Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Nói một đàng làm một nẻo!


Từ nhiều năm nay, các tàu ngư chính, kể cả tàu chiến của Trung Quốc hàng năm vẫn thường quấy nhiễu, sử dụng vũ lực bắt bớ, đánh đập gây thương tích, tịch thu phương tiện và tài sản của nhiều ngư dân Việt Nam đang đánh cá hợp pháp trên vùng biển hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Mới đây nhất, ngày 22-2-2012, tàu cá QNg-90281TS của ông Đặng Tằm ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi vào tránh bão trong khu vực quần đảo Hoàng Sa đã bị tàu chiến Trung Quốc bắn đuổi và sau đó bắt giữ, đánh đập, phá hủy ngư cụ, tài sản.
Cửa kính tàu của ông Tằm bị bắn vỡ
Theo các nhân chứng trở về từ sự kiện nói trên, lúc 15 giờ chiều ngày 22-2-2012 tàu của ông Đặng Tằm đang tránh gió trong vùng biển gần đảo Hoàng Sa thì tàu hải quân của Trung Quốc từ hướng đảo Phú Lâm tiến tới gần và bắn vào tàu của ông Đặng Tằm, (còn vài viên đạn vẫn đang găm dính trong vách gỗ của ca-bin tàu). Sau đó, tàu chiến Trung Quốc bắt giữ tàu cá của ông Đặng Tằm kéo về đảo Phú Lâm. Lính Trung Quốc đã bịt mắt các ngư dân Việt Nam trên tàu cá, tịch thu tài sản, hải sản đánh bắt được; trang thiết bị, máy thông tin liên lạc trên tàu đều bị thu sạch. Sau khi đánh đập các ngư dân, tịch thu tất cả các trang thiết bị và tài sản trên tàu cá, lính Trung Quốc đuổi các ngư dân Việt Nam trở ra biển cả trên chiếc tàu trống không.
Đáng lưu ý, hành vi bạo lực trên biển lần này không phải là lần đầu tiên. Năm ngoái ông Đặng Tằm cũng từng bị lính Trung Quốc bắt khi đang hành nghề trên vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa. Có thể dễ dàng tìm thấy các ngư dân cũng như người thân của rất nhiều ngư dân đã từng bị tàu ngư chính, tàu hải giám và cả tàu chiến Trung Quốc bắt bớ, hành hung, tịch thu tài sản, phương tiện không chỉ một lần mà là rất nhiều lần, trong đó có những người đã vĩnh viễn nằm lại với biển cả, tại xã đảo Lý Sơn hay xã Bình Châu thuộc tỉnh Quảng Ngãi, cũng như tại rất nhiều ngôi làng ven biển khác dọc theo miền Trung Việt Nam. Đó chính là những ngư dân mà từ nhiều đời qua cha ông họ đã từng gắn bó, quen thuộc, chết sống với ngư trường Hoàng Sa thuộc chủ quyền lâu đời của người Việt Nam ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII cho đến nay theo các tài liệu lịch sử chính thống cũng như căn cứ trên cơ sở pháp lý quốc tế.
Về sự kiện xảy ra ngày 22-2-2012 trên vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị cho biết: "Hành động trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần đối xử nhân đạo đối với ngư dân, đe doạ nghiêm trọng tính mạng và gây thiệt hại nặng nề về tài sản cho ngư dân Việt Nam, không phù hợp với quan hệ hữu nghị giữa hai nước và nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC). Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối hành động nêu trên của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc không để tái diễn những hành động sai trái tương tự và bồi thường thiệt hại cho ngư dân Việt Nam”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị một lần nữa khẳng định Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc ngư dân Việt Nam hoạt động nghề cá tại các vùng biển thuộc hai quần đảo này là việc làm bình thường từ bao đời nay và phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.
Tàu cá của ông Đặng Tằm về đến đất liền
Điều đáng nói là ngay sau đó, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã "bác bỏ” chuyện lính Trung Quốc hành hạ các ngư dân Việt Nam. Tranh thủ sự kiện này, ông Hồng Lỗi lại tiếp tục khẳng định cái gọi là "chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa (tên Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa) và các vùng nước lân cận” (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị hải quân Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa năm 1974). Tuy nhiên, ông Hồng Lỗi cũng thừa nhận rằng gần đây cơ quan chức năng của Trung Quốc "trong tinh thần nhân đạo” vừa mới trục xuất một tàu cá Việt Nam "vi phạm cướp cá” trong vùng biển của Trung Quốc, theo đó các cơ quan chức năng của Trung Quốc đã "giúp đỡ, cứu giúp ngư dân Việt Nam” và đã nhận được từ phía Việt Nam "sự cảm kích”. Cách nói mang đầy chất "ngoa ngữ” của ông Hồng Lỗi về sự kiện ngày 22-2-2012 khiến chúng ta nhớ lại diễn biến của các sự kiện vừa xảy ra hồi tháng 5 và tháng 6 năm ngoái về chuyện các tàu hải giám của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế, ngang nhiên xông vào cắt cáp, phá hoại thiết bị thăm dò dầu khí của hai tàu Bình Minh 2 và Viking II đang hoạt động hợp pháp trong thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cơ quan ngoại giao của Việt Nam lúc bấy giờ đã khẳng định, hành động của các tàu cá và tàu hải giám Trung Quốc hoàn toàn có chủ ý, hoàn toàn có mục tiêu và đã được lên kế hoạch, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Các hành động này không chỉ vi phạm Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển, vi phạm DOC mà còn đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo hai nước về duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông. Các chuyên gia cho rằng hành động có hệ thống này của Trung Quốc nhằm tạo ra tranh chấp tại vùng không có tranh chấp để đạt được mục tiêu thực hiện việc áp đặt yêu sách "đường lưỡi bò” bao chiếm hầu hết Biển Đông, vi phạm chủ quyền của nhiều quốc gia trong khu vực. Cũng cần lưu ý rằng từ năm 1974 Trung Quốc sau khi dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã tiếp tục dùng vũ lực cưỡng chiếm thêm nhiều đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong những năm gầy đây họ đã không ngần ngại dùng vũ lực núp dưới các chiêu bài "ngư chính, hải giám, cảnh sát biển”... và kể cả tàu chiến để áp đặt các yêu sách về chủ quyền của họ trên hầu hết Biển Đông, tiêu biểu nhất là yêu sách "đường lưỡi bò” ngang ngược.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc bấy giờ cũng đã lên tiếng "bác bỏ” các cáo buộc của Việt Nam dành cho hai sự kiện "cắt cáp” trắng trợn của các tàu hải giám Trung Quốc. Phía Trung Quốc cho rằng "các nhận xét của Việt Nam không hoàn toàn phản ánh đúng sự thật”. "Sự thật” theo phía Trung Quốc, là họ có "chủ quyền không thể tranh cãi với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa) và các vùng nước liền kề”. Thừa nhận có chuyện "cắt cáp” song Trung Quốc giải thích rằng trong lúc tàu cá Trung Quốc đang đánh bắt hợp pháp trong vùng biển thuộc chủ quyền của họ thì bị các tàu có vũ trang của Việt Nam rượt đuổi. Trong quá trình rượt đuổi đó "lưới đánh cá của một trong những chiếc tàu cá Trung Quốc vướng vào cáp của tàu thăm dò dầu khí Việt Nam đang hoạt động trái phép trong khu vực”. Trong bối cảnh này các ngư dân Trung Quốc phải nghĩ ra cách buộc phải cắt lưới đánh cá để tách hai con tàu ra. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn ngạo ngược yêu cầu Việt Nam ngừng tất cả các hoạt động vi phạm "chủ quyền” của Trung Quốc gây nguy hại đến tính mạng và tài sản của công dân Trung Quốc, làm phức tạp hóa tình hình trên Biển Đông. Cuối cùng, phía Trung Quốc còn bày tỏ sự "hy vọng” rằng Việt Nam sẽ nỗ lực duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông.
Thực tế là hai sự kiện tàu hải giám của Trung Quốc xông vào vùng biển Việt Nam cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Bình Minh 2 và Viking II có những bằng chứng rõ ràng cho thấy việc này xảy ra hoàn toàn nằm trong vùng biển có toạ độ địa lý cụ thể thuộc về thềm lục địa của Việt Nam theo quy định của Luật Biển quốc tế. Vậy mà Trung Quốc vẫn ngang nhiên cho rằng các tàu cá của họ "đang hoạt động hợp pháp trong vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc” và đổ vấy cho phía Việt Nam xâm phạm chủ quyền, thăm dò dầu khí, rượt đuổi tàu cá Trung Quốc trên chính vùng biển của họ (?).
Ông Đặng Tằm đang chỉ những vết đạn còn găm trên tàu của ông
Cũng cần phải nhắc lại ngay sau khi "Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển” được lãnh đạo cấp cao hai nước Việt – Trung ký kết tháng 10-2011, từ đầu năm 2012 nhiều hoạt động làm phức tạp tình hình trên Biển Đông lại được phía Trung Quốc đơn phương thực hiện. Theo báo chí Trung Quốc, chỉ trong vòng chưa đầy hai tháng từ đầu năm 2012, nước này đã có các hoạt động dồn dập tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Bộ trưởng Giao thông Trung Quốc ra Hoàng Sa thị sát tàu Hải Tuần; Cục trưởng Cục Thể thao đến thăm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa trong khi Cục trưởng Cục Ngư chính khu "Nam Hải” loan báo nước này đang tính xây dựng căn cứ nghề cá trên đảo Phú Lâm cũng như xây cầu tàu và căn cứ cho dịch vụ nghề cá ở quần đảo Trường Sa. Viện Nghiên cứu môi trường và khảo sát công trình hải dương Nam Hải thì đang thực hiện dự án đo đạc, giám sát, phân tích và đánh giá sự thay đổi của một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa... Chưa kể trước đó Trung Quốc cho chạy thử tàu sân bay Thi Lang đồng thời với việc công bố kế hoạch phát triển tàu sân bay rầm rộ; công bố dự án đưa dàn khoan dầu khí "khổng lồ” lớn nhất thế giới vào Biển Đông...
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng phản đối các hoạt động làm phức tạp tình hình trên Biển Đông này của Trung Quốc. Ngày 23-2-2012, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã khẳng định chủ quyền không tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông Nghị nhấn mạnh "mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng cho rằng các hoạt động gần đây của Trung Quốc ở hai quần đảo này "đã làm phức tạp và căng thẳng thêm tình hình trên Biển Đông”, trái với Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển mà lãnh đạo hai nước vừa ký kết, không phù hợp với tinh thần DOC và các cam kết duy trì ổn định hòa bình trên Biển Đông.
Gần đây xuất hiện một bài viết trên mạng Tân Hoa thuộc quyền quản lý của Tân Hoa Xã cho rằng: "Trên trường quốc tế, có người lợi dụng một số va chạm, tranh chấp ở Nam Hải (Biển Đông), rắp tâm hướng mâu thuẫn vào Trung Quốc, tô vẽ, thổi phồng "mối đe dọa từ Trung Quốc”. Cách nói vu vơ thiếu căn cứ như trên đã không đánh lừa được ai. Quốc sách và chiến lược của Trung Quốc là không xưng bá, trước sau cùng với các nước láng giềng thi hành chính sách láng giềng thân thiện, cùng có lợi, cùng thắng và cùng phát triển. Bản thân Trung Quốc không mưu cầu bá quyền, cũng không tranh bá với nước khác, hay tìm kiếm một hình thức "bá quyền chung” nào đó với nước khác. Lịch sử và hiện thực chứng minh rằng Trung Quốc không phải là "mối đe dọa” an ninh truyền thống với các nước xung quanh, mà là cơ hội hợp tác cùng có lợi”. Mối đe dọa từ Trung Quốc” không phải là chuyện "tưởng tượng” của các quốc gia ven Biển Đông hoặc của cộng đồng quốc tế với nhiều cường quốc có lợi ích liên quan tới con đường hàng hải quốc tế trên Biển Đông. Kết luận đó được đưa ra từ các diễn đàn nghiêm túc của các quốc gia trong khu vực cũng như của nhiều hội thảo khoa học quốc tế với các chuyên gia hàng đầu và hoàn toàn xuất phát từ những căn cứ có thật, từ thực tiễn hoạt động trên Biển Đông của Trung Quốc nhiều năm qua. Kết luận đó cũng chính là thực tiễn lịch sử trong quan hệ láng giềng theo kiểu "cá lớn nuốt cá bé” giữa Trung Quốc và nhiều quốc gia lân bang từ hàng ngàn năm qua. Điều đáng quan ngại là phía Trung Quốc lại không nhìn nhận sự thật và cách mà các quốc gia láng giềng cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá về sự hung hăng, gây hấn của họ trong những năm gần đây gây căng thẳng trên Biển Đông nhằm áp đặt yêu sách "đường lưỡi bò” phi pháp và phi khoa học của họ. Kể cả chuyện phải "rút ra bài học” về những hành động xuyên tạc lịch sử và "bóp méo” khoa học mà các "học giả lưỡi bò” của họ từng bị vạch trần trong các hội thảo quốc tế cũng như trên các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới. Mâu thuẫn giữa "nói và làm” của Trung Quốc trên Biển Đông càng "lộ diện” phương thức hành xử "bá đạo” của họ, rõ ràng không thể có cách nào hiểu khác hơn là "miệng nói hoà bình, không xưng bá; tay làm phức tạp hóa tình hình”.
Hữu Nguyên

Thực hư chuyện giảm lãi suất


Có thể thấy rằng, việc giảm lãi suất cho vay hiện mới chỉ diễn ra ở các ngân hàng thương mại lớn với mức độ dè dặt, còn các ngân hàng nhỏ vẫn đang trong thế "án binh bất động”. Nếu lãnh đạo một số ngân hàng thương mại lý giải là do các ngân hàng còn đang nghe ngóng thị trường thì các "đại gia” tuyên bố hạ lãi suất nhưng không định lượng quy mô từng gói tín dụng trong giới hạn hạ lãi suất là bao nhiêu. Điều này khiến nhiều người đặt vấn đề việc giảm lãi suất về hình thức có thể chỉ là chuyện "xức nước hoa” lên thương hiệu.
Tiếp sau BIDV, VietinBank và Vietcombank, tới lượt Agribank tuyên bố hạ lãi suất cho vay. Sự xuất hiện của "tứ đại gia”, chiếm khoảng 60% thị phần tín dụng, được kỳ vọng sẽ làm mặt bằng lãi suất hạ nhiệt. Tuy nhiên các ngân hàng trên cũng khẳng định chỉ một số ít doanh nghiệp mới có thể tiếp cận được lãi suất này. Đáng lưu ý là các "đại gia” tuyên bố hạ lãi suất nhưng không định lượng quy mô từng gói tín dụng trong giới hạn hạ lãi suất là bao nhiêu. Điều này khiến nhiều người đặt vấn đề việc giảm lãi suất về hình thức có thể chỉ là chuyện "xức nước hoa” lên thương hiệu.
Có thể thấy rằng, việc giảm lãi suất cho vay hiện mới chỉ diễn ra ở các ngân hàng thương mại lớn với mức độ dè dặt, còn các ngân hàng nhỏ vẫn đang trong thế "án binh bất động”. Lãnh đạo một ngân hàng thương mại lý giải là do các ngân hàng còn đang nghe ngóng thị trường. Mặc dù đã có dự báo, xu hướng giảm lãi suất sẽ diễn ra trong thời gian tới, khi mà tính thanh khoản của nhiều ngân hàng thương mại lớn đang được cải thiện đáng kể. Nếu như trước đây vấn đề hạ lãi suất cho vay được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cố ý trì hoãn với lý do lạm phát "giảm chưa bền vững”, thì sau khi chỉ số lạm phát đã giảm dưới mức 1% trong nhiều tháng liên tiếp, sự khó khăn về thanh khoản của các ngân hàng lại được đưa ra như một lý do mới mẻ để tiếp tục tạo điều kiện cho mặt bằng lãi suất được "leo cao”, giúp các ngân hàng thương mại tiếp tục thụ hưởng cảnh "ngồi mát ăn bát vàng”.
Trái ngược với tuyên bố chưa giảm lãi suất vì NHNN vẫn đang phải theo dõi tình trạng thanh khoản của các ngân hàng, các số liệu liên tục được đưa ra trong nhiều tháng qua cho thấy tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã được cải thiện đáng kể. Cần nhắc lại, vào đầu tháng 12-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu NHNN phải nhanh chóng giảm lãi suất, nhưng lại giao cho cơ quan này quyết định về thời điểm. Đầu tháng 12-2011, ngành ngân hàng ngồi lại với nhau để tính chuyện kinh doanh năm 2012, trong đó vấn đề hạ lãi suất tiếp tục được đặt ra. Và dường như, thời điểm đó nó đã đạt được một sự đồng thuận khi NHNN thể hiện quan điểm sẽ từng bước hạ lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Mọi người đều hiểu dù chưa thể giảm một lúc theo mong muốn nhưng yêu cầu giảm lãi suất là cấp bách và sẽ có một lộ trình để sớm thực hiện. Cũng tại Hội nghị này, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo ngành ngân hàng phải giảm lãi suất ngay từ đầu năm 2012 và việc giảm lãi suất này là phù hợp với quy luật khách quan chứ không phải là mệnh lệnh hành chính. Thủ tướng nhấn mạnh không có lý do gì không hạ được lãi suất cho vay xuống khi liên tục trong sáu tháng qua, chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 1%. Khi lạm phát giảm thì lãi suất cho vay phải hạ theo. Trách nhiệm và nghĩa vụ của ngân hàng là phải duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tăng trưởng của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp sụp đổ hàng loạt thì những ngân hàng cho vay vốn cũng sẽ bị ảnh hưởng ngay.
Đã gần ba tháng trôi qua kể từ khi có sự chỉ đạo của Thủ tướng, mặt bằng lãi suất huy động và đặc biệt là lãi suất cho vay vẫn tiếp tục được lãnh đạo NHNN treo cao vô định, với những lý do "mới phát hiện” như thanh khoản của hệ thống ngân hàng, thời vụ trong sản xuất, kinh doanh. Điều này hoàn toàn khác biệt so với căn cứ "chỉ cần lạm phát giảm là có cơ sở để hạ lãi suất” của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình từng cam kết trước Quốc hội. Trong lúc đó, "trò chơi thanh khoản” của các ngân hàng thì vẫn tiếp tục kéo dài thời gian vô định. Bởi vì dù nền kinh tế có bức xúc tới đâu đi chăng nữa, có vẻ cần phải thông cảm với lãnh đạo NHNN khi họ đã "thừa nhận” việc hạ lãi suất không phải chuyện nói là làm được ngay. Cơ quan điều hành chính sách tiền tệ lại giải thích rằng: lạm phát đang có chuyển biến tích cực, là nền tảng để có thể giảm lãi suất nhưng đáng tiếc lạm phát không phải là yếu tố quyết định duy nhất mà còn có thêm yếu tố phải đảm bảo thanh khoản của các ngân hàng nữa. Theo lãnh đạo NHNN, khi bình thường tiền nhiều, nhu cầu về tiền bớt đi thì mới giảm được lãi suất nhưng hiện giờ ai cũng nói là thiếu thanh khoản, ai cũng cần vốn thì giá vốn làm sao giảm được. Tới đây thì một thực tế khác đã lộ diện, lãi suất tăng cao không phải chỉ để kiềm chế lạm phát, vì sự ổn định kinh tế mà lãi suất còn đang phục vụ cho vấn đề thanh khoản, trong đó có vấn đề thanh khoản của ngân hàng là quan trọng nhất. Điều này có thể hiểu, khả năng giảm lãi suất sẽ là không thể khi mà thanh khoản ngân hàng hãy còn căng thẳng. Đây thực sự là một nghịch lý, khi những ngày cuối năm ngoái, các ngân hàng dù kẻ cao người thấp đều công bố những con số lãi cả ngàn tỷ đồng, trong khi đó tình hình kinh tế nói chung và thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là rất khó khăn. Có vẻ như lãi suất đang đi ngược dòng với tất cả, và người ta cũng gạt sang một bên điều đã từng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần là "lạm phát giảm thì lãi suất sẽ giảm”. Thay vào đó người ta coi lãi suất cần phải được duy trì với mức cao để phục vụ thanh khoản.
Lãi suất cho vay chưa giảm vì thanh khoản
của các ngân hàng còn căng thẳng?
                                                            Ảnh: Hoàng Long
Theo công bố của NHNN hiện có khoảng 10 ngân hàng đang được xếp vào nhóm IV (nhóm yếu kém và không được tăng trưởng tín dụng trong năm 2012). Đây cũng chính là nhóm mà khả năng mất thanh khoản cao nhất. Mặc dù vậy, tất cả các tín hiệu gần đây (bao gồm cả tín hiệu lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, có lúc xuống dưới 10%/năm) cho thấy cả nhóm này cũng không quá khó khăn về thanh khoản. Nhưng điều đáng bàn là ngay cả trong tình trạng mất thanh khoản thì các cơ quan chức năng cũng phải tìm biện pháp nhanh chóng xử lý vi phạm của các ngân hàng chứ không thể đổ hết các khó khăn lên đầu đối tượng khác là các doanh nghiệp trong nước. Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 03/NQ-CP, tiếp tục chỉ đạo NHNN theo dõi sát tình hình để có phương án giảm lãi suất tín dụng ở mức hợp lý vào thời điểm thích hợp. Đây cũng là mong muốn của toàn xã hội. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng đà giảm của lãi suất đang bị cản bởi lý do thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn căng thẳng. Với tình hình "u u minh minh” về thanh khoản của hệ thống ngân hàng hiện nay, các chuyên gia đều cho rằng rất khó dự báo thời điểm nào lãi suất sẽ hạ, bởi ngay cả khi lãi suất đang ở mức cao như hiện nay, nhiều ngân hàng vẫn cứ viện lý do đang ở trong tình trạng căng thẳng thanh khoản.
Nếu việc giảm lãi suất huy động có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiết kiệm và thanh khoản của một số ngân hàng, có ý kiến cho rằng tại sao NHNN lại không thể áp trần lãi suất cho vay như đã từng áp trần đối với lãi suất huy động? NHNN đã khống chế trần lãi suất huy động từ nửa năm nay nhưng vẫn để ngỏ lãi suất cho vay. Điều này dù muốn hay không đã trở thành sự bảo đảm tuyệt vời cho các ngân hàng dễ dàng kiếm lãi lớn. Do vậy, hạ lãi suất bằng cách khống chế lãi suất cho vay là một phương án cần được tính đến. Bản chất của ngân hàng cũng là một doanh nghiệp như các doanh nghiệp khác. Có nghĩa là mua của người này rồi bán cho người khác, trong quy trình đó đồng tiền là hàng hóa, lãi suất tiền gửi là giá mua vào và lãi suất cho vay là giá bán ra. Trong quy trình đó, thời gian qua NHNN đã ra chỉ thị hành chính khống chế một đầu và thả lỏng đầu còn lại. Sự khống chế khập khiễng này đã dẫn đến rất nhiều hệ lụy mà người gánh chịu chính lại là giới doanh nghiệp.
Trong hoàn cảnh đó, người có tiền không có lựa chọn nào khác là buộc phải cho vay với lãi suất cố định là 14% trong khi lạm phát là 19% -20%. Người đi vay vẫn phải chấp nhận giá cao, mức thấp nhất theo công bố của các ngân hàng là 17% (hiếm có doanh nghiệp nào vay được với mức lãi suất này) trong khi mức cao thì vô cùng. Trong thực tế, muốn vay được với lãi suất 17% là chuyện không thể vì còn phải trả rất nhiều loại phí khác nữa. Thông thường vẫn là 21% + phí thẩm định tài sản thế chấp. Như vậy, phải chăng NHNN đã tạo điều kiện cho các ngân hàng có thêm được một khoản lợi nhuận rất lớn đến từ chính sách không rõ ràng. Với thực tế mua vào thì cao nhất chỉ có 14%, còn bán ra thì tùy ý muốn, chẳng khác nào "bỏ ngỏ” tạo cơ hội cho các ngân hàng tha hồ kiếm lãi. Trong tình hình kinh kế khó khăn hiện nay thì ngân hàng càng được hưởng lợi nhiều hơn vì người đi vay đang trong tình thế không còn lựa chọn nào khác, phải chấp nhận vay với bất cứ giá nào.
Trong khi đó, nếu NHNN làm ngược lại, chỉ nên khống chế đầu ra là lãi suất cho vay 17% và thả lỏng đầu vào thì sẽ có các tác dụng lớn hơn cho nền kinh tế. Người đi vay chỉ phải trả 17% lãi suất thực, với lãi suất có thể chấp nhận được này thì đồng tiền sẽ trực tiếp và nhanh chóng đi vào sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế đang bị trì trệ và vượt qua khó khăn trong thời gian ngắn nhất. Đây là cái được lớn nhất mà nền kinh tế Việt Nam đang mong đợi. Các ngân hàng có cơ chế hoạt động tốt, chi phí thấp có thể tăng khả năng huy động vốn bằng cách tăng cao lãi suất tiền gửi thu hút được nhiều khách hàng đến gửi tiền, giải quyết được bài toán thanh khoản. Đồng thời, điều này sẽ giúp tránh được những khoản cho vay có độ rủi ro cao đảm bảo tính bền vững của toàn hệ thống ngân hàng. Bởi vì khi chỉ được phép cho vay với cùng một lãi suất thì mặc nhiên các ngân hàng sẽ lựa chọn khách hàng là người có uy tín, độ tin cậy cao, có khả năng trả nợ thực tế, đúng hạn hồ sơ thế chấp, tín chấp minh bạch rõ ràng. Đó cũng là điều mà nền kinh tế Việt Nam đang mỏi mắt trông đợi vào hệ thống ngân hàng.
Lê Phái

“Sức mạnh mềm” của Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống “đường lưỡi bò”


“Sức mạnh mềm” của Việt Nam từng được vận dụng vô cùng khéo léo trong các cuộc chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của cha ông ta hàng ngàn năm qua. Khái niệm “sức mạnh mềm” rất gần gũi với quan điểm “dĩ đức phục nhân”, lấy đức để thu phục lòng người trong tư tưởng phương Đông. Trong lịch sử giữ nước, có thể coi Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là áng văn đỉnh cao thể hiện “sức mạnh mềm” của người Việt Nam với tư tưởng “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo”.
Trong Bình Ngô Sách dâng lên Lê Lợi trình bày sách lược đánh đuổi quân Minh, Nguyễn Trãi đã vạch ra nền tảng tư tưởng cho toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn bằng chiến lược phối hợp nhịp nhàng ba mặt trận là chính trị, binh vận và ngoại giao, nêu cao chính nghĩa dân tộc và sức mạnh quyết định của nhân dân để giành chiến thắng. Đó là kế đánh vào lòng người, không xông trận mà vẫn khuất phục được đối phương (Ngã mưu phạt nhi công tâm, bất chiến tự khuất). Chiến lược hòa bình của ông cha ta được thể hiện một cách nhuần nhuyễn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn. Khi 10 vạn quân Vương Thông bị quân ta vây hãm ở thành Đông Quan, nếu Lê Lợi và Nguyễn Trãi hạ lệnh tấn công, chắc chắn quân giặc sẽ bị tiêu diệt sạch. Nhưng tư tưởng “lấy chí nhân thay cường bạo”, bằng chiến lược hòa bình Lê Lợi và Nguyễn Trãi chủ trương “dập tắt muôn đời chiến tranh – mở nền thái bình muôn thuở” đã mở đường cho quân Minh rút về nước với Hội thề Đông Quan lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến. Đó là một cách kết thúc chiến tranh độc đáo, sáng tạo, sáng ngời nhân nghĩa gắn liền với chiến lược hòa bình của ông cha ta.
GS Joshep Nye (cha đẻ của khái niệm “sức mạnh mềm”) trả lời báo giới khi tới thăm Việt Nam năm 2007 đã từng nhận định, Việt Nam có nhiều thứ có thể thu hút, lôi kéo các quốc gia khác như sự nổi danh từ lịch sử đấu tranh giành độc lập bảo vệ chủ quyền, sự chuyển đổi thành công trở thành một nền kinh tế có mức tăng trưởng ấn tượng... Ông cho rằng, những điều này đã giúp gia tăng “sức mạnh mềm” của Việt Nam . Điểm hấp dẫn nhất của “sức mạnh mềm” Việt Nam hiện nay nằm ở tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc và phát triển kinh tế. Cũng theo GS Joshep Nye, văn hóa của Việt Nam luôn hấp dẫn, có sức lôi cuốn các nước phương Tây, điều này thật quan trọng vì “có 3 nguồn lực chính để tạo nên "sức mạnh mềm": một là văn hoá quốc gia, hai là hệ giá trị quốc gia và ba là chính sách quốc gia”.
Do điều kiện địa lý, Việt Nam trở thành chướng ngại tự nhiên của Trung Quốc trên con đường chiếm lĩnh Biển Đông để vươn ra Thái Bình Dương. Lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta đã để lại nhiều bài học quý giá và phù hợp với thực tế khách quan của một đất nước khiêm nhường buộc phải tồn tại và phát triển bên cạnh một anh hàng xóm khổng lồ và đầy tham vọng. Ngày nay, trước sự xuất hiện của một siêu cường Trung Quốc đang lên, tham vọng bành trướng và cách hành xử hung hăng của họ trong thời gian gần đây đã gây quan ngại sâu sắc cho cộng đồng thế giới, đặc biệt là tình hình an ninh và tự do hàng hải trên Biển Đông. Tuy nhiên, thực tế đó, theo các nhà phân tích lại tạo ra một thời cơ thuận lợi cho Việt Nam, với truyền thống độc lập tự chủ, yêu chuộng hòa bình và khát vọng vươn lên đang được minh chứng bằng sự đổi mới mạnh mẽ hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Có thể nói, tình thế hiện nay tạo ra sự mong muốn của cộng đồng thế giới trước sự “trỗi dậy” đầy đe dọa của Trung Quốc là cần thiết xuất hiện một Việt Nam mạnh mẽ, trở thành một quốc gia cầu nối có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển. Đồng thời, khi trở thành đối tác đáng tin cậy của cộng đồng thế giới, Việt Nam mới có thể trở thành đối tác được tôn trọng và bình đẳng của Trung Quốc.
Tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” bằng yêu sách “đường lưỡi bò” bao chiếm 80% Biển Đông của Trung Quốc trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cùng với các hành động hung hăng gần đây của nước này trên Biển Đông dù muốn hay không muốn cũng đã đặt dân tộc Việt Nam vào một tình thế buộc phải đối phó. Các chuyên gia lịch sử nhận định, kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, có lẽ đây là lần thứ tư nước ta phải đối mặt với sự thách đố lớn như vậy. Riêng trên phương diện quân sự, qua 3 cuộc chiến tranh chống xâm lược ở thế kỷ trước, Việt Nam đã trải nghiệm thực tế là vấn đề tổng số lực lượng quân sự của đối phương và vấn đề lực lượng tại chỗ của ta là hai vấn đề khác nhau, không thể đơn thuần dùng số lượng đo đếm mạnh - yếu của nhau để luận thế thắng bại. Trong thời kỳ đối đầu, sức mạnh của các quốc gia thường được cân đong đo đếm bởi sức mạnh quân sự và kinh tế, tức là “sức mạnh cứng”. Dù vậy, “sức mạnh mềm” quốc gia vẫn không thể xem nhẹ, mà những “câu chuyện kể” về chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước là một minh chứng. Đó là một trong những câu chuyện hấp dẫn và sống động nhất, thu hút được những tình cảm và sự ủng hộ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới dành cho Việt Nam . Sức mạnh ấy góp phần không nhỏ vào thắng lợi của Việt Nam trên mặt trận ngoại giao, làm tiền đề cho những chiến thắng quân sự, giúp non sông Việt Nam quy về một mối.
Đường lối đối ngoại của Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các quốc gia, trở thành một thành viên có trách nhiệm và đáng tin cậy trong cộng đồng thế giới như đã được đề ra lâu nay chỉ có thể trở thành hiện thực trên cơ sở Việt Nam phải có khả năng đi cùng với xu thế phát triển của cả thế giới, cùng với cả thế giới phấn đấu cho trào lưu của hòa bình, tiến bộ, dân chủ, văn minh; cùng phấn đấu như thế để tự phát triển và để có khả năng hợp tác được, hợp tác có thực chất với mọi đối tác. Cần nhấn mạnh, đấy chính là đường lối đối ngoại dấn thân, dựa trên cơ sở tạo ra cho mình khả năng dấn thân – phấn đấu vì lợi ích chính đáng của chính mình, và đồng thời phấn đấu vì các lợi ích của cộng đồng thế giới. Về lâu dài, dân tộc ta ngày nay vẫn phải noi gương cha ông mình “đem đại nghĩa thắng hung tàn”, phải có bản lĩnh và thực lực để thực hiện được bài học này, phải thúc giục nhau làm cho đất nước sớm giầu mạnh lên để mau chóng trở thành một quốc gia mẫu mực trong việc “lấy chí nhân thay cường bạo”.
Chiến lược hòa bình của Việt Nam luôn là thành tố quan trọng trong tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Ngày nay, trước sự đe dọa, hung hăng của việc áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông, Việt Nam vẫn luôn giữ vững tinh thần “dĩ bất biến” kiên trì tìm cách giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan và tôn trọng các giá trị văn minh của nhân loại, tức là luôn luôn coi trọng đàm phán và giải quyết vấn đề trên nền tảng công pháp quốc tế. Từ “muốn là bạn” (Đại hội VII, VIII), “sẵn sàng là bạn” (Đại hội IX), “là bạn và đối tác tin cậy” (Đại hội X), Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung thêm là “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, thể hiện quá trình trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự tham gia ngày càng tích cực, chủ động và có trách nhiệm của nước ta tại các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu. Điều đó thực tế đã góp phần làm gia tăng “sức mạnh mềm” của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, tạo ra thế và lực cân bằng trong việc xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực cho Việt Nam trong những năm gần đây. Trong mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ, cần lưu ý rằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hay bất kỳ phản ứng cảm tính nào khác đều là sai lầm, chẳng hạn như tâm lý “bài Hoa”, chỉ làm mất đi sự tỉnh táo cần thiết và chỉ có thể gây thêm nguy hại mới cho đất nước. Mặt khác, nuôi dưỡng tinh thần hữu nghị và hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc đòi hỏi rất nhiều nỗ lực lớn, trong đó cần thiết phải hết sức tỉnh táo, kiên trì và dũng cảm. Lịch sử quan hệ hai nước Việt-Trung ghi lại nhiều trang lẫm liệt, ngay sau khi đưa được “khách không mời mà đến” ra khỏi nhà mình, Việt Nam đã phải nghĩ đến cầu hòa. Không ai có thể phủ nhận nhân dân ta có nguyện vọng sâu xa và truyền thống quý báu trong xây dựng mối quan hệ đời đời này với Trung Quốc. Bản lĩnh ấy ngày nay càng quan trọng hơn bất cứ giai đoạn nào khác. Ngoại giao dấn thân vì lợi ích quốc gia, dân tộc và có trách nhiệm với thế giới chính là một nền ngoại giao mạnh của một quốc gia có nền nội trị lành mạnh và đầy sức sống. Và cũng chỉ một nền ngoại giao dấn thân như thế mới bảo vệ được đất nước ta và luôn luôn tạo ra cho nước ta sức phát triển mới.
Có thể thấy Biển Đông  là một mặt trận nóng, thậm chí có lúc có thể rất nóng, nhưng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mặt trận chính quyết định giành thắng lợi ở mọi mặt trận khác, là nhân dân ta phải xây dựng bằng được nền nội trị lành mạnh làm nền tảng quốc gia cho mọi quốc sách phát triển kinh tế, xã hội,  ngoại giao và quốc phòng. Đây mới là vấn đề, là mặt trận quyết định vận mệnh của Tổ quốc. Thực tế ngày càng làm rõ, “dĩ bất biến ứng vạn biến” cho mọi tình huống là hơn bao giờ hết xây dựng nội trị lành mạnh là mặt trận chính yếu hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đấy sẽ là bức trường thành bất khả xâm phạm bảo vệ Tổ quốc và là nền tảng xây dựng đất nước phồn vinh. Không thể ngồi chờ đợi và cũng sẽ không có chuyện một ngày đẹp trời Trung Quốc bổng nhiên rút yêu sách “đường lưỡi bò”. Nhưng ngoại giao dấn thân và thái độ công khai minh bạch có thể huy động được dư luận trong nước và thế giới ngăn cản sự lấn tới của Trung Quốc, và trên cơ sở đó tiếp tục giữ được hòa bình trên Biển Đông, mở đường cho những triển vọng mới sau này. Đây còn là hướng đi cụ thể thúc đẩy quá trình hoàn thành Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), cũng như tiến tới các hiệp định về hòa bình và an ninh khu vực có tính ràng buộc pháp lý cụ thể và chặt chẽ hơn.
Các chuyên gia đều cho rằng, cái gốc của “sức mạnh mềm” suy cho cùng  là sự đồng lòng, là kết tinh của sự đoàn kết thống nhất toàn dân tộc. Nhưng muốn có sự đồng lòng, phải biết bao dung, biết dung hòa những khác biệt để hợp sức cho mục tiêu chung là sự giàu mạnh, phát triển bền vững cho muôn đời con cháu mai sau của cộng đồng dân tộc. Một trong những thành tố của sức mạnh tổng hợp tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc gia trong lĩnh vực nội trị được cha ông chúng ta sử dụng trong suốt chiều dài lịch sử là sự khoan thư sức dân, lấy dân làm trọng, ý niệm mạnh mẽ về chính nghĩa của dân tộc. Với những điều đó, cha ông chúng ta đã  phát huy và động viên được tất cả những tiềm năng, sự sáng tạo của mỗi thành viên trong cộng đồng trên mọi lĩnh vực từ kinh tế - xã hội đến quân sự - quốc phòng và văn hóa – nghệ thuật. Lịch sử cho thấy, thời đại nào nắm vững và thực hành nghiêm túc bài học nội trị như trên luôn là thời thịnh trị với minh quân, thế nước vững chắc cùng sự no ấm của muôn dân khiến cho bao nhiêu mưu toan xâm lược đều phải tiêu vong.
Trước những hành xử hung hăng của Trung Quốc trong âm mưu bá chiếm Biển Đông, áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” phi pháp và phi khoa học, trong tư thế tự vệ chính nghĩa, chủ trương giải quyết  tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, chủ trương cùng hợp tác, ổn định và phát triển với các nước liên quan của Việt Nam đang thực sự chuyển hóa thành “sức mạnh mềm”. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang sở hữu một “sức mạnh mềm” từ lịch sử oai hùng, bất khuất được khắc ghi bởi những người con anh hùng của dân tộc, anh dũng hy sinh trong suốt chiều dài hàng mấy thế kỷ qua để thực thi chủ quyền thiêng liêng của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó mãi mãi khắc ghi hình ảnh những dân binh của các hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải từ thời các vua chúa nhà Nguyễn đến các chiến sỹ Việt Nam Cộng Hòa tử trận năm 1974 trong cuộc hải chiến Hoàng Sa, các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất cùng nắm tay nhau thành “vòng trỏn bất tử” coi nhẹ cái chết năm 1988 trong cuộc chiến bảo vệ Trường Sa…
“Sức mạnh mềm”  của Việt Nam cũng cần được hỗ trợ bởi truyền thông tích cực và kiên trì. Cần phải làm cho mỗi người Việt Nam trong và ngoài nước, cộng đồng thế giới, kể cả nhân dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật lịch sử và cơ sở pháp lý quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; hiểu rõ về chủ trương “dĩ bất biến ứng vạn biến” kiên trì với chiến lược hòa bình của người Việt Nam trong việc giải quyết mọi tranh chấp quốc tế; kế thừa và thực hiện sáng tạo tư tưởng của cha ông “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo” để “mở nền thái bình muôn thuở” không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn vì hòa bình, ổn định, hợp tác và cùng phát triển trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.
Nhóm PV Biển Đông
Chú thích ảnh:

1-     “Sói biển Hoàng Sa” thuyền trưởng Mai Phụng Lưu trong vòng tay gia đình và đồng bào sau khi bị Trung Quốc nhiều lần bắt bớ, tịch thu tàu thuyền, ngư cụ, tài sản… vì kiên quyết bám giữ ngư trường Hoàng Sa của cha ông mình.
2-     Ngư dân Việt Nam từ bao đời qua bám biển, góp phần bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của người Việt Nam trên Biển Đông.
3-     Trẻ em trên đảo Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa, Việt Nam .
  
[Bài này đã kết thúc loạt bài “Đường lưỡi bò” – Yêu sách hoang đường trên Biển Đông]

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Đưa Hoàng Sa vào sách giáo khoa


Thời luận 01-12-2011
Đưa Hoàng Sa vào sách giáo khoa
Hữu Nguyên
Đòi lại quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình là vấn đề quốc gia đại sự mang tính lâu dài và phải có sự góp sức của toàn thể người Việt Nam bất kỳ đang sinh sống ở đâu. Do vậy, bước đầu tiên trong sự nghiệp lớn lao này là phải làm cho toàn dân nhìn thấy rõ sự thật lịch sử và tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội như nhau, đều có thể tham gia đóng góp hết khả năng của mình vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Quốc hội ngày 25-11-2011 về vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mang một ý nghĩa chính trị - lịch sử quan trọng. Lần đầu tiên một quan chức cấp cao của đất nước phát biểu tại Quốc hội đã công khai sự kiện Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực năm 1974 và thừa nhận chính quyền Việt Nam Cộng hòa khi đó đang quản lý quần đảo này theo đúng tinh thần của luật pháp quốc tế. Thủ tướng cũng khẳng định, Việt Nam có chủ quyền lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa, ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII, khi chưa có bất kỳ quốc gia nào chiếm hữu hay tuyên bố chiếm hữu quần đảo này. Kể từ đó, người Việt Nam đã liên tục quản lý, khai thác quần đảo Hoàng Sa một cách hòa bình, lâu dài và liên tục. Có thể nói, phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đây đã làm thay đổi nhận thức chung của dư luận trong và ngoài nước về những “vấn đề nhạy cảm” trong việc tuyên truyền, phổ biến các bằng chứng lịch sử về chủ quyền biển đảo của Việt Nam trong thời gian qua, mà đặc biệt là về quần đảo Hoàng Sa.
Theo TS. Giáp Văn Dương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), trên thực tế ngay từ khi Hoàng Sa vẫn còn bị cho là “vấn đề nhạy cảm”, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cần phải thực hiện “chiến lược 3C” (Công khai – Công luận – Công pháp) về vấn đề Biển Đông. Tức là truớc hết cần phải công khai hiện trạng tranh chấp trên Biển Đông, trong đó có việc quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm, đồng thời công khai lập trường của các bên, công khai các sự kiện lịch sử (kể cả các sự kiện lâu nay được coi là “nhạy cảm”) đã từng xảy ra cho toàn dân biết. Từ đó sử dụng công luận, báo chí và các hình thức truyền thông để cung cấp một cách đầy đủ, hệ thống và liên tục cho toàn dân kể cả cho nhân dân Trung Quốc, cũng như cộng đồng quốc tế biết rõ sự thật về tranh chấp trên Biển Đông, lên án những hành vi sử dụng vũ lực, vi phạm pháp luật quốc tế trong khu vực, khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam giải quyết các vấn đề trên Biển Đông bằng thương lượng hòa bình trên cơ sở tuân thủ và tôn trọng công pháp quốc tế. Theo các nhà nghiên cứu, trong cuộc đấu tranh lâu dài này, vũ khí hòa bình nhưng lại vô cùng sắc bén chính là công pháp, tức luật pháp quốc tế, các án lệ, Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông… Quan điểm hòa bình và tôn trọng công pháp quốc tế của Việt Nam trong giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông được các nhà bình luận quốc tế coi là “sức mạnh mềm” nhưng vô cùng sắc bén của người Việt Nam trong cuộc đấu tranh này nếu như người Việt Nam biết cách sử dụng hiệu quả “vũ khí hòa bình” chính là ánh sáng công khai và sức mạnh công luận.
Từ thời nhà Nguyễn, các vua chúa phong kiến đã ý thức rất rõ việc công khai các thông tin và tư liệu lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa trong dân chúng để xây dựng sự đồng thuận và tăng cường ý thức dân tộc trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của quốc gia. Một phát hiện gần đây của các nhà sử học Việt Nam cho thấy từ thời vua Tự Đức, sách giao khoa dạy trẻ học vỡ lòng bằng chữ Hán đã có nội dung học về quần đảo Hoàng Sa. Bản đồ quần đảo Hoàng Sa được in trong sách “Khải Đồng Thuyết Ước”, được khắc in lần đầu vào năm Quý Sữu, Tự Đức năm thứ sáu (1853) và được sử dụng trong tất cả các trường học ngay từ đầu đời vua Tự Đức tương tự như sách giáo khoa ngày nay.
Việc công khai các sự kiện lịch sử về chủ quyền biển đảo mà đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa (đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép bằng vũ lực từ năm 1974) chính là bước đi đầu tiên để tạo nên sự đồng thuận trong sự nghiệp lâu dài, kiên trì và to lớn của cả dân tộc: đòi lại quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Một trong những con đường công khai và chuẩn bị hành trang cho các thế hệ người Việt Nam trong tương lai lâu dài cho cuộc đấu tranh này là đưa các sự kiện lịch sử quan trọng về chủ quyền biển đảo vào trong sách giáo khoa giảng dạy trong tất cả các trường học ở các cấp. Ngày 29-11-2011, tại một hội nghị do Ban Tuyên Giáo Trung ương tổ chức, Chuẩn Đô đốc Đinh Gia Thật (Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân) đã đề nghị cần đưa nội dung chủ quyền biển đảo của Việt Nam vào sách giáo khoa, làm tài liệu học tập chính khóa trong tất cả các bậc học để giúp thế hệ trẻ Việt Nam hiểu rõ và sâu sắc hơn các vấn đề liên quan tới tranh chấp trên Biển Đông, mà đặc biệt là về chủ quyền thiêng liêng của người Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Từ đó, dần dần xây dựng ý thức và năng lực đấu tranh, tạo nên sự đồng thuận cao nhất góp phần hiệu quả vào cuộc đấu tranh lâu dài đòi lại Hoàng Sa trong các thế hệ tương lai. Đề nghị đưa nội dung chủ quyền biển đảo vào trong sách giáo khoa chính thức giảng dạy trong trường học các cấp thực ra đã được dư luận nói tới từ nhiều năm qua và đã nhận được sự đồng thuận cao của xã hội. Điều đáng nói là, đề nghị lần này đã được đưa ra chính thức trong một phiên họp quan trọng của Ban Tuyên giáo Trung ương và được phát ngôn bởi một sỹ quan cao cấp của Hải quân Việt Nam, những người đang nhận lãnh trách nhiệm quan trọng và trực tiếp nhất trong việc giữ gìn chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đương nhiên cũng là những người hiểu rõ hơn ai hết cần phải có những hành động cụ thể gì để có thể tạo ra sức mạnh toàn dân tộc tham gia vào sự nghiệp to lớn và lâu dài này.
Trong cuộc đấu tranh đòi lại quần đảo Hoàng Sa từ tay Trung Quốc và bảo vệ vững chắc chủ quyền quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày nay, việc thu thập và hệ thống hóa các tư liệu lịch sử, các sự kiện quan trọng chứng minh một cách khoa học chủ quyền của người Việt Nam từ lâu đời trên hai quần đảo này phù hợp với công pháp quốc tế là một việc vô cùng quan trọng. Khi chúng ta có đầy đủ chứng cứ lịch sử lâu dài, liên tục và cơ sở pháp lý vững chắc để khẳng định chủ quyền có nghĩa là chúng ta có chính nghĩa. Đồng thời, lập trường giải quyết các tranh chấp trong hòa bình tuân thủ luật pháp quốc tế của Việt Nam sẽ tạo nên “sức mạnh mềm” có khả năng thuyết phục cao và dễ dàng kêu gọi sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế đứng về phía Việt Nam. Các tư liệu lịch sử muốn có giá trị như là những bằng chứng pháp lý quốc tế, ngoài việc phải đảm bảo tính khách quan, khoa học trong nghiên cứu còn phải chứng minh được tính liên tục và sự kế thừa giữa các hình thức nhà nước của người Việt Nam trong lịch sử về chủ quyền. Giáo sư Carl Thayer (Học viện Quốc phòng Úc) cho rằng sau tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Việt Nam cần đẩy mạnh việc trưng ra các bằng chứng chứng minh quá trình thực thi chủ quyền liên tục tại quần đảo Hoàng Sa. “Việt Nam cũng cần phải cung cấp các bằng chứng cho thấy đã từng lên tiếng phản đối sự chiếm đóng của Trung Quốc đối với nhóm Đông và Tây quần đảo Hoàng Sa khi các sự việc này mới xảy ra”, ông Thayer nói. Chuyên gia Úc cũng cho rằng “lập trường của Việt Nam chỉ có thể được củng cố nếu Việt Nam cung cấp một danh sách các hành động phản đối liên tục của mình kể từ năm 1974 (thời điểm Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa) đến nay”.
Chúng ta thường nói nhiều về việc phát hiện các tài liệu thời Nguyễn, thời Pháp thuộc, những tài liệu của người Trung Quốc, người phương Tây đề cập tới chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, bên cạnh các tài liệu như trên, chúng ta còn có một hệ thống tư liệu là các văn kiện khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Những tài liệu thời Việt Nam Cộng hòa, trong đó có các tuyên bố phản đối chính thức sau sự kiện Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa năm 1974, là những bằng chứng quan trọng cho chính nghĩa Việt Nam. Trước kia, do nhiều vấn đề còn tồn đọng của lịch sử, chúng ta ít khi công khai những tài liệu trong giai đoạn này. Giờ đây, để phục vụ cho công cuộc đấu tranh đòi lại quần đảo Hoàng Sa, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa, những tài liệu ấy cần được nghiên cứu và công bố nhiều hơn, cần được công khai để mọi người dân đều có thể hiểu rõ hơn về lịch sử chủ quyền, về lập trường xuyên suốt của các chính quyền tại Việt Nam. Không chỉ ở trong nước, các tài liệu này cần được giới thiệu rộng rãi ra quốc tế, để thế giới biết được chính nghĩa của Việt Nam, cũng như nhận thấy việc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã thực hiện vào các năm 1974 và 1988 là vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc ứng xử của nhân loại văn minh trong vấn đề thụ đắc lãnh thổ, là hành vi vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên hợp quốc và công pháp quốc tế. 

Đòi chủ quyền Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình


Một trong những nội dung trả lời chất vấn trước Quốc hội mới đây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận được sự đồng thuận cao của mọi tầng lớp nhân dân. Thủ tướng không chỉ lên tiếng khẳng định chủ quyền thiêng liêng của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn đề ra các giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế đòi hỏi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.
Việt Nam cần tận dụng tất cả các diễn đàn quốc tế và khu vực
 để minh bạch hóa các thông tin, chuẩn bị đầy đủ
cho một cuộc đấu tranh về ngoại giao trong tinh thần thiện chí
 và tính đúng đắn của lập trường Việt Nam
Ảnh: Hồng Sâm
Trong bài phát biểu ngắn gọn nhưng rất súc tích, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra những căn cứ quan trọng về lịch sử và pháp lý quốc tế để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo đó, người Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo này thực sự ít nhất từ thế kỷ thứ XVII, khi mà hai quần đảo này chưa hề thuộc về bất kỳ một quốc gia nào, người Việt Nam đã thực sự làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên thực tế và liên tục trong hòa bình. Thủ tướng cũng cho biết: "Đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý lúc đó của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hợp Quốc can thiệp. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam của chúng ta lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này của chúng ta phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), phù hợp với Tuyên bố chung về Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (DOC)”.
Đối với quần đảo Trường Sa, Thủ tướng cho biết, năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Hải quân Việt Nam đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa (đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca) do quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang quản lý. Sau đó, Việt Nam tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo, với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra, Việt Nam còn xây dựng thêm 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở vùng biển này, vùng biển trong phạm vi 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta. Thủ tướng khẳng định, trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà Việt Nam đang đóng giữ với 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này.
Cũng cần lưu ý rằng phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Trung Quốc tuyên bố tổ chức tour du lịch tới quần đảo Hoàng Sa ngày 22-11-2011. Về việc này, ngày 24-11-2011, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị tuyên bố: "Việt Nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động của nước ngoài tại hai khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam, trái với tinh thần DOC”.
Các nhà phân tích cho rằng phát biểu trên đây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mang tầm quan trọng đặc biệt. Bởi vì, khác với quần đảo Trường Sa vốn được coi là khu vực có nhiều quốc gia đang tranh chấp, quần đảo Hoàng Sa luôn được Trung Quốc coi là lãnh thổ của nước này một cách "hiển nhiên” và không chấp nhận bất cứ đề nghị đàm phán nào về chủ quyền của nước khác đối với quần đảo Hoàng Sa. Trong khi đó, các chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý quốc tế đều cho thấy trong suốt ba thế kỷ từ XVII-XIX, chính quyền phong kiến Việt Nam đã thực thi liên tục chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa bằng cách thường xuyên cử các đội thuyền Hoàng Sa và Bắc Hải đến các đảo này hàng năm để khảo sát, đo đạc, khai thác tài nguyên một cách có hệ thống, thu lượm các tài sản từ các tàu bị đắm, xây miếu dựng đền và trồng cây như các biểu tượng khẳng định chủ quyền, tổ chức thu thuế, cứu trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn. Việc thực thi chủ quyền này diễn ra hoàn toàn không gặp bất cứ sự phản đối hay tranh chấp nào từ phía các quốc gia khác, kể cả Trung Quốc. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ tại Việt Nam, Pháp đã đại diện cho Việt Nam trong việc thực thi và bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Đến ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho chính quyền Bảo Đại việc quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 22-8-1956, sau khi quân Pháp rút đi, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thiết lập ngay lập tức sự kiểm soát của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa và đối phó với Trung Quốc trong tranh chấp này.
Trẻ em được sinh ra và lớn lên ngay tại đảo Trường Sa Lớn
Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời ngày 2-7-1976 có đủ thẩm quyền để tiếp tục sở hữu danh nghĩa pháp lý đối với quần đảo Hoàng Sa cho đến nay. Tuy đã mất yếu tố vật chất do bị Trung Quốc cưỡng chiếm bằng vũ lực, nhưng Việt Nam vẫn luôn thực thi chủ quyền của mình bằng yếu tố pháp lý. Tháng 12-1982, Việt Nam đã thành lập huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Cần phải khẳng định rằng, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị cộng đồng thế giới lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24-10-1970 ghi rõ: "Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp”. Do đó, các hành động dùng vũ lực của Trung Quốc trái ngược với luật pháp quốc tế không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định lập trường của Việt Nam là chủ trương đàm phán giải quyết vấn đề chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, UNCLOS, DOC và các nguyên tắc trong Thỏa thuận vừa mới ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các nhà phân tích cho rằng, lập trường của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề trên Biển Đông là rất nhất quán, dựa trên nguyên tắc đàm phán hòa bình tuân thủ đầy đủ luật pháp quốc tế cũng như các thỏa thuận khu vực, thỏa thuận song phương. Lập trường đó phản ánh xu thế chung của thế giới văn minh trong giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ. Để tranh thủ được sự ủng hộ rộng lớn của cộng đồng thế giới, Việt Nam cần tận dụng tất cả các diễn đàn quốc tế và khu vực để minh bạch hóa các thông tin, chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc đấu tranh về ngoại giao trong tinh thần thiện chí và tính đúng đắn của lập trường Việt Nam. Nếu thiếu sự hỗ trợ của tinh thần và pháp lý của cộng đồng quốc tế thì cuộc đấu tranh với Trung Quốc trên bàn ngoại giao sẽ thêm nhiều khó khăn. Việt Nam cũng cần kiên trì và khéo léo đưa vấn đề Hoàng Sa vào phạm vi điều chỉnh của Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) mà ASEAN và Trung Quốc đang hướng tới, cũng như trong tất cả các văn bản, hiệp ước khác của khu vực trong tương lai.
Các chuyên gia cũng đề nghị Chính phủ nên thành lập cơ quan chuyên trách làm đầu mối để quy tụ các chuyên gia am hiểu về lịch sử, công pháp quốc tế, đàm phán ngoại giao, nghiên cứu về Trung Quốc... để chuẩn bị các chứng cứ lịch sử, cơ sở pháp lý một cách đầy đủ, hệ thống và khoa học sẵn sàng cho việc đưa tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa ra tòa án công lý quốc tế cũng như sẵn sàng minh bạch hoá các luận điệu mập mờ, thiếu khoa học của Trung Quốc về vấn đề này trên các diễn đàn quốc tế. Công việc này đòi hỏi sự bền bỉ, kiến thức và kinh nghiệm của nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên gia nghiên cứu sâu của người Việt Nam trong và ngoài nước, cũng như của các nhà khoa học quốc tế. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách cụ thể để thu hút sự quan tâm, đóng góp, tạo sự đồng thuận cao trong nội bộ dân tộc Việt Nam cũng như tiếp thu các nghiên cứu khoa học khách quan, thiện chí của cộng đồng khoa học quốc tế.
Bên cạnh đó Chính phủ cũng cần phổ biến thông tin về chủ quyền biển đảo của Việt Nam sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, kể cả với người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Nhân dân có đầy đủ thông tin thì mới có thể tham vấn, đóng góp, chung vai cùng Chính phủ gia tăng sức mạnh ngoại giao, củng cố, tăng cường bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý góp phần gia tăng sức mạnh đấu tranh ngoại giao, tác động mạnh mẽ tới nhân dân Trung Quốc, tới cộng đồng quốc tế tìm kiếm sự đồng thuận ngày càng nhiều hơn cho lập trường Việt Nam. Mặt khác, Chính phủ cũng cần có sự đầu tư về hạ tầng kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ của quân và dân trên các vùng biển đảo; có chế độ chính sách thích đáng hỗ trợ đồng bào ta đang hành nghề hợp pháp trên các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam mà đặc biệt là trên vùng biển Hoàng Sa, giúp ngư dân ta có đủ điều kiện cũng như đủ năng lực bám biển, giữ vững ngư trường truyền thống của cha ông, góp phần khẳng định chủ quyền thiêng liêng của người Việt Nam trên các vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.
HỮU NGUYÊN

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Phật giáo Việt Nam luôn trong lòng dân tộc


Bản trên Đại Đoàn Kết cắt mất một số đoạn (in đậm và màu đỏ)
Thời luận 07-11-2011 [Bản đầy đủ]
Phật giáo Việt Nam luôn trong lòng dân tộc
Ngày này cách đây 30 năm (07-11-1981), một sự kiện quan trọng của Phật Giáo Việt Nam đã diễn ra tại Hà Nội, là nơi mà hơn một ngàn năm trước, bắt đầu thời kỳ độc lập tự chủ của nước Đại Việt non trẻ, Thiền Sư Không Lộ đã từng coi là một nơi: “Trạch đắc long xà địa khả cư” (đất thiêng để ở đời đời). Đó là sự kiện Hội nghị hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước thành tựu viên mãn, quyết nghị thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong lịch sử hơn 2.000 năm của Phật giáo Việt Nam, một hội nghị với sự tham dự đầy đủ đại biểu của các tổ chức, giáo hội, hệ phái Phật giáo trong cả nước, bao gồm: Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ và Phật giáo Khmer… với quyết tâm hoàn thành ngôi nhà thống nhất Phật giáo Việt Nam. Trong quá trình tồn tại và phát triển hàng ngàn năm trên đất nước ta, Phật giáo Việt Nam đã sớm hài hòa, gắn bó với dân tộc xuyên suốt dòng lịch sử truyền bá tư tưởng giáo lý của đạo Phật. Đặc biệt, trong những giai đoạn thăng trầm của dân tộc, Phật giáo Việt Nam đều tích cực đóng góp công sức, chống lại các thế lực của ngoại bang để đem lại an lạc, hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Trong từng thời kỳ lịch sử dân tộc, danh xưng của Giáo hội dù có khác nhau, nhưng sự nghiệp chủ yếu của Phật giáo Việt Nam vẫn là hoằng dương chính pháp, lợi lạc quần sinh. Vì thế, trong những thập niên trước năm 1975, Phật giáo Việt Nam tuy đã có tổ chức và thực hiện các cuộc vận động thống nhất Phật giáo, nhưng nhìn chung chưa có cuộc vận động nào mang được trọn vẹn ý nghĩa của nó như Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay. Một phần do hoàn cảnh khách quan của đất nước còn bị chia cắt, một phần do những dị đồng chưa thể hóa giải để các đệ tử Phật cùng chung chăm lo Phật sự. Vì vậy, các tổ chức Phật giáo trước đây tại Việt Nam chưa hội đủ các yếu tố để hợp thành một khối thống nhất đúng ý nghĩa, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết hòa hợp, yêu nước của toàn thể tăng ni, Phật tử Việt Nam. 
Sau ngày 30-04-1975, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, giang san nối liền một cõi, Bắc Nam sum họp một nhà. Đất nước thống nhất là yếu tố hết sức mãnh liệt và là bối cảnh vô cùng thuận lợi, là động lực để chư tôn giáo phẩm, tăng ni, Phật tử các tổ chức, hệ phái thực hiện nguyện vọng, tâm huyết thống nhất Phật giáo mà các thế hệ tiền bối đã dày công tạo dựng. Đây chính là duyên khởi của sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam . Nền thống nhất này, theo nguyên tắc được nêu ra trong hội nghị hợp nhất cách đây 30 năm đã khẳng định, là dựa trên tinh thần dân chủ, lấy tứ chúng đồng tu làm cơ sở, chứ không dựa trên giáo quyền, phong kiến hay quyền lực cá nhân.  
Mục đích của việc hình thành ngôi nhà thống nhất Phật giáo Việt Nam như trong nghị quyết đầu tiên của Ban vận động đã nhấn mạnh: “Mở ra một hướng phát triển mới trong lịch sử Phật giáo nước nhà, làm lợi ích cho Tổ quốc và nhân dân, làm sáng chói tinh thần Phật giáo trong thời đại nước Việt Nam xây dựng và tiến lên chủ nghĩa xã hội, phát huy cao hơn nữa truyền thống gắn bó hài hoà giữa đạo Phật với dân tộc, đảm bảo truyền thống tín ngưỡng và phương pháp tu hành của tăng ni và đồng bào Phật tử theo lời Phật dạy. Chúng ta quyết tâm củng cố hàng ngũ trong nội bộ Phật giáo ta, đoàn kết với các tôn giáo bạn, đoàn kết với các giới đồng bào, các dân tộc trong mặt trận đoàn kết toàn dân. Với sức mạnh đoàn kết đó, chúng ta tin chắc rằng sứ mệnh phụng sự đạo pháp và dân tộc, công cuộc đóng góp cho hoà bình thế giới và hạnh phúc nhân loại sẽ được nhiều hiệu quả hơn”.
Lịch sử lâu đời của nước ta cho thấy hễ khi nào chính quyền ủng hộ Phật giáo thì đất nước mạnh và Phật giáo hưng thịnh; ngược lại thì đất nước bị suy yếu và Phật giáo cũng suy tàn. Do đó, có không ít học giả đã đi đến kết luận, có thể đánh giá sự thịnh suy của đất nước qua quá trình thịnh suy của Phật giáo Việt Nam .Hàng ngàn năm qua, không ít nhà sư đã từng tham gia việc nước; chùa chiền từng là cơ sở giáo dục, từ thiện, là nơi an ủi, vỗ về, hướng dẫn đời sống tâm linh cho mọi người. Do đó, có thể nói Phật giáo luôn ở trong lòng dân tộc, gần gũi, thân thiết với dân tộc. Hay nói cách khác, Phật giáo Việt Nam luôn sống trong lòng dân tộc.
Thực tế lịch sử thế kỉ XX đã giúp nhân loại nhận thức được một điều rất căn bản, là quyền cơ bản của con người phải được tôn trọng cho dù thực tại chính trị và xã hội vô cùng phong phú và đa dạng. Mọi ý đồ chính trị đều lần lượt bị tan rã và thay vào đó là một sự tồn tại có sự bảo lãnh trên phương diện rất thống nhất của nhân loại văn minh là tôn trọng quyền con người. Phật giáo đã góp vào sự thống nhất đó với tất cả nội lực của nó. Giáo pháp của Phật đã được nhiều nghiên cứu chỉ ra và khẳng định đó là sự khuyến khích con người tự giải phóng khỏi mọi cám dỗ và sai lệch trong nhận thức về chính cuộc sống của bản thân họ và đồng loại. Điều đó được thực hiện không phải bằng sức mạnh của vũ lực, mà bằng sự điều tiết cá nhân để con người ra khỏi những giáo điều khô cứng, những niềm tin độc tôn và sự sùng bái vật chất đến mức bệnh hoạn của con người. Dĩ nhiên điều đó được thực thi dưới phương thức tiến hành “bất bạo động”, không nhờ ngoại lực (hay “tha lực” như ngôn ngữ Phật giáo), không trông cậy vào một cái gì ngoài ta để cải tạo chính ta.
Quả thật, từng đau đớn lòng trước những điều trông thấy trong một xã hội suy tàn về chính trị lẫn đạo đức, Nguyễn Du –  đại thi hào của dân tộc ta,  vẫn một mực quả quyết khẳng định: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Bao nhiêu mái chùa, bao nhiêu ngôi đình thờ Thành Hoàng, bao nhiêu bàn thờ tổ tiên còn hiện diện trong mỗi gia đình là bấy nhiêu chứng tích tâm linh của những công cuộc chống ngoại xâm và mở mang bờ cõi của dân tộc Việt Nam. Tâm linh dân tộc là một thứ quyền uy siêu việt mà những kẻ xâm lược từ hàng ngàn năm trước cho tới thế kỷ XX vừa qua, cho dù đã dùng đủ mọi cách đều không thể làm tắt đi sức sống mãnh liệt ấy của người Việt Nam.
Có thể nói, nếu một người dân Việt Nam mất đi Phật tâm, mất đi Thành Hoàng và mất đi ông bà tổ tiên thì người dân ấy đã mất đi hơn một nửa tâm hồn mình, mất đi không gian thần thiêng nơi mình trú ngụ. Tâm linh Việt thấm đẫm trên từng mảnh đất Việt. Mái chùa Việt che chở tâm hồn Việt. Chỉ có chấn chỉnh và làm mới lại những điều đã bị bỏ quên từ trong tâm thức dân tộc thì mới mong không gian Việt rộng lớn hơn, để người việt có thể cắm mốc tâm linh của mình ngay ở bất cứ một nơi xa lạ nào. Chùa lớn, tượng to, cúng dường hậu hĩ… ngày nay trở nên phổ biến, không phải là điều xấu, nhưng không mang lại lợi lạc thật sự cho chúng sinh, đôi khi còn tạo ra sự ngộ nhận của lớp trẻ ngày nay với đạo Phật, một khi sự cúng dường đó chỉ có ý nghĩa hình thức và chỉ cầu lợi cho bản thân mình. Lòng từ bi chỉ thực sự diễn ra trong sự hành thiện ngay trong chính đời sống thường nhật của con người. Khi ai đó giúp đỡ một người không may mắn, gặp hoạn nạn thì lòng người đó có Phật. Bởi thế, ngôi chùa hay ngôi đền thiêng liêng nhất lại ở chính trong lòng của mỗi người. Cũng như vậy, đạo Phật chỉ có thể tồn tại và phát triển lâu dài ngay trong lòng của dân tộc.

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Thay đổi để minh bạch hơn


Thời luận 4-11-2011 - DDK

Câu chuyện tranh luận giữa 2 bộ Tài Chính và Công Thương về giá xăng dầu vừa qua đã mang tới một niềm hy vọng cho hơn 80 triệu người dân Việt Nam với lời cam kết của Bộ trưởng Vương Đình Huệ: “Nhà nước chỉ phục vụ cho lợi ích của toàn dân”. Sự tranh cãi giữa các cơ quan công quyền không phải là sự đối đầu, mà là để đi tới mục tiêu “minh bạch hóa” các chính sách cũng như các giải pháp nhằm phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp phát triển đất nước vì lợi ích của toàn dân. Do vậy, minh bạch không phải chỉ là câu chuyện giữa các cơ quan công quyền với nhau mà còn chính là đòi hỏi bức thiết của nhu cầu phát triển vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh”.
Có thể nói, Việt Nam hiện là một trong số ít các quốc gia mà sự thiếu minh bạch hầu như xảy ra ở khắp nơi, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn, không cần phải có học thức cao hay phải dày công nghiên cứu, một người dân bình thường cũng dễ dàng nhận thấy. Ai cũng biết một công chức bình thường trong ngành hải quan, thuế vụ, nhà đất, quản lý thị trường, cảnh sát giao thông… với mức lương thường được đánh giá là “không đủ sống cho 20 ngày trong một tháng”, nhưng không ai lý giải một cách “minh bạch” được họ lấy tiền đâu ra để có cuộc sống vương giả với xe hơi, nhà lầu, trang trại, cho con cái đi du học nước ngoài với mức chi phí lên đến hàng trăm ngàn USD mỗi tháng. Một nghịch lý đã tồn tại từ lâu như một sự thách thức dư luận, đó là các công chức, quan chức nhà nước đi làm để nhận lương nhưng không ai sống bằng lương. Không sống bằng lương nhưng hầu như không ai bỏ việc mà ngược lại, “cuộc chiến” tranh giành, “chạy chức, chạy quyền, chạy ghế” vẫn luôn diễn ra thường xuyên và nóng bỏng.
Không ít doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài, đầu tư vốn tràn lan không hiệu quả nhưng nghịch lý là lương bổng và thu nhập thực tế của lãnh đạo doanh nghiệp luôn cao chót vót. Trong lĩnh vực quản lý đất đai, Tổ chức Minh bạch Thế giới đã xếp mức độ minh bạch của Việt Nam ở hàng cuối bảng. Trong thực tế, đôi khi chỉ bằng một quyết định hành chính, một “ông quan” cấp xã, cấp huyện cũng có quyền dễ dàng thu hồi toàn bộ đất đai tài sản của người dân được tạo ra bằng mồ hôi, nước mắt của bao thế hệ gia đình họ. Thế nên, lĩnh vực đất đai theo thống kê của cơ quan chức năng là khu vực dẫn đầu với tỷ lệ cao nhất về đơn thư khiếu nại tố cáo kéo dài và dai dẵng. Trong mối quan hệ giữa công chức và người dân, doanh nghiệp sự minh bạch cũng bị vi phạm nghiêm trọng và phổ biến. Thay vì thực hiện phương châm “chính quyền phục vụ dân” thì không ít công chức đã làm ngược lại, gây khó dễ, phiền phức, nhũng nhiễu cho đến khi người dân hay doang nghiệp phải chấp nhận cơ chế “xin – cho” thì mới có thể có được các quyền lợi được Nhà nước bảo hộ của mình. Sự thiếu minh bạch được xem là rất nghiêm trọng nhưng cũng vô cùng tinh vi xảy ra trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng chính sách và văn bản quy phạm pháp luật. Về nguyên tắc, Quốc hội là cơ quan lập pháp, do đó, mọi văn bản luật, pháp lệnh phải do Quốc hội thông qua và ban hành. Song, sự phân biệt giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp lại không rõ ràng trên thực tế. Phần lớn đại biểu thuộc cơ quan lập pháp lại đồng thời làm việc trong cơ quan hành pháp. Hơn nữa, theo thông lệ lâu nay chính các cơ quan hành pháp lại là người soạn và trình dự thảo luật, pháp lệnh. Cho nên, lợi ích cục bộ của ngành, của địa phương chi phối việc xây dựng pháp luật là chuyện không có gì khó hiểu.
Gần đây chúng ta nói nhiều đến “tái cấu trúc nền kinh tế”, các chuyên gia cũng cảnh báo tái cấu trúc là một công việc không hề dễ dàng ngay cả khi chỉ là những thay đổi trên bề nổi của tảng băng. Tái cấu trúc phần căn bản của hệ thống, tức là phần chìm của tảng băng, mới chính xác là sự thử thách. Tuy nhiên, không có gì là không làm được nếu đã có quyết tâm và thực sự mong muốn thay đổi vì mục tiêu phát triển đã nhận được sự đồng thuận cao của cả cộng đồng. Vấn đề là, muốn tái cấu trúc thành công, giải quyết được các vấn nạn của nền kinh tế - xã hội như trình bày ở phần trên, điều kiện trước tiên là phải làm cho phần chìm của tảng băng nổi lên.
Thực ra khi kêu gọi những thay đổi từ trên hay cao hơn nữa, người ta thường nhìn vào cấu trúc cấp bậc của hệ thống. Trong khi đó, người ta dường như còn e dè khi đề cập đến các khía cạnh “nhạy cảm” của hệ thống. Điều này càng làm cho các biện pháp tái cấu trúc lâu nay chưa thực sự động chạm đến khu vực cần tái cấu trúc. Do đó, muốn biết tái cấu trúc cần bắt đầu từ đâu, chúng ta phải có một cách nhìn khác về cấu trúc của các hệ thống nói chung trong đó có hệ thống kinh tế của một quốc gia. Trong cách nhìn này, người ta coi hệ thống giống như một tảng băng trôi trên đại dương. Từ phía ngoài, chúng ta thường chỉ nhìn thấy phần nổi trên mặt nước của tảng băng. Phần này đại diện cho phần trên của hệ thống như tầm nhìn, chiến lược, mục tiêu, cấu trúc,... Do dễ nhìn thấy nên mỗi khi cần thay đổi người ta lại nghĩ đến việc tác động vào các yếu tố này. Tuy nhiên, các yếu tố này lại có đặc tính không cụ thể nên dễ bị diễn giải theo các cảm nhận cá nhân hoặc sự tác động bên ngoài.
Phần nằm dưới nước, không nhìn thấy mới là phần chính của tảng băng hệ thống. Phần này đại diện cho mục đích, giá trị, niềm tin, văn hóa... của hệ thống và là phần khó có thể thay đổi nếu chỉ có những tác động hời hợt từ bên ngoài. Nếu phần chìm của tảng băng không thay đổi thì sẽ không có sự thay đổi của cả hệ thống. Từ kinh nghiệm của các câu chuyện khủng hoảng về kinh tế ở Việt Nam cũng như trên thế giới, cho thấy một khi không có niềm tin, các giá trị phổ quát, các quy luật khách quan không được tôn trọng thì mô hình kinh tế nào cũng sẽ gặp khủng hoảng. Do đó, với khát vọng thay đổi, trong Diễn văn khai mạc Đại hội VI  (1986), cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã không đơn giản chỉ kêu gọi thay đổi thành phần kinh tế như chúng ta thường nghĩ về “đổi mới” mà ông đã nói: “Chỉ có đổi mới, thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa... Muốn thế phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời, dai dẳng. Đây là cuộc đấu tranh gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân mỗi người chúng ta”.
Thay đổi, hay đổi mới từ trong bản thân, trong nhận thức của mỗi thành viên của hệ thống, có lẽ trước hết, phải củng cố nhận thức rằng bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức được dân cử ra để thực hiện chức năng quản lý đất nước theo pháp luật; họ được dân trả công bằng tiền thuế do dân đóng góp và họ cũng sẽ bị dân sa thải nếu không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Do vậy, công việc của họ nhất thiết phải đặt dưới sự giám sát của dân và do đó phải công khai, minh bạch, phải có trách nhiệm giải trình với dân. Tiếp theo, cần có cơ chế ràng buộc mọi cơ quan nhà nước phải thực hiện đúng đắn các quy định về công khai, minh bạch trong quản lý, có giám sát phòng ngừa những trường hợp lạm dụng để hạn chế quyền được thông tin và quyền giám sát của dân. Quá trình thực hiện minh bạch và trách nhiệm giải trình không hề dễ dàng, vì có thể gặp nhiều trở ngại và lực cản từ các “nhóm lợi ích”. Nhưng nếu cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức đặt lợi ích của dân tộc, đất nước lên trên, chắc chắn sẽ khắc phục được trở ngại, tìm ra được những hình thức thích hợp để “đưa phần chìm của tảng băng ra khỏi nước”. Tức là thực hiện thành công quá trình minh bạch hoá nhà nước, tiền đề cho tất cả những thành công tiếp theo của những kỳ vọng về tái cấu trúc nền kinh tế nước nhà.





Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Hợp tác trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế


Báo Wall Street Journal dẫn lời người phát ngôn của Tập đoàn dầu khí ExxonMobil (Hoa Kỳ) hôm 25-10-2011 nói rằng hãng này đã tìm thấy dầu khí tại giếng khoan số 2 nằm trong lô 119 ngoài khơi Đà Nẵng, thuộc thềm lục địa Việt Nam. Trước đó, báo chí quốc tế cũng tiết lộ rằng ExxonMobil đã phát hiện ra một mỏ khí đốt có trữ lượng đáng kể ở một lô ngoài khơi bờ biển Đà Nẵng, thuộc bể trầm tích Phú Khánh, thuộc thềm lục địa Việt Nam.

Theo Financial Times, một quan chức tập đoàn dầu khí PetroVietnam, đối tác của ExxonMobil, cho biết là họ cũng đã tìm thấy khí đốt, trong khi giám đốc điều hành một công ty dầu hỏa khác thăm dò gần lô 118 xác định rằng mỏ vừa phát hiện có “một tiềm năng đáng kể”, căn cứ vào nền địa chất của khu vực. Cũng theo Wall Street Journal, khu vực được khoan dò nổi tiếng là có trữ lượng dồi dào. PetroVietnam và nhiều tập đoàn quốc tế khác đã bắt đầu công việc sản xuất tại nhiều mỏ quan trọng trong vùng này, trong lúc một số công ty khác như Petronas của Malaysia, Premier Oil trụ sở tại Anh Quốc, Gazprom của Nga và Total của Pháp, cũng vừa phát hiện ra một số mỏ dầu khí trong khu vực này. Các thông tin nói trên cho thấy nhiều hãng dầu khí nước ngoài  đang  hợp tác làm ăn với Việt Nam phù hợp với tinh thần của luật pháp quốc tế  và luật pháp Việt Nam đã bắt đầu có những dấu hiệu thành công đáng vui mừng. Điều đó càng củng cố thêm lòng tin của cộng đồng quốc tế trong việc hợp tác với Việt Nam trong các dự án khai thác dầu khí cùng có lợi trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông.

Sau các sự kiện 2 tàu Bình Minh 2 (25-5-2011) và tàu Viking 2 (9-6-2011) của Việt Nam bị tàu Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm vùng biển Việt Nam cắt cáp phá hoại thiết bị thăm dò dầu khí, không những đã vấp phải sự phản đối kiên quyết của Việt Nam mà còn bị cộng đồng quốc tế lên án gay gắt, các hoạt động thăm dò và khai thác trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo luật biển quốc tế vẫn được tiếp tục tiến hành bình thường. Các nguồn tin quốc tế cũng cho biết các tập đoàn dầu khí nước ngoài hợp tác khai thác trên vùng biển Việt Nam (trong đó có ExxonMobil) hết sức tự tin về chủ quyền của Việt Nam tại các lô mà họ đang thăm dò. Cùng lúc đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam thường xuyên phát đi thông điệp: “Việt Nam luôn hoan nghênh và tạo điều kiện cho các đối tác nước ngoài, kể cả Trung Quốc, hợp tác trong lĩnh vực dầu khí thuộc thềm lục địa Việt Nam, trên nguyên tắc tuân thủ luật pháp Việt Nam”. Mới đây, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời phỏng vấn báo chí trước khi lên đường đi thăm chính thức Ấn Độ đã một lần nữa tái khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam: “Các dự án hợp tác giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí, bao gồm cả dự án hợp tác với Công ty dầu khí Ấn Độ (ONGC), đều nằm trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Chúng tôi hoan nghênh các công ty nước ngoài làm việc với đối tác Việt Nam hợp tác trong các dự án dầu khí tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở luật pháp Việt Nam”. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đồng thời cũng tuyên bố Việt Nam cam kết bảo vệ quyền,  lợi ích hợp pháp và chính đáng của các công ty nước ngoài hợp tác làm ăn với Việt Nam.

Hội nghị Luật Biển lần thứ III của Liên hợp quốc (1967-1982) đã thông qua Công ước Luật Biển năm 1982. Là thành quả của một cuộc thương lượng lâu dài giữa các nhóm nước khác nhau, Công ước là một giải pháp cả gói công bằng và đỉnh cao trong quá trình pháp điển hóa và phát triển tiến bộ ngành luật biển quốc tế.  Tính đến nay, đã có 161 quốc gia và tổ chức quốc tế tham gia Công ước Luật Biển năm 1982, trong đó có 7 quốc gia ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Brunei. Áp dụng Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc vào điều kiện cụ thể của Biển Đông chúng ta thấy các điểm cơ bản sau đây: Một là, các quốc gia ven Biển Đông có chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải 12 hải lý kể từ đường cơ sở của mình. Đáng lưu ý là theo luật biển quốc tế những năm 40 - 50 của thế kỷ trước, vùng lãnh hải của các quốc gia ven Biển Đông chỉ có 3 hải lý và toàn bộ phía ngoài 3 hải lý đó là vùng biển quốc tế. Như vậy, Công ước đã mở rộng phạm vi vùng lãnh hải của các quốc gia ven Biển Đông thêm 9 hải lý. Hai là, mỗi quốc gia ven Biển Đông có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa tối thiếu 200 hải lý của mình. Chiều rộng của hai vùng biển này đều được đo từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải. Trong trường hợp thềm lục địa thực tế lớn hơn 200 hải lý thì quốc gia ven Biển Đông có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến 350 hải lý với điều kiện tuân thủ đúng các quy định và thủ tục nêu trong Công ước. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền thăm dò, khai thác các tài nguyên trong các vùng biển của mình, đặc biệt là trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, để phục vụ đời sống nhân dân và phát triển đất nước. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có toàn quyền quyết định cho phép hay không cho phép các quốc gia khác khai thác tài nguyên trong các vùng biển của mình. Mỗi quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng các quyền chủ quyền đó của các quốc gia láng giềng khác ven Biển Đông.

Một trong những nội dung đáng chú ý trong Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc mà lãnh đạo cấp cao hai nước vừa ký kết đã xác định: “Trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, hai bên bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thoả thuận này”. Với nội dung này, hai bên đã đưa ra khả năng về một giải pháp mang tính quá độ đối với các khu vực tranh chấp, bao gồm cả việc hợp tác cùng phát triển theo nguyên tắc đã nêu ở điều 2 của Thoả thuận, nghĩa là căn cứ vào luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982. Giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển là phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Dàn xếp tạm thời về “hợp tác cùng phát triển” được khuyến nghị trong Điều 74 và Điều 83 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Theo đó, các quốc gia khi chưa tìm được giải pháp phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế thì có thể thoả thuận về các dàn xếp tạm thời mang tính thực tiễn; các dàn xếp tạm thời không làm phương hại đến kết quả phân định cuối cùng.

Tuy nhiên, ngay sau khi Thỏa thuận được ký kết, Trung Quốc vẫn tiếp tục đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” để đòi hỏi “chủ quyền không thể tranh cãi” của nước này trên hầu như gần trọn Biển Đông. Về lai lịch của “đường lưỡi bò” thì chính các học giả Trung Quốc đều biết rõ là tại các Hội thảo quốc tế về Biển Đông ở Hà Nội (2009) và Thành phố Hồ Chí Minh (2010) cũng như tại các Hội thảo quốc tế khác, nhiều học giả quốc tế đã chỉ rõ yêu sách “đường lưỡi bò” là mơ hồ, không có cơ sở và cho rằng Trung Quốc cần phải giải thích rõ bản chất pháp lý của các vùng biển trong “đường lưỡi bò” đó. Nhưng cho đến nay, cả chính giới lẫn học giả Trung Quốc đều không thể đưa ra các câu trả lời thỏa đáng.

Tham chiếu các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc cũng là một bên tham gia thì ai cũng thấy rằng yêu sách “đường lưỡi bò” hoàn toàn trái với các quy định của Công ước. Không một quy định nào của Công ước có thể biện minh cho yêu sách “đường lưỡi bò”. Đơn giản bởi vì vùng biển mà “đường lưỡi bò” ngoạm vào không thể nào là lãnh hải hoặc vùng đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa của Trung Quốc. Đó chính là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Philippines, Malaysia, IndonesiaBrunei. Yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý nói trên đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của 5 nước ASEAN đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Chính vì vậy, mà Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines đã lần lượt gửi công hàm đến Tổng Thư ký Liên hợp quốc bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Việc nước này vẫn tiếp tục đưa ra yêu sách phi lý nói trên và tiến hành các việc làm trên thực địa nhằm đơn phương áp đặt yêu sách này càng làm cho tình hình Biển Đông trở nên phức tạp hơn, gây lo ngại thực sự cho cộng đồng thế giới và buộc dư luận phải lên tiếng. Không chỉ các quốc gia liên quan tranh chấp ở Biển Đông mà dư luận của nhiều quốc gia khác cũng đã bày tỏ ý kiến bất bình trước yêu sách đầy phi lý này.