhăm nhăm con đường phát triển kinh tế mà thiếu đi sự hậu thuẫn vững chắc của một nền tảng văn hóa xã hội tạo nên sự gắn kết con người Việt Nam, làm nên sức mạnh của tinh thần Việt Nam. Cần thiết phải xem xét tới việc xây dựng một xã hội hài hòa trên nền tảng pháp trị và đạo lý để mang lại dân chủ và công bằng cho mọi công dân.

Cải cách mạnh mẽ thể chế kinh tế để tạo ra một giai đoạn phát triển mới chất lượng hơn, bền vững hơn là ưu tiên hàng đầu kể từ năm 2015 của Chính phủ Việt Nam. Song, không thể chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế, nếu nhà chức trách thực sự mong mỏi một giai đoạn mới phát triển bền vững và chất lượng hơn cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Chính vì thế, khi nhìn năm cũ trôi qua, đánh giá lại gần ba thập niên đổi mới, những người có trách nhiệm với tương lai Việt Nam chắc hẳn không thể bỏ sót bất cứ một gam màu nào dù sáng hay tối để có được cái nhìn thực tiễn. Vui mừng với những thành quả đã đạt được, song phải biết đau như những vết dao cắt, kim châm vào tận trong trái tim trước những vệt tối, những gam màu xám đục vẫn còn tồn tại không ít trong bức tranh phát triển. Tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, làm ăn gian dối, lãng phí của công, bệnh thành tích, tư duy nhiệm kỳ, lợi ích nhóm, tệ nạn xã hội, những hành vi thách thức pháp luật, thách thức Nhà nước… và cả những hành vi đe dọa chủ quyền đất nước, phải luôn là điều mà những người có trách nhiệm với tương lai Việt Nam không thể bàng quan.

Có thể biện minh cho các nhà hoạch định chính sách rằng không ai, không tổ chức nào có khả năng nhìn ra hết tất cả các ngóc ngách của cuộc sống để rồi có thể quy hoạch nó đầy đủ và cặn kẽ cho mọi trường hợp, mọi tình huống trong thực tế. Thế nhưng, nếu những người hoạch định chính sách, những người "bấm nút” thông qua chính sách chỉ cần tôn trọng một nguyên tắc đơn giản sau đây thì có lẽ chúng ta đã tránh được nhiều tình huống éo le, xa rời thực tế: Đó là nguyên tắc mọi chính sách phải vì dân, xuất phát từ lợi ích chính đáng của dân và để bảo vệ các quyền hợp pháp của dân.

Hữu Nguyên

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Tư lộn cái lềnh

Trên thời sự VTV cách đây mấy hôm, cô phóng viên phỏng vấn ông bộ trưởng Bộ Giáo Dục, gọi ông này là Tư Lệnh. Cô còn nhắc đến một lần chính ông bộ trưởng phát biểu rằng “cải cách giáo dục là trận đánh lớn”.
Bộ trưởng Bộ Giao Thông cũng hay được gọi là Tư Lệnh.
Thời bình mà cứ như thời loạn, sắp đánh nhau đến nơi. Vậy mà cứ đòi tiến lên xã hội dân sự.
Việc sử dụng danh từ quân sự trong ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ chính trị thời sự có cái gì đó rất bệnh hoạn và có tác hại xã hội rất lớn (với ngôn ngữ kinh doanh, hoặc thể thao thì tạm được vì nó có tính đối kháng, cạnh tranh).
Căn nguyên của việc sử dụng từ quân sự trong đời thường không chỉ là tàn dư của hai cuộc chiến tranh mà là di sản chính trị của rất nhiều thế kỷ.
Từ thời Lê, hoặc ít nhất (và rõ nét nhất) là  từ thời Trịnh –Nguyễn cho tới gần đây nước Việt Nam luôn sống dưới một nhà nước độc tài (phong kiến hoặc ĐCS) và được một chính phủ quân sự vận hành. Trên là một ông vua, dưới là chính quyền quân sự do hai chúa Trịnh Nguyễn nắm ở hai đàng. Thời Quang Trung (ngoài bắc) và Thái Đức (trong nam) thì toàn tướng lĩnh nắm quyền. Thời hiện đại, Việt Nam mới manh nha phi quân sự chính quyền rất gần đây (khoảng 30 năm),bắt đầu từ những năm hậu chiến thời Lê Duẩn (lưu ý: phi chính trị quân đội và phi quân sự chính phủ là hai mặt để giải quyết cùng một vấn đề). Nhân nói đến ông Ba Duẩn, nhận thấy nước ta có Ba anh Ba.
Anh Paul Ba đi xuất khẩu lao động bằng nghề rửa bát, sau qua Châu Âu thấy làm nghề  lao động không ăn thua, anh bèn làm cách mạng. Anh Ba Duẩn cũng làm cách mạng, đánh Mỹ rồi đánh Tàu rất ác. Anh Ba Duẩn làm nhiều rất điều kỳ thú,động cơ đằng sau thì không rõ, nhưng kết quả rất đặc biệt và có ý nghĩa lâu dài với quốc dân.Ví dụ nhờ chính sách của anh Ba Duẩn mà nước VN là nước hiếm hoi trong khu vực mà người Hoa không gây được ảnh hưởng kinh tế gì. Hoặc không biết vì lý do gì mà anh Ba Duẩn và anh Sáu Búa cho phe quân đội re kèn, khiến cho VN thành chính quyền phi quân sự rất sớm, sớm hơn các nước độc tài quân sự như ở Mỹ Latin, Hàn Quốc, Myanmar, Indonesia … (thử nghĩ anh Ba mà tự phong cho mình chức thống chế xem sao). Anh Ba thứ ba là anh Ba giải phương trình. Anh Ba này ngày càng tỏa sáng, số lượng fan của anh đang tăng với tốc độ chóng mặt.
Vì sống quá lâu, hàng trăm năm, dưới chính quyền quân sự nên tâm lý nhân dân và cách hành xử luôn có xu hướng sùng bái bạo lực. Ngày xưa các vị sĩ phu và phong trào cần vương của họ, dù giương ngọn cờ yêu nước (tức là cần đoàn kết các lực lượng) nhưng vẫn sử dụng bạo lực để giải quyết những người yêu nước mà khác chính kiến với mình. Đặc biệt là với những người khác tôn giáo. Di sản tồi tệ lan qua các đảng phái chính trị chống Pháp, rồi kéo dài đến tận bây giờ. Một ví dụ là Nguyễn Phương Thảo bị các đồng chí trong đảng của mình (QDĐ) ám sát trong tù, thoát chết, chột một mắt, ra tù qua Việt Minh trở thành Nguyễn Bình, rồi trở thành ông tổ của các hoạt động đánh mìn trong nội đô Sài Gòn, tiền thân của biệt động Sài Gòn sau này
Cho đến thế kỷ 21 này, ngay ở nơi công cộng người Việt vẫn hồn nhiên xửng cồ với nhau, thậm chí với thái độ rất thô bạo, khi tranh luận hoặc tranh chấp với nhau. Thậm chí các lời đe dọa kiểu “Mày thích chết à?” vẫn được xã hội chấp nhận một cách rất bình thường. Trong khi ở một xã hội khác văn minh hơn thì đe dọa như vậy có thể dẫn nhau đến tòa án. Những lời đe dọa có bề ngoài hoa mỹ hơn kiểu như “Tôi sẽ đưa việc này lên báo” cũng có thể đưa người đe dọa vào vòng lao lí.
Nhưng thế vẫn chưa ăn thua. Ở Việt Nam người ta còn lên báo dọa “trảm” nhau.
Ông bộ trưởng giao thông là người rất hay dọa “trảm” tướng ở trên báo. Chắc chỉ có ở Việt Nam mới có kiểu chính trị gia lên báo dọa “chém” người khác từ năm này qua năm khác như thế. Ở một xã hội nào đó hiền lành hơn, chắc dân chúng thấy một ông bộ trưởng phát ngôn khát máu như vậy họ phải phát khiếp. Ở Việt Nam thì lại quần chúng mê tít. Tại sao quần chúng lại thích một phong cách lãnh đạo đậm chất đe dọa và bạo lực như vậy? Tại sao các lãnh đạo chính trị hoàn toàn dân sự lại thích “phong” mình thành thống chế rồi coi nhân viên dưới quyền mình như tiểu tướng và dọa “chém” suốt ngày. Cấp dưới có phải con lợn làng Ném Thượng đâu?
Chị phóng viên gọi bộ trưởng là tư lệnh, anh bộ trưởng dọa trảm tướng cấp dưới, mấy ngàn người đánh nhau trong tết phải nhập viện, cả làng xúm nhau đánh chết trộm chó … là các hành vi khác nhau nhưng có chung bản chất: sùng bái bạo lực, thích dùng bạo lực để giải quyết nhanh gọn vấn đề. Tâm lý ấy kéo dài hàng nhiều thế kỷ, lại càng trầm trọng hơn trong những năm gần đây khi nhân cách của văn hóa bình dân bị xuống cấp. Nhân cách của văn hóa bình dân ở Việt Nam, về cơ bản đã bị bào mòn sau hai cuộc chiến tranh và gần như mất hẳn sau những năm đổi mới hỗn loạn và man rợ. Hầu hết người Việt bây giờ là bình dân, và thẳng thắn mà nói là không thể chữa được căn bệnh tâm lý mọi rợ sùng bái bạo lực này. Không thể cứu được xã hội này nữa rồi.
Mình không cứu được mình, những phải cứu các thế hệ sau, không để  con cháu của chúng ta bị nhiễm căn bệnh ưa bạo lực kinh niên này chứ?
Việc đầu tiên và dễ thực hiện nhất, là chấm dứt việc sử  dụng các từ quân sự trong đời thường. Cách chức thì nói là cách chức, chứ trảm cái gì mà trảm. Bộ trưởng thì gọi là bộ trưởng, sao mà phải tư lệnh ngành, có mà tư lộn cái lềnh.
Sau là phải bắt chước Kant (cho tí triết vào cho sang). Ông này ngày xưa chống siêu hình giáo điều bằng cách viết cuốn sách danh tiếng nhưng không ai hiểu là “Phê phán lý tính suông”. Nay chúng ta cũng phải chống lại các kiểu học tập tấm gương đạo đức suông, học tập tư tưởng suông mà truyền thông nhà nước ra rả mấy năm nay. Học tấm gương đạo đức và tư tưởng để rồi cả xã hội cứ hơi tí là chửi bới nhau rồi nhảy tỉn nhau, thì học làm cái gì.
Công sức hô hào học tập với noi gương, nên dành ra để cố gắng dân sự hóa cái xã hội này. Dân sự hóa xã hội Việt Nam là cái duy nhất chúng ta có thể đi tắt (nhưng không đón đầu).
Muốn sánh vai cùng các cường quốc dân sự năm châu, việc đầu tiên phải dân sự hóa xã hội mình cái đã.

“Nhà nước kiến tạo” có trách nhiệm phục vụ dân

Không đổi mới được tư duy cán bộ thì không thể thay đổi hiện trạng của nền kinh tế. Cải cách thể chế cuối cùng phải trở về điểm khởi đầu là đổi mới con người. Không phải vô tình mà ngay từ những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng từ "công bộc” khi nói về thái độ, trách nhiệm của cán bộ công chức nhà nước đối với dân. Đó chính là tuyên ngôn rõ ràng nhất về sự công nhận quyền lực nhà nước thuộc về người dân.

Năm 2008, Việt Nam đạt mức thu nhập bình quân đầu người trên 1.000 USD, trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới. Ngay sau đó, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu bộc lộ những dầu hiệu tiêu biểu của  "bẫy thu nhập trung bình”, như:  tăng trưởng chậm; năng suất kém; chuyển dịch cơ cấu chỉ mang tính hình thức;  trì trệ trong các chỉ số xếp hạng toàn cầu; và các mặt trái nảy sinh do tăng trưởng như vấn nạn tham nhũng, môi trường… Tuy nhiên, theo các chuyên gia hãy còn quá sớm để kết luận Việt Nam đã dính "bẫy thu nhập trung bình”. Nếu hiểu bẫy thu nhập trung bình là tình trạng một quốc gia không thể thoát khỏi thu nhập trung bình để tiến lên mức thu nhập cao trong một thời gian dài.

Mặc dù vậy, nguy cơ dính bẫy thu nhập trung bình cũng là một lời cảnh báo cần thiết để các nhà chức trách Việt Nam có các động thái tích cực phòng tránh một cách hữu hiệu trước khi quá muộn. Bởi có một thực tế mà ai cũng thấy, sau gần 30 năm đổi mới, so với bản thân trong quá khứ thì kinh tế Việt Nam tiến rất xa, nhưng so với khu vực và nhiều nước trên thế giới thì họ đã tiến nhanh hơn ta gấp nhiều lần. Nhận định về tình trạng này của đất nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời phỏng vấn báo chí đầu năm 2015 cho biết: "Những hạn chế, yếu kém trên đây đã được Đảng, Nhà nước chỉ ra nhiều lần và đã có chủ trương giải quyết… Vấn đề ở đây là việc khắc phục có phần quá chậm chạp”. Từ nhận nhận định trên, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh giải pháp trước hết là vấn đề nhận thức của các cấp, các ngành. Phải nhìn thẳng vào sự thật, thực sự đối mặt với thách thức đang cản trở sự phát triển, phải có quyết tâm cao, xem đây là vấn đề sống còn phải vượt qua, phải nhanh chóng khắc phục cho được mọi cản trở chủ quan trên con đường phát triển đất nước. Từ kinh nghiệm thành bại của nhiều nước trên thế giới, Chủ tịch nước khẳng định: "Có thể thấy hai yếu tố nổi trội mà ta phải rất lưu tâm là thể chế kinh tế và con người”.

Các thông điệp từ Chính phủ Việt Nam gần đây cho thấy cải cách thể chế kinh tế phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, trọng tâm của cả bộ máy này từ trung ương tới địa phương. Ngay từ Thông điệp đầu năm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ rõ: "Để phát huy tốt nhất quyền làm chủ của Nhân dân, Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển. Nhà nước không làm thay dân mà phải tập trung xây dựng khuôn khổ thể chế phù hợp và tạo điều kiện cần thiết để mọi người phát huy năng lực và sức sáng tạo vì lợi ích của chính mình và đóng góp cho xã hội. Chỉ khi dân giàu thì nước mới mạnh. Xã hội hóa không chỉ để huy động các nguồn lực mà còn tạo điều kiện cho xã hội thực hiện những chức năng, những công việc mà xã hội có thể làm tốt hơn”.

Khái niệm "Nhà nước kiến tạo” thực ra không phải mới lạ với các nhà nghiên cứu cũng như với nhiều mô hình nhà nước của các quốc gia phát triển trên thế giới hiện nay. Các nghiên cứu thực tiễn đã chỉ ra có những nguyên tắc và dấu hiệu đặc trưng để nhận ra mô hình Nhà nước kiến tạo. Theo đó, Nhà nước kiến tạo dựa trên một thể chế chính trị trong đó quyền lực không bị tập trung vào một bộ phận của Nhà nước mà có sự phân tán và cân bằng tương đối. Nhà nước kiến tạo đảm bảo cho các cá nhân, tổ chức có thể tham gia vào quy trình sản xuất kinh doanh một cách công bằng mà không bị ảnh hưởng bởi các rào cản chính sách và độc quyền. Nhà nước kiến tạo cũng đảm bảo cho việc phân phối một cách tương đối công bằng những thành quả của phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và hiện thực hóa cơ chế để cho người dân có thể giám sát chính quyền thông qua việc tăng cường sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Trong những năm gần đây rất nhiều văn bản pháp luật, không ít đề án cải cách, nghiên cứu khoa học và hội thảo được ban hành và tổ chức có liên quan tới lĩnh vực đổi mới thể chế kinh tế, thể hiện ý chí và quyết tâm thay đổi mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, có một điều quan trọng cần phải có sự thay đổi ngay lập tức, theo các chuyên gia đó là tư duy của các nhà chức trách có liên quan tới việc vận hành thể chế. Có không ít trường hợp luật xây dựng rất cởi mở thông thoáng, nhưng văn bản hướng dẫn dưới luật thì lại thắt chặt, gây khó dễ cho người dân. Chưa kể, không loại trừ những trường hợp vì lợi ích riêng tư các cán bộ thực thi lạm dụng quyền hạn, sự mập mờ của văn bản luật mà đòi hỏi, nhũng nhiễu người dân. Do vậy, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Bùi Quang Vinh, "cần phải chấm dứt tư duy làm quản lý là tôi có quyền quản anh và tôi có quyền yêu cầu anh mọi điều. Phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, vì doanh nghiệp, vì người dân vì họ là những người đóng thuế. Bộ máy quản lý có trách nhiệm phải tạo điều kiện thuận lợi nhất làm sao cho họ hài lòng nhất”.

Rõ ràng, không đổi mới được tư duy cán bộ thì không thể thay đổi hiện trạng của nền kinh tế và cải cách thể chế cuối cùng phải trở về điểm khởi đầu là đổi mới con người. Không phải vô tình mà ngay từ những ngày đầu của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng từ "công bộc” khi nói về thái độ, trách nhiệm của cán bộ công chức nhà nước đối với dân. Đó chính là tuyên ngôn rõ ràng nhất về sự công nhận quyền lực cao nhất trong xã hội thuộc về người dân. Từ tư tưởng nền tảng này, việc tổ chức, hoạt động của chính quyền, trách nhiệm, quyền hạn của cán bộ công chức phải được thể chế hóa trên tinh thần phục vụ những người  chủ đích thực của đất nước, những người xây dựng nên chính quyền nhân dân, đóng thuế và nuôi dưỡng chính quyền này vận hành vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Hữu Nguyên
Nguồn báo Đại Đoàn Kết

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Con đường của Rồng

Gần đây có ba event liên tiếp ở Sài Gòn. Có một điểm thú vị là các event này (do IPL, Trung nguyên và Trung ương Đoàn tổ chức) đều có các chủ đề khá lớn lao: Đánh thức con rồng ngủ quên, Châu chấu đá voi, Nhân hiệu Việt… Diễn giả ở các event này là những người Việt khá nổi tiếng, từ nước ngoài về như Vũ Minh Khương, Giáp Văn Dương, giới nghệ sỹ như Dương Thụ, Quốc Trung, giới kinh doanh như Võ Quốc Thắng, Đặng Lê Nguyên Vũ, giới kinh tế như Trần Đình Thiên, Võ Đại Lược, các học giả như Bùi Văn, Hồ Ngọc Đại, Tôn Thất Khiêm …
Thực sự, có vẻ như nhiều người, ở nhiều thế hệ khác nhau, ở các nhóm xã hội khác nhau, đang xoay xở tìm tòi sự đột phá, hay một lối thoát ra để vươn lên, không chỉ cho cá nhân mình, mà còn cho cả một thế hệ, cả đất nước.
Trong các sự kiện này họ tổ chức rất nhiều các cuộc trao đổi, đối thoại, chia sẻ kinh nghiệm, nhưng suốt mấy buổi kiên nhẫn ngồi theo dõi, vẫn chưa thấy ai đặt ra được các câu hỏi cốt lõi.
Khó mà biết câu hỏi nào là câu hỏi cốt lõi, tuy nhiên nếu nhìn sâu vào thực trạng xã hội hiện nay, nhìn vào thực trạng của các xã hội tương tự trong quá khứ, cũng sẽ nảy ra những câu hỏi mà câu trả lời cần rất nhiều suy nghĩ. Sau đây có thể là một số câu.
Đầu tiên câu hỏi về niềm tin, về tương lai phía trước của đất nước: Liệu Việt Nam có thực sự trở thành Rồng?  Hay không thể nào thành Rồng? Nếu niềm tin là Việt Nam sẽ hóa rồng, thì cách nghĩ và cách làm sẽ khác, nếu niềm tin là không thể hóa rồng, sẽ phải nghĩ hướng khác, làm cách khác.
Để biết Việt Nam có trở thành Rồng hay không, việc đầu tiên là phải quay lại để nhìn về lịch sử, xem chúng ta có thực sự mang trong mình dòng máu của Rồng hay không? Và quan trọng hơn, để nhìn vào quá khứ, đã có giai đoạn lịch sử nào chúng ta mang hình bóng của một chú Rồng con?
Câu hỏi tiếp theo, là hàng triệu người Việt Nam hiện có lý tưởng, chí hướng gì chung không? Lý tưởng ở đây không phải là lý tưởng có nguồn gốc từ một chủ nghĩa hay triết thuyết nào đó, là những thứ trong suốt lịch sử của mình, cho đến đến tận ngày nay chúng ta vẫn phải đi vay mượn. Phần nhiều những người cùng chí hướng (đồng chí) đi theo những lý tưởng ấy, cho đến nay cũng không còn tin vào lý tưởng mà họ đã từng tin, không còn tin vào đồng chí của mình, tức là gọi là “đồng chí” mà lại không cùng chí hướng.
Dù Niềm Tin là Việt Nam sẽ hóa rồng, hay Niềm Tin là Việt Nam sẽ chỉ có số phận làng nhàng giun dế, thì để cứu vớt cái xã hội đang phân rã cao độ này rồi đưa đất nước đi đúng con đường mà nó cần phải đi, để thoát khỏi vũng lầy tăm tối, thì vẫn cần một hoặc nhiều lý tưởng, một hoặc vài chí hướng. Những lý tưởng và chí hướng ấy phải có cùng: gốc rễ từ chính dân tộc mình và hướng về phía trước là phát triển đất nước. Có cái chung như vậy thì nỗ lực của mỗi người, dù theo đuổi lý tưởng nào, chí hướng nào, sẽ đều góp phần phụng sự đất nước.
Một câu hỏi nữa, về sự chuyển giao liên tục giữa các thế hệ, đặc biệt là giữa các thế hệ lãnh đạo. Bất cứ một sự gián đoạn nào, dù là gián đoạn giữa các thế hệ doanh nhân, tri thức, hay gián đoạn giữa các thế hệ lãnh đạo, đều gây ra sự phân rã xã hội. Đặc biệt là sự gián đoạn lãnh đạo đất nước, sẽ tàn phá di sản quá khứ, làm thất truyền kinh nghiệm dựng nước, làm vỡ nát nền tảng văn hóa và luân lý của xã hội, dẫn đến xã hội không chỉ phân rã mà có thể sụp đổ từ vật chất đến đạo đức, lối sống.
Một câu hỏi cũng nên đặt ra, không phải là làm thế nào để trở thành Rồng, mà phải định nghĩa Rồng là gì rồi từ đó mới biết cách để trở thành Rồng.
Cuối cùng là câu hỏi về cơ hội. Liệu có cơ hội nào để Việt Nam trở thành rồng hay không. Cơ hội ấy không tự ta tạo ra, mà phụ thuộc vào hoàn cảnh thế giới. Nhưng nắm lấy cơ hội, lại là một việc chúng ta phải chủ động.
Bắt đầu từ câu hỏi: Quốc gia Rồng là một quốc gia như thế nào?
Làm Rồng phải chăng là khè lửa dọa dẫm bắt nạt các nước láng giềng, hay là đánh nhau tay bo thắng vài cường quốc? Làm Rồng phải chăng là có thể đánh đu ngang hàng với các quốc gia phát triển? Hay là làm rồng tức là có những doanh nghiệp lớn vươn  ra thế giới? Làm rồng có lẽ nào chỉ cần có những tầng lớp ăn trên ngồi chốc giàu có ngang ngửa với giới elite tư bản hàng đầu khu vực hoặc thế giới?
Làm Rồng, thực ra hiền lành hơn nhiều. Một quốc gia hóa rồng là một quốc gia hội nhập và có đóng góp cho văn minh nhân loại. Một quốc gia có đóng góp cho văn minh nhân loại, thì tự khắc sẽ có vị thế và được thế giới chia cho phần lợi lớn. Như Anh-Mỹ mấy trăm năm nay, như Nhật cả trăm năm nay. Và như Hàn Quốc rất gần đây. Một quốc gia chỉ thụ hưởng hay vay mượn của văn minh nhân loại, thì phần của cải mà nó được thế giới chia cho, sẽ chỉ là canh thừa cơm cặn, quá lắm là chỉ đủ thoát chết đói, thoát nghèo hay giàu xổi. Còn lâu mới đạt đến đẳng cấp thịnh vượng bền vững. Ở những quốc gia vay mượn, có rất nhiều trên thế giới này, chỉ có một lớp người giàu có nhờ lèo lái đặc quyền để kiếm ăn trên lưng đồng bào hoặc tài nguyên của đất nước.
Đấy mới là điều kiện đủ để được coi là Rồng.
Điều kiện cần chính là Độc Lập, Thống Nhất bờ cõi và có chung Một Ngôn Ngữ.
Một con rồng chỉ là con Rồng khi nó thực sự làm chủ được vận mệnh của mình và có giang sơn của riêng nó. Một đất nước muốn hóa rồng, đầu tiên cần phải là một quốc gia, có chủ quyền, và nhân dân của quốc gia ấy có những người lãnh đạo của chính mình.
Với những điều kiện như vậy thì mầm mống của nước Việt Nam hiện nay mới thực sự hiện hữu, hay nói cách khác là con rồng sơ sinh xuất hiện trên mảnh đất chữ S này, chỉ hơn 10 thế kỷ. Đó là khi Khúc Thừa Dụ khéo léo đưa nước ta thoát khỏi 1000 năm bắc thuộc. Một ngàn năm là quãng thời gian rất dài. Dài đến mức khi nước ta thoát khỏi sự kiểm soát của người Hán phương Bắc thì kể từ đấy lãnh đạo đất nước Tàu luôn coi nước chúng ta là mảnh đất ly khai. Kể từ bấy đến nay, họ đã mang quân toan cướp nước ta khoảng 9 lần. Trong đó đáng kể nhất có thời kỳ bắc thuộc lần IV và người giải phóng đất nước lần đấy là Lê Lợi, đã mở ra một kỷ nguyên lớn cho dân tộc, đất nước. Những lần cướp nước khác, không tính Nguyên Mông, thì trận thua tơi bời của nhà Thanh trước quân Tây Sơn, cũng gây ra biến động lớn cho xã hội  và chỉ hơn 10 năm sau chiến thắng Đống Đa, Việt Nam hiện hình thực sự là một con rồng nhỏ trong khu vực.
Ở thời điểm sơ sinh của nước Việt, sau khi Khúc Thừa Dụ khéo léo đỡ đầu cho rồng ra đời, thì Ngô Quyền chính là vị vua phục quốc đầu tiên. Sau chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền không chỉ chính thức tái thành lập nước Âu Lạc mà còn dựng nên hoàng gia đầu tiên, tức là những người lãnh đạo thực sự của đất nước, tức là Nhà Ngô.
Đây cũng là thời kỳ nước Việt thoát khỏi Trung Hoa mạnh mẽ nhất. Nếu như  sự phát triển thần kỳ của Nhật Bảnsuốt 100 năm qua vẫn được coi là do họ Thoát Á Nhập Âu (Thoát Á Luận, rời bỏ văn minh Châu Á, ảnh hưởng mạnh của Trung Hoa, để thu nhập văn minh Châu Âu), thì trong lịch sử Việt Nam chỉ có một lần duy nhất là Ngô Quyền thoát khỏi cái bóng Trung Hoa. Điều kỳ quặc là sau rất nhiều lần biến động lịch sử, mỗi lần đất nước sang trang mới, thì chính quyền Đại Việt/Đại Nam có xu hướng ngả về mô hình Trung Hoa và thần phục (ít nhất là trên mặt ngoại giao) cái nước này. Chỉ có hai lần hiếm hoi có dự định bật lại thiên triều mà bất thành, một là Lý Thường Kiệt, hai là Quang Trung. Cũng có thể tính thêm thời TBT Lê Duẩn.
Con rồng Việt sơ sinh bắt đầu lớn, rất chậm nhưng chắc chắn. Khi nhà Lý dời đô về Thăng Long, con rồng ấy bắt đầu chuyển mình. Từ thế kỷ 11 (nhà Lý) đến thế kỷ 15 (nhà Lê), nước Việt non trẻ ấy đã trở thành Đại Việt, liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh trong 400 năm để mở rộng bờ cõi gần gấp đôi (từ Thanh Hóa, xuốngphía Nam). Thời nhà Lý bắt đầu mở cõi vào Quảng Trị. Đến thời của ông vua tài năng nhất lịch sử Việt Nam, Lê Thánh Tông, nước Việt đã mở rộng đất đến tận Phú Yên. Lê Thánh Tông không chỉ xây dựng một đất nước có kỷ cương, luật pháp, văn hóa phát triển mà còn cải cách quân đội cực giỏi, đích thân cầm quân đi chinh phạt các vương quốc xung quanh, chiếm đất, mở mang bờ cõi.
Sự liền mạch của các gia tộc lãnh đạo, hay còn gọi là Hoàng Gia, kéo dài liên tục trong quãng thời gian gần 8 thế kỷ , có lúc thịnh lúc suy, nhưng về cơ bản là đất nước phát triển cả về văn hóa, kinh tế và đặc biệt là mở rộng diện tích đất nước.
Sự bội phản của họ Mạc với nhà Lê là biến cố đầu tiên gây ra các biến loạn xã hội lớn lao sau này, có ảnh hưởng sâu đậm đến tận ngày nay. Nhưng cũng qua cơn biến loạn ấy mà con rồng thiếu nhi Đại Việt chuyển mình trở thành con rồng thiếu niên Đại Nam dưới thời vuaMinh Mạng. Sự chuyển mình qua biến loạn ấy, có lẽ cũng sẽ lặp lại trong tương lai gần.
Gia đình họ Trịnh, hiểu rõ giá trị của việc liền mạch của lãnh đạo đất nước, sau khi dẹp nhà Mạc tuy đủ sức lật nhà Lê, họ Trịnh vẫn nép mình đứng sau một bước. Nhờ thế mà Nhà Lê tồn tại thêm cả hai trăm năm mà nhà Trịnh thực chất nắm kinh tế và quân sự điều hành cả nước. Cũng nhờ nấp sau bóng của Nhà Lê mà gia đình Trịnh phần nào đó thoát khỏi thể chế nhà nước phong kiếnTrung Hoa mà các triều đình phong kiến Việt kiên trì nhắm mắt sao chép suốt hàng trăm năm trước đó.
Khi Tây Sơn tiến quân vào Thăng Long, không chỉ dinh thự nguy nga của Trịnh Sâm bị đốt tan hoang, gia tài văn hóa bỗng dưng bị xóa sổ, gia đình Trịnh bị tận diệt mà cả kho kiến thức và kinh nghiệm trị quốc của nhà Trịnh tan thành mây khói. Để lại một xã hội miền bắc thời Mạt Lê thật điêu tàn, một xã hội là bản sao mờ nhạt của Trung Hoa, một bản sao với người dân kém cỏi hơn, xấu xí hơn, cay nghiệt hơn.
Kinh nghiệm trị nước, dựng nước, xây dựng quân đội, kinh thương của nhà Trịnh là sự kế thừa của nhiều trăm năm trước, kể từ thời Ngô Quyền, cộng với trải nghiệm hai trăm năm phò Lê của họ. Kho kinh nghiệm ấy bỗng dưng một ngày biến mất trong tao loạn. Trong những kinh nghiệm trị nước bị mất đi, đáng tiếc nhất là những bài học “thoát khỏi hệ tư tưởng Trung Hoa, tức là Thoát Á”.
Tài năng trị nước, nấp đằng sau bóng hoàng gia Lê, của họ Trịnh cũng không được ai nhìn nhận. Ngay cả ông chúa Trịnh Sâm, người làm tan nát dòng họ của mình, ở những lúc xuất thần vẫn cử tướng cầm quân vào Nam, vô tình gây ra biến cố lớn lao ảnh hưởng sâu sắc đến nước Việt Nam hiện đại sau này.
Một bài học lớn về sự thủ tiêu thế hệ lãnh đạo và di sản của họ, khiến cho kiến thức và kinh nghiệm trị nước và dựng nước bị thất truyền, vậy mà không ai chịu nhìn nhận để sau này lặp lại đến mấy lần. Mới  chỉ  vài chục năm trước đây, vẫn còn lặp lại.
Giai đoạn gia đình họ Trịnh bị tiêu diệt cũng là thời kỳ mà người Việt giết chóc nhau thảm khốc. Quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, kiêu binh Thanh Nghệ của chúa Trịnh bỏ trốn về quê, trên đường về phải giả câm, mở miệng ra nói giọng Thanh Nghệ là bị dân địa phương giết. Sau này đến lượt vua quan nhà Tây Sơn bị quân Nguyễn Ánh quây, rút chạy đến Nông Cống Thanh Hóa, lại bị dân ở đây bắt trói đem nộp. Dấu ấn kỳ thị vùng miền và chà đạp lẫn nhau, dù cùng là người Việt, đã bắt đầu xuất hiện và đi sâu vào gene của người Việt như một thứ gene cừu hận (feud), không ai chịu chữa mà còn làm cho nó nặng thêm.
Di sản trị quốc, dựng nước, di sản văn hóa đỉnh cao … của những người Việt đồng bằng bắc bộ, tích lũy hàng mấy trăm năm, kể từ thời Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng (938) đến thời Trịnh Sâm (1787)  bị xóa sạch trơn bởi cơn cuồng phong nội chiến kéo dài 30 năm mà Tây Sơn là kẻ chiến thắng.
Thế nhưng cái may mắn là nhà Trịnh (Trịnh Kiểm) nổi lên mà nhà Nguyễn (Nguyễn Hoàng con trai của Nguyễn Kim) phải đối kháng đến mức phải bỏ xứ mà đi. Cái phần đất mà suốt mấy trăm năm người Việt chiến đấu để mở rộng, lúc đó mới chỉ đến Phú Yên, là bàn đạp để chúa Nguyễn mở mang bờ cõi vào đến đất Đồng Nai rồi mở qua miền tây đến tận Cà Mau, mở rộng bờ cõi lên gấp ba, so với những năm nước Việt sơ sinh đầu nhà Lý.
Cái may mắn thứ hai  là trước khi suy tàn, Trịnh Sâm cầm quân đánh vào đất Thuận Hóa của Chúa Nguyễn. Làm sụp đổ dòng họ này và làm quân Tây Sơn mạnh lên, hùa với quân Trịnh mà truy sát quân Nguyễn. Nhờ đấy mà đẩy chúa Nguyễn đi qua đất Tiền Giang, Bassac rồi xuống tận Cà Mau.
Nhờ quá trình Nam tiến ấy mà kinh nghiệm mở cõi, trị nước, kinh thương và xây dựng quân đội của người Việt  không bị mất đi. Và còn hơn thế, kiến thức và kinh nghiệm trị nước của các chúa Nguyễn lại được áp dụng trên những vùng đất xưa kia thuộc về các vương quốc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, thay vì Trung Hoa. Đó là Chàm, Khmer. Hay những vùng đất mới chịu ảnh hưởng khai phá của những người Hoa ưu tú, ly khai kháng chiến, phản Thanh phục Minh ở phía cực nam của vùng đất hình chữ S.
Tây Sơn diệt được Trịnh mà không diệt được Nguyễn. Quang Trung đánh thắng mọi kẻ thù cả nội lẫn ngoại xâm. Về cơ bản có công lớn thống nhất bờ cõi. Nhưng lại để xổng một kẻ duy nhất dòng dõi hoàng gia là Nguyễn Ánh. Sau này Nguyễn Ánh quay lại không chỉ diệt nhà Tây Sơn, củng cố lại giang sơn bờ cõi mà còn đem di sản kinh nghiệm lãnh đạo mấy trăm năm để lãnh đạo một nước Việt mới mà ông đặt tên là Việt Nam, lên ngôi lấy tên Gia Long (Gia Định + Thăng Long).
Nguyễn Ánh lên ngôi rồi sau này là Minh Mạng nối ngôi, hai vị vua lừng danh này mang kinh nghiệm dựng nước của cha ông mình vào việc thống nhất hệ thống chính trị và quân đội, kinh tế cho cả ba miền. Đây là một bước tiến lớn so với thời Quang Trung, ba miền cát cứ ba vương, quân đội riêng, ngân sách riêng. Việc quyền lực và nguồn lực, đặc biệt là kinh tế và quân sự thu về một mối khiến cho Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn các nước xung quanh (vốn yếu kém hơn hẳn về thể chế/nhà nước, quân sự,  nông nghiệp và ngoại thương). Các khu vực chư hầu phía nam bị bắt sát nhập vào nước Việt Nam (đến thời Minh Mạng đổi thành Đại Nam), các vùng đất tự chủ của người Hoa cũng bị sát nhập. Bờ cõi phía nam mở rộng tối đa về tây nam bộ và kéo dài đến tận biển cực nam của tổ quốc.
Đó là lúc rồng non trở thành thiếu niên.
Đó cũng là thời kỳ Việt Nam có bờ cõi rộng nhất (rộng hơn cả bây giờ)
Đó cũng là thời kỳ Việt Nam được các nước xung quanh kinh sợ nhất. Nhà Thanh, quân Xiêm sợ chết khiếp từ thời Tây Sơn. Miến Điện chỉ chứng kiến vài lần xuất quân của Tây Sơn ở Lào mà còn phát hãi. Vua Khmer (Chân Lạp) và Lào thần phục Việt Nam mà chịu làm chư hầu.
Đại Nam cũng là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên mà Mỹ để ý đến và Tổng thống Mỹ cử người mang thư đến đặt quan hệ giao thương.
Có độc lập tự chủ rồi, điều kiện cần để thành con Rồng đã có. Nhưng điều kiện đủ, là phải hòa mình vào thế giới, thì tiếc thay lãnh đạo của Đế quốc Đại Nam ấy đã tự mình để mất.
Các nhà lãnh đạo của con Rồng thiếu niên ấy, đã quá tự tin vào sức mạnh của đất nước mình, quá tự tin vào tài năng và kiến thức lãnh đạo của mình, quá sùng bái mô hình nhà nước phong kiến và thể chế cai trị của nó, đã đóng cánh cửa không cho con rồng thiếu niên tiếp cận với thế giới phương tây. Cơ hội rất lớn để con rồng thiếu niên Việt Nam quẫy mình thành con rồng trưởng thành, đã bị bỏ lỡ một cách cực kỳ đáng tiếc.
Những nhà lãnh đạo ấy là Vua Minh Mạng và các hậu duệ của ông ta.
Minh Mạng là vị vua tài giỏi có nhiều cải cách mạnh mẽ. Ông cải cách hành chính để cai trị, cải cách quân đội, cải cách chế độ làm quan (chấm dứt cha truyền con nối, luân chuyển quan chức). Cải cách giáo dục, thi cử, bổ nhiệm quan chức.
Minh Mạng cũng là người bỏ tên nước Việt Nam và thay bằng Đại Nam (1820). Cái tên Việt Nam biến mất hơn một thế kỷ cho đến năm 1927 mới xuất hiện trở lại nhờ Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông sử dụng tên Việt Nam để đặt tên cho  đảng của mình là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau khởi nghĩa Yên Bái, Nguyễn Thái Học và các đồng chí của mình bị Pháp chặt đầu (tháng 6, 1930). Ở pháp trường Nguyễn Thái Học đã hô: Việt Nam Muôn Năm (Việt Nam Vạn Tuế). Kể từ hôm đấy, cái tên Việt Nam tái sinh và trỗi dậy trong lòng dân Việt.
Dưới thời Minh Mạng, tiếng Việt là tiếng bắt buộc, thay thế cho tiếng Hoa và Khmer ở Gia Định (bao gồm cả miền tây). Đây là sự kiện cực kỳ quan trọng bởi kể từ đây, nước Việt Nam rộng lớn, có bờ cõi, có hệ thống lãnh đạo riêng của mình, và sử dụng chỉ một tiếng nói, và là tiếng riêng của mình trên toàn lãnh thổ.
Gần một trăm năm sau khi Minh Mạng cưỡng bức sử dụng tiếng Việt (ngôn ngữ nói) ở Nam Kỳ, tới tận những năm 191x-192x, các nhà hoạt động chính trị phản đế hàng đầu của Việt Nam ở hải ngoại như NAQ, PBC, PCT vẫn còn viết thư (ngôn ngữ viết) cho nhau bằng chữ Hán. Để thấy rằng, để lãnh đạo cao nhất của đất nước có thể nói chuyện với mọi tầng lớp nhân dân, cần một tiếng nói chung, một chữ quốc ngữ đến như thế nào.
Người Việt vốn có nhiều gốc gác từ Mường, Thái, Khmer, Chăm, và Hoa, người Kinh thậm chí còn có nhiều họ gốc Tàu, cho đến thời điểm này ít nhất có hai cái chung: một là tiếng Việt, hai là thần dân nước Việt, một sự bắt đầu của một quốc gia hiện đại với các công dân và lãnh thổ của nó.
Nhân đây, mỗi lần cả nước ồn ào và lãng phí tổ chức Giỗ Tổ, không biết những người Việt gốc Chăm, gốc Khmer nghĩ gì. Họ cũng là công dân của đất nước này, học cũng là người Việt, mà sao lại phải nhớ ngày giỗ ông tổ chưa bao giờ liên quan đến họ. Liệu họ có sẵn sàng phục vụ một quốc gia mà họ là công dân, nhưng lại không đoái hoài gì đến tổ tiên của họ hay không? Nhất là những người Chăm, Khmer rồi Bahnar, Giarai … ấy đang sống trên mảnh đất của của tổ tiên họ hàng ngàn năm trước. Trẻ con người Việt gốc Chăm, hoặc Khmer mà học sách giáo khoa, dạy rằng chúng là con rồng cháu tiên, thì cũng lố bịch chả kém gì người Việt nam thời Pháp thuộc phải học sách giáo khoa viết tổ tiên của họ là người Gauloises.
Trước thời Minh Mạng, việc cấm đạo lúc có lúc không nhưng chưa lúc nào cực đoan. Chúa Trịnh, Chúa Tây Sơn, Chúa Nguyễn đều có lúc ngăn ngừa, lúc ủng hộ, lúc sử dụng các linh mục và thương nhân liên quan đến truyền giáo. Đến thời Minh Mạng là cấm ngặt nhất. Và đó là lúc người đi đạo, bên lương, bên giáo, lao vào chém giết nhau, người với người, làng với làng, để rồi cùng với mối cừu hận vùng miền, người Việt bắt đầu cừu hận nhau cả về khác biệt tư tưởng. Khoảng cách từ giết nhau vì khác tín ngưỡng đến giết nhau vì khác đảng phái, khác lý tưởng chính trị chỉ là một sợi tóc. Và lịch sử đã cho thấy người Việt hãm hại nhau tàn khốc hàng chục năm chỉ vì khác nhau ý thức hệ vay mượn. Những người nói cùng một thứ tiếng, nhiều đời lớn lên cùng một mảnh đất, mà giết nhau vì cừu hận có nguyên nhân sâu xa từ tín ngưỡng hoặc hệ phái chính trị (đều là vay mượn du nhập) thì cách đó một sợi tóc là sự thù hận giữa người Việt ở lại và người Việt ra đi, là người Việt chiến thắng và người Việt thua cuộc.
Thế nên, từ đây thấy rất rõ, là rất cần những lý tưởng, chí hướng không chỉ hấp dẫn để cuốn hút hàng triệu người Việt đi theo, mà lý tưởng ấy phải có gốc rễ và tương lai trên chính mảnh đất này, gắn với dân tộc này. Giống như người Do Thái, có thể có nhiều nhóm người chống hoặc ghét nhau, nhưng cùng phụng sự cho lý tưởng Phục quốc, xây dựng một quốc gia Do Thái cho chính họ là Israel hiện nay.
Thế rồi lịch sử sau này vẫn lặp lại. Khi nhà nước cách mạng nổi lên, Nhà Nguyễn bị xóa bỏ hoàn toàn, không chỉ công lao, mà kiến thức và kinh nghiệm dựng nước của họ, nhất là các bài học thất bại đau xót, cũng bị xóa mất. Văn hóa, kiến trúc của họ cũng bị đập bỏ. Ngay cả di sản văn hóa và kinh nghiệm lãnh đạo của một giai đoạn VNCH ngắn ngủi, vốn có một chút kế thừa của Nhà Nguyễn cũng bị xóa đi y như thế.
Và như đã nói từ đầu, đấy chính là một trong những căn nguyên của tan rã xã hội như ta đang phải chứng kiến.
Quay lại với sự hội nhập với Phương Tây của Minh Mạng. Sự giàu có và mua sắm được vũ khí hiện đại của Trịnh Sâm, là nhờ giao thương ở Phố Hiến. Nhà Nguyễn chậm chân hơn nên yếu hơn. Quân đội Tây Sơn mạnh mẽ, thiện chiến, hiệu quả, là nhờ giao du và nhập khẩu công nghệ từ cảng Quy Nhơn với thương lái Hoa và cướp biển, cũng như vay mượn kinh nghiệm chiến đấu của người Chăm, người Hoa lưu vong. Trịnh và Tây Sơn chập lại, đánh Nguyễn chạy ra biển, chạy cả qua Xiêm. Vị tướng trẻ qua Xiêm rước chúa Nguyễn Ánh trở về, cũng lại là một tay giao thương giỏi, là Châu Văn Tiếp, bạn buôn của Nguyễn Nhạc.
Nguyễn Nhạc, cũng giống như Nguyễn Ánh, đều học toán và thiên văn từ những người truyền giáo Châu Âu mà nhờ đó một người từ lái buôn trầu kiêm quan thuế của chúa Nguyễn mà nổi dậy đánh quân Nguyễn tơi bời. Nguyễn Ánh, kẻ nhiều lần thoát hiểm trong gang tấc, nhờ học hỏi kiến thức Châu Âu, mà lần hồi quay lại giết hết kẻ thù, làm vua cả một nước.
Còn với chúa Nguyễn Ánh, ông không chỉ du nhập công nghệ phương tây mà còn sử dụng người của họ để có kiến thức. Sự hội nhập ấy mang sức mạnh quân sự và kinh tế (không thông qua cướp bóc như Tây Sơn) của Chúa Trịnh rồi đến nhà Nguyễn. Quán tính của nó mạnh đến nỗi khi Minh Mạng quay lưng lại với phương tây, đóng cửa với thế giới bên ngoài, cấm đạo, thì khoa học kỹ thuật của người Việt thời Đế quốc Đại Nam đã đủ sức chế ra rất nhiều kiểu máy móc dùng trong sản xuất và quân sự.
Với vị thế của quốc gia lớn, uy tín quân sự lẫy lừng như vậy, lẽ ra Minh Mạng nên nhìn ra bên ngoài thế giới mà thay đổi cách ngoại giao. Khi quân đội có uy tín, thì ngoại giao dễ chủ động, cái khôn ngoan là nhìn vào mâu thuẫn và đồng thuận giữa các nước, để thu cái lợi về cho quốc gia. Nhưng Minh Mạng vẫn duy trì ngoại giao hình thức là triều cống (với Trung Hoa) và bảo hộ (với láng giềng chư hầu), đồng thời đóng cửa và nghi kỵ phương tây. Chính sách này ngay lập tức gây chiến tranh với Xiêm trên đất Lào và với người Khmer trên đất Chân Lạp, tức là chiến tranh trên vùng đất thuộc quyền bảo hộ của mình. Kết quả là thua và mất đất, mất ảnh hưởng (184x). Bài học lớn về ngoại giao này (quân đội hùng mạnh và khai thác mâu thuẫn hoặc đồng thuận giữa các quốc gia khác) rất tiếc sau này lại bị thất truyền, kinh nghiệm đau thương không được truyền lại cho đời sau, để rồi hơn 100 năm sau (197x, 198x) lịch sử đau thương lặp lại dẫn đến sự suy yếu cả kinh tế, quân sự và vị thế ngoại yếu kém so với kẻ thù trực diện là những gì hiện tại chúng ta bắt đầu phải chịu đựng.
Sau khi Minh Mạng qua đời, con rồng thiếu niên Việt Nam ngay lập tức suy yếu. Quân Chân Lạp đánh quân Nguyễn chạy về An Giang, và biên giới lãnh thổ có lại về đúng chỗ đấy  đến ngày nay. Tương tự như vậy, quân Xiêm đánh quân Việt ở Lào, cũng phải bỏ đất mà chạy về.(Sau này một phần đất của Đại Nam, là Hoàng Sa, cũng bị chiếm mất).
Khúc quanh lịch sử này là một bài học cực lớn về để lỡ cơ hội. Nước Việt đã ngấp nghé ở ngưỡng để con Rồng chuyển từ thiếu niên qua rồng trưởng thành, thì chính sách đóng cửa đã làm lụn bại con rồng ấy. Điều kiện cần là độc lập, thống nhất bờ cõi, có tiếng nói chung, cơ chế hành chính giáo dục chung, tất cả những cái ấy Đại Nam/Việt Nam thời đầu nhà Nguyễn đều có. Nhưng họ thiếu hẳn đi điều kiện đủ, đó là mở cửa hội nhập, tiếp cận những nền văn minh có giá trị luân lý sâu sắc hơn, đạo đức và lối sống nhân văn hơn, tư tưởng sáng suốt hơn; tiếp cận các đất nước có thể chế chính trị tốt hơn, vận hành kinh tế xã hội hiệu quả hơn, giàu sáng tạo hơn.
Và thế là con Rồng thiếu niên bị đập cụt móng vẫn tiếp tục ở yên trong vũng nước.
Rất may là các nước lân bang, từ Trung Hoa, đến Miến Điện, Thailand, cũng rơi vào hoàn cảnh giống Việt Nam, tức là đóng cửa hoàn toàn, hoặc mở cửa lừng chừng, độc lập nửa vời, … và do đó cũng không hóa rồng được như Nhật Bản. Còn rất không may là chính các nước ấy, giật mình tỉnh ngộ trước Việt, và đã bỏ xa Việt Nam rất xa. Họ có thể đã tiệm cận với thế giới của Rồng, trong khi Việt Nam vẫn còn nghi hoặc với câu hỏi lên Rồng hay chịu đời giun dế.
Nhật bản xuất Á nhập Âu sau một thời gian dài đã trở thành cường quốc quân sự, tham gia vào phe phát xít để đánh nhau với cả thế giới. Thế nhưng chỉ ngay sau khi gây chiến, phương tây đóng cửa với Nhật, lập tức Nhật bị tụt hậu về công nghệ quân sự và thua cuộc chiến. Sau chiến tranh, Mỹ lại mở cửa cho Nhật, và họ lại phải triển lên trình độ cao như chúng ta đã thấy.
Quan trọng hơn, sự hội nhập về phía phương tây của người Nhật không làm mất đi bản sắc của họ, thậm chí còn ngược lại, bản sắc của người Nhật còn quá đặc sắc so với phần còn lại của thế giới. Thể chế kỳ quặc của họ vẫn có cái văn minh đón nhận từ nền tảng chính trị và thể chế Châu Âu, lại vẫn có một ông vua làm lãnh đạo tinh thần cho cả nước.
Trong khi đó Việt Nam, trải qua bao nhiêu thời kỳ, từ Minh Mạng, đến VNDCHH ở Miền Bắc và VNCH ở Miền Nam, và đến tận ngày nay, đều e dè với sự mở cửa hội nhập. Một trong những lý do e sợ hội nhập là một lý do rất đần độn là để bảo vệ và giữ gìn bản sắc dân tộc. Nhưng ngay cả khi hỏi một người hăng hái bảo vệ bản sắc dân tộc nhất, rằng bản sắc của Việt Nam là gì, thì câu trả lời nếu có cũng sẽ hết sức ngớ ngẩn. Vì chắc chắn không ai biết bản sắc Việt nam là gì hết.
Chỉ khi nào hội nhập toàn diện và sâu sắc với thế giới bên ngoài, va chạm cọ sát với các xã hội có các nền văn minh khác hẳn chúng ta, thì lúc đấy chúng ta mới nhìn thấy được bản sắc của chính mình. Không hội nhập đủ rộng và đủ sâu với thế giới, thì không thể nào tự nhìn thấy bản sắc thật nhất, rõ nhất của mình được. Và chỉ khi hội nhập đầy đủ, chúng ta mới thấy được bản sắc của mình để mà bảo tồn và phát triển, nếu như thực sự chúng ta có cái gọi là bản sắc.
Bản sắc nếu có ấy, chắc chắn sẽ rất đa màu. Nó sẽ có văn hóa của người Việt châu thổ sông hồng, bị ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Hoa nhưng chỉ là bản sao xấu xí. Nó sẽ có thể có tinh thần kiên cường của người Việt miền trung, vốn là dân biên cương khốc liệt có giao thoa với văn hóa chiến tranh của các vương quốc bị ảnh hưởng của Ấn Độ ở phía Nam trung bộ ngày nay. Nó cũng sẽ có văn hóa rụt rè, bi ai mất nước nhưng cứng cáp và sâu sắc ở bên trong của người Việt nam tiến và người Việt gốc Chăm sinh ra và lớn lên trên vùng đất của vương quốc văn minh và hưng thịnh Chăm Pa. Nó cũng sẽ có văn hóa hồn nhiên và bao dung của người Việt gốc Khmer Chân Lạp, và cả người Hoa bỏ xứ.
Chính vì thế, rất cần có những lý tưởng có gốc rễ từ dân tộc Việt đa màu, những chí hướng xây dựng đất nước mà thực chất mới chỉ hoàn thiện bờ cõi hơn 200 năm (kể từ 1802 khi Gia Long lên ngôi) và ngôn ngữ chung là tiếng Việt được sử dụng chính thức và bắt buộc trên cả nước còn có thời gian ngắn hơn nữa, chỉ khoảng 180 năm. Để dễ so sánh về thời gian, hãng bia Heineken có tuổi đời đến năm nay là 140 năm. Tức là phải có những lý tưởng và chí hướng xây dựng một quốc gia Việt Nam phồn thịnh, không phân biệt gốc gác về chủng tộc, tôn giáo và văn hóa của công dân, miễn là nói cùng thứ tiếng và sống trong cùng lãnh thổ quốc gia.
Quay lại với hội nhập. Trong quá khứ, các bậc tiền bối  cũng đã cố gắng hội nhập với thế giới, không chỉ Trung Hoa, mà còn với văn minh Phương Tây nữa. Thế nhưng việc hội nhập và phương tây hóa thẳng với nước Pháp, lúc đó đang là mẫu quốc của thuộc địa An Nam, đã thất bại. Người dân của một dân tộc nô lệ thì việc hội nhập và phương tây hóa đến đâu, cũng vẫn là hội nhập và văn minh hóa nô dịch. Nó là sự văn minh hóa cưỡng bức, để làm lợi cho giới chủ thực dân, là những người làm chủ và khai thác bóc lột, chứ không phải là sự hội nhập, phương tây hóa chủ động của một dân tộc được lãnh đạo bởi những cá nhân ưu tú của chính dân tộc mình. Ngay cả một con rồng thực sự mà bị huấn luyện và dẫn dắt, cũng sẽ không còn là con rồng nữa. Nó là con thú nuôi.
Cũng có những bậc tiền bối khác đã chủ động thoát khỏi sự dẫn dắt của người Pháp thực dân, tự mày mò qua Nhật để hội nhập và tiến hành phương tây hóa qua cánh cửa Nhật Bản. Thực dân Pháp ngay lập tức nhìn ra sự nguy hiểm trong phong trào Đông Du. Họ thấy người Việt đang tạo ra điều kiện đủ (hội nhập với văn minh thế giới) khi chưa có điều kiện cần (độc lập). Nên phong trào bị dập tắt. Mặc dù bị dập tắt như vậy, nó vẫn đưa ra được một thể chế có thể nói là cực kỳ lý tưởng vào lúc đó, thể chế quân chủ lập hiến của ông hoàng Cường Để và các chí sỹ như Phan Bội Châu. Thể chế này là sao chép thể chế của nước Nhật.
Mặc dù phong trào của ông hoàng Cường Để toi từ trong trứng, nhưng một người tham gia hoạt động bí mật của phong trào này là Ngô Đình Diệm đã thấu hiểu tinh thần phương tây hóa. Mặc dù là một ông quan đại thần của nhà Nguyễn, gia đình nho hóa cao độ và sâu sắc, nhưng khi lên cầm quyền chính Ngô Đình Diệm là người xây dựng thể chế cộng hòa y như phương tây ở Việt Nam. Đây là một ví dụ vừa hay vừa rõ ràng về cái lợi ích lớn lao mà phương tây hóa sâu sắc sẽ mang đến cho quốc gia. Thể chế do Ngô Đình Diệm xây dựng  tồn tại rất ngắn, chỉ cỡ 20 năm, lại bị bao vây bởi chiến tranh khốc liệt, nhưng những giá trị mà nó tạo ra, còn tồn tại, thậm chí tỏa sáng đến tận bây giờ.
Một người khác, không hoạt động trong phong trào Cường Để, nhưng có giao lưu với các phái viên của ông hoàng này ở London, những năm 191x, khi nhóm của Cường Để bị đánh bật khỏi Nhật. Đó chính người sau này rời London qua Pháp cuối những năm 191x, sống chung với Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường. Những năm tháng ở Pháp rèn luyện cho người thanh niên này kỹ năng ngoại giao, kỹ năng dựng phong trào, kỹ năng đấu tranh. Nhưng bản hiến pháp 1946 do ông dựng nên sau khi cách mạng thành công, phải bắt nguồn sâu sắc từ thời gian ông ở London cùng những phái viên gốc Nam Kỳ của Cường Để.
Ở thời Pháp thuộc, mặc dù bị hội nhập và phương tây hóa cưỡng bức, nhưng thời kỳ Pháp thuộc vẫn có những đúc kết kiến thức và kinh nghiệm trị nước, là do thực dân Pháp học hỏi từ nhà Nguyễn, biến kiến thức của nhà Nguyễn thành của mình, và cai trị thành công nước Việt Nam thuộc địa suốt một trăm năm.
Kinh nghiệm quản lý đất nước Việt của người Pháp, lẽ ra cũng không được để gián đoạn và mai một, mà phải chủ động nhận lấy để dùng, thì cả chính phủ của cụ Hồ miền bắc và ông Diệm miền nam đều cổ vũ “đả thực phản phong”, khiến cho kiến thức và kinh nghiệm trị nước của nhà Nguyễn và thực dân Pháp gián đoạn và mất hẳn ở miền Bắc, và chỉ còn xôi đỗ ở miền Nam nhờ ông Diệm, Nhu và các tướng lĩnh và công chức cao cấp do Pháp đào tạo.
Tầng lớp duy nhất tồn tại không hề gián đoạn giữa các thế hệ trong suốt thời kỳ này chính là doanh nhân. Khi Minh Mạng lên ngôi, do lại học hỏi mô hình phong kiến Trung Hoa, thương nhân lại bị đẩy xuống tầng lớp dưới (chính sách ức thương). Bị đẩy xuống nhưng không bị tiêu diệt. Tầng lớp này tồn tại qua thời pháp thuộc, qua cả thời kháng chiến, để rồi bị triệt tiêu ở miền bắc từ 196x đến 198x và bị triệt tiêu ở miền nam từ nửa sau 197x đến cuối 198x.
Sự gián đoạn của các thế hệ doanh nhân, mặc dù rất ngắn ngủi, gần 40 năm ở miền bắc và gần 20 năm ở miền Nam, đã làm đứt đoạn chuyển giao kiến thức, vốn liếng, kinh nghiệm và kỹ năng quản trị nặng nề đến mức doanh nhân Việt Nam tụt hậu với khu vực láng giềng, chứ chưa nói đến so với thế giới, cả thế kỷ.
Kinh doanh và quản trị doanh nghiệp, một lĩnh vực không quá khó học và không quá thiếu kiến thức quốc tế để học, thế mà chỉ gián đoạn vài thập kỷ thôi, là doanh nhân đã tụt hậu và nghèo đi bao nhiêu. Lãnh đạo đất nước khó hơn nhiều, mà bị gián đoạn, thì hậu quả còn tệ đến ra sao, tự ta có thể ước chừng được.
Lại quay lại với chuyện hội nhập. Nước Trung Hoa cũng bỏ lỡ các cơ hội mở cửa để hội nhập và phương tây hóa. Đấy là lí do phương tây, sau này là Nhật xâm chiếm Trung Hoa. Khi nước này được giải phóng, độc lập, chính quyền cách mạng của Mao tiếp tục đóng cửa. Cho đến năm 1978 thì họ mở cửa ra, trước Việt Nam chúng ta. Ngay lập tức, các vùng duyên hải của Trung Quốc được tiếp cận rộng và cởi mở hết sức với Phương Tây (bao gồm cả du nhập các thể chế tự do) đồng thời cũng được phương tây ưu ái hỗ trợ để nhanh hội nhập. Chỉ trong vòng hơn ba mươi năm, khu vực duyên hải của Trung Quốc đã biến Trung Quốc thành một nước mới, phát triển, phồn thịnh, bất chấp sự nghèo nàn lạc hậu vẫn còn lan tràn trong lục địa.
Nhưng khác với Nhật Bản, Trung Quốc hội nhập chỉ rộng chứ chưa đủ sâu, cho nên Trung Quốc vẫn chưa đến đẳng cấp thật sự của rồng, là đóng góp được cho văn minh nhân loại. Tức là chưa ở đẳng cấp được chia của cải, mới chỉ húp canh thừa, mà đã giàu như thế.
Trong gian đoạn toàn cầu hóa mạnh mẽ vừa qua, và cả trong đối đầu với Trung Quốc trước mắt, Việt Nam vừa đi chậm hơn Trung Quốc và các nước trong khu vực vài bước, lại không chuẩn bị cho mình một sự giai đoạn chuyển tiếp, có tính chất cải cách mạnh, từ thể chế đến giáo dục, để gia tăng sản lượng của đất nước, tích lũy của cải quốc gia, củng cố quân đội, tăng cường hoạt động ngoại giao khai thác mâu thuẫn/đồng thuận của các nước trên thế giới nhằm kiếm thêm lợi về cho đất nước.
Rất may, biết đâu, là Trung Quốc giàu xổi rất nhanh và tinh thần hắc ám phát xít Đại Hán còn phát triển nhanh hơn. Cho nên các nước phương tây sớm hay muộn cũng đóng cửa lại với Trung Quốc. Khi bị đóng cửa, hạn chế hội nhập, chỉ trong thời gian ngắn, chắc chưa đến 10 năm, Trung Quốc sẽ tụt hậu.
Nước Việt Nam, sau 200 năm mới có một cơ hội lớn.
Hai trăm năm ấy thật dữ dội và đau thương.  Hai trăm năm vận mệnh của con rồng ấy nằm trong tay những chiến binh. Quãng thời gian hai thế kỷ:  ở giữa là trăm năm vận mệnh trong tay những sĩ quan Pháp, ở hai đầu là hai cuộc nội chiến khốc liệt kéo dài hàng chục năm. Cả hai cuộc chiến đều kết thúc bằng người thắng thống nhất đất nước và chi chít các cuộc báo thù.
Nguy cơ tụt hậu của nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc có thể là cơ hội rất lớn để thúc đẩy con rồng thiếu niên Việt Nam ngủ quên vì mất vận mệnh suốt 200 năm.
Nhưng trước hết, vẫn phải đặt các câu hỏi cốt lõi, và trả lời các câu hỏi ấy.

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

Còn một lần nữa không?

Nguyễn Tường Bách
Bức Tường Ô Nhục
Bức Tường Ô Nhục
Cách đây một năm, Tết Giáp Ngọ, bài này đã được đăng trong một tạp chí trong nước. Vì lý do dễ hiểu, bài bị cắt bỏ nhiều đoạn. Sau một năm, tình hình đất nước có thay đổi, nội dung của bài phù hợp hơn bao giờ hết. Sau đây là nguyên văn bài viết
Năm 1986 là một năm đáng nhớ trong đời tôi.
Một ngày nọ trong mùa thu 1986 bọn chúng tôi sáu người được Hội người Việt Nam tại Đức cử về nước để “điều trần” về tình hình thế giới, góp ý với Đại hội Đảng lần thứ sáu.
Đó là thời điểm mà các nước theo chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu bắt đầu có những dấu hiệu thay đổi. Tại Ba Lan tháng 9.1980 công đoàn Đoàn kết thành hình và ngày càng phát huy ảnh hưởng. 1984 khắp nơi tại Ba Lan biểu tình lan rộng. Tại Hungary năm 1980 kinh tế thị trường bắt đầu được áp dụng, năm 1982 họ gia nhập Quỹ tiền tệ quốc tế IWF và ngân hàng thế giới.
Tại CHDC Đức từ giữa những năm 80, đảng cầm quyền đã phải nhượng bộ thành phần đối lập. Cũng giữa những năm 80 Gorbachev thực hiện đổi mới Glasnost và Perestroika. Tháng 3.1985 Gorbachev tuyên bố mỗi nước trong khối Warsaw được quyền theo đường lối riêng. Từ đó học thuyết được mệnh danh Sinatra thay thế học thuyết Brezhnev, vốn được dựng lên từ 1968, sau khi Liên Xô đập tan mùa xuân Praha của Tiệp Khắc.
Những ai theo dõi thời cuộc đều hiểu là một khi Liên Xô tuyên bố đường ai nấy đi thì đó là dấu hiệu tan rã của khối Đông Âu. Điều đó cho thấy chủ nghĩa xã hội kiểu Đông Âu đã chứng tỏ sự phá sản của mình.
Tôi chuẩn bị về Hà Nội và nhớ đến CHDC Đức của những năm qua. Đây là quốc gia hùng mạnh nhất của khối Đông Âu, có tiềm lực khá nhất về kỹ thuật và kinh tế so với các nước khác, kể cả với Liên Xô hồi đó. CHDC Đức tiếp giáp với Tây Đức, về mặt địa lý lại chứa cả Tây Berlin nằm lọt thỏm trong lòng nó, nên CHDC Đức chính là “tiền đồn” số một của phe xã hội chủ nghĩa. Chính vì lẽ đó mà Đông Đức càng cẩn mật hơn đối với mọi ảnh hưởng của phe Tây phương.
Tôi càng nhớ hơn những ấn tượng của mình tại Đông Đức trong năm 1970. Đó là năm mà bọn sinh viên trẻ chúng tôi, mà chỉ là người nước ngoài, người Đức không được tham dự, được đặc cách cho đi thăm CHDC Đức một ngày, buổi tối không được ở lại, phải trở về Tây Berlin. Chuyến xe bus chạy trên những hành lang đã định sẵn từ Tây Đức đến Tây Berlin, xuyên qua địa phận Đông Đức, trên những xa lộ cách ly với phố xá làng mạc. Thỉnh thoảng xe dừng lại để sinh viên Tây Đức, với chút ngoại tệ “mạnh” ít ỏi trong túi, được mua cà-phê thuốc lá trong các cửa hàng Intershop. Họ cần ngoại tệ mạnh và đó là lý do mà chúng tôi được đi thăm. Qua biên giới ngồi trên xe tôi thấy rõ công an Đông Đức dùng những chiếc gương lớn có bánh xe, đẩy vào gầm xe xem có công dân nào của họ trốn dưới đó không.
Từ Tây Berlin chúng tôi đến Checkpoint Charlie, đó là cửa biên giới giữa hai phần của thành phố Đông Tây Berlin. Khách hồi hộp đi qua những hành lang hẹp, quanh co dưới cặp mắt dò xét của công an mật vụ Đông Đức. Mỗi khách phải đổi 20 Mark, tiền Đông Đức, một ăn một, nghe là để mua sắm, nhưng thực tế là trả tiền vào cửa với ngoại tệ mạnh.
Sau vài góc đường kể từ trạm kiểm soát, lạ thay có một thanh niên tìm tôi hỏi chuyện. Anh hỏi tôi có dư chiếc quần jean nào muốn bán lại cho anh. Tôi trố mắt lắc đầu. Anh lại đề nghị tôi cùng đi đến Intershop mua hàng với ngoại tệ mạnh, tiền anh đưa, công dân như anh không được mua hàng Intershop. Tôi cũng lắc đầu nốt. Vô cùng ngạc nhiên tôi tự hỏi, con người mới xã hội chủ nghĩa mà như thế này ư, nhất là trong một xứ ưu việt nhất của khối Đông Âu.
Trong ngày hôm đó của năm 1970 tôi lại nhớ lại một kỷ niệm xưa. Trước đó chục năm, khoảng 1960, tôi chỉ là một đứa trẻ 12 tuổi sống trong thành thị miền nam thời còn hòa bình. Ngày nọ tôi được theo người lớn ra bến sông Bến Hải, đến cầu Hiền Lương nhìn qua bờ bắc. Vĩ tuyến 17 là đây, sông Hiền Lương nước chảy chầm chậm. Tôi bâng khuâng nhìn qua, bên kia là đồng bào của tôi hay sao. Xa xa ta thấy rõ trẻ con người lớn đi lại, có người đi xe đạp. Nhưng đập vào mắt tôi là một hàng chữ thật to, dành cho người nhìn từ bờ nam. “Hai miền, hai chế độ”. Dù là đứa trẻ, tôi biết ngạc nhiên thấy câu khẩu hiệu có vẻ “hiền”, không khiêu khích, không tuyên truyền như tôi tưởng.
Trên cao ở hai bờ là hai lá cờ, một vàng một đỏ. Lạ thay chiếc cờ vàng rủ xuống như khăn tang. Còn lá cờ đỏ bên kia, không rõ được làm bằng thứ vải gì mà trời ít gió vẫn bay phất phới. Điềm lành điềm dữ gì đây?
Chiếc cầu Hiền Lương khung sắt mặt gỗ chỉ là một chiếc cầu nhỏ như trăm vạn chiếc cầu trên quốc lộ 1, tôi nhìn và nghĩ đời mình sẽ không bao giờ đi trên cầu đó. Thế nhưng hồi đó vẫn có người qua lại, vì khi tôi vào văn phòng quân đội miền nam đã có một người đội nón cối, miệng hút thuốc ngồi đó. Ông mang “bưu thiếp” từ bên kia qua, khuôn mặt bất động nhìn chúng tôi. Trong bọn chúng tôi có một đứa mũi hơi cao, da hơi sáng. Ông thốt lên “cháu này lai Mỹ”. Câu nói đầu tiên và duy nhất của ông đã trật lất.
Chục năm sau tại Đức tôi đang nếm mùi của “hai miền hai chế độ”. Nhưng hôm nay tôi được băng qua biên giới, đi thăm miền đất của con người mới xã hội chủ nghĩa. Ở đây chưa ai nhìn tôi với cặp mặt khinh thị, ngược lại có kẻ chạy theo xin hỏi mua chiếc quần jean.
Suốt chục năm sau tôi không trở lại Đông Đức, nhưng vẫn nghe người dân ở đó vẫn tìm mọi cách vượt biên qua Tây Đức, bất kể hiểm nguy cho bản thân và hệ lụy cho người ở lại. Thế nhưng với lực lượng công an cảnh sát mà tôi từng tận mắt trông thấy, tôi nghĩ Đông Đức sẽ trường tồn thiên thu bất diệt. Tấm gương mùa xuân Praha 1968 vẫn còn nóng hổi. Thậm chí tôi còn lo ngại một ngày xấu trời nào đó, bộ đội Đông Đức sẽ tràn ngập Tây Berlin vì thành phố này nằm như một hòn đảo phồn vinh giữa một vũng lầy nghẹt thở.
Thế mà chỉ hơn 15 năm sau kể từ lần viếng Đông Đức, tôi cùng phái đoàn ngồi máy bay về Hà Nội, sẽ gặp lãnh đạo Đảng và Nhà Nước để “báo cáo về tình hình thế giới và phong trào”. ”Báo cáo” ở đây phải gọi là “báo động” thì đúng hơn vì thông điệp của chúng tôi cho các vị lãnh đạo là hãy thay đổi, trên thế giới đang rục rịch thay đổi.
Trong một buổi sáng nắng hoe vàng như màu nắng thường thấy ở miền bắc trong mùa thu, chúng tôi đến văn phòng Trung Ương Đảng, vào trong một gian phòng nghiêm trang, ngồi vào một chiếc bàn rất rộng. Người “làm việc” với chúng tôi không ai khác hơn là ông Nguyễn Văn Linh, về sau là Tổng Bí thư. Các nhân vật khác cùng có mặt là các ông Đào Duy Tùng và Hoàng Bích Sơn. Các vị lắng nghe chúng tôi một cách nghiêm túc. Tôi bất ngờ cảm nhận lòng cởi mở thân tình của các vị quan chức cấp cao nhất. Họ không có vẻ gì ngạc nhiên khi nghe tình hình các nước Đông Âu đang chao đảo. Họ để cho chúng tôi nói hết, không tỏ chút gì khó chịu khi nói nghe nói đến khuyết tật cố hữu của một nền kinh tế kế hoạch.
Ngồi đây tại Hà Nội tôi không khỏi nhớ lại đời mình. Từ một đứa trẻ đứng ngẩn ngơ bên cầu Hiền Lương và nghĩ đời mình sẽ không bao giờ qua bờ bắc, tôi đã đi một vòng lớn của cuộc đời. Số phận cho tôi đến học tập ở Đức, cũng một nơi được gọi là “hai miền hai chế độ” như nước mình. Rồi tôi cũng từng băng hàng rào sắt qua bên đó và chứng kiến chớp nhoáng cách làm ăn cò con của thời bao cấp. Nay tôi lại ngồi đây, trong một quê hương thống nhất, tại trung tâm quyền lực của cả nước và “làm việc” với Tổng Bí thư.
Thế nhưng nói thật lòng, ngay hồi đó tôi đã không có chút ảo tưởng nào. Làm sao mà các vị đó tin nghe mình, chấp nhận kiến nghị của dăm ba Việt kiều non nớt và đáng ngờ được. Những người mà họ tin nghe phải là những người khác mà chúng tôi không bao giờ gặp. Tiếng nói của chúng tôi chỉ điểm trang cho vui trong một hoàn cảnh cần chút màu sắc khác lạ. Vòng đời từ cầu Hiền Lương, gặp ông cán bộ đưa thư, đến Tây Đức, rồi lạc một ngày qua bên Đông để rồi hôm nay về lại tổ quốc, ngồi đối diện với Tổng Bí thư chỉ là một trò đùa hóm hỉnh của số phận hay đi lang thang của tôi.
Sau đó Đại hội VI diễn ra trong tháng 12.1986 với nhiều thay đổi thực. Lãnh đạo Việt Nam từ bỏ con đường bao cấp, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế và mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Tôi hoàn toàn không nghĩ đó là nhờ “công” góp ý của chúng tôi mà chủ trương này đã định hình một cách bắt buộc trong bối cảnh ảm đạm của nước Đông Âu. Thế nhưng so với cũ, đây là một công cuộc đổi mới vô cùng quyết liệt và mang lại thành quả to lớn.
Tháng 11 năm 1989 một biến cố long trời xảy ra tại Đức. Bức tường Berlin sụp đổ. Tôi ngồi xem hàng đoàn người hân hoan đi qua Checkpoint Charlie, nơi mà gần 20 năm trước chúng tôi phải chầm chậm đi về trong ngày, giữa những con mắt xoi mói. Tôi sởn da gà khi nhớ rằng, lịch sử ngàn năm sẽ nhớ lại cảnh này, cảnh một dân tộc thống nhất không cần tốn một viên đạn. Cầu Hiền Lương của họ đã mở cửa và người ta đi chiều ngược lại.
Ngày Giải Phóng
Ngày Giải Phóng
Hè năm 2012 chúng tôi trở về Checkpoint Charlie. Đường Friedrich không còn chập chùng đồn bót, nay rộng rãi thông suốt. Gần đó là một quán ăn Việt Nam đông khách, phục vụ trẻ măng. Đồng bào tôi đây, không hề ít tại nước Đức kỳ lạ này. Xung quanh trạm biên giới cũ, ta còn thấy hình ảnh xưa, nền móng cũ, ngày đó nơi đây một thuở… Quanh tôi là khách du lịch còn trẻ, người nước ngoài khá nhiều. Họ có biết chăng có người cảm khái nhớ đời mình và vận nước non của 40 năm qua.
Sau lần gặp Tổng Bí thư tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ gặp quan chức cấp cao nữa. Thế nhưng cũng có một ngày đặc biệt trong đầu những năm 90. Tại sân bay Bangkok, trên xe bus từ máy bay vào nhà ga, tôi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông lên xe trước tôi, lúc đó còn rất khỏe mạnh. Tôi đến gần ông, trân trọng hỏi thăm “Thưa Cụ, có phải Cụ là Cụ Võ Nguyên Giáp?”. Ông không trả lời, cũng không nhìn tôi, làm như không nghe thấy. Khuôn mặt ông bất động còn hơn ông cán bộ đưa thư ngày nọ. Tôi ngẩn ngơ, tự hỏi phải chăng mình nhìn lầm. Xuống xe tôi đi nhanh vào sảnh. Ở đó đã có vài ba người đứng đón, có chị mặc áo dài, với vòng hoa và bảng đề “Nhiệt liệt chào mừng…”.
Tôi thưa không thấy trả lời. Trong nước ông là vị tướng từng oanh liệt đánh thắng giặc Pháp. Ra ngoài ông đề phòng những ai nói tiếng Việt.
Kể từ đó tôi không còn gặp quan chức cấp cao, thật lòng tôi cũng không muốn. Nhưng cấp thấp thì nhiều. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp gỡ chuyện trò với họ, thậm chí chơi chung thể thao. Thỉnh thoảng khơi chuyện “bao cấp” ngày xưa thì y như rằng, ai cũng có chuyện để kể, từ anh lái xe đến ông thủ trưởng. Sức sống dân tộc to lớn thay. Thực vậy, chỉ bỏ ngăn sống cấm chợ và cho nước ngoài đầu tư mà nước ta đã tiến triển một cách ngoạn mục từ 1986 đến nay.
Nhưng rủi thay tiến trình của xã hội luôn luôn thay đổi và đòi hỏi phải có sự đổi mới. Qua năm thứ 14của thế kỷ mới, Việt Nam đã bộc lộ tất cả khuyết tật của hệ thống. Kinh tế suy thoái, tham nhũng lan tràn, các giá trị văn hóa xã hội bị sa sút trầm trọng, điều đó đã quá nhiều sách báo nói đến. Tình hình ngày nay bức xúc hơn 1986, đó là điều tôi nhận xét. Nếu không thay đổi một cách tầm cỡ như 1986 đất nước sẽ đi về đâu?
Xét lại lịch sử, Việt Nam chỉ thay đổi khi quốc tế thay đổi. Sự chấm dứt thế chiến thứ hai là cơ hội cho Đảng lãnh đạo nắm chính quyền. Sự đổi xác năm 1986 là kết quả cuộc phá sản của các nước Đông Âu. Thế thì phải chăng Việt Nam phải đợi một biến cố tầm cỡ trên quốc tế? Tôi không biết.
Tại Đức thì sau 24 năm thống nhất, nước Đức đã đưa Đông Đức lên ngang tầm phát triển của phía Tây, đó là tin vui của họ trong mùa thu 2013. Hiện tượng người bỏ sang Tây để kiếm việc đã chấm dứt. Người Đức cũng không phải thánh thiện gì, chính trị gia của họ cũng đầy khuyết tật, cũng ôm ấp những ý đồ riêng tư và ích kỷ. Nhưng điểm ưu việt của Đức là họ quyết lòng theo một xã hội pháp quyền, tất cả phải được điều hành bằng luật pháp. Việc cựu Tổng thống của họ hiện nay phải hầu tòa vì tội lạm dụng quyền thế về một số tiền chưa đầy 1000 USD, một số tiền nực cười, đối với quan chức Việt Nam hiện nay hoàn toàn không lớn, cho thấy luật pháp của Đức triệt để như thế nào.
Tôi không nghĩ mình sẽ còn có cơ hội “điều trần” gì với ai tại Việt Nam nữa. Nhưng dân tộc Việt Nam phải được một lần hỏi ý kiến. Đã đến lúc rồi, người Việt Nam phải ngồi với nhau xem thử nên điều hành đất nước theo phương cách nào. Năm 1986 đã từng có một cuộc đổi thay quyết liệt.
Có còn một lần nữa không?