Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Chống tham nhũng mang tính hình thức

TS NGUYỄN ĐÌNH QUYỀN - PHÓ CHỦ NHIỆM UỶ BAN TƯ PHÁP CỦA QUỐC HỘI:

Nhiều giải pháp phòng, chống tham nhũng mang tính hình thức

“Phát hiện tham nhũng vẫn còn là khâu yếu nhất. Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng không chỉ lúng túng mà còn chưa nghiêm...” - TS Nguyễn Đình Quyền nhấn mạnh.

Nhiều giải pháp phòng, chống tham nhũng mang tính hình thức
TS Nguyễn Đình Quyền - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội

Trò chuyện với Lao Động sau phiên giải trình “Việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng thuộc trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước” do Uỷ ban Tư pháp của QH tiến hành, TS Nguyễn Đình Quyền chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế trong công tác phòng, chống tham nhũng.
“Phát hiện tham nhũng vẫn còn là khâu yếu nhất. Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng không chỉ lúng túng mà còn chưa nghiêm...” - TS Nguyễn Đình Quyền nhấn mạnh.

Còn cơ chế “xin-cho”, khó chống được tham nhũng

- Nguyên nhân thì dư luận đã nói nhiều, là người thuộc Quốc hội - cơ quan giám sát phòng, chống tham nhũng - ông có đánh giá gì về nguyên nhân chủ quan trong công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN)?

- Nhiều cơ quan chức  năng thường viện dẫn lý do nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp là do cơ chế, chính sách còn lỗ hổng, chồng chéo. Theo tôi, thể chế, pháp luật về PCTN ngày càng được hoàn thiện, đầy đủ nhưng để phục vụ cho công tác PCTN, nếu chỉ hoàn thiện thể chế này là chưa đủ mà cần hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức... Nhưng, sự chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ của pháp luật không phải là nguyên nhân chính, mà chủ yếu vẫn là do những nhóm lợi ích, những người lợi dụng vị trí công tác để tận dụng các kẽ hở hoặc “vận dụng linh hoạt” để trục lợi, thậm chí bất chấp lợi ích của tổ quốc, an ninh quốc gia.

Tôi xin nhấn mạnh: Nếu không xóa bỏ được cơ chế “xin-cho” thì chúng ta rất khó chống được tham nhũng. Mà cơ chế “xin-cho” này là do yếu kém trong công tác hoạch định chính sách của chúng ta.

- Nhưng thưa ông, tại phiên giải trình “Việc phát hiện và  xử lý hành vi tham nhũng...” do Uỷ ban Tư pháp của QH tổ chức vừa qua, một trong những nguyên nhân làm cho phát hiện tham nhũng chưa cao, được cơ quan kiểm toán cho rằng có sự vênh nhau giữa Luật Kiểm toán và Luật PCTN?

- Tôi cho rằng hoàn toàn không phải như vậy; tuy có “vênh”, nhưng không đáng kể. Điều quan trọng hơn là, theo quy định của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, về cùng một nội dung, do cùng một cơ quan nhà nước ban hành, thì văn bản sau sẽ có hiệu lực thi hành. Trong khi đó, Luật PCTN ban hành sau đã tăng quyền hạn hơn cho cơ quan kiểm toán. Theo Luật Kiểm toán, các đoàn kiểm toán chỉ có thể kiến nghị, thì với Luật PCTN, họ có thể chuyển thẳng những vụ việc có dấu hiệu tham nhũng cho cơ quan điều tra. Như vậy, phải nói rằng cơ quan kiểm toán có điều kiện thực hiện tốt hơn chức năng phát hiện tham nhũng thì mới  chính xác.

- Theo ông, đâu là giải pháp hữu hiệu cho công tác phòng ngừa tham nhũng?

- Tôi xin nói thẳng, hiện có nhiều giải pháp đưa ra vẫn mang tính hình thức, hiệu quả không cao như chuyển đổi vị trí công tác, kê khai tài sản, tuyên truyền, trả lương qua  tài khoản... Theo tôi, giải pháp hiệu quả nhất vẫn là công khai, minh bạch ở tất cả các lĩnh vực, tất cả các hoạt động và xác định thật rõ trách nhiệm công vụ của mỗi vị trí công tác trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị.

Đây là điều không mới, ai cũng thấy, nhưng vấn đề là chúng ta triển khai thực  hiện chưa thật quyết liệt, chưa đồng bộ. Do đó, cần phải có cơ chế ràng buộc về chế độ trách nhiệm, chế tài cụ thể, nghiêm khắc để thực thi cho được công khai, minh bạch.

Cần tập trung vào khâu phát hiện tham nhũng

- Yếu nhất trong công tác PCTN là việc tự phát hiện của mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị nhưng trách nhiệm của người đứng đầu thường lại rất lỏng lẻo, thưa ông?

- Việc phát hiện hành vi tham nhũng tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt là việc tự phát hiện ở mỗi bộ, ngành, địa phương. Thậm chí, ở những bộ, ngành nhạy cảm và không ít địa phương cả năm không tự phát hiện ra được vụ tham nhũng nào, dù rằng hằng năm các bộ, ngành, địa phương đều tiến hành từ  hàng trăm tới gần nghìn cuộc kiểm tra, thanh tra, đánh giá cán bộ. Để xảy ra hiện tượng này, trách nhiệm của người đứng đầu là rất lớn.

Do đó, rất cần có những văn bản pháp lý quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tự phát hiện tham nhũng. Ví dụ, người đứng đầu không phát hiện ra tham nhũng nhưng qua tố giác của quần chúng, báo chí phanh phui, các cơ quan chức năng phát hiện ra thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về nhiều mặt. Hiện việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng  không chỉ lúng túng mà còn chưa nghiêm minh. Nếu còn diễn ra tình trạng này,  hậu quả thì... ai cũng biết.

Do đó, theo tôi, xử lý sai phạm là quan trọng, nhưng hiện tại cần tập trung vào việc phát hiện tham nhũng, bởi đây là khâu yếu nhất của chúng ta.

- Tôi tin dư luận đồng tình với ý  kiến của ông rằng khâu tự phát hiện tham nhũng rất yếu kém, nhưng với các cơ quan chức năng phòng, chống tham nhũng cũng không phát hiện ra, thì trách nhiệm nên thế nào?

- Không chỉ công tác tự phát hiện tham nhũng còn yếu kém, mà hiệu quả phát hiện của các cơ quan chức năng như thanh tra, kiểm toán, cơ quan điều tra cũng chưa cao. Tôi chỉ đưa ra ví dụ điển hình như vụ án ở Vinashin để thấy rõ hơn cách xử lý của chúng ta. Tại tập đoàn kinh tế này, đã có cả chục đoàn thanh tra, kiểm toán vào, ra nhưng không đoàn nào phát hiện ra sai phạm nghiêm trọng. Vì vậy, dư luận có quyền đặt câu hỏi, phía sau của việc không phát hiện ra tội phạm liệu có “khoảng tối” nào không? Dù nguyên nhân gì đi nữa, đây là điều khó có thể chấp nhận được.

Do đó, vấn đề là cần phải có những chế tài nghiêm khắc liên quan giữa trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện và xử lý tham nhũng.

- Xin cảm ơn ông! 

Đề nghị xử lý người đứng đầu ít dần. Từ năm 2010-2012, qua thanh tra, ngành thanh tra đã kiến nghị xử lý 189 trường hợp người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng (nhưng ít dần qua từng năm: Năm 2010 là 84 trường hợp; 2011 là 61; 2012 là 44). Trong đó, xử lý hình sự 28 người (năm 2010 là 19 người; năm 2011 không ai bị xử lý hình sự;  2012 là 9). (Nguồn: Thanh tra Chính phủ)
Nguồn LĐ

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Ông Vũ Trọng Kim chỉ định thầu xây dựng tòa nhà 66 Bà Triệu, Hà Nội có đúng luật?




Ông Vũ Trọng Kim (ở giữa), ông Lập (bên trái) và đại diện công ty Đông Dương (phải) cắt băng để khai trương "Bức ảnh dự án" treo trên nóc nhà báo Đại Đoàn Kết!
(Lưu ý là tòa nhà này cho tới thời điểm này vẫn chưa được cấp phép đầu tư, xây dựng hay phê duyệt về quy hoạch, kiến trúc của bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào)

Ông Vũ Trọng Kim - Ủy viên Trung ương Đảng – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy Ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam đang bị tố cáo liên quan đến sai phạm chỉ định thầu xây dựng tòa nhà báo Đại Đoàn Kết 66 Bà Triệu - Hà Nội (Công ty cổ phần đầu tư địa ốc Đông Dương gọi là tòa nhà Đông Dương) , trái Thông tư số 03/2009/TT-BKH của Bộ Kế hoạch đầu tư Hướng dẫn lựa chọn nhà đầu tư thực hiện đầu tư dự án có sử dụng đất (http://phapluat.tuoitre.com.vn/Van-ban/%C4%90au-tu/Thong-tu-so-03-2009-TT-BKH-ve-viec-huong-dan-lua-c.aspx). Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin đăng toàn văn Quyết định chỉ định thầu dự án này do ông Vũ Trọng Kim ký; Hợp đồng cũng như bản Phụ lục Hợp đồng. Kính mong những nhà quản lý, luật sư, những nhà tài chính và đặc biệt là cơ quan có thẩm quyền xem xét, bàn bạc, kết luận xem có đúng luật không? Đúng quy trình không? . Ai được lợi?


Lẽ ra với cương vị Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết  thì ông Đinh Đức Lập sẽ ký Hợp đồng và Phụ lục nhưng để… cẩn thận ông Lập đã “bắt” ông Nguyễn Minh Ngọc là Phó Tổng biên tập ký thay mình.

Trên trang thông tin của mình, Công ty Cổ phần đầu tư địa ốc Đông Dương (http://www.dongduonggroup.vn/detail_message.asp?lang=1&fold=808&SubCatID=858&msgID=2113&tr=0&dr=813) khẳng định: Dự án Tòa nhà Trụ sở báo Đại Đoàn Kết 66 Đường Bà Triệu “sẽ là trụ sở chính của Tập đoàn Đông Dương. Tổng diện tích mặt bằng của dự án là 600m2, bao gồm 17 tầng. Toà nhà Đông Dương – Là dự án văn phòng cho thuê có kiến trúc hiện đại, màu sắc trang nhã, phù hợp với cảnh quan khu vực. Tầng một của tòa nhà sẽ là nơi cung cấp dịch vụ. Các tầng trên là các văn phòng cho thuê với kiến trúc độc đáo, sang trọng., toà nhà sẽ tạo một môi trường làm việc hiện đại, đóng góp giá trị không gian kiến trúc đô thị và nâng cao đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội, phù hợp với định hướng quy hoạch chung của khu vực đã được phê duyệt. Công trình chức năng hỗn hợp này sẽ giải quyết một phần nhu cầu về không gian văn phòng”.

Vậy thì liệu dự án có được UBND TP. Hà Nội chấp thuận khi trụ sở báo Đại Đoàn Kết là biệt thự Pháp cần bảo tồn và theo quy hoạch thì 4 quận nội thành: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa không được xây dựng công trình quá 8 tầng?.

P. V




































Vì sao những người có trách nhiệm và có liên quan trọng vụ làm ăn hợp tác này từ Quyết định 322 cho tới hợp đồng liên danh hợp tác của báo Đại Đoàn Kết lại có thể coi thường các quy định vốn rất rõ ràng, minh bạch và chặt chẽ của pháp luật để phòng ngừa, ngăn chận các hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn  nhằm sử dụng lãng phí, thất thoát, cũng như các biểu hiện tham nhũng tài sản công như vậy?

Tham khảo thêm chi tiết về vụ Tòa nhà 66 Bà Triệu của báo Đại Đoàn Kết click vào link dưới đây:

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Công Đoàn phản đối ông Đinh Đức Lập

Ban chấp hành Công đoàn cơ sở Ban Công tác phía Nam nơi tôi  (Hữu Nguyên) đang sinh hoạt từ nhiều năm qua đã lên tiếng chính thức phản đối việc ông Đinh Đức Lập áp đặt, tổ chức xử lý kỷ luật tôi một cách trái pháp luật. 

Công văn số 11/CĐ-BCTPN do ông Trần Quốc Tuấn – Chủ tịch BCHCĐBCTPN- ký ngày 15/7/2013 đã chỉ ra khá cụ thể một số điểm vi phạm pháp luật của ông Đinh Đức Lập, Ban biên tập và Hội đồng kỷ luật của báo Đại Đoàn Kết trong quá trình xử lý kỷ luật tôi...

Từ những căn cứ mà công văn này chỉ ra, BCH CĐBCTPN đã yêu cầu ông Đinh Đức Lập - tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết - cần thiết phải hành xử công việc theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, theo các luật sư, quá trình áp đặt kỷ luật cho tôi của ông Đinh Đức Lập đã vi phạm hàng loạt các quy định của luật pháp hiện hành, không chỉ dừng lại một vài điểm như trong công văn nói trên. Hiện giờ, chúng tôi tạm thời không bình luận thêm gì về các sai phạm của ông Đinh Đức Lập có liên quan tới việc áp đặt kỷ luật nhằm trấn áp, trả thù những người tố cáo này của ông Lập. Chỉ có thể đưa ra nhận xét đầu tiên là chúng rất trùng hợp với kiểu cách hành xử của những kẻ vốn vẫn luôn quen cái thói sống coi thường và chà đạp lên luật pháp. 

Mời quý vị tham khảo để có thể thấy một phần nào đó việc ông Đinh Đức Lập chà đạp lên pháp luật chỉ để thỏa mãn các nhu cầu và lợi ích cá nhân của ông ta như thế nào trong quá trình cố gắng áp đặt kỷ luật để trả thù việc tôi đã tố cáo nhiều sai phạm, tiêu cực của ông ta.













CÔNG ĐOÀN CƠ QUAN
TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM
CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ
BAN CÔNG TÁC PHÍA NAM _______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
____________________________________________
Số:   11 /CĐ-BCTPN
V/v kiến nghị xem xét việc xử lý kỷ luật đối với ông Bùi Hữu Phước, Phó Trưởng ban BĐD Báo Đại Đoàn Kết tại TP. Hồ Chí Minh.
TP.  Hồ Chí Minh, ngày  15 tháng  7  năm 2013

Kính gửi:
Đồng chí Đinh Đức Lập, Tổng Biên tập Báo Đại Đoàn Kết.

Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở Ban Công tác phía Nam nhận được đơn của ông Bùi Hữu Phước đề ngày 03 tháng 7 năm 2013, nội dung đơn Khiếu nại Quyết định số 45-QĐ/BBT.ĐĐK  do Tổng Biên tập Đinh Đức Lập ký ngày 26 tháng 6 năm 2013 về việc kỷ luật đối với viên chức.
Ông Bùi Hữu Phước (tên thường gọi: Hữu Nguyên) hiện là Phó Trưởng ban Ban Đại diện Báo Đại Đoàn Kết tại Thành phố Hồ Chí Minh (là viên chức quản lý tương đương cấp phó trưởng phòng, được hưởng phụ cấp chức vụ là 0,4), là đoàn viên công đoàn thuộc Công đoàn cơ sở Ban Công tác phía Nam. Vì vậy, BCH Công đoàn cơ sở Ban Công tác phía Nam nhận thấy có trách nhiệm xem xét đơn khiếu nại của đoàn viên Bùi Hữu Phước theo quy định tại Khoản 7, Điều 10, Luật Công đoàn Việt Nam đã được Quốc Hội thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012.
Được sự chấp thuận của Cấp ủy đơn vị, BCH Công đoàn cơ sở Ban Công tác phía Nam đã tổ chức cuộc họp vào ngày 15 tháng 7 năm 2013 để xem xét các nội dung trình bày trong đơn khiếu nại của ông Bùi Hữu Phước. Sau khi nghiên cứu hồ sơ kèm theo đơn khiếu nại và đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành, BCH Công đoàn cơ sở Ban Công tác phía Nam thống nhất kiến nghị xem xét việc xử lý kỷ luật đối với ông Bùi Hữu Phước, Phó Trưởng ban BĐD Báo Đại Đoàn Kết tại TP. Hồ Chí Minh gồm các nội dung như sau:
1. Về thành phần Hội đồng kỷ luật:
Tại Khoản 2, Điều 17, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức (Sau đây gọi tắt là Nghị định 27) quy định như sau:
“2. Đối với viên chức quản lý có hành vi vi phạm pháp luật, Hội đồng kỷ luật có 05 thành viên, bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm viên chức;
b) Một ủy viên Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quản lý viên chức;
c) Một ủy viên Hội đồng là đại diện cấp ủy của đơn vị sự nghiệp công lập quản lý viên chức hoặc đơn vị được phân cấp quản lý viên chức;
d) Một ủy viên Hội đồng là đại diện Ban chấp hành công đoàn của đơn vị quản lý viên chức hoặc đơn vị được phân cấp quản lý viên chức;
đ) Một ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng là người đại diện bộ phận làm công tác tổ chức cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật viên chức.”
Đối chiếu với Quy định trên, thì Quyết định số 22-QĐ/BBT.ĐĐK ngày 08 tháng 4 năm 2013 của Ban Biên tập Báo Đại Đoàn Kết về việc thành lập Hội đồng xét kỷ luật, trong đó Chủ tịch Hội đồng kỷ luật là không đúng thành phần như quy định tại Điểm a; vì cho đến nay, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chưa có quyết định nào giao thẩm quyền cho Tổng Biên tập Báo Đại Đoàn Kết bổ nhiệm viên chức quản lý cấp phòng; Mặt khác về phía chính quyền, cũng chưa ban hành quy định thể chế hóa Hướng dẫn số 35-HD/ĐĐMTTQVN ngày 04 tháng 10 năm 2001 của Đảng Đoàn MTTQ Việt Nam về thực hiện phân cấp quản lý, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ. Qua đó, mặc nhiên việc bổ nhiệm viên chức quản lý vẫn thuộc thẩm quyền của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, mà cụ thể là thẩm quyền riêng của Thủ trưởng cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam theo quy định của pháp luật.
2. Về tổ chức kiểm điểm:
- Tại Khoản 2, Điều 15, Nghị định 27 quy định như sau:
“2. Đối với viên chức quản lý có hành vi vi phạm pháp luật, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm viên chức có trách nhiệm tổ chức họp kiểm điểm và quyết định thành phần dự họp.”
Đối chiếu với Quy định trên, thì trách nhiệm tổ chức họp kiểm điểm và quyết định thành phần dự họp theo Thông báo số 11-TB/BBT.ĐĐK ngày 08 tháng 4 năm 2013 của Ban Biên tập Báo Đại Đoàn Kết là không đúng thủ tục.
- Tại Khoản 4, Điều 15, Nghị định 27 quy định như sau:
“4. Nội dung các cuộc họp kiểm điểm viên chức có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều này phải được lập thành biên bản. Biên bản các cuộc họp kiểm điểm phải có kiến nghị áp dụng hình thức kỷ luật đối với viên chức có hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp kiểm điểm, biên bản cuộc họp kiểm điểm được gửi tới Chủ tịch Hội đồng kỷ luật để tổ chức xem xét xử lý kỷ luật theo quy định tại Nghị định này.”
Đối chiếu với Quy định trên, thì nội dung Biên bản họp BĐD Báo Báo Đại Đoàn Kết tại TP. Hồ Chí Minh ngày 17 tháng 4 năm 2013 về việc triển khai Thông báo số 11-TB/BBT.ĐĐK ngày 08 tháng 4 năm 2013 của Ban Biên tập Báo Đại Đoàn không có cơ sở pháp lý làm căn cứ xử lý kỷ luật vì không có kiến nghị áp dụng hình thức kỷ luật đối với ông Bùi Hữu Phước.
Mặt khác, Thông báo số 11-TB/BBT.ĐĐK yêu cầu ông Bùi Hữu Phước kiểm điểm về những hành vi vi phạm; đơn vị tổ chức họp kiểm điểm làm rõ động cơ, mục đích cũng như tác hại và hậu quả từ những vi phạm: “Thiếu ý thức xây dựng cơ quan, tuyên truyền các vấn đề nội bộ gây ảnh hưởng tới uy tín của Báo. Không thực hiện yêu cầu của Ban Biên tập, gặp gỡ, trao đổi và đối thoại những vấn đề phát sinh theo Quy chế hoạt động của Ban. Có nhiều nội dung tố cáo sai, tố cáo không đúng, tố cáo không có cơ sở”. Nếu căn cứ vào những nội dung như vừa nêu để cho rằng ông Bùi Hữu Phước đã có hành vi vi phạm pháp luật là chưa có cơ sở. Vì vậy, trong Biên bản cuộc họp toàn thể cán bộ, viên chức Ban Đại diện Báo Đại Đoàn kết tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17 tháng 4 năm 2013 về việc triển khai Thông báo số 11-TB/BBT.ĐĐK có ghi nội dung: “các ý kiến phát biểu trong cuộc họp đã đi tới sự thống nhất rằng các lý do được nêu ra trong Thông báo số 11 là chưa rõ ràng, không chỉ ra hành vi vi phạm cụ thể theo quy định của pháp luật nên Ban Đại diện gặp khó khăn trong việc kiểm điểm ông Hữu Nguyên để yêu cầu ông Hữu Nguyên tự kiểm điểm và tự nhận hình thức kỷ luật theo chỉ đạo của Ban Biên tập” là có cơ sở.
3. Về quyết định kỷ luật:                  
Ngày 26 tháng 6 năm 2013, thay mặt Ban Biên tập, đồng chí Đinh Đức Lập, Tổng Biên tập Báo Đại Đoàn Kết đã ký Quyết định số 45-QĐ/BBT.ĐĐK về việc xử lý kỷ luật ông Bùi Hữu Phước bằng hình thức Buộc thôi việc. Đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành, Quyết định số 45-QĐ/BBT.ĐĐK cần xem xét lại những nội dung sau:
- Tại Khoản 2, Điều 3, Nghị định 27 quy định như sau:
“2. Mỗi hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một hình thức kỷ luật. Nếu viên chức có nhiều hành vi vi phạm pháp luật hoặc tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian đang thi hành quyết định kỷ luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm pháp luật và chịu hình thức kỷ luật năng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trường hợp có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc.”
Đối chiếu với Quy định trên, Quyết định số 45-QĐ/BBT.ĐĐK nêu ra ba lý do kỷ luật, nhưng mỗi lý do không có một hình thức kỷ luật tương ứng là trái với quy định của pháp luật. Mặt khác, trong các lý do kỷ luật không thể hiện cụ thể về hành vi vi phạm của viên chức, hoặc văn bản kết luận của cơ quan thẩm quyền về hành vi vi phạm của viên chức. Ngoài ra, lý do kỷ luật “Không thực hiện yêu cầu của Ban Biên tập, gặp gỡ, trao đổi và đối thoại những vấn đề phát sinh theo Quy chế hoạt động của Báo”, xét thấy nếu có kết luận là sai phạm thì cũng đã hết thời hạn xử lý kỷ luật theo Quy định tại Điều 8, Nghị định 27.

- Tại Điều 13, Nghị định 27 quy định như sau:
Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng;
2. Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
3. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp công lập;
4. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;
5. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng dương lịch; năm dương lịch;
6. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức.”
Đối chiếu với Quy định trên, nếu đúng như ba lý do kỷ luật đã nêu, thì việc áp dụng hình thức kỷ luật Buộc thôi việc đối với ông Bùi Hữu Phước là chưa thỏa đáng vì không có hành vi vi phạm nào được xác định là “đặc biệt nghiêm trọng” hoặc các hành vi liên quan được pháp luật quy định áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc.
- Về thẩm quyền ký Quyết định 45-QĐ/BBT.ĐĐK (và Thông báo số 11-TB/BBT.ĐĐK) với tư cách “Thay mặt Ban Biên tập” là trái với quy định của pháp luật, vì Ban Biện tập Báo không phải là tổ chức bầu cử, dân cử, hoặc là tổ chức được quy định việc lãnh đạo quản lý, điều hành theo chế độ tập thể.
Vì các lý do trên, một lần nữa BCH Công đoàn cơ sở Ban Công tác phía Nam đề nghị đồng chí Tổng Biên tập Báo Đại Đoàn Kết xem xét lại việc xử lý kỷ luật đối với ông Bùi Hữu Phước, Phó Trưởng ban BĐD Báo Đại Đoàn Kết tại TP. Hồ Chí Minh, theo quy định của pháp luật.
Trân trọng kính chào./.
(Đính kèm bản phô tô đơn và hồ sơ khiếu nại của đương sự)

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bí thư Chi bộ Ban CTPN (để b/c);
- Chủ tịch Công đoàn cơ quan TW MTTQVN (để b/c);
- Trưởng BĐD Báo ĐĐK tại TP. HCM;
- Ông Bùi Hữu Phước (để biết);
- Lưu.
TM. BAN CHẤP HÀNH
CHỦ TỊCH
Trần Quốc Tuấn (đã ký và đóng dấu)

Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng: Đề nghị kỷ luật một số cán bộ chủ chốt

Kỳ họp thứ 20 Ủy ban kiểm tra Trung ương khóa XI:

Đề nghị kỷ luật một số cán bộ chủ chốt tỉnh, thành phố




Từ ngày 2 đến 11/7/2013, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XI đã họp kỳ thứ 20. Đồng chí Ngô Văn Dụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Hội nghị. 

Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, thống nhất kết luận và giải quyết các nội dung sau: 

I. Xem xét kết quả kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng đối với Ban Thường vụ và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy các tỉnh: Bắc Kạn, Bắc Giang, Nam Định, Hà Tĩnh, Đăk Lăk, Long An và Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương: 


Về ưu điểm, Ban Thường vụ và Ủy ban Kiểm tra các đơn vị được kiểm tra đã tổ chức quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng, nhất là sau kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra đã thực hiện khá toàn diện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. 

Các cuộc kiểm tra, giám sát tăng về số lượng, chất lượng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm đúng quy trình, thủ tục; kịp thời xem xét, giải quyết tố cáo và xử lý những vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Việc phối hợp với các cơ quan liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng có nền nếp. Chú trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, kiện toàn Ủy ban Kiểm tra các cấp, tổ chức bộ máy cơ quan Ủy ban Kiểm tra các cấp; xây dựng, củng cố cơ sở vất chất… đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. 

Về hạn chế, khuyết điểm, một số nơi chưa thực hiện giám sát chuyên đề đối với đảng viên; chưa quan tâm đúng mức trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát; có cấp ủy chưa chủ trì tổ chức tổng kết công tác kiểm tra, giám sát. Việc giải quyết đơn thư tố cáo, khiếu nại có lúc, có việc còn chưa dứt điểm; có cuộc kiểm tra, giám sát nội dung dàn trải, chưa có trọng tâm, trọng điểm. Hiệu quả phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng còn hạn chế. Việc chủ động phát hiện, quyết định kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên, cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm chưa đúng với tình hình vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên hiện nay; có đơn vị chưa kiểm tra tài chính đối với cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp. Chất lượng, hiệu quả giám sát còn hạn chế; có trường hợp xử lý kỷ luật đảng viên chưa bảo đảm quy trình, chưa tương xứng với vi phạm… 

Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu các tổ chức đảng nói trên khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện toàn diện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định, tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm. Các tổ chức đảng tăng cường kiểm tra, giám sát đảng viên và cấp ủy viên cùng cấp và đảng viên diện cấp ủy quản lý; đôn đốc, theo dõi việc thực hiện các kết luận kiểm tra, giám sát; quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra các cấp; đẩy mạnh tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng… 

II. Xem xét kết quả kiểm tra tài chính đảng đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa, Nghệ An: 


Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác tài chính, tài sản của Đảng; ban hành và chỉ đạo ban hành nhiều văn bản, quy định về quản lý tài chính, tài sản của Đảng bộ; chỉ đạo Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức kiểm tra tài chính đảng, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị. 

Tuy nhiên, trong chỉ đạo chưa thường xuyên, kịp thời cụ thể hóa cơ chế quản lý tài chính đảng; chưa có biện pháp quyết liệt chỉ đạo các cơ quan chức năng bảo đảm kinh phí hoạt động cho các tổ chức cơ sở đảng, nhất là cấp xã, phường; có trường hợp chưa thực hiện đúng quy định về cơ chế quản lý tài chính, tài sản đảng; chưa quan tâm đúng mức việc kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm quá trình triển khai các quy định về quản lý tài chính đảng… Các đơn vị được kiểm tra có khoản thu, chi chưa đúng chế độ. 

Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An, Khánh Hòa rút kinh nghiệm về những khuyết điểm, hạn chế đã chỉ ra; chỉ đạo Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy tăng cường kiểm tra, giám sát tài chính, nhất là đối với cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp. Cụ thể hóa, rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý tài chính, tài sản đảng; thực hiện đầy đủ chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính trong các cơ quan khối đảng cấp tỉnh và huyện; nghiên cứu chuyển đổi mô hình, cơ chế hoạt động của Nhà khách Tỉnh ủy, Nhà in Báo Nghệ An; thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về quản lý, sử dụng tài chính, tài sản đảng; xem xét, xử lý, chỉ đạo xử lý các khoản chi chưa đúng quy định. 

III. Xem xét, kết luận kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng UBND tỉnh và đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng: 
1.Ban cán sự đảng UBND tỉnh Sóc Trăng chậm xây dựng, bổ sung quy chế làm việc của Ban cán sự đảng UBND tỉnh sau mỗi nhiệm kỳ; tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy chưa kịp thời; lãnh đạo việc phân công nhiệm vụ còn chồng chéo. Trong việc chấp thuận chủ trương cho Công ty Satraco đầu tư xây dựng nhà hàng, khách sạn, khu du lịch gần chùa Dơi, Ban Cán sự đảng chưa lãnh đạo, chỉ đạo UBND tỉnh lập hồ sơ di tích theo quy định của Luật Di sản văn hóa; chưa xin ý kiến Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và không báo cáo với Ban Thường vụ Tỉnh ủy là vi phạm Quy chế làm việc của Tỉnh ủy. 

2. Đồng chí Nguyễn Trung Hiếu chưa chỉ đạo Ban cán sự đảng UBND tỉnh kịp thời xây dựng và bổ sung quy chế làm việc của Ban cán sự đảng và của UBND tỉnh; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nội bộ UBND tỉnh; vi phạm Quy chế làm việc của Tỉnh ủy trong việc cho chủ trương đầu tư dự án khu du lịch, nhà hàng, khách sạn gần chùa Dơi; thiếu kiểm tra, để xảy ra sai phạm trong việc thực hiện dự án, gây dự luận xấu; cho ý kiến về việc xử lý vi phạm khai thác cát trái phép không đúng thẩm quyền… 

Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sóc Trăng chỉ đạo Ban cán sự đảng UBND tỉnh và đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, những tổ chức, cá nhân có liên quan nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm về những khuyết điểm, vi phạm nêu trên. 

IV. Xem xét, quyết định và đề nghị thi hành kỷ luật đối với các đảng viên: 
1. Đồng chí Nguyễn Đình Nhương, nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Bí thư Huyện ủy, nguyên Chủ tịch HĐND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh: Từ năm 2003 - 2010, với trách nhiệm là Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện, đồng chí đã vi phạm nghiêm trọng trong quản lý, sử dụng đất, nhất là trong việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; thiếu kiểm tra, đôn đốc để tình trạng vi phạm Luật Đất đai không được khắc phục; vi phạm trong công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính, ngân sách huyện; buông lỏng công tác quản lý đầu tư xây dựng. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Ban Bí thư thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Đình Nhương theo thẩm quyền. 

2. Đồng chí Đào Tấn Nguyên, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Phú Yên: Vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống của người cán bộ lãnh đạo; thực hiện không đúng quy định về công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, vi phạm quy chế làm việc, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây dư luận không tốt tại địa phương. Ủy ban Kiểm tra Trung ương thống nhất đề nghị Ban Bí thư thi hành kỷ luật cách chức Tỉnh ủy viên đối với đồng chí Đào Tấn Nguyên. 

3. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, xử lý kỷ luật đối với các đồng chí: Nguyễn Huy Dự, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Điện Biên Phủ; Nguyễn Đức Đuyện, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Điện Biên Phủ; Nguyễn Quang Sáng, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Điện Biên, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Điện Biên Phủ. Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật 3 đồng chí bằng hình thức khiển trách, vì đã vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai. 

4. Đồng chí Nguyễn Thành Tẩm, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông, nguyên Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh: Thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, quản lý, dẫn đến Ban quản lý dự án thành phố có những vi phạm trong thực hiện quy chế quản lý đẩu tư xây dựng cơ bản; vi phạm quy định trong việc quản lý tài chính. Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với đồng chí Nguyễn Thành Tẩm. 

V. Xem xét, kết luận giải quyết tố cáo đối với các đảng viên là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý: 

1. Đồng chí Vũ Văn Sơn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hải Dương: Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận, đơn tố cáo đồng chí Vũ Văn Sơn nghỉ ốm dài ngày năm 2008, vẫn được công nhận là đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là có thật. Nội dung tố cáo “khai hồ sơ có 3 năm sinh (1957, 1958, 1959)”, qua kiểm tra, hồ sơ cán bộ, đảng viên của đồng chí Vũ Văn Sơn có hai năm sinh (1958 và 1959). Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu đồng chí Vũ Văn Sơn nghiêm túc rút kinh nghiệm việc bỏ phiếu đề nghị xếp loại đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong khi bản thân nghỉ công tác dài ngày trong năm. Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương chỉ đạo cơ quan tư pháp của tỉnh cùng đồng chí Vũ Văn Sơn thực hiện các thủ tục pháp lý để thống nhất một năm sinh trong hồ sơ của đồng chí theo quy định. 

2. Đồng chí Hà Hùng Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Đơn tố cáo đồng chí Hà Hùng Cường ký quyết định bổ nhiệm 1 cán bộ thuộc cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận theo đề nghị của Vụ Tổ chức cán bộ Tổng cục Thi hành án dân sự không đúng quy định là có cơ sở. Các nội dung khác không có cơ sở kết luận. 

Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu đồng chí Hà Hùng Cường kiểm điểm rút kinh nghiệm trước Ban cán sự đảng; yêu cầu Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp chỉ đạo kiểm điểm nghiêm khắc, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan; lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp cấp có thẩm quyền miễn nhiệm chức vụ đối với trường hợp bổ nhiệm không đúng. 

Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Thuận tổ chức kiểm điểm các đồng chí: Huỳnh Tấn Thành, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận; Võ Duy Quang, Tỉnh ủy viên, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, nguyên Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh do liên quan đến vụ việc trên. Quá trình kiểm điểm, nếu tổ chức, cá nhân có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải áp dụng hình thức kỷ luật nghiêm minh. 

VI. Xem xét, cho ý kiến và kết luận giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với các đảng viên: 


Ủy ban Kiểm tra Trung ương thảo luận, cho ý kiến đối với báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh của Đoàn giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng của Ban Bí thư đối với đồng chí Lương Thị Cẩm Sự, nguyên Đảng ủy viên, Phó Bí thư Chi bộ Hành chính, Điều dưỡng trưởng Khoa Sản, Bệnh viện đa khoa huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định xóa hình thức kỷ luật khiển trách đối với đồng chí Dương Thị Anh Tài, thuộc Đảng bộ Công an tỉnh Quảng Trị; giữ nguyên hình thức kỷ luật cách chức Bí thư Chi bộ đối với đồng chí Phạm Trọng Nhã, thuộc Đảng bộ xã Lộc Thuận, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. 

VII. Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thảo luận, quyết định ban hành hoặc lấy thêm ý kiến để ban hành một số văn bản nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng.


TTXVN/Tin tức

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

ĐINH ĐỨC LẬP LÀ AI ? SAO LỘNG HÀNH THẾ !

LS. Trần Đình Triển

Qua vụ việc của ông Đinh Đức Lập ( Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết ) tôi thật sự đau buồn vì đây là tờ báo nói tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà luật đã quy định rõ :


“Điều 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị



1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Điều 2. Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.”

Đinh Đức Lập đã có đủ căn cứ dấu hiệu làm giấy tờ giả, được bổ nhiệm chức Tổng biên tập và được cấp thẻ nhà báo trái quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước; có dấu hiệu : làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế,quản lý tài sản, sử dụng –chiếm giữ trái phép tiền bạc của anh em có động cơ tư lợi;… Tất cả những nội dung trên được 1 số anh chị em phóng viên, lãnh đạo một số Ban của Tòa Báo khiếu nại, tố cáo là có căn cứ, nhưng lạ lùng thay :

- Cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN thanh tra,xác minh,…kết luận giải quyết khiếu nại- tố cáo nhưng đến nay chưa cung cấp thông tin và thông báo, công bố kết quả hoặc quyết định giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo theo quy định tại : Điều 12, điều 14 và điều 15 Luật Khiếu nại; Điều 9 và điều 11 Luật Tố cáo.

- 14 giờ ngày 08/7/2013 ,Tôi đến Tòa soạn báo Đại Đoàn Kết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đặng Thị Kim Ngân ( là một trong những người khiếu nại- tố cáo Đinh Đức Lập ) đang bị Hội đồng kỹ luật của Báo họp xét kỹ luật. Tôi đã và đang thực hiện đúng quy định của Bộ Luật lao động, Luật Khiếu nại, Luật Luật sư, Luật Viên chức,…Tôi không nhận được giấy mời hoặc trả lời của Tòa Báo trước đó, tôi biết thông tin từ thân chủ và đến Tòa Báo thì bị ông Đinh Đức Lập chỉ đạo nhân viên tìm mọi cách và viện mọi lý do không cho tôi làm việc theo quy định của pháp luật

- Trước tình cảnh đó, Tôi đến MTTQVN với ý định gặp Lãnh đạo báo cáo và trình bày quan điểm của mình,…Tôi gặp 1 chị còn rất trẻ ( ở hành lang ) đưa giấy giới thiệu và hỏi phòng của Chánh-Phó Văn phòng để xin đăng ký làm việc với Chủ tịch. Tôi thật bất ngờ, chị ấy thốt lên :” ÔI ! lại chuyện ông Lập, ông ta buồn cười và nghênh ngang lắm; hôm công bố kỹ luật Đảng với mức khiển trách với ông ấy, trùng với ngày sinh nhật ông Vũ Trọng Kim ,liên hoan chúc mừng ông Kim thì ông Lập đứng hát bài : Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao,…”

Tôi lặng lẽ suy tư và đoán biết nguyên nhân sâu xa của vụ việc,..”chờ cho” Đinh Đức Lập “ vung dao- múa kiếm” “triệt hạ” những nhà báo chân chính vì đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực,..Văn phòng luật sư Vì Dân sẽ lên tiếng đến các cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước để xử lý. Tôi tin Đảng,tin Nhà nước, tin nhân dân, lẽ phải sẽ được bảo vệ, cho dù kẻ đó là ai ? đứng sau che chắn cho Đinh Đức Lập !


Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

ĐÀ LẠT KHÓI SƯƠNG

1. Tôi thích những bức tranh có mây chiều lãng đãng vắt ngang vài dãy núi ẩn hiện xa xa. Tôi thích những tia nắng sớm len vào những tán lá thông xuyên qua làn sương mờ ảo làm rực lên những sợi nắng vàng óng ả và mềm mại như tơ giăng ngang đồi.

Lòng tôi luôn xao xuyến bởi một đám khói mù khơi lênh đênh trên mặt hồ, mỏng manh như hơi thở của trời đất lúc chập choạng cuối hoàng hôn hay chớm bình minh. Có lòng nào không xao xuyến khi được chiêm nghiệm cái thời khắc chuyển đổi của đất trời. Tôi mặc dù cũng luôn bị mê hoặc khi đứng trước bức tranh thiên nhiên kỳ thú có cảnh núi non xanh biếc dưới bầu trời quang đãng, không gợn một bóng mây. Nhưng sự mê hoặc đó sẽ không giữ được lâu khi trong không gian tĩnh lặng lại thiếu đi những áng mây mờ ảo, những dãy sương óng ả giăng giăng trên rừng thông lặng lẽ…



Khi mọi vật bị làm cho mờ ảo, lung linh hơn bởi cái không gian đầy sương lãng đãng, sức quyến rũ  của bức tranh càng gia tăng và như hút hồn lữ khách cô đơn đắm chìm vào trong cái mê cung đó. Ta như rơi vào trong một trạng thái huyền ảo, một cõi mơ hồ, bâng khuâng giữa hư và thực, mọi thứ ta nhìn thấy dường như có, dường như không. Nó kích hoạt khả năng tưởng tượng và liên tưởng.  Nó hút ta vào ngày một sâu thẩm hơn trong chính sự biến đổi huyền ảo không ngừng của nó. Rồi bất ngờ nhận ra ta chính là một phần của bức tranh kỳ vĩ ấy.

Ta bắt đầu khám phá ra những hang động bí ẩn, những cánh rừng hoang sơ và cả những bông hoa dại chưa từng ai ngắm nhìn. Từ trên đỉnh núi cao tít mù có một ngọn thác trắng xóa đang đổ xuống làm tung toé những hạt bụi óng ả xao động cả nắng chiều. Những rặng thông rì rào, thảm lá thông êm ái, mùi nhựa thông hăng hắc mà ngọt ngào quyến rũ, quyện trong cái không gian dường như có dường như không khiến ta nhớ mới những vóc dáng, những mùi hương quen thuộc từng làm trái tim ta thổn thức…

Rồi bất ngờ nhận ra không chỉ có trái tim ta mà còn bao nhiêu nỗi nhớ và tình yêu của rất nhiều trái tim yêu thương khác cũng từng quyện lấy cái không gian này. Những con người dường như có dường như không đã đến đây một lần rồi đi về nơi xa xôi mãi mãi… Mà hình như ta còn nhìn thấy hình bóng của họ vẫn còn đang lãng đãng mơ hồ trong khói sương chiều nay.

Một trong những hình bóng sẽ mãi còn lãng đãng với khói sương Đà Lạt chính là thi nhân Hàn Mặc Tử, chỉ vì vừa khi nhìn thấy Đà Lạt là ông biết ngay rằng:

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu,
Trời mơ trong cảnh thật huyền mơ.
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt,
Như đón từ xa một ý thơ. 





Đà Lạt. Làm sao ta có thể diễn tả được nó chỉ trong một bức tranh đóng khung bằng vài tấm gỗ và giấy!  Cho dù bạn có là một họa sĩ tài ba biết thu lấy cái hồn của Đà Lạt thì cũng chỉ có thể thấu hiểu được nó trong một khoảnh khắc thật mông lung. Như ta nhìn thấy cuộc đời ngắn ngủi của một chú thiêu thân bay qua ánh sáng của ngọn đèn leo lét. Và dường như sự thấu hiểu đó lại không thể chia sẻ một cách trọn vẹn với bất kỳ ai và với bất kỳ cách thức hay hình thức nào. Đó chỉ có thể trọn vẹn là một cảm xúc riêng tư, một sự thấu hiểu thinh lặng và thẩm thấu vào bên trong.




Đà Lạt mây trắng giăng giăng đầu núi, muôn ngàn thung lũng xanh non, những con suối ngoằn ngèo, những rặng thông vi vu, những căn nhà xinh xinh nằm rải rác trên sườn đồi, những vườn rau mơn mởn, những loài hoa làm gợi nhớ tới tình yêu và những cuộc chia ly. Đà Lạt với những con dốc thoai thoải, cái này chồng lên cái kia, buồi chiều mặt trời xuống đỏ ối phía sau dốc, người đi lên dốc tưởng như từng bước chân đưa mình gần hơn tới chốn thiên đàng. Đà Lạt với những con thác sủi bọt trắng xoá, với chiếc cầu bắc ngang dòng suối bằng thân cây thông già để nguyên cả vỏ, nước liếm vào thân cây phủ đầy rêu xanh, bước chơi vơi trên cây cầu nguyên thủy, không khéo trượt chân chợt thấy mình chơi vơi giữa hai bờ sinh - tử. Nhìn về phía đầu ghềnh, dòng nước dữ dội đập vào những tảng đá bạc đầu; nhìn về phía cuối ghềnh, nước êm ả nhè nhẹ trôi như chưa từng va đập, những thân gỗ mục từ thượng nguồn xa xôi trôi về lênh đênh như thân phận con người. Làm sao có thể mang tất cả những thứ đó vào một bức tranh mang tên Đà Lạt?




2. Sáng nay ngồi trong một quán cà phê trên ngọn đồi nhỏ cạnh hồ Xuân Hương. Trước mắt, mặt nước, sân golf lừng lững với những chùm thông trên nền cỏ chải chuốt, phía xa xa là dãy Langbian huyền thoại, mơ hồ trong sương sớm. Chợt chạnh lòng nhìn thấy một khúc thông già bị ai đó hạ gục còn nằm vương vãi bên sườn đồi. Cạnh đó còn trơ trọi hai gốc thông cổ thụ hoen rỉ một ít nhựa có màu đỏ bầm như máu.

Ai đó đã vội vàng trồng một ít hoa ngay bên cạnh, vội vàng lấp vào gốc hoa một ít cỏ xanh còn trơ cả bộ rễ lên trời. Ai đó vừa mới hạ hai cây thông đẹp nhất của Đà Lạt. Hai cây thông mọc trên ngọn đồi nhỏ cạnh hồ Xuân Hương, là điểm ngắm hầu như của mọi du khách đến với Đà Lạt và những người yêu Đà Lạt. Lại càng bàng hoàng hơn khi phát hiện ra không chỉ hai cây thông mà ngay cả gốc mai anh đào cổ thụ, từng được mệnh danh là “Đệ nhất Mai” của Đà Lạt, cũng đã bị ai đó chặt trụi. 




Uống xong ly cà phê đen nóng thơm lừng buổi sáng Đà Lạt, tôi rảo bước về hướng chợ trung tâm, một trong những kiến trúc nổi tiếng có sự tham gia của Khôi nguyên La Mã 1955 - kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Vừa bước chân xuống ngọn đồi, một quan cảnh náo nhiệt hiện ra, Đà Lạt căng tràn sức sống với  đủ loại nhà cửa, kiến trúc nhấp nhô, màu sắc sặc sỡ và từng đoàn người xe đi lại tấp nập…

Một khu trung tâm thương mại hoành tráng đang mọc lên trên sườn đồi, ngăn cách giữa không gian thoáng đãng phóng khoáng giữa chơ, hồ và những dãy phố lúp xúp trên đồi... Bức tranh bị cắt vụn và mỗi người hình như chỉ còn nhìn thấy cái...mũi của mình trước khi nhìn thấy một Đà Lạt trong mắt của những nhà quy hoạch và kiến trúc tài năng trong quá khứ...



Đà Lạt ở góc nhìn này xem ra chẳng có liên quan gì tới hai cây thông bị cắt cụt kia. Nó đang căng mình ra, trương lên như một cơ thể thừa thải sức sống, nó giàu có và đang tìm cách phô trương. Sự phô trương của nó khiến tôi nghĩ lại, bùng nổ dân số và nhà cửa mấy năm gần đây của Đà Lạt không thể nói không liên quan tới chuyện hai gốc thông cụt ở bên kia hồ. Những con đường đầy thông xanh vi vu ngày xưa, nay đã biến mất không phải dần dần mà thật bất ngờ, thật nhanh chóng đến kinh ngạc.

Trong ký ức sâu thẩm của tôi, trước khi nói Đà Lạt thành phố ngàn hoa, phải nói Đà Lạt - thành phố của thông xanh, thành phố của sương mù. Vắng thông xanh, vắng sương mù không thể còn Đà Lạt uyên nguyên.

Khi còn nhỏ, nói đến Đà Lạt là tôi nghĩ ngay tới những ngôi nhà gỗ xinh xinh trong rừng thông bãng lãng sương mù. Sương mù của Đà Lạt không chỉ là sương mù của đất trời mà còn là sương mù của huyền thoại. Ngày còn ngồi trên giảng đường, tôi có những cô bạn sinh viên dân gốc Đà Lạt học cùng lớp trông giống như những cô gái bước ra từ cõi mộng hoang đường với đôi má hồng và đôi mắt nai long lanh kỳ lạ.




Tiếng thông reo là một trong những tặng vật tuyệt diệu mà tạo hóa đã ưu ái dành cho Đà Lạt. Nguyễn Du từng mong ước: “Hà năng lạc phát quy lâm khứ, Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân” (Làm sao xuống tóc vào rừng, Nghe thông reo gió vang lừng tầng mây). Nguyễn Công Trứ cũng từng cầu khẩn: “Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Đà Lạt có thể mất đi thác ghềnh, mất đi ngàn hoa và có thể mất đi nhiều thứ khác, song với tôi, nếu không còn rừng thông xanh ngắt lãng đãng trong sương và tiếng thông reo vang lừng xao động mấy tầng mây thì có lẽ kiếp sau phải bắt chước cụ Nguyễn Công Trứ cầu xin ông Trời đừng cho làm người nữa, mà làm cây thông đứng giữa Đà Lạt mà reo.

“Ai mà chịu rét thì trèo với thông”, vậy!

Hình ảnh lấy từ FB  Rong Reu